Việc quân đội Mỹ xây dựng căn cứ quân sự trên đất Long An đã được Tỉnh ủy xác định và khi Mỹ đóng căn cứ ở Rạch Kiến thì một hình thức đánh Mỹ được quân dân Long An – Cần Đước lựa chọn đ
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến – Long An (1966-1970)” là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số
liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Học viên
NGUYỄN CHÍ PHƯƠNG
Trang 4Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, em xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Văn Đạt, người đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo là giảng viên, nguyên giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn
Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện nghiên cứu của các cơ quan: Phòng Khoa học Quân sự – Quân khu 7, Thư viện – Nhà Văn hóa Quân khu 7, Phòng Hồ Chí Minh – Tiểu đoàn 1 Long An, Bảo tàng – Thư viện tỉnh Long An, Thư viện huyện Cần Đước, Ban quản lý di tích lịch sử Ngã
tư Rạch Kiến Đồng thời em vô cùng cảm ơn thầy Nguyễn Văn Đông – nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Bí thư Huyện ủy Cần Đước đã cung cấp những tư liệu cũng như có những ý kiến quý báu đóng góp cho luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên Trường THPT Thạnh Hóa đã tạo mọi điều kiện và động viên, giúp
đỡ để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Lời cuối cùng, xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này
TP.Hồ Chí Minh, tháng năm 2020
Học viên
NGUYỄN CHÍ PHƯƠNG
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở RẠCH KIẾN 11
1.1 Tình hình huyện Cần Đước trước khi quân Mỹ thiết lập căn cứ Rạch Kiến 11
1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và truyền thống đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Cần Đước trước năm 1960 11
1.1.2 Chiến tranh nhân dân chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” 18
1.2 Quá trình tham chiến của quân Mỹ trên chiến trường Cần Đước – Long An 26
1.2.1 Âm mưu của đế quốc Mỹ 26
1.2.2 Quá trình quân Mỹ triển khai ở Cần Đước 31
1.3 Chủ trương của cấp trên và quyết tâm đánh thắng quân Mỹ của quân và dân Cần Đước 33
1.3.1 Chủ trương của tổ chức đảng cấp trên và Tỉnh ủy Long An 33
1.3.2 Quyết tâm đánh Mỹ của Huyện ủy, quân và dân Cần Đước 37
Chương 2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY THẾ TRẬN VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở RẠCH KIẾN – LONG AN (1966-1970) 43
2.1 Quá trình xây dựng vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến 43
2.1.1 Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến ra đời 43
2.1.2 Cách thức tổ chức vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến 45
2.2 Phát huy thế trận vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến 49
2.2.1 Giai đoạn 1966-1967 49
Trang 6VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở RẠCH KIẾN – LONG AN (1966-1970) 102
3.1 Ý nghĩa 1023.1.1 Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến góp phần khắc phục tâm lý ngán ngại
và củng cố thế trận đánh Mỹ 1023.1.2 Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến vừa bao vây, cầm chân, tiêu hao, vừa buộc quân Mỹ bị động đối phó với lực lượng ta ngay tại căn cứ Rạch Kiến 1063.1.3 Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến góp phần giữ vững địa bàn đứng chân của lực lượng ta ở phía nam Sài Gòn – Chợ Lớn 1093.1.4 Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là sự phát triển đỉnh cao của chiến tranh nhân dân chống Mỹ ở Long An 1123.2 Đặc điểm 1143.2.1 Là vành đai diệt Mỹ được tổ chức ở vùng đồng bằng, đông dân cư với sự tham gia trực tiếp và rộng rãi của nhân dân 1143.2.2 Nhân dân và du kích trên vành đai đã phát huy tác dụng, hiệu quả của các loại vũ khí thô sơ, tự tạo để đánh Mỹ 1163.2.3 Kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và công tác binh vận 1183.3 Bài học kinh nghiệm 1213.3.1 Sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng về tổ chức vành đai đã được vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt vào hoàn cảnh của địa phương 1213.3.2 Bám sát thực tiễn, chủ động kịp thời rút kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh trên vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến 1233.3.3 Huy động toàn dân, phát huy sức mạnh, tổng hợp đánh địch bằng nhiều lực lượng 126
Trang 7KẾT LUẬN 132 TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 PHỤ LỤC PL1
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Long An là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí vừa là cửa ngõ thủ đô của địch, vừa là bàn đạp tiến công của ta bởi Long An tạo thành một vòng cung ôm sát Sài Gòn ở phía tây và phía nam Mặc khác, do địa hình nằm vắt ngang lãnh thổ từ biên giới Cam-pu-chia ra đến cửa sông Xoài Rạp theo trục tây bắc – đông nam, lại có vùng Đồng Tháp Mười rộng gần 300.000ha nên Long An còn là địa bàn “bản lề” nối hai chiến trường lớn
là miền Đông và miền Tây Nam Bộ Với vị trí chiến lược ấy, Long An có tầm quan trọng đối với cả quân ta và quân địch khi triển khai lực lượng tại vùng ven phía nam Sài Gòn
Với vị trí chiến lược quan trọng của mình nên Long An là địa bàn bị quân Mỹ tập trung gây chiến tranh, đánh phá ác liệt Ngày 31/12/1965, khi
Mỹ đổ quân xuống Long An, Hậu Nghĩa bằng chiến dịch “5 mũi tên” nhằm bảo vệ hướng tây bắc và tây nam thành phố Sài Gòn thì Đảng bộ Long An đã phát động phong trào toàn dân đánh giặc, khắc phục tư tưởng ngán ngại và củng cố thế trận đánh Mỹ trên địa bàn tỉnh
Cần Đước – một huyện của tỉnh Long An, án ngữ trên cả hai trục giao thông thủy bộ rất quan trọng nối Sài Gòn – Chợ Lớn với đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời, Cần Đước nằm chắn ngang gần hết mặt phía nam của Sài Gòn và chỉ cách thành phố trên dưới 30km – một cự ly có thể tấn công bằng
bộ binh – do đó muốn hình thành được vành đai bảo vệ thành phố ở phía nam,
Mỹ và chính quyền Sài Gòn sẽ phải tìm cách chiếm khu vực căn cứ bàn đạp này Cuối năm 1965, tại Cần Đước quân đội Sài Gòn tập trung 3 tiểu đoàn của
sư đoàn 25 đánh chiếm lại khu vực Rạch Kiến thuộc xã Long Hòa Ngày 23/12/1966 quân Mỹ đổ bộ xuống Rạch Kiến gồm các đơn vị thuộc lữ đoàn 3
sư đoàn 9 bộ binh Mỹ được bố trí trong một căn cứ rộng lớn chạy dọc hai bên
lộ 18 từ ấp 1 xã Long Hòa tới cầu Đồn thuộc ấp 2 xã Tân Trạch Về mặt quy
Trang 9mô căn cứ và lực lượng, Rạch Kiến được xem như một mục tiêu quân sự lớn nhất của Mỹ ở vùng ven phía nam Sài Gòn, không thua kém gì căn cứ Đồng
Dù của sư đoàn 25 Mỹ ở Củ Chi, phía tây bắc Sài Gòn
Việc quân đội Mỹ xây dựng căn cứ quân sự trên đất Long An đã được Tỉnh ủy xác định và khi Mỹ đóng căn cứ ở Rạch Kiến thì một hình thức đánh
Mỹ được quân dân Long An – Cần Đước lựa chọn đó là “vành đai diệt Mỹ”, một phương thức tác chiến độc đáo đã xuất hiện ở miền Trung và miền Đông Nam Bộ – những nơi Mỹ đóng căn cứ sớm nhất Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến
đã được hình thành dựa trên những kinh nghiệm của các vành đai trước đó, tuy nhiên cách thức hoạt động của vành đai Rạch Kiến lại hoàn toàn khác với các vành đai Chu Lai, Trảng Lớn, Củ Chi do đặc điểm địa hình, điều kiện tác chiến ở Cần Đước mang đặc điểm của vùng đồng bằng, sông rạch chằng chịt, dân cư đông đúc nên việc hình thành vành đai ở đây không thể áp dụng một cách máy móc những kinh nghiệm của các vành đai trước đó
Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến đã trở thành nơi có phong trào “toàn dân đánh giặc” phát triển mạnh mẽ nhất trên địa bàn tỉnh Long An Cuộc chiến đấu ở vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến không chỉ có tác dụng bao vây, cầm chân, tiêu hao lực lượng quân Mỹ và hạn chế sự đánh phá của phi pháo địch ra các vùng xung quanh mà còn góp phần giữ vững địa bàn đứng chân của lãnh đạo
và cánh quân của ta tấn công vào phía nam Sài Gòn – Chợ Lớn, đồng thời tạo
ra một phương pháp đánh giặc mới – đó là vành đai diệt Mỹ ở địa bàn nông thôn đồng bằng, đông dân cư Nói cách khác đó là vành đai nhân dân đánh
Mỹ
Nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến không chỉ góp phần làm rõ nghệ thuật quân sự trong thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo của dân tộc Việt Nam mà còn tái hiện đầy đủ hơn về lịch sử
và truyền thống đấu tranh cách mạng của quân dân Long An nói chung và quân dân Cần Đước nói riêng Việc hình thành vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến
Trang 10đã chỉ ra những yếu tố khiến cho quân dân Cần Đước đánh thắng Mỹ, từ đó
có thể vận dụng vào việc xây dựng khu vực phòng thủ trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt đối với những khu vực đồng bằng, đông dân cư Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến – Long An (1966-1970)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vành đai diệt Mỹ là một hình thức đánh giặc sáng tạo, độc đáo của quân
và dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong thời gian qua, vấn đề này được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm nghiên cứu Đề tài
“vành đai diệt Mỹ” đã được đề cập trong nhiều công trình, hội thảo khoa học, sách báo, tiêu biểu là:
Về sách, có tác phẩm được biên soạn bởi Bộ Tổng tham mưu, Quân đội
nhân dân Việt Nam (2000), Tổng kết cách đánh của lực lượng dân quân du kích – tự vệ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội; hay cuốn sách do Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2011), Những vấn đề chính yếu trong lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, NXB Chính trị Quốc gia –
Sự thật, Hà Nội, ở phần “Những sáng tạo về xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang trên chiến trường Nam Bộ trong chiến tranh giải phóng (1945-1975)” tác giả Hồ Sơn Đài đã dành hẳn chương 5 “Vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ” để trình bày một cách có hệ thống các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ
và một số đặc điểm, bài học kinh nghiệm của các vành đai này; một công trình khác được biên soạn bởi Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An (2005),
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Long An (1930-2000), NXB Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội cũng đã đề cập tới quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Long An kiên quyết đánh bại quân Mỹ tại căn cứ Rạch Kiến; tiếp theo là cuốn sách được biên soạn bởi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt
Nam huyện Cần Đước (1999), Cần Đước 30 năm kháng chiến chống thực dân
Trang 11Pháp và đế quốc Mỹ, trong phần hai “Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ
(1954-1975) có tới hai chương VI và VII nói về việc tại sao Mỹ chọn Rạch Kiến làm căn cứ đóng quân cũng như quá trình hình thành nên vành đai diệt
Mỹ ở Rạch Kiến của Tỉnh ủy Long An; kế tiếp là cuốn sách được thực hiện
bởi Đảng ủy – Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An (2010), Lịch sử Lực lượng
vũ trang nhân dân tỉnh Long An (1945-2005), NXB Quân đội nhân dân, Hà
Nội cũng đã trình bày một cách tổng quát cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Long An tại vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến Đặc biệt là cuốn sách được
chỉ đạo thực hiện bởi Huyện ủy Cần Đước (2002), C315 huyện Cần Đước kiên cường và anh dũng đã trình bày quá trình chuẩn bị và trực tiếp đánh Mỹ
trên vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến của đơn vị C315 – đơn vị bộ đội địa phương huyện Cần Đước Có thể nói các công trình trên đã trình bày tổng quát về hình thái, thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước và chiến trường Nam Bộ, trong đó có đề cập tới sự ra đời, chiến đấu và trưởng thành của các lực lượng
vũ trang huyện Cần Đước và vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến
Về cá nhân có tác phẩm của cố giáo sư Trần Văn Giàu (1988), Long An
21 năm đánh Mỹ, NXB Long An, Long An, quyển sách đã phản ánh lịch sử
21 năm đánh Mỹ-ngụy ở Long An, đây là lịch sử toàn dân đánh giặc cứu nước, là tinh thần chiến đấu “trung dũng, kiên cường” của Đảng bộ và quân dân Long An Ngoài ra còn có tác phẩm của tác giả Hà Minh Hồng (2000),
Phong trào chống phá bình định vùng nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1969-1975), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Bên cạnh đó là luận văn thạc sĩ Vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ (1965-1972) của
Phạm Phú Lữ (2005) đã khái quát quá trình hình thành và hoạt động của các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ, trong đó có vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến – Long An, tuy nhiên luận văn mới dừng lại dưới góc độ khái quát; hay luận
văn thạc sĩ Vành đai diệt Mỹ ở Đồng Dù – Củ Chi (1965-1973) của Đặng Văn
Khoa (2018) cũng đã tái hiện lại quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động
Trang 12của vành đai diệt Mỹ ở Đồng Dù tạo điều kiện cho tác giả có cái nhìn so sánh, đối chiếu với vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến Đặc biệt, có công trình của tác giả
Trịnh Thị Hồng Hạnh (2014), Vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1973), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tác giả đã tái hiện sự
ra đời và hoạt động của các vành đai diệt Mỹ, đưa ra những luận giải làm rõ
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong việc xây dựng, bảo vệ và hoạt động của các vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Nam Bộ cũng như khắc họa rõ nét cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ trên mặt trận vành đai và vai trò của vành đai diệt Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó có vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến Tất cả những công trình trên đã giúp người viết có cách nhìn khái quát về các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ và là nguồn tham khảo thiết thực cho tác giả hoàn thành luận văn
Ngoài ra còn một số công trình lịch sử địa phương của các xã nằm trong
và xung quanh vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến như Đảng bộ xã Long Hòa, huyện
Cần Đước, tỉnh Long An (2018), Lịch sử Đảng bộ xã Long Hòa giai đoạn
1945 – 1975; Đảng ủy xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2008), Lịch sử truyền thống xã Long Trạch; Đảng bộ xã Long Khê, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2008), Lịch sử truyền thống xã Long Khê; Đảng ủy
xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2008), Lịch sử truyền thống
xã Phước Vân; Đảng bộ xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2006), Lịch sử truyền thống xã Long Sơn; Ban Chấp hành Đảng bộ xã Long Định (2007), Lịch sử truyền thống xã Long Định; Đảng bộ xã Long Cang, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2003), Lịch sử truyền thống xã Long Cang; Đảng
ủy xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2004), Mỹ Lệ truyền thống lịch
sử và văn hóa; Đảng ủy xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (2002), Tân Lân lịch sử và truyền thống; Ban Chấp hành Đảng bộ thị trấn Cần Đước (2007), Lịch sử truyền thống thị trấn Cần Đước Những công trình trên đã
Trang 13trình bày rõ nét về lịch sử truyền thống của các xã nằm trong vành đai Rạch Kiến, là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả hình thành đề tài luận văn
Một số tài liệu khác của tỉnh Long An cũng đề cập tới vành đai diệt Mỹ
ở Rạch Kiến như Thường vụ tỉnh ủy Long An (1994), Long An lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội; Ban lịch sử truyền thống – Hội Cựu chiến binh tỉnh Long An (1994), Long An những đơn vị và các trận đánh tiêu biểu trong chiến tranh giải phóng (1945- 1975); Đảng ủy – Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An (2004), Tiểu đoàn 1 Long An (1954-2000), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội; Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An (2015), Long An trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc (1954-1975) Tất cả những công trình trên đã phần nào trình bày quá
trình chiến đấu của quân và dân Long An với quân đội Mỹ tại căn cứ Rạch Kiến
Về kỷ yếu hội thảo khoa học phải kể đến hội thảo được tổ chức bởi Bộ
tư lệnh Quân khu 7 – Tỉnh ủy Tây Ninh (2004), Vành đai diệt Mỹ Đông Nam
Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội hay hội thảo được tổ chức bởi Bộ tư lệnh Quân khu 5 – Viện Lịch
sử Quân sự Việt Nam (2002), Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5 – một sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân,
Hà Nội Các bài viết trong các hội thảo trên đã trình bày khá chi tiết về quá trình ra đời, hoạt động và vai trò của các vành đai diệt Mỹ tạo điều kiện cho tác giả có sự so sánh, đối chiếu với vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến – một vành đai được hình thành ở khu vực đồng bằng đông dân cư
Như vậy, có khá nhiều công trình, tác phẩm, hội thảo đã đề cập tới vấn
đề “vành đai diệt Mỹ” ở chiến trường Nam Bộ, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về vành đai diệt
Mỹ ở Rạch Kiến – Long An mà chỉ dừng lại ở mức trình bày một số nét tiêu biểu về vành đai này Song những công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan
Trang 14trọng để tác giả kế thừa về mặt tư liệu trong quá trình hoàn thành bài luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tác giả hướng tới việc tái hiện quá trình hình thành, hoạt động và vai trò của vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến Qua đó, làm nổi bật sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo nghệ thuật quân sự và đường lối chiến tranh nhân dân của quân và dân Long An nói chung, quân và dân Cần Đước nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ được âm mưu, thủ đoạn của quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với vùng đất Cần Đước trong quá trình triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ”
- Làm rõ sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt nghệ thuật quân sự và đường lối chiến tranh nhân dân của quân dân Cần Đước phù hợp với vị trí địa lý, điều kiện, đặc điểm địa hình của chiến trường vùng tây nam Sài Gòn
- Làm rõ được quá trình hình thành, phát triển cũng như tổ chức và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến
- Phân tích sâu về đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến – Long An (1966-1970)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: trên địa bàn khu vực xung quanh căn cứ Rạch Kiến, gồm 10 xã của huyện Cần Đước (Long Hòa, Tân Trạch, Long Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy) và 2
Trang 15xã của huyện Cần Giuộc (Phước Lâm, Thuận Thành) thuộc tỉnh Long An là chủ yếu, có mở rộng tới một số địa bàn lân cận có liên quan nhất là xã Tân Lân, thị trấn Cần Đước,
- Về thời gian: thời gian nghiên cứu từ năm 1966 đến năm 1970, tức là từ khi lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 9 quân viễn chinh Mỹ đánh chiếm Rạch Kiến lập căn cứ cho tới khi quân Mỹ rút hết khỏi chiến trường Cần Đước – Long An, căn cứ Rạch Kiến được trao lại cho quân đội Sài Gòn sử dụng (cuối năm 1970)
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam, Tỉnh ủy Long An, các cấp ủy địa phương trong giai đoạn 1965-
1970
- Các công trình nghiên cứu, các kỷ yếu hội thảo khoa học về vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Nam Bộ, các công trình lịch sử địa phương của các
xã nằm trên khu vực căn cứ Rạch Kiến
- Hồi ký của các nhân chứng lịch sử
- Tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
- Tài liệu được lưu trữ, trưng bày tại Khu di tích lịch sử Ngã tư Rạch Kiến, Bảo tàng – Thư viện tỉnh Long An, Thư viện huyện Cần Đước, Phòng
Hồ Chí Minh – Tiểu đoàn 1 Long An
- Tài liệu được lưu tại Phòng Khoa học Quân sự – Quân khu 7, Thư viện – Nhà Văn hóa Quân khu 7
- Sách, báo, các bài viết được đăng trên các trang web như dangcongsan.vn, nhandan.com, baoquankhu7.vn, qdnd.vn, cand.com.vn, qpvn.vn, baolongan.vn,
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 16Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic (đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu):
+ Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu và trình bày quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến (1966-1970), gắn với bối cảnh tình hình của mỗi giai đoạn 1966-1967 và 1968-1970; làm rõ các sự kiện, vấn đề lịch sử một cách tôn trọng sự thật, chính xác trên cơ sở so sánh, xác minh, đối chiếu tư liệu; nhìn nhận sự kiện trong mối liên hệ xâu chuỗi, theo tiến trình lịch sử
+ Phương pháp logic được sử dụng để lý giải, đánh giá và làm rõ những tác động, hiệu quả của vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến trong những mối quan hệ khác của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để từ đó rút ra ý nghĩa, đặc điểm, bài học kinh nghiệm trong quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động của vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến
- Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, so sánh, đối chiếu, điền dã, để làm rõ một số nội dung, nhiệm vụ mà đề tài đã xác định
6 Đóng góp của luận văn
Khi hoàn thành, luận văn có một số đóng góp sau:
- Hệ thống hóa tư liệu về vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến
- Góp phần khẳng định sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt nghệ thuật quân
sự Việt Nam và đường lối chiến tranh nhân dân đã giúp quân dân Long An nói chung và quân dân Cần Đước nói riêng đánh thắng quân Mỹ xâm lược
- Làm rõ những điểm độc đáo trong quá trình tổ chức và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến
Trang 17- Khái quát một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong việc tăng cường củng cố thế trận lòng dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ cấp huyện và cấp tỉnh hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Bối cảnh hình thành vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến
- Chương 2: Quá trình xây dựng và phát huy thế trận vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến – Long An (1966 – 1970)
- Chương 3: Ý nghĩa, đặc điểm và bài học kinh nghiệm của vành đai diệt
Mỹ ở Rạch Kiến – Long An (1966 – 1970)
Trang 18Chương 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở RẠCH KIẾN 1.1 Tình hình huyện Cần Đước trước khi quân Mỹ thiết lập căn cứ Rạch Kiến
1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và truyền thống đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Cần Đước trước năm
1960
Muốn hiểu rõ về cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Cần Đước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hết phải tìm hiểu những yếu tố về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế – xã hội cũng như truyền thống chống ngoại xâm ở vùng đất này
Vùng đất Cần Đước gắn liền với lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ và sự
ra đời của vùng đất Gia Định xưa Tháng 2/1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược Đông Phố và chính thức đặt phủ Gia Định: Chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn Vùng Cần Đước ngày nay lúc bấy giờ là một phần của tổng Phước Lộc, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên, phủ Gia Định
Từ năm 1779, chính quyền Nguyễn Ánh bắt tay vào việc tổ chức lại bộ máy và hoạt động cai trị ở Nam Bộ như vẽ địa đồ, hoạch định lại ranh giới hành chính Lúc này, tổng Phước Lộc (trong đó có Cần Đước) được cắt từ huyện Phước Long, dinh Trấn Biên về huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn Đến năm 1808, vua Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành, dinh Phiên Trấn thành trấn Phiên An, thăng huyện Tân Bình làm phủ, tổng Phước Lộc làm huyện Vùng đất Cần Đước khi ấy thuộc huyện Phước Lộc
Năm 1832, vua Minh Mạng giải thể Gia Định thành, đổi trấn Phiên An thành tỉnh Gia Định, lấy ba huyện Phước Lộc, Thuận An và Tân Hòa (của tỉnh Định Tường) đặt làm phủ Tân An Lúc này, Cần Đước nằm trong huyện
Trang 19Phước Lộc, phủ Tân An, tỉnh Gia Định Đến năm 1862, huyện Phước Lộc chia thành 6 tổng là Phước Điền Thượng, Phước Điền Trung, Phước Điền Hạ, Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung, Lộc Thành Hạ 3 tổng Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung, Lộc Thành Hạ chính là địa giới hành chính của huyện Cần Đước ngày nay
Sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ thực dân Pháp đã chia tỉnh Gia Định thành 7 khu tham biện: Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Giuộc, Gò Công, Tây Ninh, Tân An, Trảng Bàng Khu tham biện Cần Giuộc được thành lập từ huyện Phước Lộc Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính, gồm 19 tiểu khu Khu tham biện Cần Giuộc thuộc tiểu khu Chợ Lớn, khu hành chính Mỹ Tho Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tiểu khu hành chính thành tỉnh Đến năm 1909, chính quyền Pháp lại thành lập các sở đại lý (tương đương cấp quận) 3 tổng Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung, Lộc Thành Hạ được sáp nhập để trở thành sở đại lý Rạch Kiến Đến năm 1923, sở đại lý Rạch Kiến được đổi tên thành sở đại lý Cần Đước, địa danh Cần Đước chính thức trở thành tên của một đơn vị hành chính Năm 1928 sở đại lý Cần Đước lại đổi tên thành quận Cần Đước, thuộc tỉnh Chợ Lớn
Dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, quận Cần Đước thuộc tỉnh Long
An (tỉnh Long An được thành lập ngày 22/10/1956 trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Chợ Lớn và Tân An) Năm 1967, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lại chia quận Cần Đước thành hai quận là quận Cần Đước và quận Rạch Kiến
Về phía chính quyền cách mạng, từ năm 1956, về mặt hành chính của Cần Đước vẫn được phân chia địa giới giống như chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nhưng không gọi là quận mà gọi là huyện Năm 1969, huyện Cần Đước tách thành hai huyện là Bắc Cần Đước gồm các xã vùng thượng và Nam Cần Đước gồm các xã vùng hạ Tuy nhiên cách phân chia này chỉ tồn tại vài tháng thì trở lại như cũ Sau ngày Miền Nam giải phóng, năm 1977, hai
Trang 20quận Cần Đước và Rạch Kiến được sáp nhập lại thành huyện Cần Đước thuộc tỉnh Long An cho đến ngày nay, gồm 16 xã và một thị trấn
Hiện nay, Cần Đước là một trong 15 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Long An – phía bắc giáp huyện Bến Lức, phía đông và đông bắc giáp huyện Cần Giuộc, phía nam giáp thị xã Gò Công và huyện Gò Công Đông của tỉnh Tiền Giang qua sông Vàm Cỏ, phía tây giáp huyện Tân Trụ và Châu Thành qua sông Vàm Cỏ Đông Diện tích tự nhiên của huyện là 218,803 km2được chia thành 16 xã và một thị trấn Dân số khoảng 186.148 người (năm 2013), với mật độ 817 người/km2, là một trong những huyện đông dân nhất của tỉnh Long An (“Điều kiện tự nhiên”, n.d.)
Về vị trí địa lý, địa bàn Cần Đước là một dãy đất tương đối bằng phẳng dài hơn 30km, có chiều ngang dưới 10km, chắn gần hết phía nam Sài Gòn từ quốc lộ 1A đến sông Soài Rạp (giáp Cần Giờ); lại bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch chằng chịt như sông Rạch Cát, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Trên tuyến đường bộ, Cần Đước chắn ngang quốc lộ số 5 (nay là quốc lộ 50) nối Sài Gòn với Gò Công – Mỹ Tho và cách quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) chưa đầy 2km Cùng với quốc lộ 50, tỉnh lộ 826 nối Bình Chánh qua Rạch Kiến đến thị trấn Cần Đước và một số tuyến đường nội tỉnh chạy ngang đã tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn giữa huyện Cần Đước với TP.Hồ Chí Minh, tỉnh Tiền Giang và các huyện trong tỉnh Long An Trong khi đó trên tuyến đường thủy, Cần Đước lại có hai con sông quan trọng nhất nối Sài Gòn – Chợ Lớn với đồng bằng sông Cửu Long chảy qua là Rạch Cát và Vàm Cỏ Sông Rạch Cát
và Vàm Cỏ hợp lưu ở phía đông của huyện và đổ ra biển bằng sông Soài Rạp Với vị trí có nhiều đường giao thông thủy bộ đi qua, án ngữ cửa ngõ phía Tây Nam Sài Gòn, tiếp giáp với căn cứ Rừng Sác, lực lượng nào đứng được ở Cần Đước không những uy hiếp Sài Gòn về mặt quân sự mà còn có khả năng cắt đứt tuyến giao thông thủy bộ quan trọng giữa Sài Gòn với vùng châu thổ sông Cửu Long qua quốc lộ 4, quốc lộ 5, sông Rạch Cát, sông Soài Rạp, dẫn đến
Trang 21chia cắt về mặt chiến lược giữa miền Đông với miền Tây Nam Bộ và tác động đến toàn bộ chiến trường miền Nam
Tóm lại, trên cả hai trục giao thông thủy bộ Cần Đước đã án ngữ giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, về vị trí địa lí Cần Đước chỉ cách Sài Gòn khoảng 30km – một cự ly có thể tấn công bằng
bộ binh – do đó muốn hình thành được vành đai bảo vệ Sài Gòn ở phía nam đòi hỏi địch phải chiếm khu vực căn cứ bàn đạp này Như vậy có thể thấy Cần Đước có vị trí chiến lược quan trọng, là địa bàn tranh chấp ác liệt giữa ta và địch trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Về khí hậu, Cần Đước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang sắc thái chung của khí hậu đồng bằng sông Cửu Long với hai mùa: mùa mưa
và mùa khô, đồng thời chịu ảnh hưởng thời tiết vùng cận biển, ôn hòa, ít mưa bão đã tạo thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên vào mùa khô lại xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt nên ngoài kinh tế chính là trồng trọt còn có hoạt động kinh tế khác như chăn nuôi, đánh bắt thủy sản, sản xuất thủ công nghiệp
Về kinh tế, sau khi nắm hết quyền hành từ Chính phủ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm ban hành chỉ dụ số 2 và số 7 về ruộng đất Nội dung và mục đích chủ yếu của hai chỉ dụ trên là nhằm cướp lại ruộng đất từ tay nông dân mà họ
đã được chính quyền cách mạng cấp trong kháng chiến chống Pháp Đối với người dân Cần Đước chỉ dụ về ruộng đất của Ngô Đình Diệm là một đòn đánh mạnh vào đời sống vật chất và tinh thần bởi người dân Cần Đước sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Hầu hết những gia đình nông dân được chia ruộng đất trong cuộc vận động “nhường cơm xẻ áo” từ năm 1949 đều có nguy
cơ mất trắng Trước tình hình đó, đông đảo nông dân Cần Đước đã đấu tranh pháp lý bằng nhiều hình thức như làm đơn khiếu nại, biểu tình chống cướp ruộng đất, nhưng đều bị chính quyền Diệm đàn áp
Trang 22Sau năm 1975, Cần Đước là vùng sản xuất nông nghiệp chính của tỉnh Long An Nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu bao gồm sản xuất lúa, rau màu và thủy sản Hiện nay, cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch đúng hướng: nông nghiệp phát triển, xây dựng được nhiều mô hình mới trong trồng trọt, chăn nuôi; lĩnh vực công nghiệp có sự khởi sắc, thu hút nhiều nhà đầu tư mới, nhiều khu, cụm công nghiệp được hình thành; tiểu thủ công nghiệp được duy trì và hoạt động ổn định
Về xã hội, đời sống tinh thần của người dân Cần Đước mang đậm truyền thống của làng xã nông thôn Việt Nam như quý trọng tình làng nghĩa xóm, kính trọng những bậc tiền nhân và những người đã hy sinh vì dân vì nước,
Sự phát triển về kinh tế đã góp phần hình thành các điểm tụ cư quan trọng ở Cần Đước, trong đó có chợ Cần Đước ở vùng hạ và chợ Rạch Kiến ở vùng thượng Theo thống kê, dân số Cần Đước năm 1965 là 83.631 người Đến năm 1967, huyện Cần Đước được chia thành hai quận là Cần Đước và Rạch Kiến, dân số lần lượt là 41.522 và 17.197 người (Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Cần Đước, 1988) Với dân số trên cho thấy Cần Đước là nơi tập trung đông dân cư, bên nào tranh thủ được “lòng dân” ở đây sẽ rất có lợi khi xảy ra những biến động về chính trị lẫn quân sự
Về truyền thống đấu tranh chống xâm lược, năm 1858 thực dân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng sau đó kéo vào chiếm thành Gia Định Trong khi triều đình nhà Nguyễn lúng túng chống đỡ với giặc thì nhân dân Nam Bộ trong đó
có nhân dân Cần Đước đã tập hợp dưới những ngọn cờ khởi nghĩa của Trương Định, Dương Bình Tâm, Phạm Tuấn Phát đứng lên chống Pháp
Sau khi hạ đồn Chí Hòa, quân Pháp đánh tràn xuống phía nam Sài Gòn Những thủ lĩnh nghĩa quân vùng Cần Đước như Ông Lớn Tu, Bùi Quang Diệu, Nguyễn Văn Tiến, Trần Kỳ Phong, đã góp phần vào chiến công đốt cháy chiến hạm Espérance trên sông Vàm Cỏ Đông do Nguyễn Trung Trực chỉ huy Cuộc chiến đấu của những người “dân ấp dân lân” Cần Đước trong
Trang 23tay chỉ có tầm vong, súng kíp với quân Pháp có đủ súng to, tàu đồng kéo dài hơn 20 năm Điều này chứng tỏ người dân nơi đây có tinh thần và sức chịu đựng chiến đấu ngoan cường Cuộc chiến đấu của nhân dân Cần Đước chỉ lắng xuống khi lãnh tụ nghĩa quân Nguyễn Văn Tiến bị thực dân Pháp bắt và giết vào năm 1883
Đến đầu thế kỷ XX, khi những trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản du nhập vào Việt Nam thì Cần Đước là một trong những nơi có điều kiện tiếp xúc sớm nhất và tư tưởng cách mạng nhanh chống bắt rễ ở vùng đất này Từ năm 1913 Cần Đước đã có những hoạt động của “Thiên địa hội”, của “hội kín” Năm
1927 những “Hội kín Nguyễn An Ninh” được thành lập ở Phước Vân, Rạch Kiến, Long Hòa Những hoạt động sôi nổi của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và những người cùng chí hướng đã làm cho người dân Cần Đước hiểu
rõ bộ mặt thật của thực dân Pháp, thấy được thân phận nô lệ của người Việt Nam Từ đó Cần Đước trở thành mảnh đất tốt để ươm mầm những hạt giống
đỏ
Đầu năm 1930 những chi bộ cộng sản đầu tiên ở Phước Vân, Long Khê, Long Hòa, Tân Trạch, Long Sơn, Tân Lân, Phước Tuy, Tân Chánh, Phước Đông, Long Hựu được thành lập Sự ra đời sớm và tương đối đều khắp các chi bộ Đảng ở Cần Đước là dấu hiệu báo trước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân dưới sự lãnh đạo của các chi bộ cộng sản trong những tháng đầu năm 1930, điển hình là cuộc nổi dậy đốt cháy nhà hội tề ở Phước Vân, nhà canh ở Long Cang, nhà hội ở Rạch Kiến, Có thể nói, từ năm 1930 cuộc đấu tranh của nhân dân Cần Đước đã mang một tính chất mới, chuyển từ đấu tranh tự phát sang tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Mặc dù trải qua những năm tháng khó khăn, có những lúc phong trào đấu tranh chống Pháp của quần chúng nhân dân Cần Đước tạm lắng xuống nhưng tinh thần đấu tranh để giành độc lập tự do cho Tổ quốc vẫn thôi thúc quân dân Cần Đước cùng với nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi cuộc Tổng
Trang 24khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân
Ngày 23/9/1945, một lần nữa tiếng súng đánh thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lại vang lên tại Sài Gòn Từng người dân Cần Đước hiểu rằng thế nào quân Pháp cũng sẽ đánh xuống Cần Đước Từ đó, toàn bộ đời sống và công việc của người dân nơi đây đều được chuẩn bị khẩn trương cho cuộc kháng chiến trường kỳ
Cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp (1945 – 1954) của quân dân Cần Đước có những bước thăng trầm khác nhau Có những thời kỳ phát triển sôi nổi, quyết liệt nhưng cũng có thời kỳ khó khăn tưởng chừng không vượt qua được 9 năm kháng chiến là 9 năm chiến đấu bền bỉ, hy sinh gian khổ của các cán bộ chiến sỹ trong cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù Tuy nhiên, lực lượng cách mạng đã được nhân dân bảo bọc, che chở từ những ngày còn trong trứng nước hay trong những thời điểm khó khăn nhất của cuộc đấu tranh Biết bao người dân bị tù đày tra tấn, mất hết tài sản nhưng nhân dân Cần Đước vẫn một lòng thủy chung với cách mạng góp phần thắng lợi vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam Tuy nhiên đế quốc Mỹ đã tiến hành phá hoại hiệp định, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta Nhân dân miền Nam, trong đó có nhân dân Cần Đước lại tiến hành cuộc đấu tranh chống chính quyền tay sai và đế quốc Mỹ
Với vị trí chiến lược của mình, Cần Đước là nơi tập trung lực lượng vũ trang nhiều nhất của tỉnh và các nơi để cùng Đảng bộ và nhân dân Long An chiến đấu bảo vệ địa bàn quan trọng này và dùng làm bàn đạp để tiến công Sài Gòn Một khi quân đội Sài Gòn không còn khả năng chiếm đóng, buộc
Mỹ phải trực tiếp đổ quân vào tham chiến thì chắc chắn vành đai diệt Mỹ sẽ
Trang 25ra đời, đó cũng là thử thách lớn nhất đối với quân dân Cần Đước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược
1.1.2 Chiến tranh nhân dân chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
Cuộc đồng khởi năm 1960 – 1961 của nhân dân miền Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào khủng hoảng, đồng thời làm cho chiến lược “chiến tranh đơn phương” của Mỹ bị phá sản Để cứu vãn tình thế, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” Đó là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu
“phản ứng linh hoạt” của Mỹ Nội dung cơ bản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là Mỹ tài trợ mọi chi phí chiến tranh từ cung cấp vũ khí, cố vấn quân
sự đến xây dựng quân đội cho chính quyền Sài Gòn, dùng nó làm công cụ chủ yếu để đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân và tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng
Ngày 8/5/1961, Mỹ chính thức phê chuẩn chính sách đối với Việt Nam mang tên NSAM-52 với nội dung chủ yếu: đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt; tăng cường mở rộng, cải tiến trang bị và huấn luyện quân đội để chống chiến tranh du kích; khẩn trương bình định, lập “ấp chiến lược”, cô lập để tiêu diệt cách mạng miền Nam; đẩy mạnh hoạt động chiến tranh phá hoại ra miền Bắc (Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, 2010)
Để cụ thể hóa và thúc đẩy nhanh việc thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, chính phủ Mỹ cử sang miền Nam Việt Nam nhiều quan chức cấp cao như Staley, Taylor, Rostov, để hoạch định một kế hoạch gồm ba bước: bước một: từ tháng 1/1961 đến tháng 11/1962 bình định xong miền Nam Việt Nam với chỉ tiêu thành lập 16.000 ấp chiến lược còn gọi là kế hoạch Staley – Taylor: bình định miền Nam trong vòng 18 tháng; bước hai: khôi phục kinh
tế, hoàn thiện bình định, tăng sức mạnh cho quân đội Sài Gòn; bước ba: phát triển kinh tế miền Nam, kết thúc chiến tranh, rút quân Mỹ vào cuối năm 1965
Trang 26Theo chỉ đạo của Mỹ, Ngô Đình Diệm điều chỉnh lực lượng và bố trí lại chiến trường theo hướng một cuộc chiến tranh lớn Diệm chia lãnh thổ thành
ba vùng chiến thuật: vùng I gồm Trị Thiên – Huế, vùng II gồm Tây Nguyên
và đồng bằng miền Trung, vùng III gồm miền Đông và miền Tây Nam Bộ (trừ thành phố Sài Gòn), trong mỗi vùng lại chia thành nhiều khu chiến thuật (tỉnh Long An và huyện Cần Đước nằm trong khu chiến thuật 32 thuộc vùng III – đây là khu vực được ưu tiên cả về lực lượng lẫn phương tiện chiến tranh
so với các vùng khác ở chiến trường miền Nam) Ở mỗi vùng chiến thuật bố trí một quân đoàn chủ lực và một số lữ đoàn thuộc các binh chủng và các chiến đoàn thuộc lực lượng tổng trù bị (Long An nằm trong địa bàn hoạt động của sư đoàn 5, 7 và 25 quân đội Sài Gòn) Bên cạnh đó, quân đội Sài Gòn được tổ chức thành 9 sư đoàn chủ lực cùng nhiều tiểu đoàn của lực lượng tổng trù bị, và được trang bị những vũ khí hoàn toàn mới như súng bộ binh, pháo binh, thiết giáp, không quân, cũng như huấn luyện những chiến thuật mới như “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, Như vậy, Mỹ đã xây dựng quân đội Sài Gòn – một đội quân không chỉ mạnh về số lượng mà còn cả về vũ khí trang bị, trở thành công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
Từ giữa năm 1961, chính quyền Sài Gòn xây dựng xong chương trình bình định được gọi là “quốc sách ấp chiến lược” – cốt lỗi của chiến lược
“chiến tranh đặc biệt” Về mục đích của ấp chiến lược, Diệm xác định như sau:
Ấp chiến lược là một mũi tên mà bắn trúng được ba mục tiêu: về chính trị, dựa vào dân chủ pháp trị, làm cho dân trong ấp tự cai quản, được pháp luật bảo đảm Về xã hội, dựa vào cộng đồng “đồng tiến” thực hiện xã hội công bằng, cải thiện dân sinh Về quân sự, tách cộng sản ra khỏi nhân dân, xây dựng hạ tầng cơ sở của Việt Nam Cộng hòa, làm cho cộng sản mất lợi thế về chiến tranh, không
Trang 27tuyển được người và “ấp chiến lược” cũng là điểm tựa của lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hòa (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An, 2005)
Tháng 7/1961, đợt thí điểm lập ấp chiến lược được triển khai ở Vĩnh Long và Quảng Ngãi và đến tháng 8/1961 được triển khai trên toàn miền Nam với dự định dồn 10 triệu người dân vào 16.000 ấp chiến lược trong tổng số 17.000 ấp ở miền Nam Việc dồn dân lập “ấp chiến lược”, xương sống của
“chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ – Diệm tiến hành ở miền Nam là nhằm đánh vào những vấn đề cốt lõi nhất của chiến tranh nhân dân, cụ thể là tách dân ra khỏi lực lượng cách mạng và làm cho nhân dân không còn khả năng trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến Điều này nói lên tính chất nguy hiểm của “ấp chiến lược”
Trước tình hình đó, ngày 24/1/1961, Bộ Chính trị đã họp, ra chỉ thị Về
phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam
Chỉ thị nêu rõ: “ khả năng hòa bình phát triển của cách mạng miền Nam thì gần như không còn nữa (…) Hình thái du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện, (…) mở ra một cao trào cách mạng và ngày càng phát triển mạnh mẽ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002) và vạch ra phương châm đấu tranh cụ thể: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002) Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, họp ngày 23/1/1961 đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ
ủy Nam Bộ Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam với nghị quyết: “Đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang lâu dài, đánh đổ địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn” (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An, 1994)
Trang 28Về quân sự, ngày 15/2/1961 các lực lượng vũ trang ở miền Nam thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam có đủ ba thứ quân, được chỉ huy tập trung, thống nhất về mọi mặt
Quán triệt sự chỉ đạo của cấp trên, Tỉnh ủy Long An ra nghị quyết nhấn mạnh: “Phát huy thắng lợi của khởi nghĩa vũ trang 1960 – 1961, động viên mọi lực lượng của tỉnh, tạo thế mới, lực mới, tiến lên giành thắng lợi cao hơn, đánh bại những thủ đoạn mới của địch trên chiến trường Long An” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An, 2005) Như vậy, mặc dù hệ thống nghị quyết các cấp từ trên xuống tuy có diễn đạt khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở một hướng là đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Nam Bộ nói chung và ở Long
An nói riêng tiến lên thành chiến tranh cách mạng
Thắng lợi bước đầu của lực lượng vũ trang tỉnh Long An qua các trận đánh ở Đức Huệ, Tân Lân, Lương Hòa đã cho thấy hoạt động chống địch càn quét, bình định, gom dân vào ấp chiến lược phát triển mạnh Kết quả năm
1962, toàn tỉnh đã bứt rút, phá sập 70 đồn, bót, diệt 141 địch, bắt 27 địch, thu được 352 súng các loại (Đảng ủy – Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An, 2010) Mặc dù, năm 1962 được Mỹ – Diệm gọi là năm “ấp chiến lược” với những chỉ tiêu đầy tham vọng và thực hiện một cách ồ ạt ở nhiều nơi nhưng riêng địa bàn Long An thì Mỹ – Diệm chỉ thực hiện được 13,6% kế hoạch dồn dân lập
ấp chiến lược và đánh giá Long An là tỉnh thực thi kế hoạch bình định yếu nhất trong số các tỉnh ở Nam Bộ
Riêng ở Cần Đước, thành quả hai năm đồng khởi đã tạo ra được những lõm căn cứ tương đối vững chắc ở các xã vùng thượng ven sông Vàm Cỏ Đông như Long Định, Long Cang, Long Sơn, Còn ở vùng hạ phong trào đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi Điều này đã làm cho quân dân Cần Đước tiếp tục chặn đứng kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của chính quyền Diệm
Trang 29Đầu năm 1962, lực lượng vũ trang của huyện (đại đội 315) kết hợp với lực lượng tỉnh thắng lớn trong trận quân Sài Gòn đánh vào xóm Chùa thuộc
xã Tân Lân Trong trận này quân ta diệt một đại đội bảo an, một trung đội dân
vệ, tiêu hao nặng một đại đội khác, thu được hơn 100 khẩu súng các loại Trận Tân Lân có ý nghĩa rất lớn, như một trận phủ đầu làm thiệt hại nặng lực lượng bảo an của chính quyền Diệm ở Cần Đước, làm cho lực lượng này mất tinh thần, không đủ sức gom dân lập ấp chiến lược
Ngoài Tân Lân, các hoạt động vũ trang diễn ra sôi nỗi và đều khắp ở các
xã như Mỹ Lệ, Tân Trạch, Long Hòa, Long Cang Đặc biệt là trận chống càn, phá tan âm mưu bình định vùng thượng trong vòng 15 ngày của quân đội Sài Gòn (từ Rạch Kiến một tiểu đoàn chủ lực kéo vào Long Hòa, Phước Vân thì
bị đại đội 315 và du kích chặn đánh) Do những hoạt động đấu tranh quyết liệt của quân dân Cần Đước mà chương trình “ấp chiến lược” ở đây hầu như chưa thực hiện được, mặc dù đầu năm 1962 chính quyền Sài Gòn đã từng lập được
4 ấp ở khu vực Mỹ Lệ, Tân Lân, Phước Đông nhưng đến cuối năm bị quân ta làm tan rã hết, buộc quân đội Sài Gòn phải quay về củng cố một số ít ấp chưa lập xong ở ven lộ 24
Đầu năm 1963, quân dân Mỹ Tho làm nên chiến thắng Ấp Bắc mở đầu cho cao trào “thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” trên toàn miền Nam Thực chất đây là phong trào phá ấp chiến lược trên phạm vi toàn miền Đứng trước nguy cơ từng mảng ấp chiến lược bị phá vỡ, Mỹ – Diệm buộc phải điều chỉnh
kế hoạch: chủ trương thu hẹp phạm vi trọng điểm lại, chỉ lập bằng được ấp chiến lược ở các tỉnh quanh Sài Gòn gồm Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Phước Thành, Bình Tuy nhằm tạo vành đai bảo vệ “thủ đô” Sài Gòn
Để thực hiện sự điều chỉnh đó, ngay đầu năm 1963, chính quyền Sài Gòn tăng cường thêm nhiều lực lượng về Long An để bình định gồm trung đoàn
46 của sư đoàn 25 (ở Đức Hòa), trung đoàn 10 của sư đoàn 7 (ở quốc lộ 4 từ
Trang 30Bến Lức đến Thủ Thừa), chiến đoàn biệt động quân (ở Cần Giuộc), chiến đoàn thủy quân lục chiến (ở Cần Đước) Ngoài ra còn tăng cường số lượng xe bọc thép hoạt động trên quốc lộ 4 từ Bến Lức đến Tân An, tăng cường thêm 2 giang thuyền trên sông Vàm Cỏ Đông, cũng như bổ sung thêm súng đạn cho các trận địa pháo Sự điều chỉnh trên làm cho tương quan lực lượng quân sự giữa quân ta và quân Sài Gòn có sự thay đổi, chương trình lập ấp chiến lược của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Long An bắt đầu diễn ra nhanh hơn
Ở Cần Đước, địch chọn xã Phước Đông và Tân Lân làm điểm Chính quyền Sài Gòn đưa cả trung đoàn 46 thuộc sư đoàn 25, ba đại đội bảo an và hàng trăm cán bộ bình định thực hiện gom dân lập ấp chiến lược dọc theo quốc lộ 5 và lộ 18 Nhân dân hai xã này đã chủ động phản đối quyết liệt, quyết không dỡ nhà Một tháng sau, 5 ấp chiến lược ở Tân Lân vẫn chỉ là hàng rào kẽm gai Hàng đêm du kích ta đột nhập vào cắt dây thép gai, nhổ cọc mang về rào làng chiến đấu; bí mật diệt một số cán bộ bình định; phối hợp với
du kích bên ngoài thường xuyên bắn tỉa, gài lựu đạn diệt binh lính Sài Gòn Ở các xã Phước Tuy, Tân Ân, Tân Chánh, thị trấn Cần Đước việc gom dân lập
ấp của địch cũng gặp khó khăn vì bị nhân dân phản đối quyết liệt Còn ở vùng thượng Cần Đước, lực lượng tỉnh và huyện kết hợp với du kích đánh trả những trận càn lớn với hàng ngàn binh lính Sài Gòn tham gia vào xã Long Hòa
Mặc dù quân ta đã có những thắng lợi nhất định trong việc phá ấp chiến lược, nhưng do quân đội Sài Gòn có sự thay đổi lớn về lực lượng và biện pháp thực hiện nên trong năm 1963 công cuộc chống phá ấp chiến lược trên toàn tỉnh Long An diễn ra vô cùng gay go ác liệt Với tương quan áp đảo và mật độ quân của địch dày đặc, hầu hết lực lượng cách mạng, kể cả du kích mật cũng không bám được địa bàn khi quân địch đang càn quét Do đó, đến tháng 9/1963, chính quyền Sài Gòn đã lập được 240 ấp chiến lược trên phạm
vi tỉnh Long An và tỉnh Kiến Tường
Trang 31Trước tình hình địch lập ấp ồ ạt như thế, tháng 9/1963, Tỉnh ủy Long An
đã triệu tập cuộc họp mở rộng để tìm nguyên nhân và phương hướng, biện pháp mới Sau khi kiểm điểm, đánh giá tình hình chống phá bình định trong năm 1963, Hội nghị đã vạch ra những khuyết điểm: chưa phát triển lực lượng
vũ trang theo kịp sự biến động về tương quan lực lượng trên chiến trường; sử dụng lực lượng vũ trang chưa hợp lý; chưa mạnh dạn tìm tòi cách đánh mới cho phù hợp với quân chủ lực của địch; chưa nghiên cứu kỹ về ấp chiến lược nên chưa thấy chỗ mạnh chỗ yếu của nó, chưa thấy chỗ dựa tinh thần của ấp chiến lược là lực lượng chiếm đóng và cơ động của địch ở bên ngoài Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật cũng như phân tích những sai lầm, Tỉnh ủy Long
An đã xác định lại phương châm, phương hướng phá ấp chiến lược như sau:
“Dùng lực lượng vũ trang tiêu diệt đồn bót và lực lượng càn quét của địch, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, bung về vườn cũ làm ăn ” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An, 2005) Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, các địa phương bắt tay vào công tác chuẩn bị lực lượng, chiến trường, tích cực đào nhiều công sự chiến đấu trên tất cả địa hình tạo điều kiện cho bộ đội cơ động cũng như giúp dân và lực lượng vũ trang tránh được thương vong do pháo binh địch gây ra
Tháng 9 và tháng 10/1963 là thời kỳ Long An tiến hành những hoạt động thí điểm về phương thức mới phá ấp chiến lược thì tình hình chính trị tại Sài Gòn có biến động rất lớn: Mỹ đã bật đèn xanh cho cho các lực lượng đối lập làm đảo chính lật đổ chính quyền Diệm – Nhu vào ngày 1/11/1963 Tình hình
ấy làm cho nội bộ địch mâu thuẫn, suy sụp, chương trình ấp chiến lược bị chựng lại Nhận thức được thời cơ đó, Tỉnh ủy Long An chủ trương nhanh chóng phát động cao trào phá ấp chiến lược trên phạm vi toàn tỉnh Ở huyện Cần Đước, phong trào đấu tranh của quần chúng lên rất cao, phá ấp chiến lược tới đâu cán bộ ta vận động xây dựng xã chiến đấu, xây dựng lực lượng
du kích đến đó Huyện ủy Cần Đước chỉ đạo tấn công ba mũi (chính trị, quân
Trang 32sự, binh vận) đều khắp ở Phước Lý, Nhà Thờ, Xoài Đôi, Cầu Nổi, Phước Đông, Tân Chánh, Tân Lân, Địch ở nhiều đồn bót bỏ chạy, nhiều ấp chiến lược bị phá tan Đến giữa năm 1964, Cần Đước đã cơ bản giải phóng vùng thượng, làm chủ nhiều xã ở vùng hạ, phá tan hầu hết ấp chiến lược trên phạm
vi toàn huyện
Sau khi đánh bại trận càn của quân đội Sài Gòn vào Đức Hòa, Tỉnh ủy Long An triệu tập Hội nghị rút kinh nghiệm, đánh giá tình hình và nêu quyết tâm: “đánh quỵ sư đoàn 25 ngụy, giải phóng cơ bản tỉnh Long An” Thực hiện quyết tâm trên, tháng 8/1964, tiểu đoàn 1 Long An (tiền thân là tiểu đoàn 1 bộ đội chủ lực tỉnh Long An) kết hợp với đại đội 315 tấn công địch liên tục ở nhiều khu vực của huyện Cần Đước, trong đó có trận đánh lớn ở Rạch Kiến Sau gần một tháng quân ta đã giải phóng được 7 xã của vùng thượng gồm Long Cang, Long Định, Long Sơn, Long Hòa, Long Trạch, Long Khê, Phước Vân Ở vùng hạ, nhân dân hỗ trợ du kích bao vây bứt rút hai đồn ở Tân Chánh, sau đó giải phóng xã Như vậy, vùng giải phóng của huyện Cần Đước
đã được mở rộng, kéo dài từ sông Vàm Cỏ đến lộ 18
Bước sang năm 1965, thế và lực cách mạng ở Long An phát triển mạnh, quân ta cơ bản làm chủ vùng nông thôn Tháng 10/1965 Tỉnh ủy Long An quyết định mở đợt hoạt động ở phía nam quốc lộ 4 và tấn công trên một vùng rộng lớn thuộc Cần Đước – Cần Giuộc để mở rộng và củng cố vùng giải phóng Lực lượng ta tập trung đánh hai trận lớn: tiêu diệt một tiểu đoàn của sư đoàn 25 ở Xoài Đôi – Rạch Kiến, tiêu diệt một đại đội bảo an ở Cầu Tràm – Long Thượng, sau đó cùng lực lượng địa phương mở thêm 7 xã giải phóng Tính đến cuối năm 1965, tỉnh Long An có 101 xã thì quân ta đã giải phóng được 57 xã, trong đó có một huyện giải phóng hoàn toàn (Đức Huệ), giành quyền làm chủ ở 44 xã, thu hẹp quyền kiểm soát của địch vào phạm vi các thị trấn và một số trục giao thông lớn Vùng giải phóng ở Long An cơ bản
mở rộng trên toàn tỉnh và sát Sài Gòn Riêng ở Cần Đước đã giải phóng được
Trang 3310 xã, các xã còn lại quân ta làm chủ ở mức độ cao, hình thành thế bao vây quân địch (Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Cần
Đước, 1999) Fefrey Rocce trong “Cuộc chiến tranh xảy ra ở Long An” đã
viết:
Vào đầu năm 1965, các lực lượng cách mạng đã đạt được chiến thắng ở hầu hết các vùng nông thôn tỉnh Long An, và họ có khả năng trên cơ sở quân bình lực lượng trong phạm vi tỉnh, chiếm và giữ các đảo còn lại của chính quyền là khu vực thị xã và thị trấn… (Thạch Phương, Lưu Quang Tuyến, 1989)
Còn tướng Mỹ Westmoreland – Tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ buộc phải thừa nhận rằng: “Việc điều động sư đoàn 25 ngụy về Long An – Hậu Nghĩa là một sai lầm trong dùng binh” (Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Cần Giuộc, 1999)
Như vậy từ sau cuộc Đồng khởi đến cuối cuộc chiến tranh đặc biệt (1962 – cuối 1965) quân dân Long An nói chung và quân dân Cần Đước nói riêng
đã vượt qua giai đoạn khó khăn gian khổ khi Mỹ – Diệm thực hiện chính sách
“tố cộng, diệt cộng”, vươn lên làm cuộc khởi nghĩa vũ trang năm 1961 –
1962, rồi theo đà ấy liên tiếp đánh bại “quốc sách” ấp chiến lược – xương sống của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” cũng như đánh bại cuộc càn quét của sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn, giải phóng gần hết các xã trong huyện Tất
cả những chiến thắng đó, đều là cơ sở vững chắc để quân dân Cần Đước bước vào một cuộc đọ sức mới với kẻ thù trực tiếp là đội quân viễn chinh Mỹ
1.2 Quá trình tham chiến của quân Mỹ trên chiến trường Cần Đước – Long An
1.2.1 Âm mưu của đế quốc Mỹ
Dù bỏ ra nhiều tiền của và công sức, sử dụng nhiều thủ đoạn về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao nhưng đến đầu năm 1965 chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ tiến hành ở miền Nam Việt Nam có nguy cơ bị thất bại hoàn
Trang 34toàn Đại sứ Mỹ Maxwell Taylor trong báo cáo gửi Tổng thống Johnson ngày 6/1/1965, thừa nhận:
Nếu tình hình này không thay đổi bằng cách này hay cách khác, thì chúng ta sẽ sớm đối mặt với việc thành lập một chính quyền thù địch Còn rất ít thời gian để tháo ngòi nổ cho tình hình này Chúng
ta hiện đang trên con đường thất bại, nên phải dám mạo hiểm tạo ra một sự thay đổi (Trịnh Thị Hồng Hạnh, 2014)
Mỹ tính rằng, trong năm 1965 sẽ đưa qua Việt Nam đủ 200.000 quân, cùng với 400.000 quân chủ lực của Việt Nam Cộng hòa được trang bị đầy đủ
vũ khí hiện đại, với số tiền 12 tỷ đô la, trong thời gian 18 tháng cuộc chiến tranh sẽ cơ bản chấm dứt, thắng lợi sẽ thuộc về Mỹ Taylor viết rằng:
Khi chúng ta đi sâu vào Nam Việt Nam thì chúng ta thấy rõ chiến tranh giải phóng là một mối đe dọa ghê gớm; cho nên một trong những kết quả mà nỗ lực của chúng ta phải đạt được là tìm ra cách đối phó với cuộc chiến tranh đó và phá tan câu chuyện hoang đường nói rằng không thể nào đánh bại được thứ chiến tranh đó (Trần Văn Giàu, 1988)
Trước tình hình trên, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” Ngày 1/4/1965 Johnson quyết định tăng thêm quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam và tăng cường đánh phá miền Bắc Đồng thời chấp nhận quan điểm của
Tư lệnh Quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam Westmoreland là tiến hành một cuộc chiến tranh trên bộ với quy mô lớn nhất, sử dụng hai lực lượng gồm quân đội viễn chinh Mỹ và quân đội Sài Gòn Trong đó, quân đội Mỹ là lực lượng nòng cốt, lực lượng cơ động chiến lược chủ yếu đảm trách việc tìm diệt quân giải phóng, và là chỗ dựa về quân sự của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa; ngược lại quân đội Việt Nam Cộng hòa vừa là chỗ dựa về chính trị và quân sự cho quân đội Mỹ, vừa là lực lượng cơ động trên chiến
Trang 35trường, lực lượng chủ yếu để bình định và kìm kẹp nhân dân, đánh bật cách mạng ra khỏi vùng nông thôn
Trong bối cảnh chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mỹ bị động leo thang, thi hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam với mưu đồ đánh bại chiến tranh nhân dân Việt Nam, giành lại quyền chủ động trên chiến trường, qua đó sẽ củng cố địa vị của Mỹ ở Việt Nam, Đông Dương
và Đông Nam Á, đồng thời cho thế giới thấy rằng Mỹ hoàn toàn có khả năng dập tắt bất kỳ một cuộc cách mạng giải phóng nào Giáo sư Trần Văn Giàu đã
dẫn chứng từ sách “Những ngày đầu leo thang” về kế hoạch đưa quân Mỹ
vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam như sau:
Mỹ lập căn cứ quân sự lớn ở bờ biển Nam Việt Nam, căn cứ bất khả xâm phạm, không bao giờ bị nguy cơ trở thành Điện Biên Phủ mới Bất luận đụng phải một sức kháng cự như thế nào, các căn cứ
bờ biển của Mỹ cũng đều có sức lan ra như vệt dầu và nối liền với nhau thành một dải liên hoàn Từ những căn cứ bàn đạp ấy, quân đội Mỹ đông đúc hùng mạnh, với hỏa lực hết sức lớn, cơ động hết sức nhanh, sẽ hành động mau lẹ, trước hết nhằm giải tán và tiêu diệt các đơn vị lớn của quân giải phóng Những đơn vị lớn của quân giải phóng, bất luận ở dưới lá cây rừng, ở trong địa đạo, đều có thể bị phát hiện, bởi máy bay có trang bị tối tân Rừng có thể bị làm trụi
lá, trơ cành bằng hàng vạn tấn chất độc hóa học rải xuống Rồi những phi đội B.52 đóng ở đảo Guam sẽ đến ném bom khủng khiếp vào các nơi tập trung của quân giải phóng (Trần Văn Giàu, 1988)
Để thực hiện chiến lược này, Mỹ ráo riết đưa quân vào miền Nam Việt Nam, sử dụng các căn cứ quân sự lớn như Hawaii, Philippines để thiết lập cầu hàng không với miền Nam Việt Nam Đồng thời củng cố và mở rộng các căn
cứ như cảng Sài Gòn, Vũng Tàu, Cam Ranh, Quy Nhơn, Đà Nẵng; sân bay
Trang 36Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng; và tháng 8/1965 Mỹ lập Bộ tư lệnh đặc nhiệm “ALPHA” ở Nha Trang để điều hành việc triển khai quân Mỹ
Ngay sau đó, Mỹ nhanh chóng triển khai lực lượng chiến đấu Mỹ và quân đồng minh vào miền Nam Việt Nam, chuẩn bị cho cuộc phản công quy
mô lớn trong mùa khô 1965 – 1966 Đến cuối năm 1965, các đơn vị tinh nhuệ của quân đội Mỹ như Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3, Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh Cả đỏ”, Sư đoàn bộ binh số 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, Sư đoàn bộ binh số 9, Sư đoàn bộ binh số 4, Sư đoàn American, cùng hàng vạn tấn phương tiện chiến tranh ồ ạt đổ vào miền Nam, tổng số quân Mỹ tính đến tháng 11/1965 lên tới 184.000 quân gồm 3 sư đoàn, 6 lữ đoàn và 2 trung đoàn
Đầu năm 1966 quân Mỹ bắt đầu mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất trên phạm vi toàn miền Mục tiêu của cuộc phản công nhằm vào hai hướng: chiến trường Quân khu V và miền Đông Nam Bộ Tỉnh Long An nằm trong hướng chiến lược này, do đó lữ đoàn 173 và 199 của Mỹ liên tục mở những cuộc càn quét đánh phá trên khu vực Đức Hòa – Đức Huệ và Cần Đước – Cần Giuộc
Ở Cần Đước cuối năm 1965, quân đội Sài Gòn tập trung 3 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 25 đánh chiếm lại khu vực Rạch Kiến thuộc xã Long Hòa Cần nhắc lại rằng, do tăng dân số, năm 1923, vùng Cần Đước được phân cấp hành chính tương đương với quận gọi là “Sở đại lý Rạch Kiến” gồm 3 tổng, 15 xã Năm 1928, Sở đại lý Rạch Kiến đổi tên thành Sở đại lý Cần Đước Ngày 22/10/1956 chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An, đồng thời đổi Sở đại lý Cần Đước thành quận Cần Đước Năm 1965, quận Cần Đước được đổi tên thành quận Cần Đức, quận Cần Giuộc thành quận Thanh Đức Đến năm 1967, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tách 8 xã của quận Cần Đức và 1 xã của quận Thanh Đức để thành lập quận Rạch Kiến Đây là điều kiện có lợi để Mỹ triển
Trang 37khai quân tại Rạch Kiến và chọn nơi đây làm căn cứ bàn đạp tấn công lực lượng cách mạng tại Long An
Về mặt chiến lược, Mỹ thấy được sau cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất quân đội Mỹ đã phóng ra “Năm mũi tên” nhằm vào 5 khu vực quan trọng nhất trên toàn chiến trường miền Nam bằng những cuộc hành quân rầm rộ nhưng ở ngay sát Sài Gòn vẫn tồn tại những vùng giải phóng rộng gồm hàng chục xã thuộc Cần Đước, Cần Giuộc Những vùng này đã tạo ra mối đe dọa trực tiếp đối với Sài Gòn Chính vì vậy trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai (1966 – 1967), Mỹ phải điều chỉnh không gian tấn công cho phù hợp với thực tế hơn, đó là tập trung vào các cụm căn cứ chủ yếu của quân giải phóng ở phía đông Nam Bộ và quanh Sài Gòn, trong đó có khu vực Cần Đước – Long An
Ngoài ra, vấn đề phòng thủ Sài Gòn ở hướng nam đã được Mỹ chú trọng hơn trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai Vì vậy Mỹ đã sử dụng cả 1
sư đoàn bộ binh (sư đoàn bộ binh số 9) để hình thành tuyến phòng thủ ở nam Sài Gòn với ba mắt xích quan trọng nhất là Cát Lái (tuyến trong), Rạch Kiến (tuyến giữa), Bình Đức (tuyến ngoài)
Ở tuyến giữa Mỹ có thể đóng căn cứ ở Cần Giuộc hoặc Bến Lức, nhưng
Mỹ lại chọn Rạch Kiến vì vùng thượng Cần Đước có một vị trí quân sự rất đặc biệt Nếu để quân giải phóng nắm được vùng này làm căn cứ thì không những Sài Gòn bị đe dọa mà quốc lộ 4 nối với các tỉnh miền Tây cũng sẽ bị cắt đứt, và Sài Gòn sẽ trở nên rối loạn vì thiếu lương thực Do đó, mặc dù Mỹ biết Rạch Kiến nằm lọt giữa vùng giải phóng rộng lớn nhưng vẫn đưa quân đến đóng căn cứ ở đây vì quân Mỹ muốn bảo vệ mặt nam Sài Gòn, đồng thời khống chế, đánh phá vùng giải phóng Cần Đước – Cần Giuộc, chia cắt Long
An thành hai vùng bắc – nam
Trang 381.2.2 Quá trình quân Mỹ triển khai ở Cần Đước
Cuối năm 1966, quân đội Sài Gòn ở Rạch Kiến hoạt động mạnh Đồng thời quân đội Mỹ tích cực chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược lần thứ hai trên đất Long An bằng những cuộc oanh tạc dữ dội của phi pháo vào các vùng giải phóng xung quanh các thị trấn, thị xã, trong đó có việc tăng cường hoạt động ở khu vực Cần Đước
Ngày 23/12/1966, quân Mỹ cùng nhiều thiết bị quân sự ồ ạt đổ bộ xuống Cần Đước bằng máy bay trực thăng để lập căn cứ quân sự tại Rạch Kiến (một thị tứ thuộc xã Long Hòa, huyện Cần Đước, tỉnh Long An) Ở đây cần nói
thêm rằng, theo sách C315 huyện Cần Đước kiên cường và anh dũng do
Huyện ủy Cần Đước phát hành năm 2002 thì sáng ngày 20/12/1966, C315 đang tập trung ở ấp 1 Long Hòa dự lễ kỷ niệm 6 năm thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 – 20/12/1966) thì nhìn thấy máy bay Mỹ đưa đến Rạch Kiến nhiều thiết bị quân sự để lập căn cứ Còn
trong sách Cần Đước 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, do Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Cần Đước
phát hành tháng 12/1999 và trên bia truyền thống tại Di tích lịch sử Ngã tư Rạch Kiến thì ghi ngày quân Mỹ đổ bộ xuống Rạch Kiến là 23/12/1966 Đứng từ xa, người ta có thể thấy những khẩu pháo lớn, những lô cốt đúc sẵn được treo dưới bụng những chiếc máy bay khổng lồ từ hướng Bến Lức, Nhà
Bè bay tới hạ xuống Rạch Kiến Địch đổ xuống đây một lực lượng lớn tương đương cấp lữ đoàn, bao gồm các đơn vị thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn 9 bộ binh Mỹ như sau:
+ 1 tiểu đoàn bộ binh hơn 500 quân
+ 1 tiểu đoàn pháo binh có 4 khẩu súng cối 106 và 107mm, 4 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu pháo 57mm
+ 1 đại đội công binh cùng nhiều phương tiện kỹ thuật như xe ủi đất, máy dò mìn,
Trang 39+ 1 đại đội trinh sát
+ 4 đại đội máy bay trực thăng (có một số tài liệu ghi là 1 đại đội máy bay trực thăng, tuy nhiên tác giả tham khảo số liệu được lấy từ
sách Cần Đước 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, do Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
huyện Cần Đước phát hành tháng 12/1999)
+ 1 chi đoàn xe bọc thép gồm 20 chiếc M113 và M118 đi theo đường bộ từ Gò Đen vào Rạch Kiến (Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Cần Đước, 1999)
Theo Daniel Ellsberg trong cuốn “Tài liệu mật: Hồi ký về cuộc chiến tranh Việt Nam và vụ tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc” thì cho rằng, một tiểu đoàn
quân Mỹ đã đổ quân xuống Rạch Kiến trước khi tác giả đến Rạch Kiến một ngày để theo dõi hoạt động bình định thí điểm của quân Mỹ tại đây: “Để chứng tỏ lực lượng Mỹ có thể giành lại quyền kiểm soát và bình định một vùng do Việt Cộng kiểm soát vững chắc, một tiểu đoàn tăng cường của Sư đoàn 25 Mỹ được trực thăng thả xuống gần làng vào ngày 22/12/1966” (Daniel Ellsberg, 2018)
Toàn bộ lực lượng quân Mỹ được bố trí trong một căn cứ lớn, có diện tích rộng 160.000m2 chạy dọc hai bên lộ 18 từ ấp 1 xã Long Hòa đến cầu Đồn thuộc ấp 2 xã Tân Trạch Khu vực chính của căn cứ nằm ở phía đông lộ 18 gồm hơn 20 dãy nhà là doanh trại của sở chỉ huy tiểu đoàn bộ binh, khu hậu cần tiếp liệu, nhà xe, câu lạc bộ và một đài nước cao 12m Đối diện với khu vực này, ở phía tây lộ 18 là trận địa của tiểu đoàn pháo binh với những ụ pháo bằng bê tông đúc sẵn đặt ngay trên mặt ruộng Ở phía bắc ngã tư Rạch Kiến khoảng 100m là sân bay dã chiến của đại đội máy bay trực thăng, lấy mặt đường 18 làm đường băng chính Khu căn cứ được phòng thủ bằng 6 lớp hàng rào dây thép gai, lớp trong cùng là hàng rào bằng lưới chống đạn B40,
Trang 40xen kẽ với các lớp rào là 3 tuyến bãi mìn đủ loại, có cả vướng nổ, đạp nổ, điều khiển bằng điện, và thường xuyên có lính tuần tra phục kích bên ngoài
Về mặt quy mô và lực lượng, căn cứ Rạch Kiến được xem là cứ điểm quân sự lớn nhất của Mỹ ở vùng ven phía nam Sài Gòn, không thua kém gì căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 25 Mỹ ở phía bắc Sài Gòn (Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Cần Đước, 1999; Trịnh Thị Hồng Hạnh, 2014) Từ căn cứ Rạch Kiến quân Mỹ còn bung ra đóng chốt ở Long Khê, Nhật Tảo (mỗi nơi một đại đội bộ binh), thành một hệ thống phòng thủ liên hoàn gắn liền với các căn cứ của lữ đoàn 3 sư đoàn 9 bộ binh Mỹ ở Bến Lức, Bình Tịnh, Tân An
Về phía chính quyền Sài Gòn, sau khi Mỹ lập căn cứ quân sự tại Rạch Kiến, đã quyết định thành lập quận Rạch Kiến gồm dinh quận, cuộc cảnh sát, khu gia binh, chi chiêu hồi, và về mặt quân sự thì Rạch Kiến trở thành một chi khu quân sự của tỉnh Long An
1.3 Chủ trương của cấp trên và quyết tâm đánh thắng quân Mỹ của quân và dân Cần Đước
1.3.1 Chủ trương của tổ chức đảng cấp trên và Tỉnh ủy Long An
Trước sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 27/3/1965 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) xác định nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn dân là tập trung đánh Mỹ và thắng Mỹ xâm lược Hội nghị đã xác định:
Tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở mức cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2003)