Tuy nhiên trên thực tế, giáo viên mầm non vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển kĩ năng vận động tinh ở lứa tuổi này, giáo viên còn gặp khó khăn trong công tác lập kế hoạch, tổ c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lâm Quế Vương
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lâm Quế Vương
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan các thông tin, số liệu trong công trình nghiên cứu khoa học
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong đề tài này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Trang 4Để có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu khoa học này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến:
Quý Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý Thầy Cô đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quan trọng và thiết thực trong thời gian tôi ngồi ghế nhà trường;
Quý Thầy Cô Phòng Sau đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm đã tạo điều kiện và hỗ trợ tốt nhất để tôi có thể tham gia học tập và tìm kiếm nhiều nguồn tài liệu có giá trị
Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân đến Cô hướng dẫn đề tài, TS Nguyễn Thị Thanh Bình, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
đề tài
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tham gia và hoàn thành khóa học; Quý chị em phụ trách mầm non ở các đơn vị phòng giáo dục, cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non đã hỗ trợ, phối hợp trong thời gian tôi tiến hành khảo sát, thực nghiệm
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, động viên trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Các khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Vận động tinh 10
1.2.2 Kĩ năng vận động tinh 11
1.2.3 Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh 16
1.3 Tầm quan trọng của kĩ năng vận động tinh đối với sự phát triển của trẻ 25-36 tháng 19
1.4 Sự phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng 23
1.4.1 Đặc điểm phát triển kĩ năng vận động tinh 23
1.4.2 Các yếu tố cần thiết để phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng 26
1.4.3 Các hoạt động phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng trong trường mầm non 34
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CỦA TRẺ 25-36 THÁNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẦN THƠ 38
Trang 6kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng tại một số trường mầm non của
thành phố 39
2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 39
2.2.2 Đối tượng và phạm vi thực hiện 40
2.2.3 Thời gian khảo sát 40
2.2.4 Phương pháp khảo sát 41
2.3 Thực trạng tổ chức các hoạt động phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 25-36 tháng tại một số trường mầm non 43
2.3.1 Giáo viên 43
2.3.2 Gia đình trẻ 59
2.3.3 Môi trường vật chất 65
2.3.4 Thực trạng kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng 70
2.4 Đánh giá chung nguyên nhân của thực trạng tổ chức các hoạt động phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng tại một số trường mầm non của thành phố 75
Tiểu kết chương 2 77
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CỦA TRẺ 25-36 THÁNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẦN THƠ 79
3.1 Đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng 79
3.1.1 Xây dựng môi trường giáo dục 79
3.1.2 Tổ chức các hoạt động giúp trẻ phát triển kĩ năng vận động tinh 93
3.1.3 Tác động đến trẻ mọi lúc mọi nơi với sự hợp tác chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh 96
3.2 Điều kiện thực hiện các biện pháp 98
3.3 Thời gian và địa điểm thực nghiệm 99
3.4 Quy trình thực nghiệm 100
Trang 7thực nghiệm 101
3.5.2 Kết quả đo sau thực nghiệm của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 102
Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 8
Bảng 2.1 Các mục tiêu phát triển thể chất của nhà trẻ liên quan đến kĩ năng
vận động tinh (Chương trình GDMN) 44 Bảng 2.2 Các căn cứ để xác định mục tiêu giáo dục năm học của trẻ
25-36 tháng 45 Bảng 2.3 Hiệu quả việc phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng 46 Bảng 2.4 Mức độ cần thiết của các nội dung giáo dục giúp trẻ 25-36 tháng
phát triển kĩ năng vận động tinh trong Chương trình GDMN 47 Bảng 2.5 Phân chia nội dung giáo dục liên quan đến kĩ năng vận động tinh
theo các hoạt động trong ngày cho trẻ 25-36 tháng 49 Bảng 2.6 Tổng hợp hoạt động Chơi - tập có chủ định đối với nội dung giáo
dục kĩ năng vận động tinh 50 Bảng 2.7 Tổ chức các hoạt động cho trẻ 25-36 tháng phát triển kĩ năng vận
động tinh ở các góc chơi – tập 52 Bảng 2.8 Phương pháp sử dụng khi tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng
vận động tinh cho trẻ 25-36 tháng 53 Bảng 2.9 Khó khăn hiện tại của giáo viên dạy nhóm 25-36 tháng trong quá
trình giúp trẻ phát triển kĩ năng vận động tinh 55 Bảng 2.10 Điều kiện cần để giúp trẻ 25-36 tháng phát triển kĩ năng
vận động tinh 57 Bảng 2.11 Ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 25-36
tháng 60 Bảng 2.12 Mức độ cần thiết của các điều kiện phát triển kĩ năng vận động
tinh của trẻ 25-36 tháng 62 Bảng 2.13 Sự phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh để phát triển kĩ năng vận
động tinh của trẻ 64 Bảng 2.14 Tổng hợp kết quả khảo sát kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36
tháng trong hoạt động giáo dục 71 Bảng 2.15 Tổng hợp kết quả khảo sát kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36
tháng trong hoạt động tự phục vụ 74
Trang 9Bảng 3.2 So sánh mức độ kĩ năng vận động tinh của nhóm đối chứng và
nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm 102 Bảng 3.3 Kết quả xếp loại của trẻ ở nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 105 Bảng 3.4 Mức độ kĩ năng vận động tinh của trẻ trước và sau thực nghiệm 106
Trang 10Biểu đồ 2.1 Tình hình thực hiện việc đánh giá sự phát triển của trẻ 57 Biểu đồ 2.2 Mối liên quan giữa việc đánh giá sự phát triển của trẻ và kế
hoạch giáo dục 58 Biểu đồ 2.3 Sự cần thiết của việc rèn luyện kĩ năng vận động tinh 60 Biểu đồ 2.4 Sự cần thiết của các nội dung giáo dục trẻ 25-36 tháng phát
triển kĩ năng vận động tinh trong Chương trình GDMN 61 Biểu đồ 2.5 Mức độ cần thiết của các điều kiện phát triển kĩ năng vận động
tinh của trẻ 25-36 tháng 63 Biểu đồ 2.6 Phân nhóm sự phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ
25-36 tháng 72 Biểu đồ 3.1 Điểm số trung bình trước và sau thực nghiệm của nhóm ĐC 104 Biểu đồ 3.2 Điểm số trung bình trước và sau thực nghiệm của nhóm TN 104
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bố trí chỗ ngồi và sử dụng sách truyện chưa phù hợp ở
hoạt động góc 54
Hình 2.2 Đồ chơi các góc bố trí dàn trải, không sử dụng giá, kệ 65
Hình 2.3 Sắp xếp đồ dùng đồ chơi không khoa học, hấp dẫn 66
Hình 2.4 Rèn kĩ năng cầm bút cho trẻ 66
Hình 2.5 Thao tác vai không thích hợp với kinh nghiệm của trẻ 25-36 tháng 67
Hình 2.6 Xây dựng góc Gia đình không phù hợp với trẻ 25-36 tháng thích chơi riêng lẻ 67
Hình 2.7 Sắp xếp đồ chơi trong góc chưa khoa học 68
Hình 2.8 Đồ chơi tự tạo hiệu quả sử dụng không cao 68
Hình 2.9 Bày biện đồ dùng đồ chơi quá nhiều 69
Hình 2.10 Góc sách, truyện 70
Hình 3.1 Gợi ý đồ chơi trong góc thao tác vai 82
Hình 3.2 Gợi ý sắp xếp đồ chơi trong góc thao tác vai 82
Hình 3.3 Gợi ý sắp xếp đồ chơi trong góc Hoạt động với đồ vật 83
Hình 3.4 Gợi ý một số đồ chơi trong góc Hoạt động với đồ vật 84
Hình 3.5 Tạo điều kiện cho trẻ tự trưng bày sản phẩm 85
Hình 3.6 Gợi ý đồ chơi góc âm nhạc 86
Hình 3.7 Gợi ý bổ sung các loại rối cho trẻ 87
Hình 3.8 Gợi ý các trò chơi khi tổ chức hoạt động ngoài trời 89
Hình 3.9 Gợi ý các nhạc cụ tự tạo ngoài sân vườn 90
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lứa tuổi 25-36 tháng là giai đoạn chuẩn bị chuyển tiếp từ nhà trẻ lên mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật Đây cũng là một trong những bước ngoặt quan trọng của cuộc đời trẻ Trong một bài viết của Pam Deyell-Gingold trên trang web Linkedin có nêu rằng: “Trẻ em trải qua nhiều quá trình chuyển tiếp trong suốt cuộc đời của chúng, nhưng một trong những chuyển tiếp quan trọng nhất là từ chương trình nhà trẻ lên mẫu giáo” (Pam Deyel1-Gingold, 2015)
Môi trường và chế độ sinh hoạt ở mẫu giáo hoàn toàn khác so với nhà trẻ, đòi hỏi ở trẻ một số kiến thức, kĩ năng cơ bản để thích ứng với hoạt động chủ đạo mới Nếu không thích ứng được trẻ sẽ dễ bị rơi vào tình trạng hành động kém hiệu quả dẫn đến thiếu tự tin vào bản thân, tâm lý bị ảnh hưởng, trẻ không thể hòa nhập tốt với các bạn trong lớp,… chính những điều này sẽ tác động không tốt đến sự phát triển sau này của trẻ Vì vậy, trẻ 25-36 tháng cũng cần được chuẩn bị tâm thế trước khi vào mẫu giáo
Một trong những kĩ năng quan trọng đối với trẻ giai đoạn cuối tuổi nhà trẻ - đầu tuổi mẫu giáo này chính là kĩ năng vận động tinh Vận động tinh nếu được phát triển tốt sẽ giúp cho bàn tay trẻ nhỏ có sức mạnh và sự khéo léo Những hoạt động chơi và kĩ năng thao tác với nhiều đối tượng khác nhau (đồ chơi, dây buộc - xâu, các nút cài - bấm, đất nặn…) sẽ giúp trẻ được thường xuyên rèn luyện cơ tay, từ đó
có thể kiểm soát sức mạnh trong lúc cắt, xé, xâu, tô màu,… đây là tiền đề của việc cầm bút viết chữ sau này ở trẻ khi vào lớp một Ngoài ra, trẻ có kĩ năng vận động tinh thành thạo sẽ giúp trẻ có tính độc lập khi thực hiện các kĩ năng tự phục vụ như
tự xúc cơm, rửa tay, lau mặt, buộc dây giày, cài – cởi nút,
Trẻ lên ba thường hay nói “tự xúc cơm” hay “Con tự rửa tay” không muốn người lớn can thiệp vào những việc đó Tính độc lập xuất hiện ở trẻ, nhu cầu muốn hành động độc lập là rất lớn, để khẳng định mình Nhu cầu tự khẳng định
là một động lực mạnh mẽ, thúc đẩy trẻ bước sang một giai đoạn phát triển mới (Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa, 2014, p.148)
Trang 13Để sẵn sàng thực hiện được các nhu cầu này thì trẻ phải có sức mạnh, sự khéo léo của đôi tay và sự phối hợp tay – mắt, đây cũng là kết quả mong đợi cuối độ tuổi 25-36 tháng theo nội dung giáo dục của Lĩnh vực phát triển thể chất trong Chương trình Giáo dục Mầm non (GDMN) được ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Phát triển tốt kĩ năng vận động tinh sẽ là điều kiện thuận lợi cho trẻ khi tham gia vào các hoạt động chăm sóc vệ sinh hằng ngày giúp trẻ luyện tập dần hình thành nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt và giữ gìn sức khỏe Trong cuốn
“Hướng dẫn thực hiện công tác vệ sinh, nước sạch và giáo dục vệ sinh cho trẻ” của
Bộ GD&ĐT có đề cập đến:
Giáo dục trẻ hình thành những thói quen vệ sinh như: rửa mặt, đánh răng, chải tóc, rửa tay hằng ngày là việc làm mà mỗi giáo viên mầm non cần tiến hành thường xuyên, thuần thục Những việc làm này sẽ giúp cho cơ thể trẻ phát triển tốt, bảo vệ sức khỏe, chống đỡ được các bệnh tật, tránh được những dị tật và thích nghi được với điều kiện sống; hình thành những thói quen cơ bản để giúp trẻ có nền nếp tốt (Nguyễn Bá Minh, Nguyễn Minh Huyền, Nguyễn Thị Hiền, 2017)
Trong bài viết “Hỗ trợ sự phát triển của trẻ” thảo luận về tầm quan trọng của các kĩ năng vận động tinh đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, Angela Owens nhận định: Sự phát triển các kĩ năng vận động tinh của trẻ là nền tảng quan trọng để đạt được các kĩ năng quan trọng khác trong tương lai như viết, vẽ và tự phục vụ Giống như mọi lĩnh vực phát triển khác, giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp kinh nghiệm, học liệu và hướng dẫn giúp trẻ phát triển tốt kĩ năng vận động tinh thông qua các hoạt động chơi hàng ngày Việc áp dụng cách tác động cá nhân dựa trên nhu cầu, sở thích của từng trẻ sẽ giúp việc tổ chức các hoạt động thú vị và có ý nghĩa hơn, từ đó thúc đẩy kết quả học tập tích cực cho những trẻ gặp khó khăn với các kĩ năng vận động tinh hoặc không quan tâm thực sự đến các hoạt động như vẽ, thủ công (Owens, 2008, p.3-5)
Trang 14Sự thành thạo về kĩ năng vận động tinh cho phép đứa trẻ tự tin thực hiện các thao tác đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ (mở chốt cửa, khóa kéo, đánh răng ) mà không cần sự giúp đỡ của người khác, trẻ dần có tính độc lập Khi các kĩ năng vận động tinh đã trở nên thành thạo với sự phối hợp nhuần nhuyễn của tay-mắt cũng là lúc
mở ra những cánh cửa mới cho việc khám phá, học tập và sáng tạo của đứa trẻ Trên thực tế, nhiều nghiên cứu cho thấy sự tập trung của trẻ vào các hoạt động tư duy trí tuệ ít hữu ích hơn so với các hoạt động khuyến khích kĩ năng vận động tinh và sự phối hợp tay-mắt Những kĩ năng này sẽ đặt nền móng cho việc học tập trong những năm sau này của trẻ, chẳng hạn như để học viết hay vẽ, đứa trẻ phải có bàn tay mạnh mẽ với các ngón tay linh hoạt, biết kiểm soát để giữ một chiếc bút chì ổn định trong một khoảng thời gian dài (Parents Magazine, n.d.)
Tuy nhiên trên thực tế, giáo viên mầm non vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển kĩ năng vận động tinh ở lứa tuổi này, giáo viên còn gặp khó khăn trong công tác lập kế hoạch, tổ chức hoạt động cũng như sử dụng các biện pháp hiệu quả để tác động trẻ Về phía trẻ, do trẻ 25-36 tháng không được chú trọng phát triển vận động tinh đúng mức nên trẻ gặp khó khăn khi lên mẫu giáo: trẻ không chủ động trong sinh hoạt hằng ngày, có trẻ vẫn chưa biết tự cầm muỗng xúc ăn, trẻ tham gia các hoạt động không hứng thú, không sử dụng thành thạo các phương tiện để tạo sản phẩm nên dễ gây cảm giác chán nản cho trẻ… Ngày 25 tháng 02 năm 2014, Bộ GD&ĐT đã phát hành Công văn số 808/BGDĐT-GDMN hướng dẫn xây dựng kế hoạch và thực hiện chuyên đề “Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non, giai đoạn 2013-2016” Thành phố Cần Thơ cũng đã xây dựng kế hoạch, triển khai và thực hiện theo chỉ đạo Tuy nhiên, thực tế đa số các trường mầm non ở địa phương vẫn mới chỉ quan tâm đến phát triển vận động thô cho trẻ mà bỏ qua vận động tinh; việc xây dựng môi trường phát triển vận động cho trẻ còn mang tính hình thức… Trẻ ở lứa tuổi 25-36 tháng vẫn không được quan tâm đúng mức trong việc giáo dục phát triển kĩ năng vận động tinh
Xuất phát từ vai trò của vận động tinh đối với sự phát triển của trẻ và hiện trạng của địa phương, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng tại một số trường mầm non thành phố Cần
Trang 15Thơ” nhằm tìm thêm cơ sở lý luận và đề xuất một số biện pháp khắc phục thực trạng hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc giáo viên áp dụng các biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Cần Thơ, đề tài đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-
36 tháng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 25-36 tháng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
4 Giả thuyết khoa học
Kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng còn hạn chế và không được quan tâm phát triển Nếu giáo viên có kế hoạch giáo dục hợp lý, sử dụng đúng đắn các biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng thì sẽ khắc phục được thực trạng đó
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định khái niệm liên quan đến biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
- Khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp tác động đến sự phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu thực hiện tại 04 trường thuộc quận và 02 trường thuộc huyện có nhóm trẻ 25-36 tháng
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Tham khảo tài liệu trong và ngoài nước về vận động tinh, các điều kiện đảm bảo sự phát triển vận động tinh của trẻ, các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
để làm cơ sở cho nghiên cứu đề tài này
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ
Nghiên cứu bộ kế hoạch giáo dục của giáo viên (kế hoạch năm, tháng, tuần, ngày, ), đưa ra nhận xét dựa trên cơ sở lý luận vận động tinh của trẻ 25-36 tháng và thực tiễn các biện pháp phát triển vận động tinh của trẻ mà giáo viên đang vận dụng
7.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát, ghi nhận thực tiễn các hoạt động về kĩ năng vận động tinh của trẻ
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng bảng hỏi dành cho giáo viên nhóm 25-36 tháng, giáo viên lớp mầm
và phụ huynh
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Sử dụng các biện pháp được xây dựng bởi người nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tế sự phát triển vận động tinh của trẻ 25-36 tháng, đánh giá hiệu quả của các biện pháp đó tác động đến trẻ như thế nào
8 Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài mô tả thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển vận động tinh của trẻ 25-36 tháng ở một số trường mầm non tại địa phương, từ đó đề xuất biện pháp giúp giáo viên vận dụng vào thực tiễn, hỗ trợ công tác giáo dục phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng, tạo tâm thế vững chắc cho các vận động tự phục vụ
và các hoạt động phát triển thể chất tuổi mẫu giáo tiếp theo
9 Cấu trúc của đề tài
Đề tài bao gồm 3 chương gồm các nội dung cụ thể như sau:
- Chương 1 Cơ sở lí luận vấn đề nghiên cứu
Trang 17- Chương 2 Thực trạng tổ chức các hoạt động phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng ở một số trường mầm non thành phố Cần Thơ
- Chương 3 Đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng trong trường mầm non thành phố Cần Thơ
Trang 18Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Kĩ năng vận động tinh từ lâu đã được công nhận là một nền tảng quan trọng cho sự phát triển toàn diện Tác giả Maria Montessori, nhà giáo dục người Ý cũng
là một bác sĩ cho rằng: “Bàn tay chính là công cụ thông minh của con người” Do vậy, môi trường Montessori phải là môi trường quan tâm đến các kĩ năng vận động tinh cho trẻ từ khi còn nhỏ Bà tin rằng trẻ học tốt nhất là thông qua những trải nghiệm cảm giác bằng những giáo cụ và đồ dùng vừa vặn với bàn tay bé nhỏ của trẻ
và chúng phải thực sự dùng được Bà cho rằng trẻ em cần những công cụ thực sự nếu chúng làm những công việc thực tế hấp dẫn chúng Để trẻ có thể trưởng thành
và phát triển được các kĩ năng thì người lớn cần tạo cho trẻ cơ hội để các em tự mình làm những việc đó Trẻ học tốt nhất là qua làm việc và qua việc làm đi làm lại Trẻ thực hiện nhiều các hoạt động đa dạng gần gũi với cuộc sống hàng ngày một cách háo hức và tự nhiên sẽ giúp trẻ phát triển sự tập trung cao độ đồng thời phát triển cơ tay và sự kết hợp đôi bàn tay của mình (Nguyễn Bảo Trung dịch, 2016) Liên quan đến phương pháp giáo dục Montessori, năm 2017, Elizabeth Elcombe hoàn thành báo cáo tại Đại học Wisconsin – River Falls với đề tài “Hiệu quả của các bài tập trải nghiệm cuộc sống đối với sự phát triển vận động tinh trong lớp học của trẻ Montessori” nhằm nghiên cứu hiệu quả tác động của các bài tập thực hành đối với sự phát triển vận động tinh của trẻ mầm non Kết quả cho thấy sự tiến bộ về khả năng vận động tinh đối với các trẻ trong môi trường Montessori được can thiệp bởi các bài tập thực hành trải nghiệm, hỗ trợ khả năng tham gia vào các hoạt động thực tế của trẻ (Elcombe, 2017) Điều đó cho thấy môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc cho trẻ thao tác đối tượng khi thực hiện các bài tập Trong quá trình phân tích, báo cáo cũng chứng minh có sự kết nối giữa khả năng vận động tinh với nhận thức cũng như tình cảm xã hội, trên cơ sở đó lập luận rằng các bài tập thực hành trải nghiệm cũng hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển của trẻ về các lĩnh vực
Trang 19phát triển này Những kinh nghiệm trẻ có được sẽ đặt nền tảng cho việc học tập sau này
Một nhà nghiên cứu nổi tiếng cũng đã chứng minh có mối liên hệ mật thiết giữa kĩ năng vận động tinh và sự phát triển bộ não, đó là Jean Piaget với Thuyết phát sinh nhận thức Ông chia quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em thành 04 giai đoạn lớn: (1) Giai đoạn cảm giác - vận động, gọi tắt là giai đoạn giác - động, từ 0 đến 1.5 tuổi hoặc 2 tuổi; (2) Giai đoạn tiền thao tác gồm 2 phân đoạn: trí tuệ tượng trưng, từ 2 tuổi đến 4 tuổi và trí tuệ trực giác, từ 4 đến 6 hoặc 7 tuổi; (3) Giai đoạn thao tác cụ thể, từ 7 - 8 tuổi đến 11 - 12 tuổi; (4) Giai đoạn thao tác hình thức, từ sau
11 - 12 tuổi Trong đó, trẻ 25-36 tháng nằm trong phân đoạn trí tuệ tượng trưng Bước chuyển từ biểu tượng trên hành động (bắt chước hành động) sang biểu tượng trong ý nghĩ được thực hiện khi ở trẻ xuất hiện hành động tượng trưng và hành động
vẽ hình (xâu vòng, nặn hình, xếp nhà ,…) Sự xuất hiện của các hành động này đánh dấu sự hình thành hình ảnh tinh thần của trẻ, là kết quả của sự bắt chước đã chuyển vào trong (Phan Trọng Ngọ, 2003) Đối với trẻ 25-36 tháng, đồ dùng, đồ chơi thật
sự là cần thiết, chính nhờ các trò chơi tượng trưng như ru búp bê ngủ, cho búp bê
ăn, làm bác sĩ,… hay các hoạt động tạo sản phẩm mà trí tuệ trẻ ngày càng phát triển Bàn về tầm quan trọng của kĩ năng vận động tinh đối với sự phát triển của trẻ, Moira Pieterse xuất bản bộ tài liệu “Từng bước nhỏ: chương trình can thiệp sớm cho trẻ chậm phát triển” năm 1989, trong đó quyển số 5 với tiêu đề là “Những kĩ năng vận động tinh” nhấn mạnh kĩ năng vận động tinh và cách giải quyết vấn đề cũng như sự phát triển của các khái niệm về màu sắc, hình dạng và kích thước (Tôn
Nữ Thùy Nhung dịch, 1989)
“Những kĩ năng quan trọng ở mẫu giáo theo nhận định của giáo viên” là bài nghiên cứu trên tạp chí Journal of Early Intervention tìm hiểu quan điểm của các giáo viên xem các kĩ năng nào là cần thiết cho trẻ bước vào mẫu giáo được thành công Những giáo viên khối mẫu giáo xác định các kĩ năng quan trọng bao gồm tính độc lập, khả năng giao tiếp ngôn ngữ và các kĩ năng xã hội giúp trẻ hòa nhập với bạn bè và người lớn Qua nghiên cứu cho thấy trước khi vào mẫu giáo, trẻ nên được
Trang 20chuẩn bị tâm thế và các kĩ năng vận động tinh được xem như là một yếu tố then chốt của sự sẵn sàng đến trường (Johnson, Gallagher, Cook, & Wong, 1995)
Heather Greutman, một nhà trợ lý chữa trị tâm lý chuyên nghiệp tại Ohio, đồng thời là bloger của GrowingHandsOnKids.com, bằng kinh nghiệm và vốn kiến thức của mình đã cho ra đời quyển “Cơ sở của kĩ năng vận động tinh – Những hoạt động phát triển cho trẻ” Cuốn sách là tổng hợp tất cả các kĩ năng cần thiết để khuyến khích sự phát triển tối đa vận động tinh của trẻ từ lúc mới sinh đến 6 tuổi Những lứa tuổi mà các hoạt động thực hành là hữu ích nhất Trẻ em học cách vận động, tri giác và cảm nhận thế giới xung quanh (Greutman, 2017) Cho dù là phụ huynh hoặc trẻ em có nhu cầu đặc biệt, là một giáo viên hay một nhà trị liệu, cuốn sách cũng rất hữu ích vì cung cấp cái nhìn tổng quan về những gì một đứa trẻ cần để phát triển kĩ năng vận động tinh Nhiều hoạt động trong cuốn sách rất đa dạng, phong phú, tác động tích cực đến trẻ một cách tự nhiên, giúp trẻ được trải nghiệm theo nhu cầu thực tế
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Cũng giống như các nước trên thế giới, kĩ năng vận động tinh cũng được các nhà giáo dục Việt Nam quan tâm và nghiên cứu vì vận động tinh có liên quan mật thiết đến sự phát triển não bộ Trong tài liệu “Những kĩ năng sư phạm mầm non”, tập 2 “Phát triển những kĩ năng cần thiết cho trẻ mầm non”, tác giả Lê Xuân Hồng cùng các cộng sự đã phân chia các kĩ năng về thể chất thành 2 loại là kĩ năng vận động cơ bản và kĩ năng vận động khéo léo Kĩ năng vận động khéo léo được đề cập trong tài liệu liên quan đến việc dùng các ngón tay một cách linh hoạt, có sự phối hợp tay – mắt để thao tác với các vật thể (Lê Xuân Hồng, 2000)
Nhằm giới thiệu cho giáo viên và cha mẹ trẻ một số hoạt động có thể tổ chức tại trường và gia đình nhằm giúp trẻ nhà trẻ phát triển, Phùng Thị Tường đã xuất bản “Các trò chơi và hoạt động cho trẻ từ 3-36 tháng theo chủ đề” Trong đó, tác giả cũng đưa ra rất nhiều trò chơi, bài tập rèn luyện sự khéo léo của bàn tay, ngón tay trẻ (Phùng Thị Tường, 2011)
Hồ Lam Hồng trong bài báo “Trò chơi ngón tay với sự phát triển trẻ mầm non” cùng đầu sách “Trò chơi ngón tay” với hệ thống các trò chơi sử dụng ngón tay
Trang 21chơi theo chủ đề Trong tác phẩm, mỗi trò chơi đều đưa ra mục đích chơi và hướng dẫn chi tiết cách chơi như thế nào Ngoài ra, qua các bài vè, bài thơ ngắn có thể tích hợp tổ chức một số hoạt động trong ngày để giúp trẻ phát triển vận động tinh (Hồ Lam Hồng, 2013)
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Lan Dung về đề tài “Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng” bàn về một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng vận động tinh ở lứa tuổi 18-24 tháng (Nguyễn Lan Dung, 2015)
Phan Thị Ly thực hiện đề tài Luận văn thạc sĩ năm 2015 “Thiết kế môi trường giáo dục phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24-36 tháng” có phần đề cập đến
kĩ năng vận động tinh cho trẻ, với nội dung nghiên cứu chính là các quan điểm thiết
kế môi trường giáo dục, trên cơ sở đó xây dựng và áp dụng quy trình thiết kế môi trường giáo dục phát triển vận động tinh cho trẻ 24-36 tháng (Phan Thị Ly, 2015) Tác phẩm “Tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ em dưới 3 tuổi” của tác giả Phan Thị Minh Hà là tài liệu giới thiệu về những đặc điểm của hoạt động với đồ vật; hiểu được vai trò của môi trường giúp đôi tay của trẻ dần khéo léo hơn Đây cũng là cẩm nang dành cho cha mẹ có con nhỏ dưới 3 tuổi sử dụng trong quá trình giúp trẻ tìm hiểu thế giới đồ dùng, đồ chơi phong phú xung quanh (Phan Thị Minh
Hà, 2017)
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhận định kĩ năng vận động tinh rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Qua các tác phẩm, báo cáo hay bài nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa kĩ năng vận động tinh của trẻ với môi trường đồ dùng, đồ chơi xung quanh, các trò chơi, hoạt động… Tuy nhiên, vấn đề về biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ đến nay vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể ở giai đoạn 25-36 tháng Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu của các công trình được giới thiệu trên sẽ là nguồn tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu đề tại này
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Vận động tinh
Trong “Giáo trình phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non”, Phan Thị Thu đưa ra khái niệm: “Vận động là sự hoạt động tích cực của các cơ quan vận
Trang 22động của con người, là phương tiện cơ bản, đặc biệt của quá trình giáo dục thể chất Chúng ta giáo dục thể chất cho trẻ chủ yếu là thông qua hoạt động tự vận động của trẻ” (Phan Thị Thu, 2006)
Theo Từ điển Tiếng Việt, vận động là “hoạt động thay đổi tư thế hay vị trí của
thân thể hoặc bộ phận thân thể” (Hoàng Phê, 2010)
“Vận động có trong tất cả mọi hoạt động của con người, nó có tác động tốt lên
cơ thể nếu đúng tư thế và vừa sức Vận động là sự hoạt động tích cực của các cơ quan vận động của con người, là phương tiện cơ bản, đặc biệt của quá trình giáo dục thể chất Giáo dục thể chất cho trẻ chủ yếu là thông qua hoạt động tự vận động của trẻ” “Vận động bao gồm hai loại vận động chính, đó là vận động thô và vận động tinh Ngoài ra còn có sự kết hợp giữa hai loại vận động” (Đặng Hồng Phương,
2012, p.18)
Trong tác phẩm “Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ”, Nguyễn Ánh Tuyết có đưa ra khái niệm: “Vận động tinh là những vận động được thực hiện bởi các cơ nhỏ của bàn tay và các ngón tay phối hợp với mắt để thực hiện, vận động đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo” (Nguyễn Ánh Tuyết, 1992)
Theo Angela Owens trong bài viết “Hỗ trợ sự phát triển của trẻ” giải thích thuật ngữ “vận động tinh” có nghĩa là “những cơ nhỏ” (Owens, 2008)
Cùng chung khái niệm, Đặng Hồng Phương với tài liệu “Phương pháp hình thành kĩ năng vận động cho trẻ mầm non” cho rằng: “Vận động tinh là những vận động được thực hiện bởi các cơ nhỏ, chủ yếu là cơ của ngón tay trong những hoạt động đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo” (Đặng Hồng Phương, 2012) Đây cũng là khái niệm chúng tôi cho là đầy đủ và sử dụng trong luận văn
1.2.2 Kĩ năng vận động tinh
* Kĩ năng vận động
Trong quyển tài liệu “Hướng dẫn thực hiện công tác vệ sinh, nước sạch và giáo dục vệ sinh cho trẻ” của Bộ GD&ĐT có đưa ra khái niệm về kỹ xảo và 3 giai đoạn để hình thành kỹ xảo, trong đó kĩ năng được hình thành ở giai đoạn 2:
Trang 23+ Giai đoạn I: Hiểu cách làm Trẻ cần hiểu mỗi hành động gồm những thao tác nào, các thao tác đó diễn ra theo trình tự như thế nào và cách tiến hành mỗi thao tác cụ thể
+ Giai đoạn II: Hình thành kĩ năng Trẻ cần biết vận dụng các tri thức đã biết
để tiến hành một hành động cụ thể nào đó Việc tiến hành các hành động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập trung chú ý, nỗ lực về ý chí và biết vượt qua khó khăn + Giai đoạn III: Hình thành kĩ xảo Trẻ cần biết biến các hành động có ý chí thành các hành động tự động hóa bằng cách luyện tập nhiều lần để giảm tới mức tối thiểu sự tham gia của ý thức vào hành động (Nguyễn Bá Minh, Nguyễn Minh Huyền, Nguyễn Thị Hiền, 2017)
Cơ chế hình thành kĩ năng được trình bày trong Từ điển thuật ngữ Tâm lý học
do Vũ Dũng chủ biên chia ra làm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn lần đầu làm quen với vận động và lĩnh hội nó bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần để tìm được “bảng mã”; (2) Giai đoạn tự động hóa vận động – thoát khỏi sự kiểm soát của ý thức; (3) Giai đoạn “mài bóng” kĩ năng nhờ quá trình ổn định hóa (đạt tính bền vững) và tiêu chuẩn hóa (định khuôn) (Vũ Dũng, 2012)
“Kĩ năng vận động là khả năng vận động ở mức độ cần phải tập trung chú ý cao vào từng chi tiết của bài tập vận động, các chi tiết của bài tập vận động được luyện chưa liên tục, chưa nhuần nhuyễn, chưa đảm bảo độ bền vững” (Phan Thị Thu, 2006)
Từ điển thuật ngữ Tâm lý học định nghĩa kĩ năng vận động là:
Sự tác động có tính tự động hóa lên các khách thể bên ngoài nhờ những vận động đã được thực hiện nhiều lần trước đó nhằm cải tạo khách thể Nói cách khác, kĩ năng vận động là khả năng thực hiện những vận động mà không cần đến sự kiểm soát của ý thức và được hình thành bằng con đường luyện tập Kĩ năng vận động bao gồm kĩ năng nhận thức và kĩ năng trí tuệ Kĩ năng vận động
Trang 24điều khiển hai kĩ năng này trên cơ sở phản ánh có tính tự động hóa các sự vật, điều kiện và trật tự thực hiện các thao tác hành động hướng tới việc cải tạo hiện thực khách quan (Vũ Dũng, 2012)
Theo tác giả Đặng Hồng Phương, kĩ năng vận động là “năng lực giải quyết nhiệm vụ vận động trong điều kiện người học phải tập trung chú ý cao vào từng động tác của bài tập vận động” “Đối với trẻ mầm non, kĩ năng vận động là mức độ tiếp thu kĩ thuật vận động thể hiện ở sự tập trung cao vào các thao tác của bài tập và thực hiện bài tập dưới nhiều hình thức như tập tay không, tập với dụng cụ dưới dạng trò chơi, tập với âm nhạc” (Đặng Hồng Phương, 2012)
Trong bài nghiên cứu “Kĩ năng vận động liên quan như thế nào đối với hiệu quả học tập và thành tích ở trường của trẻ?” trên tạp chí “Quan điểm phát triển trẻ em”, nhóm nghiên cứu cho rằng: kĩ năng vận động đề cập đến các quá trình cơ bản bên trong con người chịu trách nhiệm di chuyển cơ thể hoặc một phần của cơ thể trong không gian Kĩ năng vận động không chỉ là những động tác mà còn bao gồm các quá trình nhận thức làm phát sinh chuyển động Các kĩ năng tương tác, bao gồm
kĩ năng vận động tri giác, cảm giác và tâm vận động, liên kết với nhận thức giác quan và tương tác của hệ thống chuyển động (bộ máy vận động của cơ thể) với hệ thống nhận thức (Cameron, Cottone, Murrah, & Grissmer, 2016, p.93)
Theo nhóm biên tập của trang BabyCenter.com, kĩ năng vận động là những chuyển động được thực hiện khi não, hệ thống thần kinh và cơ bắp hoạt động cùng nhau (Team, 2018)
Với nhiều định nghĩa như trên, có thể xem kĩ năng vận động là hành động chuẩn hóa nhờ quá trình luyện tập trên cơ sở đã hình thành khái niệm về vận động
đó Khi đã có kĩ năng vận động tức những vận động được thực hiện một cách bài bản theo “mẫu” đã định sẵn trong não với sự tự động cao Khả năng thực hiện kĩ năng vận động của trẻ có liên quan trực tiếp đến thể lực
* Kĩ năng vận động tinh
Angela Owens cho rằng kĩ năng vận động tinh bao gồm việc sử dụng các cơ nhỏ của ngón tay, bàn tay và cánh tay để thao tác, kiểm soát và sử dụng các dụng cụ
Trang 25và nguyên vật liệu Sự phối hợp tay và mắt, tức sử dụng tầm nhìn để kiểm soát các
cử động và hành động của các cơ nhỏ, cũng là một nội dung quan trọng trong việc phát triển kĩ năng vận động tinh (Owens, 2008)
Trong ấn phẩm “Các hoạt động phát triển kỹ năng vận động tinh”, Jodene Lynn Smith cho rằng: Kĩ năng vận động tinh đề cập đến khả năng của trẻ sử dụng bàn tay của mình để vận hành các công cụ một cách chính xác Các công cụ thường được sử dụng trong trường bao gồm bút chì, bút màu, kéo và các nguyên vật liệu khác Độ chính xác không phải là ở vấn đề sức mạnh; nó là sự phối hợp của các cơ tay (Smith, 2011, p.4)
“Kĩ năng vận động tinh là khả năng điều khiển, phối hợp các cơ nhỏ của bàn tay và ngón tay để thực hiện các hoạt động đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế và khéo léo” (Đặng Hồng Phương, 2012)
Theo Chương trình khung dành cho các trường mầm non của Singapore, “Kĩ năng vận động tinh liên quan đến các cử động nhỏ, tinh tế và sử dụng các nhóm cơ nhỏ như cơ ở ngón tay và bàn tay Một số hoạt động giúp trẻ phát triển kĩ năng vận động tinh như xé, vẽ, cắt, xâu - luồn và buộc dây” (Ministry of Education Republic
of Singapore, 2013)
Claire E Cameron và các cộng sự trong đề tài nghiên cứu năm 2016 đăng trên tạp chí “Quan điểm phát triển trẻ em” đã nhận xét: “Kĩ năng vận động tinh liên quan đến việc điều phối các chuyển động cơ nhỏ cần thiết cho các nhiệm vụ như vẽ, viết, nói và chơi một nhạc cụ” (Cameron et al., 2016)
Tổng hợp từ các khái niệm trên, kĩ năng vận động tinh trong đề tài nghiên cứu
là khả năng điều khiển các cơ nhỏ ở ngón tay, bàn tay một cách khéo léo phối hợp với mắt để thực hiện hành động chính xác, thành thạo
* Kĩ năng vận động tinh của trẻ mầm non bao gồm:
- Sức mạnh của cánh tay và bàn tay
Là khả năng sử dụng sức mạnh của cơ cánh tay và bàn tay (gồm các ngón tay) một cách hiệu quả cho các nhiệm vụ vận động tinh Cũng giống như một người muốn nâng một quả tạ thì cơ thể cần được luyện tập để có đủ sức khỏe thực hiện, trẻ
em cần rèn luyện cơ tay và cánh tay để đảm bảo sức căng, độ bền cho các chuyển
Trang 26động đòi hỏi sự chính xác, tinh tế (Staff, 2010) Điều này giúp trẻ có khả năng nắm – bắt đồ vật và sử dụng lực cần thiết để nhặt và giữ đối tượng đó.
- Khả năng cầm, nắm
Khả năng mở - nắm bàn tay một cách tự nhiên để giữ chặt hoặc buông, bỏ các
đồ vật khi cần thiết Đòi hỏi sự chuyển động phối hợp một cách linh hoạt của các cơ bàn tay, ngón tay để thực hiện các cách cầm, nắm khác nhau nhằm nhặt và giữ các đối tượng có kích thước và hình dạng khác nhau Chẳng hạn, để cầm bút hiệu quả đòi hỏi khả năng di chuyển những ngón tay cách ly nhau, bàn tay cầm đủ lực và ổn định nơi cổ tay (Staff, 2010)
Có nhiều kiểu cầm nắm: (1) Cầm nắm sức mạnh: các ngón gấp nhiều hơn ở các khớp nối xương bàn tay và các xương ngón tay (MCP), khớp gian ngón (PIP và DIP), ngón cái khép Ví dụ: cầm nắm hình trụ, hình tròn, hình móc…; (2) Cầm nắm
chính xác tinh tế: có thể chỉ gấp nhẹ ở khớp PIP và DIP và có thể chỉ một hoặc hai
ngón tay, ngón cái vuông góc với bàn tay, như trong động tác kẹp khóa (mép ngón), cầm kim (đầu ngón) và cầm viết (ba ngón) (Giải phẫu chức năng Cổ tay và bàn tay – Minhdatrehab, 2015) Sự phối hợp cử động bàn tay và ngón tay để tạo nên các kiểu cầm nắm phát triển thích hợp tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ
- Sự phối hợp/ tích hợp song phương:
Khả năng sử dụng cùng lúc cả hai mặt của cơ thể để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau bao gồm việc sử dụng cả hai bên của cơ thể cho những hoạt động có sự chuyển động liên tiếp hoặc xen kẽ Bàn về vận động tinh, có 3 cách thực hiện trong các hoạt động hàng ngày: (1) Chuyển động đối xứng – mỗi bên tay thực hiện cùng một hành động tại cùng một thời điểm, chẳng hạn như vỗ tay hoặc xoay tròn bột/ đất nặn; (2) Chuyển động lần lượt, xen kẽ – một tay thực hiện hành động và sau đó
là đến tay khác tiếp tục thực hiện theo một cách nhịp nhàng, ví dụ như xếp chồng, xếp cạnh bằng 2 tay trái – phải; (3) Chuyển động tay chính tay phụ – cả hai tay phối hợp cùng nhau, trong đó một tay hoàn thành hầu hết hành động và tay còn lại chỉ hỗ trợ, chẳng hạn như việc dùng kéo, xâu hạt, luồn dây Hạn chế về khả năng này có thể dẫn đến việc trẻ gặp khó khăn khi buộc giày, vẽ, viết hoặc chúng có thể xuất hiện sự vụng về và không phối hợp trong thao tác tay (Greutman, 2017, p.17-18)
Trang 27- Sự phối hợp tay – mắt
Là sự kết hợp giữa kĩ năng vận động và kĩ năng thị giác Đó là khả năng vừa nhìn vừa cầm – giữ đối tượng, sử dụng đồng thời tay và mắt để hoàn thành một nhiệm vụ Trẻ thực hiện các chuyển động của tay dưới sự giám sát của mắt để thao tác chính xác các đối tượng và đặt chúng ở vị trí cụ thể (ví dụ: đặt khối gỗ trên đỉnh tháp mà không chạm vào tất cả các khối khác) (“Hands and Fine motor skills | AC& A Pediatrics,” n.d.)
1.2.3 Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh
Trong quyển “Phương pháp hình thành kĩ năng vận động tinh cho trẻ mầm non”, Đặng Hồng Phương đưa ra 3 luận điểm thống nhất của nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm đến sự phát triển của trẻ:
+ Trẻ em phát triển đều đều, theo một trật tự xác định và qua những giai đoạn nhất định Sự phát triển của mỗi cơ quan, lúc hiện sớm, lúc hiện muộn, khi tiến nhanh, khi tạm ngưng, bề ngoài có vẻ thiếu liên tục mà sự thực rất ăn khớp và nhằm một mục đích độc nhất là sự thành nhân của trẻ
+ Tuy cùng trải qua những giai đoạn như nhau, cùng chịu những quy luật phát triển như nhau, mà mỗi trẻ là một cá nhân riêng biệt không giống một trẻ nào khác
+ Mỗi trẻ phát triển theo một mức độ, có trẻ chậm, có trẻ nhanh, có trẻ không đều, lúc nhanh, lúc chậm (Đặng Hồng Phương, 2012)
“Sự phát triển của trẻ là sự tăng các khả năng về thể lực, vận động, trí tuệ và
xã hội, là một quá trình được sắp đặt theo trình tự hoàn hảo với những khả năng mới, những mô hình hành vi mới xuất hiện ở từng độ tuổi, đồng thời các mô hình hành vi đang tồn tại sẽ thay đổi hoặc mất dần đi Sự phát triển của trẻ là một quá trình biến đổi, trong đó trẻ học cách điều khiển ở các mức độ phức tạp hơn về vận động, suy nghĩ, lời nói, tình cảm và quan hệ với người khác” (Đặng Hồng Phương, 2012)
Trang 28Tự điển Thuật ngữ Tâm lý học định nghĩa sự phát triển vận động của trẻ em là quá trình thay đổi nhìn thấy được về chất hệ thống vận động của trẻ trong độ lớn và
độ tích lũy kinh nghiệm của nó (Vũ Dũng, 2012, p.401)
Theo Tự điển Tiếng Việt định nghĩa “phát triển” là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp Còn “biện pháp” là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể (Hoàng Phê, 2010)
Tác giả Vũ Thị Ngân trong tài liệu “Giáo trình tổ chức dạy học ở trường mầm non” cho rằng: “Trong giáo dục, biện pháp là những thành tố cụ thể của phương pháp, là mặt kỹ thuật của phương pháp Phương pháp dạy học hướng đến giải quyết trọn vẹn, toàn thể những nhiệm vụ còn biện pháp hướng đến giải quyết những nhiệm vụ đơn lẻ, cụ thể” (Vũ Thị Ngân, 2009)
Từ các khái niệm cơ bản trên, trong luận văn này, khái niệm biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của chúng tôi là cách thức tác động đến trẻ bằng những hành động cụ thể để giúp trẻ sử dụng ngón tay, bàn tay ngày càng khéo léo, tinh tế khi thao tác với đối tượng
* Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
- Xây dựng môi trường giáo dục
Tài liệu dành cho giáo viên “Mô đun MN1 – D Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” (dành cho giáo viên) của Bộ GD&ĐT thuộc Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non 2013 đánh giá môi trường giáo dục có sự ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập của trẻ và ảnh hưởng đến việc nội dung và kết quả mong đợi có đạt được hay không Muốn trẻ phát triển kĩ năng vận động tinh cần lôi cuốn trẻ tham gia tích cực vào các hoat động tương tác với đồ vật xung quanh trong bầu không khí hài hòa, vui vẻ Theo Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT ngày 25 tháng 01 năm
2017 của Bộ GD&ĐT về việc triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020, môi trường giáo dục là một trong những tiêu chí xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm Trong đó, môi trường giáo dục cần đảm bảo cả về môi trường vật chất và môi trường xã hội Môi trường tốt, an toàn, đảm bảo thì trẻ hoạt động tốt, phát triển tốt
Trang 29Trong tài liệu Mô đun 8 - Bồi dưỡng thường xuyên đưa ra một số gợi ý: cần có đủ không gian tổ chức thuận lợi tất cả các dạng hoạt động của nhóm trẻ; cần bố trí các đồ vật trong phòng phù hợp và thích ứng cho mọi dạng hoạt động của trẻ, trẻ biết lấy ở đâu
và xếp về đâu khi chơi; đồ chơi dùng cho trò chơi phản ánh được xếp một cách tự nhiên trên giá, trên tủ, xếp một cách gọn gàng để cho trẻ có thể lấy lúc nào cần cho trò chơi Để phát triển kĩ năng vận động tinh, giáo viên cần tạo cơ hội cho trẻ thực hành một cách tự nhiên với nhiều đối tượng khác nhau (Nguyễn Thị Bách Chiến, n.d.)
Bàn về môi trường vật chất, tác giả Phan Thị Minh Hà cho rằng môi trường đồ vật,
đồ chơi là phương tiện để tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ: vấn
đề xây dựng môi trường đồ dùng, đồ chơi một cách phù hợp nhằm mục đích phát huy vai trò tích cực của trẻ trong hoạt động với đồ vật bao gồm việc trang bị đồ dùng, đồ chơi và sắp xếp đồ dùng, đồ chơi một cách hợp lí (Phan Thị Minh Hà, 2017) Những tiêu chí thông thường được xem như những yêu cầu khi sắp xếp đồ dùng, đồ chơi cho trẻ có thể
kể đến đó là thuận tiện cho trẻ hoạt động; khơi gợi ý tưởng hoạt động; an toàn ngăn nắp
và đáp ứng nhu cầu phát triển lứa tuổi nhà trẻ Ngoài ra, trẻ được thao tác với bất kỳ đối tượng nào trong một môi trường xã hội thân thiết đều khiến trẻ tập trung, tự tin thực hiện đến cùng các vận động cơ tinh đòi hỏi sự khéo kéo, tỉ mỉ
- Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động trong ngày nhằm rèn luyện kĩ năng vận động tinh
Năm lên 3 là thời kì diễn ra sự giao thời của hai hoạt động chủ đạo, hoạt động với
đồ vật tiếp tục phát triển ngày càng phong phú, bên cạnh đó trẻ cũng rất thích những trò chơi mang đậm màu sắc tượng trưng giả bộ (Nguyễn Bá Minh (chủ biên), Nguyễn Thị Hiếu, Hoàng Thị Dinh, Nguyễn Minh Huyền, Lương Thị Bình, 2018) Giáo viên phải lựa chọn nội dung giáo dục để tổ chức các hoạt động phù hợp cho trẻ tham gia giúp trẻ phát triển kĩ năng vận động tinh Đối với nhóm trẻ 25-36 tháng, nội dung giáo dục phát triển kĩ năng vận động tinh được phân chia theo chủ đề/ tháng và phân bố vào các hoạt động trong ngày phải đảm bảo từ kiến thức, kĩ năng đơn giản, gần gũi rồi mở rộng, nâng cao dần; từ những điều trẻ đã biết đến chưa biết và biết trọn vẹn hơn, phù hợp với sự hiểu biết của trẻ theo nguyên tắc đồng tâm phát triển Các hoạt động giáo dục phải được dựa trên những hiểu biết về trẻ và đảm bảo rằng: trẻ tham gia tích cực trong việc học – chơi
Trang 30của mình; từng trẻ trong lớp đều được hỗ trợ để phát triển phù hợp với cá nhân trẻ; trẻ được “chơi mà học, học bằng chơi” (Nguyễn Bá Minh (chủ biên), Trần Thị Ngọc Trâm, 2018)
- Tác động đến trẻ mọi lúc mọi nơi dưới sự hợp tác giữa giáo viên và gia đình Quyết định số 1677/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2018-2025 có nội dung:
“Tăng cường phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; coi trọng và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho các bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non” Điều này cho thấy sự cần thiết của công tác phối kết hợp giữa giáo viên và cha mẹ trẻ Đối với việc phát triển
kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng, mối liên hệ này càng phải chặt chẽ để duy trì quá trình luyện tập các vận động cơ tinh của trẻ ở nhóm lớp cũng như ở nhà
1.3 Tầm quan trọng của kĩ năng vận động tinh đối với sự phát triển của trẻ 25-36 tháng
Phát triển thể chất liên quan đến sự tăng trưởng của trẻ, phát triển vận động đề cập đến chuyển động của các cơ lớn (vận động thô) và các cơ nhỏ (vận động tinh)
Sự phát triển thể chất và vận động của trẻ nhỏ rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện vì ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức và kĩ năng xã hội, sự sẵn sàng đến trường và sức khỏe Tác giả Đặng Hồng Phương trong quyển “Phương pháp hình thành kĩ năng vận động cho trẻ mầm non” chia sẻ: “Vận động tinh góp phần phát triển khả năng chú ý của trẻ Một khi vận động tinh phát triển, trẻ sẽ dễ dàng tham gia các hoạt động” (Đặng Hồng Phương, 2012)
Chương trình khung dành cho các trường mầm non của Singapore cho rằng:
Kĩ năng vận động tinh bao gồm sự phối hợp và kiểm soát các cổ tay, ngón tay và bàn tay trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể đòi hỏi độ chính xác Các kĩ năng vận động tinh sẽ giúp cho trẻ độc lập hơn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày như sử dụng kéo để cắt và dán keo một tờ giấy Có được kĩ năng vận động tinh
sẽ cho phép trẻ thực hiện các công việc tự phục vụ như buộc dây giày và cài cởi nút trên quần áo Khi trẻ phát triển tốt kĩ năng vận động tinh sẽ có thể sử dụng các công
Trang 31cụ vẽ, viết và công cụ tạo hình như bút chì, phấn và bàn chải một cách hiệu quả (Ministry of Education Republic of Singapore, 2013, p.7)
Vận động tinh là một trong những hoạt động phát triển quan trọng nhất mà một đứa trẻ sẽ học Kĩ năng vận động tinh được sử dụng trong rất nhiều hoạt động của cuộc sống hàng ngày như mặc quần áo, tắm rửa, ăn uống, và các kĩ năng học tập như viết chữ Bên cạnh đó, nhiều kĩ năng vận động thô cũng liên quan đến việc
sử dụng tay Nhiều nghiên cứu thậm chí còn cho thấy các kĩ năng vận động tinh quan trọng đến nỗi chúng có sự liên kết với cách trẻ học đọc, hoàn thành các kĩ năng toán học và các kĩ năng tư duy nhận thức cấp cao hơn (Greutman, 2017) Có thể kể qua một số nghiên cứu như:
Trên tạp chí theo quý Merrill-Palmer, Son, Seung-Hee và Meisels, Samuel J với công trình “Mối liên quan giữa kĩ năng vận động của trẻ nhỏ với thành tích ở trường sau này” tìm thấy sự liên kết giữa kĩ năng vận động tinh ở mẫu giáo và thành tích học tập ở lớp một cụ thể là kĩ năng đọc và toán, ngoài ra các phân tích cũng cho thấy khi trẻ em tiến bộ trong năm học đầu tiên, kĩ năng vận động tinh của trẻ trở nên quan trọng hơn đối với thành tích học tập của chúng (Son & Meisels, 2006)
Qua nghiên cứu “Kỹ năng vận động tinh và thành tích toán học ở các trẻ mẫu giáo và học sinh lớp 1 thuộc Đông Á và Âu Mỹ”, tạp chí Tâm lý học phát triển của Anh, trẻ em có kĩ năng vận động tinh tốt khi đo bằng các bài tập tổng hợp thể hiện khả năng học toán tốt hơn khi vào mẫu giáo và đạt được nhiều thành tích toán học khi vào lớp 1 (Luo, Jose, Huntsinger, & Pigott, 2007)
Dựa trên nghiên cứu của D W Grissmer, K J Grimm, S M Aiyer, W M Murrah, & J S Steele (2010) đã chứng minh vận động tinh ảnh hưởng đến thành tích học tập của trẻ, cụ thể là toán và đọc viết, L.Dinehart and L.Manfra (2013) cũng nghiên cứu về tầm quan trọng của vận động tinh đối với việc học tập Nghiên cứu này có thêm phát hiện mới là khả năng cầm bút ở trường mầm non là một yếu
tố dự đoán thành tích học toán và đọc sau này Họ cho rằng điều này có thể là do trẻ
em tạo ra hệ thống các biểu tượng trong ý nghĩ thông qua quá trình viết (Dinehart & Manfra, 2013)
Trang 32Tài liệu “Hướng dẫn tổ chức các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong nhóm trẻ độc lập tư thục, nhóm trẻ gia đình (ghép nhiều độ tuổi)” xác định việc giáo dục phát triển vận động tinh góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non, trong đó: “Các kĩ năng vận động tinh giúp trẻ tham gia vào việc tạo ra cái đẹp trong hoạt động tạo hình, trẻ có thể tự mình tạo ra những sản phẩm như các bức tranh, các con vật được xếp từ hột hạt hoặc làm bằng đất nặn… Nhờ đó giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo phong phú” (Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Nguyễn Thị Thu Hà, 2017)
Tham gia vào các hoạt động sử dụng vận động tinh giúp trẻ phát triển tình cảm – kĩ năng xã hội:
Trẻ biết thể hiện thái độ phù hợp với việc thực hiện các vận động, các kĩ năng vận động giúp trẻ thực hiện tốt các hoạt động tự phục vụ như vệ sinh cá nhân, cất dọn đồ dùng đúng nơi quy định… kĩ năng vận động còn giúp trẻ tiến gần đến với thế giới đồ vật hơn, trẻ biết cách thao tác và ứng xử phù hợp với đồ vật, biết bảo vệ và chơi an toàn với đồ vật, từ đó hình thành những phẩm chất tâm lý quan trọng cho trẻ (Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Nguyễn Thị Thu Hà, 2017) Liên quan đến sự phát triển về mặt tình cảm – kĩ năng xã hội, Stewart, Rule và Giordano với nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của các hoạt động sử dụng kĩ năng vận động tinh đối với sự tham gia của trẻ mẫu giáo” đã tìm ra mối liên hệ giữa các kĩ năng vận động tinh với sự tập trung chú ý khi tham gia hoạt động ở trẻ Nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng sự tham gia hoạt động một cách tích cực của trẻ gái được tăng lên thông qua việc sử dụng các vật liệu (Stewart, Rule, & Giordano, 2007, p.108)
Chính sự thành thạo về kĩ năng vận động tinh sẽ giúp cho trẻ thao tác dễ dàng với các đối tượng, thực hiện được hành động theo nhu cầu bản thân, từ đó tạo sự hứng thú, tập trung giúp trẻ trở thành chủ thể tích cực khi tham gia các hoạt động Trong bài viết “Kĩ năng vận động tinh: Những điều bạn cần biết” trên trang www.understood.org, trả lời cho nội dung “Tại sao kĩ năng vận động tinh quan
Trang 33trọng”, Kate Kelly đưa ra các ý như sau: Kĩ năng vận động tinh để trẻ em thực hiện các nhiệm vụ quan trọng như chạm vào, cầm nắm, di chuyển đồ vật và sử dụng các công cụ như bút màu, bút chì và kéo Khi trẻ em sử dụng đôi tay thành thạo hơn, sự phối hợp tay - mắt của chúng được cải thiện Trẻ cũng học các kĩ năng cần thiết để thành công ở trường, chẳng hạn như vẽ và viết Phát triển những khả năng này giúp trẻ trở nên độc lập hơn và hiểu cách thức hoạt động của cơ thể Và khi trẻ học được cách làm thế nào để tác động đến thế giới xung quanh, lòng tự trọng của trẻ cũng có thể phát triển (Kate Kelly, n.d.)
Trẻ 25-36 tháng là giai đoạn chuyển tiếp từ môi trường nhà trẻ với hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật chuyển sang hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo Trong hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề, vai chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi “Đóng vai có nghĩa là tái tạo lại hành động của một người lớn với các đồ vật trong những mối quan hệ nhất định với những người xung quanh” (Nguyễn Ánh Tuyết, n.d.)
Do đó, để tham gia dễ dàng vào các trò chơi, trẻ cần có kĩ năng vận động tinh khi tương tác với đồ vật nhằm thể hiện vai chơi của mình, nếu không, trẻ khó hòa nhập cùng các bạn khi chơi, dẫn đến mất niềm tin vào bản thân, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ Ngoài ra, phát triển tốt kĩ năng vận động tinh sẽ giúp trẻ 25-36 tháng thực hiện các công việc tự phục vụ, chăm sóc bản thân một cách độc lập, tự tin Điều này hết sức cần thiết khi trẻ lên lớp mẫu giáo, đặc thù
là số trẻ trên một giáo viên cao hơn so với nhóm nhà trẻ, giáo viên mẫu giáo cần hơn cả là tính tự lực ở trẻ trong sinh hoạt hàng ngày Trẻ 25-36 tháng có nền tảng cơ bản về kĩ năng vận động tinh sẽ thuận lợi khi tham gia các hoạt động ở các lớp mẫu giáo, trẻ dần khéo léo, tỉ mỉ, tập trung hơn khi thực hiện các vận động cơ tinh, góp phần chuẩn bị tốt tâm thế đến trường tiểu học sau này của trẻ
Tài liệu “Giáo viên hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học” của Cục nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đưa ra một số dấu hiệu cơ bản giúp nhận diện sự sẵn sàng vào trường tiểu học của trẻ mầm non, cụ thể ở khả năng vận động: “Trẻ có thể đi lại, chạy nhảy, leo trèo được một mình; Trẻ biết sử dụng dao, kéo, bút chì và các dụng cụ học tập khác, có thể vẽ được hình người và
Trang 34các hình dạng khác nhau; Trẻ có thể đi vệ sinh, chuẩn bị và thay quần áo cũng như một số kĩ năng tự chăm sóc bản thân khác ” (Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ
sở giáo dục, 2016) Việc chuẩn bị tốt cho trẻ những khả năng này đòi hỏi cả một quá trình rèn luyện chứ không chỉ diễn ra trong 1-2 năm học cuối tuổi mẫu giáo Bên cạnh đó, kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành kĩ năng tiền đọc viết (làm quen đọc viết) Mặc dù trẻ chưa biết đọc, biết viết nhưng những kĩ năng để có thể đọc, viết sau này đang bắt đầu hình thành Chẳng hạn như khi trẻ vẽ những nét nguệch ngoạc là cơ hội để trẻ dần làm quen với cách cầm bút, khi trẻ lật giở từng trang sách xem album ảnh hay tranh truyện là để bước đầu trẻ biết cách sử dụng sách Nếu trẻ không thể điều khiển bút tạo ra đường nét thì khó tập cho trẻ cầm bút đúng cách, nếu trẻ không thể lật giở được các trang sách thì hoạt động này dần nhàm chán, trẻ sẽ không còn yêu thích, khám phá để học cách sử dụng những quyển sách xung quanh mình Những kĩ năng ban đầu về đọc viết được hình thành trong giai đoạn này là rất quan trọng, tạo nền tảng phát triển cho những năng lực phức tạp hơn về đọc viết ở tuổi mẫu giáo và cấp tiểu học
1.4 Sự phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
1.4.1 Đặc điểm phát triển kĩ năng vận động tinh
Sự phát triển kĩ năng vận động tinh đã được trình bày khá chi tiết trong bài viết “Hỗ trợ sự phát triển của trẻ”:
Như tất cả các lĩnh vực phát triển khác, mỗi đứa trẻ sẽ phát triển kĩ năng vận động tinh theo một tốc độ riêng cũng như thể hiện những điểm mạnh và khả năng khác nhau tùy thuộc vào sở thích và tính cách của mỗi trẻ Tuy nhiên, có một khuôn mẫu chung cho sự phát triển vận động tinh của trẻ ở từng giai đoạn lứa tuổi, đó chính là các cột mốc “đặc trưng” của độ tuổi đó Một số cột mốc quan trọng về vận động tinh mà trẻ em có thể đạt được theo các giai đoạn phát triển nhất định:
- Từ 16 tháng đến 3 tuổi, trẻ tiếp tục củng cố kĩ năng vận động tinh và sử dụng chúng để tự mình khám phá thế giới xung quanh Trong thời gian này, trẻ bắt đầu tự xúc ăn, có thể xếp chồng và kết nối các vật liệu lớn hơn để chơi trò xây dựng Trẻ
Trang 35cũng bắt đầu có biểu hiện trong việc sử dụng các dụng cụ vẽ mặc dù việc cầm bút chì ban đầu có thể khá vụng về, chẳng hạn như dùng cả nắm tay để cầm bút
- Từ 3 đến 5 tuổi, trẻ bắt đầu kiểm soát thành thạo các chuyển động cơ nhỏ và làm chủ các thao tác như cởi nút hoặc sử dụng kéo Trẻ cũng bắt đầu tinh chỉnh các
kĩ năng vẽ và viết, có thể sao chép các chữ cái, số, hình dạng và thường tạo ra các bản vẽ khá phức tạp Từ khoảng 3 tuổi, hầu hết trẻ em thiết lập sự lựa chọn tay thuận là trái hoặc phải (Owens, 2008)
Bàn về kĩ năng vận động tinh, Kid Sense Child Development, nhà cung cấp dịch vụ trị liệu nhi khoa ở Adelaide, Nam Úc đã biên soạn từ nhiều nguồn thông tin khác nhau trong nhiều năm để đưa ra khái niệm: Kĩ năng vận động tinh là các kĩ năng của bàn tay và ngón tay như viết, cắt, mở hộp và buộc dây giày Sự phát triển của các kĩ năng này phụ thuộc vào sự phát triển thích hợp của lứa tuổi về kĩ năng thể lực (như kiểm soát thân xương và sức mạnh của vai) khi được chuẩn bị nền tảng
ổn định thì sẽ kiểm soát được các thao tác của cánh tay và bàn tay (“Fine Motor Development Chart - Kid Sense Child Development,” n.d.)
Đồng thời bài viết cũng cung cấp các cột mốc phát triển kĩ năng vận động tinh theo nhóm tuổi cũng như những ảnh hưởng xấu xảy ra khi không đạt được các mốc phát triển Những thông tin này được hình thành từ nhiều năm thực hành lâm sàng cũng như tư vấn điều trị với giáo viên tại các trường học ở Nam Úc về các kĩ năng phát triển cần thiết cho trẻ em Trong những năm gần đây, các thông tin đã được sửa đổi thêm bởi sự cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu của Chương trình khung, Đánh giá và Báo cáo Australia (ACARA) Đối với giai đoạn từ 2 đến 3 tuổi:
- Các mốc phát triển:
+ Xâu dây hạt lớn;
+ Lật từng trang sách;
+ Cắt bằng kéo;
+ Giữ bút chì bằng đầu ngón tay và ngón tay (không nắm cả bàn tay);
+ Sử dụng một tay nhất quán trong hầu hết các hoạt động;
+ Bắt chước vẽ đường tròn, thẳng đứng và ngang;
+ Thao tác đến cả cổ tay để vẽ, tạo các chấm nhỏ, các nét thẳng, nét tròn;
Trang 36+ Nhào, nặn, bóp và kéo bột (đất nặn);
+ Ăn mà không cần sự trợ giúp (tự xúc ăn)
- Các ảnh hưởng có thể xảy ra nếu không đạt mốc phát triển:
+ Trì hoãn các kĩ năng tự phục vụ (như ăn uống, rửa tay lau mặt, );
+ Trì hoãn việc phát triển kĩ năng tiền viết;
+ Trì hoãn việc thao tác với các đối tượng nhỏ: đồ chơi, bút chì và kéo;
+ Thất vọng khi thao tác với đồ chơi và đồ vật nhỏ (“Fine Motor Development Chart - Kid Sense Child Development,” n.d.)
Tài liệu của Comfort, Play & Teach (CPT) được tạo ra bởi các chuyên gia thông qua Invest for Kids và tổ chức phối hợp của Trung tâm Phụ huynh - Trẻ em - Gia đình Phoenix và IMHP đã trình bày các cột mốc quan trọng của trẻ được mô tả trong các lĩnh vực phát triển khác nhau và đưa ra các kĩ năng đặc trưng, nổi bật theo lứa tuổi và giai đoạn Bài viết cho rằng: “Biết được các kĩ năng đặc trưng và các kĩ năng nổi bật có thể giúp người lớn cung cấp những kinh nghiệm thích hợp để tăng cường sự phát triển của trẻ… Mỗi đứa trẻ phát triển theo tốc độ riêng của mình, với một số kĩ năng nổi bật sớm và một số kĩ năng khác xuất hiện sau đó…” Đối với giai đoạn trẻ từ 25-36 tháng, các kĩ năng vận động tinh gồm: (1) Kĩ năng đặc trưng: Cầm bút bằng cả bàn tay vẽ nguệch ngoạc; Bắt chước vẽ các đường thẳng đứng và ngang; Xếp chồng từ 5 khối trở lên; Xâu hạt, nhặt hột hạt bằng ngón tay cái và ngón trỏ; Mở nắp hộp - lọ, xoay cổ tay; (2) Kĩ năng nổi bật: Bắt đầu sử dụng các ngón tay
và ngón cái khi cầm bút; Bắt chước vẽ một dấu hiệu, sao chép một vòng tròn; Gấp giấy; Sử dụng kéo nhỏ để cắt giấy; Mở nút quần áo, kéo dây kéo (IMHP) (“Ages and Stages -25-36 Months The Remarkable World of Your Toddler: An Overview
of Your Toddler’s Development,” n.d.)
Giống như các kĩ năng vận động thô, các kĩ năng vận động tinh sẽ phát triển dần theo thời gian với việc thực hành được lặp lại nhiều lần Phát triển vận động tinh bắt đầu bằng các thao tác đơn giản như nắm các vật (ngón tay của mẹ, tiếng kêu, đồ chơi), cầm chai, nhặt đồ vật, cầm muỗng tự xúc ăn, kiểm soát các cơ ngón tay thực hiện các thao tác khó cần sự khéo léo hơn như xếp khối gỗ và chơi bột, bấm nút và khóa kéo, sử dụng công cụ để vẽ và viết (cầm phấn, đá, que ) và sau đó
Trang 37sử dụng bút chì hoặc bút để viết tên hoặc sao chép từ Quá trình phát triển diễn ra tự nhiên theo thời gian nhưng nếu không có sự tác động phù hợp hoặc có sự cản trở thì tốc độ của sự tiến bộ sẽ bị hạn chế, trẻ sẽ không phát triển như bình thường Trẻ 25-
36 tháng chưa hoàn thiện các cơ vận động tinh nhưng vẫn thích thực hiện các hành động cần sử dụng cơ nhỏ của ngón tay và bàn tay như vẽ, xếp hình, cắt giấy, (Đặng Hồng Phương, 2012)
Vì vậy, nếu tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm nhiều hoạt động sẽ giúp trẻ phát triển thành thạo các kĩ năng vận động tinh, tạo nền tảng quan trọng để tập trẻ tuân thủ các quy tắc, nề nếp thói quen, làm việc độc lập Trẻ dần phát triển tính tự lập cần thiết cho sự chuyển tiếp qua môi trường giáo dục tuổi mẫu giáo
1.4.2 Các yếu tố cần thiết để phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ 25-36 tháng
- Sức khỏe của trẻ, bao gồm cả thể chất và tinh thần:
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát triển và tăng trưởng về mặt thể chất cho phép trẻ trở nên thành thạo hơn trong việc kiểm soát và mở rộng sự vận động và các hoạt động của cơ thể Vì vận động thô sẽ phát triển trước vận động tinh nên trẻ cần được dạy cách kiểm soát các phần chính của cơ thể trước khi chúng phát triển các kĩ năng vận động tinh Khi chúng ta có kế hoạch để trẻ có thể đạt được các
kĩ năng vận động liên tục, trẻ sẽ trở nên tự tin và có năng lực hơn ở trường và cũng như trong cuộc đời sau này (Trường CĐSPTW dịch, 2008, p.158)
Cơ bắp của trẻ phát triển từ gần đến xa nghĩa là sẽ đạt được độ ổn định ở những vùng như vai và xương bả vai trước khi chúng có được sự ổn định của các cơ nhỏ hơn như cơ bàn tay Nếu không có cơ bắp trên vai thì trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn với các hoạt động cần kĩ năng vận động tinh Nói chung sự ổn định đến từ thân mình, tới vai, rồi đến khuỷu tay, cổ tay và cuối cùng là bàn tay Kĩ năng bàn tay được phát triển từ vận động thô đến vận động tinh Như một đứa trẻ ban đầu tiếp xúc với món đồ chơi bằng cách sử dụng cả gan bàn tay chạm vào chứ chưa thể chuyển động linh hoạt các ngón tay để cầm nắm Sự phát triển theo thứ tự là chạm vào, nắm chặt, cầm lên, giữ trong lòng bàn tay và thả ra (“Child Fine Motor Development and Handwriting - Suffolk County, Long Island,” n.d.)
Trang 38Như Heather Greutman đã chia sẻ: để có thể thực hiện những hoạt động nhằm phát triển kĩ năng vận động tinh thì trước hết cần có một cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt
là những vùng cơ quan trọng có liên quan đến các thao tác của hoạt động
Kĩ năng vận động tinh rất quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của trẻ thơ Không chỉ cần thiết để phát triển các kĩ năng tự phục vụ như tắm, mặc quần áo, ăn uống và viết tay, các kĩ năng vận động tinh còn là một phần của sự phát triển toàn diện ở trẻ như kĩ năng vận động thô Tất cả các kĩ năng vận động thô cũng như vận động tinh được liên kết, hợp tác và phát triển cùng nhau Điểm mạnh và điểm yếu của kĩ năng vận động thô ảnh hưởng đến sự phát triển chung của vận động Cần có sức bền cơ bắp, sự phối hợp song phương, đường giữa thân, sức mạnh cổ và vai (Core strength, bilateral coordination, crossing midline, and neck and shoulder strength) để có thể phát triển tốt các kĩ năng vận động tinh (Greutman, 2017)
Theo các tài liệu như trên chứng tỏ sức khỏe của trẻ là rất cần thiết, ảnh hưởng nhiều đến vận động của trẻ và khả năng sử dụng đồ vật một cách hiệu quả
Ngoài mặt thể chất, tinh thần của trẻ cũng phải được chú ý bởi trẻ ở nửa cuối tuổi ấu nhi có sự tiếp xúc với thế giới xung quanh rộng hơn nên phương thức hành động với đồ vật cũng ngày càng phong phú Nếu trẻ có được tâm thế thoải mái, tự nhiên thì sẽ dễ dàng tiếp nhận sự hướng dẫn để thao tác phát triển kĩ năng vận động tinh Theo tài liệu “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” của Nguyễn Ánh Tuyết:
Ở tuổi ấu nhi, trẻ mới chỉ học cách sử dụng một số công cụ sơ đẳng nhất như thìa, cốc, bút chì Công cụ là khâu trung gian giữa bàn tay con người với đồ vật cần tác động tới, và tác động đó diễn ra như thế nào lại tuỳ thuộc vào cấu tạo của công cụ… Trẻ chỉ nắm được hành động công cụ một cách đúng đắn khi
có sự hướng dẫn có hệ thống của người lớn Người lớn làm mẫu cho trẻ, hướng dẫn sự vận động bàn tay sao cho phù hợp với công cụ và luôn nhắc nhở trẻ chú
ý đến kết quả Cứ như vậy trẻ sẽ lĩnh hội được những hành động công cụ cần cho cuộc sống hàng ngày
Trang 39Hành động công cụ mà trẻ nắm được ở lứa tuổi ấu nhi chưa phải là hoàn toàn thành thạo, còn phải tiếp tục hoàn thiện thêm Song điều quan trọng là ở chỗ trẻ nắm được chính nguyên tắc của việc sử dụng công cụ, một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của con người Nhờ đó trong những trường hợp khác trẻ
có thể tự mình sử dụng một đồ vật nào đó làm công cụ (như dùng que khều quả bóng ở dưới gầm giường) (Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, 2014) Một khi trẻ tiếp nhận thông tin cũng như kiến thức trong trạng thái thoải mái, vui vẻ thì sẽ dễ dàng chuyển hóa thành dữ liệu cho bản thân, trẻ có khả năng lập kế hoạch vận động Trong bài viết “Lập kế hoạch vận động, kiểm soát vận động và sự phối hợp vận động - Hiểu biết khái niệm kế hoạch vận động và các giới hạn có liên quan” trên www.verywellfamily.com, Catherine Holecko đã định nghĩa kế hoạch vận động là khả năng tổ chức các hành động của cơ thể: biết các bước cần thực hiện
và theo thứ tự như thế nào để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể (Catherine Holecko, 2017)
Đây là một kĩ năng quan trọng dùng để thực hiện một nhiệm vụ mới chưa từng thực hiện trước đó Kế hoạch vận động cho phép trẻ tìm ra cách hoàn thành vận động theo một trình tự chính xác từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Heather Greutman chia sẻ, nếu một đứa trẻ gặp khó khăn về kĩ năng này, bạn sẽ nhận thấy trẻ rất ái ngại khi được giao một nhiệm vụ để thực hiện Chúng có thể nói rằng “không thể làm điều đó” hoặc đổ lỗi cho đối tượng cần tương tác bằng cách nói là cái đó bị
“kẹt”, “hỏng” hoặc “nặng” Tất nhiên, nhiều trẻ em sẽ nói điều này như một phản ứng hành vi để không phải làm gì cả Nhưng đối với một đứa trẻ hạn chế về kế hoạch vận động, nó thực sự không thể hình dung ra phải làm gì và sẽ vô cùng hụt hẫng với các nhiệm vụ mới (Greutman, 2017, p.18)
Một đứa trẻ có sức khỏe về thể chất và tinh thần là điều kiện lý tưởng để tác động giúp trẻ phát triển tốt nhất các kĩ năng vận động tinh cần thiết cho môi trường mẫu giáo trẻ sẽ trải qua trong tương lai
- Môi trường giáo dục
Trang 40Mô đun 7 “Môi trường giáo dục trẻ mầm non” trong Chương trình học Bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên mầm non cung cấp thông tin như sau:
Môi trường giáo dục cho trẻ mầm non chính là các phương tiện, học liệu và những hoạt động đa dạng; những tình huống lôi cuốn trẻ tham gia tích cực, tự tìm tòi, khám phá qua thực hành, giải quyết vấn đề một cách sáng tạo để trực tiếp lĩnh hội kinh nghiệm; giao tiếp giữa giáo viên với trẻ và trẻ với trẻ Ở đó các mối quan hệ được thiết lập cho trẻ thấy trẻ được coi trọng và chấp nhận như một thành viên độc lập trong tập thể Trẻ có cảm giác an toàn và sẵn sàng tương tác một cách tự tin với thế giới vật chất và xã hội để phát triển toàn diện (Nguyễn Thị Mai Chi, 2011, p.50)
Trong tài liệu của Bộ GD&ĐT “Hướng dẫn tổ chức và sử dụng môi trường giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non”, môi trường giáo dục bao gồm môi trường vật chất và môi trường xã hội Môi trường vật chất gồm các trang thiết bị, không gian xung quanh được sử dụng để tạo nhiều cơ hội tốt giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu hoạt động và phát triển toàn diện Môi trường xã hội đặc biệt được nhấn mạnh ở đây là mối quan hệ và tương tác giữa giáo viên với trẻ, trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh Môi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất gia đình “Như vậy môi trường giáo dục trong trường mầm non cần phải cung ứng những điều kiện cần thiết để kích thích và phục vụ các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ một cách tích cực, hiệu quả” (Nguyễn Bá Minh (chủ biên), 2018)
Đề cập đến môi trường vật chất, yếu tố quan trọng đầu tiên là các phương tiện được sử dụng cho việc phát triển kĩ năng vận động tinh của trẻ phải đảm bảo theo Thông tư Ban hành Danh mục Đồ dùng – Đồ chơi – Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho GDMN nhóm 24-36 tháng tuổi (25 trẻ), Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT ngày 23 tháng 3 năm 2015 của Bộ GD&ĐT (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2015b) Đối với các đồ dùng, đồ chơi hay thiết bị dạy học ngoài danh mục do sưu tầm, mua sắm thêm hoặc tự tạo cần được lựa chọn và thiết kế phù hợp, chú ý mặt kỹ thuật và độ tương thích với bàn tay trẻ Nếu để trẻ sử dụng các phương tiện không