1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường chứng khoán với phát triển kinh tế và mối quan hệ với công ty cổ phần.doc

32 720 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Chứng Khoán Với Phát Triển Kinh Tế Và Mối Quan Hệ Với Công Ty Cổ Phần
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường chứng khoán với phát triển kinh tế và mối quan hệ với công ty cổ phần

Trang 1

Mở đầu

Trong vòng 10 năm (1988-1998) thực hiện đờng lối của Đảng, kiên trì phơngchâm chiến lợc: coi trọng hợp tác quốc tế theo xu thế hội nhập, khu vực hoá và toàncầu hoá nền kinh tế, tranh thủ mọi khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữacác nguồn lực từ bên ngoài, bao gồm cả vốn, công nghệ, thị trờng và trình độ quản lý.Việt nam đã thu hút đợc hơn 2400 dự án đầu t nớc ngoài với tổng số vốn gần 36 tỷUSD, trong đó có khoảng 13 tỷ USD đã đợc thực hiện (chiếm gần 90% tổng vốn đăngkỳ)

Cùng với các nguồn tài trợ khác, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thực (ODA)

và đầu t trực tiếp của nớc ngoài (FDI) thật sự đang là môtj nguồn lực tài chính quantrọng thúc đẩy sự phát triển đất nớc, góp phần cho mức tăng trởng GDP trong nhữngnăm qua đạt trên 8% giải quyết việc làm cho hơn 27 vạn lao động trực tiếp và hàngchục vạn lao động gián tiếp

Tuy nhiên, Đảng và Nhà nớc Việt Nam vẫn khẳng định nguồn lực trong nớc mới

là nhân tố quyết định cho quá trình tăng trởng và phát triển bền vững Nguồn lực nộisinh là một khái niệm rất rộng, là tổng hợp toàn bộ các nguồn lực trong nớc, không chỉ

có ở vốn tài sản cơ sở vật chất - kỹ thuật đã tích luỹ đợc mà còn là tài nguyên cha đavào sử dụng, lợi thế về địa lý kinh tế, chính trị, trong đó quan trọng nhất là nguồn lựccon ngời bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thầy gắn với truyền thống văn hoácủa dân tộc

Thời gian qua, bằng một loạt các giải pháp đồng bộ đổi mới, điều chỉnh và hoànthiện chính sách, cơ chế môi trờng sản xuất kinh doanh, nguồn lực của đất nớc đã có

sự khởi động và bớc đầu phát huy tác dụng Thế nhng hiệu quả đạt đợc còn cha lớn,nhiều tiềm năng còn bị lãng phí Việc huy động nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong dân

c cho đầu t tăng trởng còn cha nh mong muốn Ước tính còn có 5-6 tỷ USD vốn nhàrỗi trong dân c nhng việc huy động vẫn gặp khó khăn, vì nhân dân còn e ngại, các cơchế, chính sách còn có trói buộc và nhất là cha xây dựng đợc mô hình huy động vốnhợp lý

Một trong các nguồn lực nội sinh nữa còn để lãng phí là nguồn lực lao động,nguồn lực trí tuệ, đặc biệt là của đội ngũ trí thức, dẫn đến tình trạng "chảy máu chấtxám" mà cha có một giải pháp nào khắc phục hữu hiệu Những hạn chế này trong việcphát huy nguồn lực nội sinh sẽ là nguyên nhân làm suy giảm dòng chaỷ đầu t từ nớcngoài vào nớc ta, gây khó khăn cho nền kinh tế

Trớc những thách thức về khủng hoảng kinh tế khu vực và trên thế giới, việc giảiquyết những nhợc điểm trên đây trong chính sách vĩ mô về phát huy nội lực nền kinh

tế sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc đa đất nớc phát triển trong giai đoạn mới

Từ thực tế nền kinh tế của một số quốc gia trong khu vực Đông năm á nh Tháilan, Indonêxia, Malaisia, Philipin nhiều nhà kinh tế phải thừa nhận rằng: Thị trờngchứng khoán là một trong những tác nhân làm cho tình trạng khủng hoảng kinh tếthêm trầm trọng Và do vậy, không chỉ có ngời dân cảm thấy lo ngại khi đầu t vào

Trang 2

chứng khoán, mà chính các nhà đầu t và kinh doanh chứng khoán cũng không thật sự

an tâm

Tuy nhiên, cũng chính thực tế của nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới,cho thấy, họ đã đạt đợc những bớc tiến đáng kể sau khi xây dựng thành công thị trờngchứng khoán Trong sự chuyển động của nền kinh tế Việt Nam theo xu hớng đổi mới,thông qua các hoạt động đa dạng của nó, thị trờng chứng khoán Việt nam sẽ đợc hìnhthành và đi vào hoạt động trong thời gian tới Nó sẽ không chỉ phát huy đợc nội lực củanền kinh tế mà còn thu hút mạnh mẽ hơn các nguồn vốn đầu t nớc ngoài để thúc đẩytăng trởng kinh tế, làm cho "dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh" nh lờichủ tịch Hồ chí Minh đã nói

Điều này cho thấy, sự thành lập thị trờng chứng khoán (TTCK) ở Việt nam làthực sự quan trọng và rất cần thiết; nó cho thấy rằng, Đảng và chính phủ ta đã cónhững chủ trơng và đờng lối hoàn toàn đúng đắn Chính vì vậy, việc tìm hiểu và hiểubiết về TTCK là rất cần thiết đối với chúng ta (những nhà kinh tế tơng lai)

TTCK là một vấn đề rộng lớn và rất phức tạp, vì vậy trong phạm vi đề án này, tôi

xin trình bày về "Thị trờng chứng khoán với phát triển kinh tế và mối quan hệ với

công ty cổ phần"

Mong muốn thì nhiều nhng vì khả năng và trình độ có hạn cho nên ở tập đề ánnày sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Nhng với trách nhiệm là một nhàkinh tế tơng lai trớc vận hội mới của đất nớc, tôi mong muốn đợc tiếp tục nghiên cứu

để có thêm những tri thức đúng đắn và hoàn thiện hơn nữa, góp phần nhỏ bé của mìnhtrong sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc Rất mong đợc bạn đọc gần xa góp ý kiến để đề

án của tôi đợc hoàn thiện hơn

Trang 3

Trong buôn bán nợ nần lẫn nhau là chuyện phổ biến Các chứng từ ghi nợ(debentủe) là những giấy tờ đợc coi là những giấy tờ có giá trị nh tiền vâỵ Các chứng

từ nợ này lại đợc chia làm hai loại Các kỳ phiếu (bill) và các hối phiếu (bill ofexchange) Các kỳ phiếu là các giấy nợ có ghi kỳ hạn thanh toán mà con nợ phải trảcho chủ nợ một số tiền nhất định Các hối phiếu là một lệnh trả mà con nợ yêu cầu mộtngời thứ ba nào đó trả hộ mình một món nợ cho chủ nợ (có thể có kỳ hạn hoặc không

có kỳ hạn thanh toán) Nh vậy, kỳ phiếu ứng với loại thanh toán trực tiếp giữa chủ nợ

và con nợ; hối phiếu ứng với loại thanh toán gián tiếp thông qua ngời thứ ba Ví dụ,nếu bạn phải trả một món tiền cho ngời nào đó khi bạn không còn tiền trong túi hoặcbạn không muốn dùng tiền trong túi để trả, trong khi đó lại có một ng ời khác đang nợbạn, bạn có thể yêu cầu ngời đó trả hộ bạn món nợ đó

Việc chuyển nhợng các văn tự nợ trớc thời hạn thanh toán để đổi lấy tiền mặt chocác vụ buôn bán trớc mắt là chuyện thờng trong buôn bán Ví dụ bạn cần tiền mặt là 1triệu đồng cho một vụ buôn bán ngày mai, trong khi đó bạn chỉ có các khoản nợ (ví dụcũng là 1 triệu) mà ngời khác nợ bạn, những khoản nợ này lại cha đến kỳ hạn thanhtoán Vì vậy bạn phải nhợng lại văn tự nợ đó cho một ngời khác để có tiền mặt tức thìcho vụ buôn bán hôm sau Tất nhiên khi chuyển nhợng lại khoản nợ nh vậy bạn sẽkhông thể nhận đợc trọn cả 1 triệu đồng mà thay vào đó là một khoản dới 1 triệu đồng,bởi vì bạn phải trả một khoản lãi suất nhất định cho ngời mua do phải chờ đến kỳ hạnthanh toán Hoạt động này ngời ta gọi là sự triết khấu (discounting)

Với sự phát triển ồ ạt của thơng nghiệp nh vậy thì tốc độ di chuyển vốn ngàycàng phải nhanh Yêu cầu di chuyển vốn nhanh tất yếu dẫn đến sự gia tăng trong việcchuyển nhợng các văn tự nợ Frankfurt và Amstecdam nh đã nói ở trên, đã nổi lênthành hai trung tâm thế giới trong việc mua bán, chuyển nhợng các văn tự nợ này

Đồng thời với sự phát mạnh mẽ của thơng mại là sự nảy sinh các sáng kiến vayvốn trả lãi cho công chúng của các chính phủ nhằm huy động vốn xây dựng các côngtrình lớn nh đập nớc, đờng giao thông (điển hình là kênh đào Suy-ê).v.v Để có đủ tàichính cho việc xây dựng các công trình lớn nh vậy, các chính phủ thấy không còn cáchnào khác là phải huy dộng vốn từ trong dân chúng bằng cách phát hành các trái phiếuvay nợ (bond) ra công chúng Những ngời mua trái phiếu này sẽ đợc hởng một khoảnlợi tức theo một lãi suất đã đợc ấn định cho đến kỳ hạn thanh toán, chẳng hạn 10, 20năm.v.v tuỳ từng trờng hợp cụ thể Sáng kiến này sau đó đợc các chính quyền địa ph-

Trang 4

ơng noi theo nhằm vào các mục đích phát triển ở địa phơng Nh vậy, các trái phiếuchính phủ là một nguồn tiết kiệm sinh lãi đối với những ngời sở hữu các trái phiếu đó.Tuy nhiên cuộc đời thật éo le, không phải ai cũng có thể chờ đợc đến kỳ hạn thanhtoán của trái phiếu, vì nhiều khi cần tiền mặt mà trong tay lại chỉ có các trái phiếu Vàthế là việc bán và chuyển nhợng các trái phiếu trớc kỳ hạn thanh toán lại xảy ra y hệt

nh đối với các thơng phiếu

Các hoạt động chuyển nhợng các giấy tờ có giá trị nh vậy đợc gọi là các hoạt

động mua bán chứng khoán đầu tiên, và đợc tập trung lớn nhất ở Frankfurt vàamstecdam Thật vậy, chứng khoán (securities hay stock) là tất cả các loại giấy tờ cógiá trị đợc mua bán, chuyển nhợng; lĩnh vực diễn ra các hoạt động mua bán đó đợc gọi

là thị trờng chứng khoán (stock market hay security market); và các nơi diễn ra cáchoạt động đó đợc gọi là các sở giao dịch chứng khoán (the stock exchange) Đến thế

kỷ 15,16 TTCK đợc hình thành nh thế ở Frankfurt và Amstecdam, và những chứngkhoán đầu tiên là những thơng phiếu (gồm các kỳ phiếu và hối phiếu) và các trái phiếu(chính phủ trung ơng và địa phơng)

Nh vậy chứng khoán nh là các giấy tờ có giá trị nảy sinh do đòi hỏi của việc huy

động vốn (trong trờng hợp của trái phiếu) hoặc do kỹ thuật của việc mua bán trao đổi(trong trờng hợp của thơng phiếu) Và các hoạt động mua bán trao đổi các giấy tờ nàyhình thành nên TTCK Đó là TTCK trớc khi có công ty cổ phần

2 Thị trờng chứng khoán sau công ty cổ phần.

a) Công ty cổ phần:

Thế kỷ 19 là thế kỷ xuất hiện nhiều ngành công nghiệp nhờ sự xuất hiện của máymóc Nhiều ngành công nghiệp tiếp tục phát triển từ những ngành truyền thống vớiviệc ứng dụng máy móc mới, ví dụ ngành dệt Trong những ngành đó, vốn liếng củagia đình, giòng họ của ngời chủ có thể đủ để mua máy móc thiết bị mới để tăng năngsuất, phát triển doanh nghiệp Nhng mặt khác, có những ngành công nghiệp mới xuấthiện lại đòi hỏi rất nhiều vốn liếng mới có thể mở đợc doanh nghiệp, ví dụ điển hìnhtrong thời kỳ này là ngành đờng sắt Để có thể mở đợc doanh nghiệp, không một ngờinào có thể tự đảm bảo đợc đủ số vốn ban đầu để mở mang doanh nghiệp Trong khi đó

sự phát triển đầy triển vọng phát đạt của ngành này là rất rõ rệt và hấp dẫn đối với việc

đầu t Trớc đây, nh đã đề cập ở phần trên, phát hành công trái là một sáng kiến từ thế

kỷ 15 và 16 để huy động vốn xây dựng các công trình lớn đòi hỏi nhiều vốn Giờ đây,

ở vào thế kỷ 19, một sáng kiến nữa dờng nh đợc mô phỏng từ sáng kiến đó trong kinhdoanh là sáng kiến thành lập công ty cổ phần (stock company)

Để mở mang một doanh nghiệp lớn và mới, một nhóm ngời có cùng chung ý tởng

đầu t kiếm lời trong một hoạt động kinh doanh nào đó đã cùng nhau góp vốn để mởdoanh nghiệp Phần đóng góp về tài chính của mỗi ngời trong công ty đó gọi là cổphần (share) Và mỗi ngời đều giữ một hoặc nhiều văn tự chứng thực cho sự đóng góp

cổ phần của mình, những văn tự này gọi là các cổ phiếu (shares) Điều đó có nghĩa làngời ta có thể chia một cổ phần ra thành nhiều cổ phiếu với một giá trị đơn vị nhất

định Ví dụ bạn có cổ phần đóng góp trong công ty xà phòng Daso là một triệu đồng,

Trang 5

và trong tay bạn cầm một trăm cổ phiếu, mỗi cổ phiếu trị giá (ghi trên cổ phiếu đó) là

10 nghìn đồng Nói một cách khác 100 cổ phiếu trong tay của bạn chứng thực bạn cómột cổ phần trị giá 1 triệu đồng trong công ty bột giặt Daso Những ng ời có cổ phần

đóng góp này gọi là những cổ đông (share holders)

Căn cứ vào bối cảnh đóng góp và hởng lợi, ngời ta lại chia cổ phiếu (hay cổ phần)

ra thành hai loại rất cơ bản: cổ phiêu (phần) thờng (ordinary share) và cổ phiếu (phần)

u đãi (preference share) Cổ phần thờng hay còn gọi là cổ phần sáng lập là những cổphần theo đó việc hởng lợi từ công ty hoàn toàn tuỳ thuộc vào tình trạng kinh doanhcủa công ty Nếu công ty làm ăn phát đạt thì phần chia lợi cho các cổ phần này sẽ tăng

và ngợc lại Và những ngời nắm giữ cổ phần này là những cổ đông có quyền tham giavào việc ra các quyết định trong kinh doanh, do đó họ đợc hởng lợi hay phải chịu rủi rotrong kinh doanh do những quyết định của họ gây ra Trái lại, cổ phần u đãi là những

cổ phần giành cho những ngời không có khả năng hoặc không có điều kiện tham giacác hoạt động kinh doanh của công ty nhng vẫn muốn đóng góp đầu t vào công ty đó

để hởng lợi nhuận Vì không tham gia vào việc ra quyết định kinh doanh , những cổ

đông này không muốn phải chịu những rủi ro thất thờng trong kinh doanh, mà thay vào

đó là một thu nhập ổn định, mặc dù thấp, từ phần đóng góp Vì vậy cổ phần u đãi đợchởng một tỷ lệ hoa lợi cố định theo quy định Một điểm khác biệt nữa giữa cổ phiếu th-ờng và cổ phiếu u đãi là khi công ty bị phá sản đợc dùng để trả các khoản nợ mà công

ty đang nợ, sau đó (nếu còn) sẽ thanh toán cho các khoản đầu t của các cổ phiếu u đãitrớc, và cuối cùng (nếu còn) mới thanh toán cho các cổ phiếu thờng

Một điều cần lu ý ở đây là cần phân biệt giữa cổ phiếu u đãi và trái phiếu Điểmgiống nhau giữa hai loại này là cùng có một tỷ lệ hoa lợi nhất định trên mức đóng góp.Nhng trái phiếu (bond) là một khoản vay và đến kỳ hạn thanh toán ngời giữ trái phiếu

đợc hoàn trả khảon tiền đã cho vay đó trong khi đó cổ phiếu u đãi là một khoản đầu tkhông có kỳ hạn trả, và ngời giữ cổ phiếu đó không đợc đòi lại khoản tiền đó trừ khicông ty phá sản nh đã đề cập ở trên

Nh vậy, công ty cổ phần là một sáng kiến trong kinh doanh Nó giải quyết mộttình trạng thiếu vốn để mở hoặc phát triển các doanh nghiệp đòi hỏi vốn lớn mà một cánhân không đủ khả năng tài chính cho việc đó Những cổ đông tham gia kinh doanh hyvọng sẽ kiếm đợc lợi nhuận từ việc kinh doanh đó Và trong tay họ có các cổ phiếuchứng thực cho sự đóng góp cổ phần của họ Nói cách khác cổ phiếu là những giấy tờ

có giá trị Mặc dù về quy định ngời ta không thể đòi đợc các khoản đầu t đó theo ýmuốn, trong chừng mực công ty còn tồn tại những giấy tờ này đem lại cho ngời sở hữuchúng những khoản hoa lợi nhất định Và nh thế có nghĩa là ngời ta có thể chuyển nh-ợng (bán) chúng cho ngời khác tơng tự nh trong trờng hợp của trái phiếu và thơngphiếu nói ở trên

Trang 6

b Sự bùng nổ của thị trờng chứng khoán.

Trớc khi có công ty cổ phần, việc bán các trái phiếu và các thơng phiếu thờng chỉxuất hiện khi các chủ sở hữu chúng có nhu cầu cần tiền mặt Việc di chuyển đầu tkiếm lời từ đầu t vào loại công trái hay thơng phiếu này sang loại công trái hay thơngphiếu khác là rất hãn hữu vì mức lãi suất các loại trái phiếu về cơ bản là tơng đơngnhau, và độ an toàn cũng vậy, TTCK do đó chỉ hoạt động ở quy mô nhỏ

Trái lại, với sự xuất hiện công ty cổ phần việc giao dịch mua bán chứng khoán đãbùng nổ, và bớc sang một giai đoạn hoàn toàn mới mẻ Điều này bắt nguồn từ nhiều lý

do Thứ nhất, các lĩnh vực đầu t trở nên vô cùng đa dạng, bao gồm toàn bộ các hoạt

động sản xuất kinh doanh Ngời đầu t lúc này đứng trớc hàng loạt lựa chọn đầu t Thứhai, mức độ kiếm lời và rủi ro của các lĩnh vực này lại khác nhau, do đó mức sinh lờicho đầu t các lĩnh vực hay công ty khác nhau cũng khác nhau; thậm chí mức sinh lãicủa đầu t còn phụ thuộc vào cả tình hình chính trị hay sự sống còn của một cá nhân có

uy tín trong chính trờng hay trong kinh doanh (xem phần các yếu tố ảnh hởng đếnTTCK) Nói cách khác, ngời đầu t đứng trớc hàng loạt các tình huống lựa chọn đầu t,

và do đó tạo ra nhiều khả năng cho việc di chuyển đầu t từ lĩnh vực này sang lĩnh vựckhác Và tiếp theo đó, thứ ba, tính chất đầu cơ trong giao dịch mua bán loại chứngkhoán này xuất hiện Kết quả là, thứ t một khối lợng lớn giao dịch mua bán chuyển nh-ợng chứng khoán trên thị trờng trở nên thờng xuyên với sự tham gia hết sức đông đảocủa hầu hết các tầng lớp trong xã hội TTCK đến lúc đó thực sự bớc sang một giai đoạnphát triển hoàn toàn mới với sự phát triển mới cả về lợng cũng nh về chất

Nh vậy công ty cổ phần có một ảnh hởng có tính chất cách mạng làm thay đổitoàn bộ hoạt động của thị trờng chứng khoán Nếu nh trớc đây TTCK chỉ là nơi giaodịch các trái phiếu và thơng phiếu, thì giờ đây nó gồm thêm cả một loại chứng khoán

có sức hấp dẫn đầu t hơn gấp nhiều lần, đó là các cổ phiếu Từ đây trở đi, cổ phiếuchiếm tỷ trọng áp đảo trong giao dịch mua bán tại TTCK

II/ Vai trò, chức năng của thị trờng chứng khoán.

Với sự hình thành TTCK nh thế, nền kinh tế quốc gia đã có thêm một công cụmới trong quy trình vận hành của nó Những đóng gọp của TTCK đối với nền kinh tế

đợc thể hiện cụ thể trong những chức năng sau đây

1 Chức năng huy động vốn

Với sự xuất hiện của TTCK, chúng ta dễ dàng nhận thấy vai trò của nó trong việchuy động vốn cho đầu t, đó là một cánh cửa qua đó các chính phủ, công ty và các tổchức kinh tế có thể phát hành các trái phiếu và cổ phiếu để huy động vốn cho sản xuất

và kinh doanh Trớc đây việc tìm ra nguồn vốn hầu nh chỉ dựa vào con đờng vay củangân hàng Giờ đây việc huy động vốn đợc tiền hành trực tiếp với những ngời có ý

định đầu t bằng tiền tiết kiệm của họ bằng cách tạo ra hàng loạt các lựa chọn khácnhau cho đầu t Nói cách khác, bên cạnh công ty huy động vốn trớc đây là lãi suấtngân hàng, giờ đây chúng ta có thêm một công cụ nữa, đó là các chứng khoán

2 Chức năng khuyến khích tiết kiệm và đầu t:

Trang 7

Trớc khi có TTCK, cánh cửa duy nhất để gửi tiền tiết kiệm của ngời tiết kiệm làngân hàng, và lãi suất ngân hàng là khuyến khích duy nhất đối với họ Tất nhiên mứclãi suất ngân hàng có khác nhau vì mục đích cạnh tranh nhằm thu hút khách gửi tiền,

sự khác nhau đó là không lớn Sau khi có TTCK ngời gửi tiết kiệm có thêm một con ờng nữa hấp dẫn hơn cho tiền tiết kiẹm có thêm một con đờng nữa hấp dẫn hơn chotiền tiết kiệm của họ Họ không còn phải phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng với nhữngchênh lệch không đáng kể nữa Trái lại, trớc mặt họ là hàng loạt những lựa chọn khácnhau với những lãi suất khác nhau của các cổ phiếu và trái phiếu( mỗi công ty có thể

đ-có những loại cổ phiếu và trái phiếu khác nhau và tơng ứng với những lãi suất khácnhau) Vì phải chịu rủi ro hơn so với lãi suất ngân hàng (vì là những khoản có tính chất

đầu t )lãi suất các chứng khoán thờng cao hơn lãi xuất ngân hàng, nên nó có tác dụngkhuyến khích tiết kiệm để đầu t

3 Chức năng công cụ di chuyển đầu t

Với sự ra đời của TTCK, khoảng cách giữa ngời tiết kiệm và ngời đầu t đợc xoá

bỏ Bản thân cái gọi là ngời tiết kiệm, xét theo giác độ là ngời mua cổ phiếu, về thựcchất đã phần nào trở thành ngời đầu t rồi Bởi vì khi mua cổ phiếu họ đã có những lựachọn và toan tính đầu t vào lĩnh vực nào thì có lợi hơn Đứng trớc hàng loạt những lựachọn và những biến đổi thờng xuyên của nền kinh tế trong đó một số ngành phát đạttrong thời kỳ này và ngành khác lại trì trệ, những ngời đầu t này phải đa ra các quyết

định về việc họ có nên duy trì đầu t của họ trong lĩnh vực cũ hay di chuyển đầu t sanglĩnh vực khác Để làm đợc việc đó họ phải quyết định xem có nên giữ loại cổ phiếu nào

và bán loại cổ phiếu nào Đó chính là chức năng quan trọng của TTCK giúp các nhà

đầu t có thể di chuyển vốn đầu t một cách dễ dàng hơn

4 Chức năng khuyến khích cạnh tranh

TTCK là nơi hội tụ các loại cổ phiếu và trái phiếu của các công ty, trong đó giá

cổ phiếu và trái phiếu của một công ty có thể lên hoặc xuống tại một thời điểm nào đó

Đồng thời, nếu so sánh với giá cổ phiếu và trái phiếu của công ty khác cùng lĩnh vực

đầu t, có thể giá cổ phiếu và trái phiếu của công ty này cao hơn của công ty khác Điều

đó thúc đẩy các công ty có giá cổ phiếu hoặc trái phiếu hạ hoặc thấp hơn phải tự xemxét laị hoạt động của công ty mình xem đã hiệu quả hay cha, từ đó phải liên tục tổchức lại để nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm cạnh tranh với các đối thủ trên thơng tr-ờng

5 Chức năng thời biểu kinh tế

Các chỉ số chứng khoán đợc tạo ra bằng nhiều cách khác nhau nhằm cung cấpnhững thông tin về tình trạng tốt hay xấu của TTCK Ví dụ chỉ số Down Jhon tăng cónghĩa là giá trung bình của các chứng khoán ở TTCK New york tăng, và ngợc lại Tuynhiên chỉ số đó không chỉ phản ánh động thái của TTCK Chỉ số chứng khoán tăng cónghĩa là giá trung bình các cổ phiếu tăng; giá các cổ phiếu tăng có nghĩa là tình trạngcủa nền kinh tế đang khích lệ Bởi vì khi tình trạng sản xuất của các công ty, các hãngsản xuất có cổ phiếu đợc tính trong chỉ số chứng khoán đang phát đạt thì sẽ có nhiềungời muốn mua cổ phiếu của các công ty đó, hay nói cách khác là muốn đầu t vào lĩnh

Trang 8

vực đó, cuối cùng khi nhu cầu mua cổ phiếu đó tăng lên giá cả các cổ phiếu tăng và do

đó chỉ số chứng khoán tăng Nh vậy chỉ số chứng khoán theo lô gích đó là một hànthời biểu phản ánh tình trạng của toàn bộ nền kinh tế

6 Là công cụ để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới

Thật vậy, TTCK đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Nó là mộtcông cụ kinh tế nhờ đó ngời ta có thể huy động đợc những nguồn vốn khác nhau cho

đầu t Với chức năng là một công cụ giúp cho việc di chuyển đầu t nhanh chóng dễdàng nó đã góp phần hết sức quan trọng làm tăng tính linh hoạt và tốc độ của quá trìnhvận hành của nền kinh tế Đồng thời qua đó ngời ta có thể nhận biết đợc tình trạng củanền kinh tế, và do đó có thể đa những chính sách kinh tế kịp thời khắc phục những vấn

đề đang đặt ra Rõ rạng, TTCK có những u việt của nó và không thể thiếu đợc trongmột nền kinh tế hàng hoá phát triển

III/ Những khía cạnh tiêu cực của thị trờng chứng khoán và vai trò của chính phủ

Bên cạnh những vai trò quan trọng trong nền kinh tế , ngời ta đã đợc nghe rấtnhiều chuyện đổ bể, gian lận và những trò thôn tính lẫn nhau tại các sở giao dịchchứng khoán Chính vì lẽ đó nhiều ngời đã lớn tiếng cho rằng TTCK đem lại nhiều taihại cho nền kinh tế và xã hội hơn là những cái lợi

Cuộc đổ bể lớn đầu tiên trong lịch sử phát triển của TTCK là cuộc khủng hoảngnăm 1929-1933 Nh chúng ta biết cuộc khủng hoảng kinh tế trong thời kỳ này làkhủng hoảng thừa Nền kinh tế trong những năm trớc đó phát triển tốt đẹp, ai cũng

đánh giá lạc quan về tăng trởng kinh tế cho những năm tới Do đó nhu cầu đầu t vào cổphiếu tăng lên mạnh trong một vài năm trớc đó Nhng không may, cuộc khủng hoảngthừa ế hàng hoá đã xảy ra vào năm 1929 Toàn bộ nền kinh tế thế giới không thể vậnhành đợc nữa và lâm vào khủng hoảng Sự bi quan và đen tối của của nền kinh tế đãdẫn đến tình trạng là ai cũng muốn đem bán tháo tất cả những cổ phiếu có trong tay.Kết quả là giá tất cả các cổ phiếu giảm xuống một cách thảm hại, và TTCK ở hầu hếtcác nớc t bản đều sụp đổ, dẫn đến nhiều thiệt hại cho những ngời giữ các chứng khoánnói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung

Một vấn đề ở đây là khi giá chứng khoán tăng trong những năm trớc cuộc khủnghoảng đã làm cho moị ngời lầm tởng rằng nền kinh tế tiếp tục tốt đẹp, mà không nhậnthấy những dấu hiệu nguy hiểm trên thực tế của nền sản xuất Từ đó có ng ời cho rằngTTCK có khuynh hớng phản ánh sai động thái của nền kinh tế và gây ra những tổn thấtcho những ngời mua cổ phiếu và chứng khoán

Đến năm 1987 và năm 1989 TTCK New York và tiếp theo đó là hàng loạt TTCKkhác trên thế giới lại rơi vào tình trạng hỗn loạn không thể kiểm soát đợc Giá cổ phiếutụt giảm khủng khiếp Có những cổ phiếu giá 20.000 Đô la sau một ngày chỉ bán đợcvới cái giá 200 Đô la trên Sở giao dịch chứng khoán New york Tuy nhiên lý do củacuộc đổ bể này không giống với năm 1929-1933 Nguyên nhân của hai cuộc đổ bể này

là vấn đề kỹ thuật giao dịch của Sở giao dịch chứ không phải là nguyên nhân kinh tế.Thoạt đầu các nhà quản lý sở giao dịch nghĩ rằng họ có thể kiểm soát đợc các hoạt

Trang 9

động giao dịch trên Sở giao dịch, nên đã cho phép tiến hành một khối lợng giao dịchkhổng lồ vợt quá khả năng của hệ thống Computer làm nhiệm vụ tiến hành giao dịchdẫn đến hệ thống Computer ngừng hoạt động và gây ra hoang mang cho những ngờigiữ cổ phiếu và chứng khoán Kết quả là họ đều mang bán tháo tất cả những cổ phiếu

và chứng khoán có trong tay và lẽ dĩ nhiên điều đó làm cho giá chứng khoán tụt giảmmột cách thảm hại Trong trờng hợp này mực dù TTCK sụp đổ nhng nền kinh tế không

bị đình đốn nh hồi những năm 1929-1933 Chỉ có những ai mua bán cổ phiếu và chứngkhoán vào thời điểm đó là bị thua thiệt thôi Nh vậy sự sụp đổ của TTCK năm 1929-

1933 bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế, còn hai lần năm 1987 và 1989 là do nguyênnhân về kỹ thuật Từ đây chúng ta có thể thấy đợc bản chất quan hệ giữa TTCK và nềnkinh tế trong đó, nếu nền kinh tế sụp đổ tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của TTCK, nh ng

điều ngợc lại thì cha chắc, mặc dù có ảnh hởng nào đó

Bên cạnh những cuộc khủng hoảng có tính chất kinh điển nh vậy, lịch sử cũng đãchứng kiến không biết bao nhiêu những cuộc rối loạn do những trò gian lận, biển thủgây ra cho TTCK Một ví dụ khá lý thú và điển hình là ở TTCK Tokyo năm 1986 bỗngnhiên ngời ta thấy giá cổ phiếu của một cổ phiếu lên tới 10.000 Yên, rồi bỗng dngkhông có một ai muốn mua cổ phiếu đó nữa, và ngay sau đó tất cả cổ phiếu đó, khi đãnằm trong tay các khách hàng mua, đều trở thành giấy lộn Chuyện là ở chỗ, một sốcông ty chứng khoán lớn nhất TTCK Tokyo quyết định giúp một công ty thân quen của

họ có đợc một chút ít tài chính sau khi phá sản Khi biết công ty đó sắp phá sản cáccông ty chứng khoán "chiến hữu" này quyết định vừa bán ra đồng thời vừa mua vàocác cổ phiếu của công ty kia Điều đó tạo ra một ấn tợng giả tạo là công ty kia đanglàm ăn phát đạt và thế là mọi ngời đổ xô vào mua cổ phiếu của công ty đó Khi giá cổphiếu của công ty lên đến 10.000 Yên một cổ phiếu, công ty đó tung hết các cổ phiếucủa mình ra để bán, và họ đã thu đợc một mẻ lới lớn trớc khi phá sản Khi mọi ngời vỡ

lẽ là công ty đó bị phá sản ai nấy đều đổ xô ra bán cổ phiếu của công ty đó, nhng trớtrêu thay không còn một ai mua chúng nữa Tất cả khách hàng mua cổ phiếu đó với cáigiá 10.000 Yên đều thất vọng bị một "quả đắng" mà không biết kêu ai

Sự gian lận trong thông tin và những trò mánh khoé lừa gạt nh vừa rồi là nhữngtrò phổ biến ở cacs thị trờng chứng khoán Rõ ràng nó gây tai hại không nhỏ chonhững ngời tham gia TTCK Vấn đề là ở chỗ phải làm thế nào để giảm tới mức tối đanhững mặt tiêu cực đó trong hoạt động cuả TTCK nhằm đảm bảo những yếu tố tíchcực của nó trong nền kinh tế Đó chính là vai trò của chính phủ nh là ngời trọng tài đa

ra những luật lệ và những quy chế để giữ cân bằng cho TTCK, đảm bảo lợi ích của cácbên tham gia TTCK

Trớc đây, TTCK về cơ bản đợc coi nh một hoạt động tự do giống nh những cáichợ do bản thân những ngời buôn bán trong đó quản lý bằng các luật lệ của riêng họ

Sự kiểm soát của chính phủ tơng đối ít Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi của các côngdân tham gia mua bán ở TTCK, cũng nh để đảm bảo những mặt tích cực của nó, chínhphủ các nớc đã đặt ra những quy chế và luật lệ riêng cho hoạt động của TTCK Về cơbản những luật này nhằm vào những khía cạnh công khai về thông tin trong các cuộcmua bán, thông tin về tình hình tài chính của các công ty có cổ phiếu đợc mua bán ở

Trang 10

Sở giao dịch chứng khoán Chẳng hạn ở TTCK New York theo luật định một Uỷ ban

đợc thành lập để giám sát tất cả các giao dịch mua bán trên Sở giao dịch Tất cả các vụmua bán đều phải có sự đồng ý của các nhân viên của Uỷ ban này mới đ ợc phép thựchiện Nếu nhân viên của uỷ ban này nhận thấy có một vụ mua bán cổ phiếu lớn củamột công ty nào đó, ông ta có trách nhiệm phải thẩm định tất cả các thông tin liênquan để xem có sự gian lận nào trong vụ mua bán này không Tới khi nào ông ta khẳng

định là không có sự gian lận, ông ta sẽ ra lệnh cho phép tiến hành vụ mua bán đó ởTTCK Tokyo, một nguyên tắc hàng đầu trong buôn bán là các lệnh mua ít và lệnh bánnhiều cổ phiếu đợc u tiên tiến hành trớc Nguyên tắc này đảm bảo tính công bằng trongbuôn bán tránh những vụ đầu cơ và thôn tính lẫn nhau thông qua việc mua bán chứngkhoán ở Mỹ trớc cuộc khủng hoảng năm 1987, TTCK New york vẫn nằm ngoài sựkiểm soát của chính phủ Rút kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng và những lộn xộn

do những trò gian lận trong lịch sử, chính phủ Mỹ đã quyết định đặt thị trờng chứngkhoán dới sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ Một tiểu ban của Bộ tài chính đ ợc lập

ra để kiểm soát hoạt động của TTCK Một đạo luật đáng lu ý đợc đa ra là, nếu trongvòng một ngày làm việc chỉ số Dowjones lên hoặc xuống 10%, tiểu ban này có quyềnquyết định tạm thời đóng cửa TTCK cho tới khi nào họ cảm thất khoong còn sự lộnxộn không thể kiểm soát đợc trên TTCK Đạo luật này về căn bản dựa trên nguyên lývừa nêu ở trên là nền kinh tế có ảnh hởng quyết định đến sự ổn định của TTCK nhngchiều ngợc lại thì cha chắc Nhiều khi những khủng hoảng ở TTCK là do lý do kỹthuật tiến hành giao dịch (nh cuộc khủng hoảng 1987 và 1989), và do những yếu tốkhác Những biến động loại này không phản ánh đúng động thái thực của nền sảnxuất , nhng nếu để chúng tiếp diễn sẽ gây thiệt hại cho công chúng và nền kinh tế theocái nghĩa là các chức năng của TTCK không đợc thực hiện trôi chảy Khi TTCK bị

đóng cửa tạm thời, các bên tham gia thị trờng có đủ thời gian để kiểm tra lại các thôngtin và lấy lại bình tĩnh sau những biến động không kiểm soát đợc Khi họ nhận thấy lànhững biến động giá cả cổ phiếu mạnh nh thế không phải bắt nguồn từ những vấn đề

đình đốn hay hỗn loạn trong các công ty có cổ phiếu đó, họ sẽ đa ra những quyết địnhhợp lý hơn, ngừng bán những cổ phiếu mà họ tởng lầm là sẽ không còn giá trị trong t-

ơng lai nữa Đây là cách cắt cơn sốt ở TTCK

Nh vậy, không thể có một TTCK hoạt động công bằng nếu không có một khuônkhổ luật pháp cho các hoạt động của nó Một TTCK hoạt động ổn định , đảm bảo côngbằng cho các bên tham gia thị trờng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo và phát huy cácchức năng và vai trò của nó trong nền kinh tế Nói cách khác nhà nớc phải đóng vai trò

nh ngời trọng tài đa ra những quy chế đạo luật quy định các hoạt động của TTCK để

đảm bảo đợc việc đó

Trang 11

IV Những yếu tố ảnh hởng đến TTCK

Có thể nói không thể kể hết những yếu tố tác động đến động thái của TTCK Nhchúng ta đã thấy ở trên, chỉ riêng những tính toán gian lận của một hay một vài công tylớn tham gia TTCK cũng có thể gây ra những hỗn loạn cho TTCK nh thế nào Dới đâychỉ là một vài yếu tố cơ bản tác động đến TTCK mà thôi Những yếu tố này về cơ bản

có thể chia ra làm ba loại: các yếu tố chính trị, các yếu tố kinh tế và các yếu tố tâm lý

1 Các yếu tố kinh tế:

Từ cuộc khủng hoảng 1929-1933 chúng ta thấy rõ tình hình chung của nền kinh

tế có ảnh hởng nh thế nào đến động thái của TTCK Tuy nhiên không chỉ có tình trạngchung của nền kinh tế mới có ảnh hởng đến TTCK Tình trạng sản xuất của riêng mộtcông ty lớn cũng có thể gây ra những thay đổi trong giá cổ phiếu của nhiều công tykhác có liên quan Ví dụ một hay một vài công ty dầu mỏ lớn gặp khó khăn thì khôngchỉ dẫn đến sự sụt giá cổ phiếu của riêng các công ty đó (tất nhiên chỉ riêng việc đó đã

có ảnh hởng đến giá cổ phiếu chung trên TTCK rồi vì lợng cổ phiếu và tầm quan trọngcủa cổ phiếu đó), mà các cổ phiếu của các vận tải biển và các công ty bảo hiểm dầu

mỏ cũng sẽ bị sụt giá Đây là loại phản ứng dây chuyền theo các ngành có liên quan

đến nhau về mặt sản xuất và kinh doanh Đó cũng chính là lý do khi tính toán chỉ sốcủa các TTCK ngời ta chỉ quan tâm đến các cổ phiếu của các công ty lớn có tầm quantrọng Vì động thái của chúng sẽ có ảnh hởng đến nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế

Do đó chỉ số xem xét động thái của những công ty này cũng phản ánh khá đầy đủ tìnhtrạng đang học sẽ diễn ra của nền kinh tế Trên thực tế, các vấn đề của các công ty th-ờng nảy sinh từ các vấn đề về tài chính nh nợ nần, khả năng thanh toán của công ty,tình trạng bán hàng và khả năng cạnh tranh

Khác với các yếu tố cục bộ bắt nguồn từ phía các công ty có cổ phiếu trên thị ờng chứng khoán rồi gây ảnh hởng dây chuyền sang các lĩnh vực khác Các yếu tố kinh

tr-tế vĩ mô có một ảnh hởng bao trùm lên hoạt động của TTCK Chẳng hạn, tình trạnglạm phát gia tăng và khó kiểm soát đa đến những thiệt hại trong nhiều lĩnh vực kinh tếkhác nhau đồng thời tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng giá cổ phiếu sẽ có khuynh hớng giảmxuống Mặt khác lạm phát cũng có ảnh hởng trực tiếp đến sự giảm giá các chứngkhoán, bởi vì giá mua lúc đó phải thấp hơn trong khi lãi tức từ các chứng khoán vẫngiữ nguyên để bù laị những mất mát do lạm phát gây ra Lãi suất ngân hàng là một yếu

tố kinh tế vĩ mô có ảnh hởng lớn đến giá cả chứng khoán Khi lãi suất ngân hàng tăngngời đầu t đứng trớc một lựa chọn là tiếp tục đầu t vào chứng khoán để kiếm lợi tức từchứng khoán hay bỏ tiền vào ngân hàng để kiếm lãi suất hấp dẫn hơn và ít ruỉ ro hơn

Điều đó có nghĩa là các chứng khoán muốn cạnh tranh đợc thì ngời bán chứng khoánphải giảm giá các chứng khoán tới mức sao cho với mức lãi tức cũ ngời mua cảm thấyhấp dẫn hơn lãi suất ngân hàng Nói gọn lại, lãi suất ngân hàng tăng sẽ dẫn đến giảmgiá chứng khoán

Trang 12

2 Yếu tố chính trị:

Chính trị tởng chừng nh không có gì quan hệ đến các hoạt động của TTCK, trênthực tế lại có ảnh hởng rất nhạy đến động thái của TTCK Chúng ta đã từng thấy chiếntranh vùng vịnh đã gây ra những biến động trong giá cả tại các TTCK nh thế nào.Những tác động từ chiến tranh có thể diễn ra bằng nhiều con đờng Ví dụ, khi chiếntranh vùng vịnh xảy ra nhiều ngời dự đoán giá dầu sẽ tăng và nền kinh tế thế giới cóthể sẽ rơi vào tình trạng trì trệ Một phán đoán nh vậy tất sẽ dẫn đến sự giảm giá cácchứng khoán Nhng mặt khác ngời ta lại phán đoán rằng giá các cổ phiếu của các công

ty dầu mỏ rất có thể laị tăng lên Do đó xảy ra một cuộc bán tháo các cổ phiếu của cáccông ty nào bị dự đoán là sẽ thua thiệt do gía dầu tăng, và mọi ngời đổ xô vào mua cổphiếu của các công ty dầu mỏ và của những công ty liên quan có lợi thế tơng tự Điều

đó thờng dẫn đến những xáo trộn trong hoạt động của TTCK

Tình trạng quan hệ giữa hai quốc gia có buôn bán với nhau cũng hoàn toàn có thểdẫn đến những biến động tại TTCK Ví dụ, sự bất hoà trong quan hệ buôn bán giữaNhật và Mỹ về vấn đề mở cửa thị trờng ô tô Nhật Bản theo đòi hỏi của Mỹ đã ảnh hởngkhông ít đến TTCK Mỹ đe doạ rằng nếu những yêu cầu của Mỹ đối với Nhật về việcNhật phải nhập khẩu một khối lợng phụ tùng ô tô của Mỹ mỗi năm không đợc thoảmãn, Mỹ có thể sẽ tăng thuế đánh vào ô tô của Nhật nhập khẩu vào Mỹ tới 100% (từ30%) Điều đó sẽ làm cho cổ phiếu của các công ty ô tô Nhật bản bị giảm giá vì vớimức thuế nh vậy, các công ty ô tô Nhật bản sẽ rơi vào tình trạng khólàm ăn, khi đó tấtyếu dẫn tới ít lợi nhuận để chia cho các cổ đông; và ít lợi nhuận chia cho cổ đông cónghĩa là cổ phiếu đó trở nên ít hấp dẫn hơn và giá các cổ phiếu đó bị sụt

Ngoài ra còn vô số lý do khác về chính trị đều có thể ảnh hởng đến động thái củaTTCK Chẳng hạn, việc một đảng phái nào lên thắng cử hay vị tổng thống đơng nhiệm

có thể phải từ chức vì một lý do nào đó đều có ảnh hởng nhất định đến hoạt động củaTTCK

3 Yếu tố tâm lý

Thực ra yếu tố tâm lý đã đợc bao hàm trong logíc ảnh hởng của các yếu tố kinh tế

và chính trị Logíc đó thể hiện ở chỗ, khi một yếu tố chính trị hay kinh tế xuất hiện tấtcả các bên tham gia TTCK đều đa ra các kỳ vọng hoặc các phán đoán của mình về tìnhtrạng giá những cổ phiếu và chứng khoán có trong tay, rồi sau đó đa ra các quyết định

về mua, bán và giá cả của các cổ phiếu và chứng khoán đó Tất cả những điều đó đềuthể hiện trong những biến động ở TTCK

Hơn nữa yếu tố tâm lý còn thể hiện một cách rất mẫn cảm trong nhiều tình huốngkhác nhau không bắt nguồn từ những nguyên nhân kinh tế Ví dụ tình trạng sức khoẻcủa một nhà tỷ phú hay một ngời lãnh đạo công ty lớn thậm chí cũng có ảnh hởng đếnTTCK Bởi vì sự tồn tại của những nhân vật đó mới đảm bảo tình trạng kinh doanh tốtcủa công ty chẳng hạn Nếu ông ta ra đi có thể ngời kế vị không đảm đơng tốt nhiệm

vụ đó, hoặc có thể có những biến động về quyền lực trong công ty nh tách công tyhoặc mâu thuẫn nội bộ, tất cả những suy tính và phán đoán đó đều dẫn đến những thay

đổi ở TTCK theo một lôgích tơng tự nh trên

Trang 13

Điều quan trọng trong yếu tố tâm lý là sự nhạy cảm quá mức của các bên thamgia TTCK làm cho họ thờng không thể kiểm soát đợc hành vi của họ khi có một phán

đoán nào đó về giá cả của các cổ phiếu và chứng khoán Việc không kiểm soát đợchành vi của bản thân các bên tham gia tt là vấn đề nan giải nhất trong việc tính toánkinh tế Thờng yếu tố này luôn luôn gây ra tình trạng biến động quá mức thực tế vềgiá cả cũng nh khối lợng mua bán cổ phiếu và chứng khoán trên thị trờng Bởi vì sựquá khích lệ hoặc quá lo âu về một phán đoán nào đó sẽ làm cho giá cổ phiếu và chứngkhoán tăng hoặc giảm quá mức cân bằng cung cầu thực sự của nó Đây là nguyên nhângiải thích tại sao trong nhiều trờng hợp chúng ta thấy giá cổ phiếu và chứng khoán(hay trong trờng hợp Việt Nam giá vàng trớc đây) lên rồi lại xuống ngay sau đó Đâychẳng qua chỉ là do ngời ta quá khích lệ hoặc lo âu nên ai cũng đổ xô ra bán hoặc mua,

do đó làm cho giá cả tăng hoặc giảm mạnh quá mức cung cầu thực, nên liền sau đó lạidiễn ra tình trạng ngợc lại cho tới khi nào giá cả ở vào mức cân bằng thực của cung vàcầu Chính đây là những biến động khó kiểm soát nhất vì ngời ta không thể xác định đ-

ợc yếu tố tâm lý sẽ làm cho giá cả tăng hoặc giảm đến mức nào

Dới đây là mô hình cho thấy lôgíc tác động của các yếu tố vừa đợc trình bầy tớiTTCK (xem mô hình)

Mô hình các yếu tố ảnh hởng đến TTCK

Qua mô hình đó chúng ta thấy các yếu tố kinh tế và chính trị một mặt ảnh h ởngtrực tiếp đến TTCK theo con đờng riêng, mặt khác đồng thời ảnh hởng đến TTCKthông qua con đờng các yếu tố tâm lý Mô hình còn cho thấy tính chất nhạy cảm củaTTCK, nghĩa là những động thái của nó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lý Bảnthân các yếu tố kinh tế và chính trị là các yếu tố rất biến động, song chúng lại đ ợckhuyếch đại bởi các yếu tố tâm lý Điều đó giải thích tại sao TTCK lại có nhiều biến

động đến thế

V Quá trình quốc tế hoá thị trờng chứng khoán

Đến những năm 1970 ngời ta thấy hoạt động của các TTCK trên thế giới bắt đầulan tràn sang nhau Các giao dịch của chúng giờ đây không chỉ bó hẹp trong phạm viquốc gia riêng lẻ nữa Một công ty hay một chính phủ có thể phát hành cổ phiếu hoặctrái phiếu của mình ở TTCK của một quốc gia khác để huy động vốn Do đó, nhữnggiao dịch giữa các TTCK bắt đầu xuất hiện Ngời ta có thể tham gia vào việc mua bán

cổ phiếu và chứng khoán ở quốc gia khác, hoặc thậm chí có thể mua chỗ giao dịchtrong TTCK của nớc khác Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến quá trình quốc tế hoá đó.Những nguyên nhân cơ bản nhất và quan trọng nhất là:

Yếu tố tâm lý

Các yếu tốkinh tế

TTCKCác yếu tố

chính trị

Trang 14

Thứ nhất, vào cuối những năm 70, đặc biệt là đầu những năm 80, nền chính trị

thế giới có nhiều dấu hiệu sáng sủa Sự xích lại gần nhau giữa các c ờng quốc cộng sản

và phơng tây mở ra một triển vọng kết thúc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống xã hộichủ nghĩa và t bản chủ nghĩa kéo dài từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Điều đó cónghĩa là một môi trờng mới và an toàn cho đầu t sang các khu vực của thế giới đợc mở

ra Mặt khác đó cũng là thời điểm mà hầu hết các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây bắt

đầu tiến hành các cải cách kinh tế theo hớng thị trờng Đây là những nguyên nhânquan trọng của khuynh hớng mở rộng đầu t ra nớc ngoài trên thế giới, thậm chí đầu tcả vào các nớc xã hội chủ nghĩa" Sự mở rộng đầu t quốc tế nh vậy tất yếu sẽ dẫn đến

sự xuất hiện nhu cầu huy động vốn quy mô quốc tế Một công ty khi đầu t ra nớc ngoàikhông dại gì chỉ nghĩ đến việc đa vốn của riêng mình ra nớc ngoài Trái lại huy độngvốn tại chỗ và nhiều nơi trên thế giới, nếu có thể, đợc coi là có hiệu quả nhất Nói cáchkhác nhu cầu huy động vốn có tính chất quốc tế nhằm mục đích đầu t ra nớc ngoài làtất yếu

Thứ hai, thêm vào đó, trong giai đoạn này nền công nghệ thế giới đã đạt đến

trình độ đỉnh cao Điều đó cho thấy việc đầu t bây giờ muốn thực hiện đợc đòi hỏi phải

có một khối lợng vốn rất lớn mới có thể tiến hành đợc Để đáp ứng đợc điều đó, việchuy động vốn trên quy mô thế giới là điều tất yếu

Thứ ba, kể từ cuối thập kỷ 70 cho đến hết thập kỷ 80 nền kinh tế thế giới phát

triển rất thuận lợi và tốt đẹp Đây là thời kỳ nền kinh tế của các nớc t bản phát triển rấtthuận lợi với tốc độ cao Đồng thời đây cũng là giai đoạn nhiều nớc gọi là "các nớcmới công nghiệp hoá (NICs)" ra đời ở châu á và châu Mỹ La tinh Thật vậy thu nhập ởhầu hết các khu vực trên thế giới đều tăng lên Do đó một lợng tiền nhàn rỗi, và theo

đó là nhu cầu tiết kiệm và đầu t trong các tầng lớp dân c bắt đầu xuất hiện trên quymoo thế giới Nh vậy, bên cạnh nhu cầu huy động vốn, thì đồng thời đã xuất hiện khảnăng đáp ứng nhu cầu đó trên thực tế

Thứ t, thập kỷ 70 và đặc biệt là thập kỷ 80 là thời kỳ phát triển rực rỡ của công

nghệ Computer Với sự xuất hiện của Computer toàn bộ khối lợng giao dịch mua bán,chuyển nhợng cổ phiếu và chứng khoán khổng lồ trên toàn thế giới có thể tiến hành đ-

ợc Mặc dù vẫn còn một số trục chặc nh đã thấy hồi năm 1987 và 1989, song về cơ bảntoàn bộ các giao dịch chứng khoán đã đợc kiểm soát an toàn dựa trên cơ sở áp dụngComputer trong sử lý giao dịch tại các TTCK Nói cách khác, về mặt kỹ thuật của sựtoàn cầu hoá thị trờng chứng khoán đã đợc đảm bảo

Nh vậy, TTCK đã hội đủ các điều kiện cần và đủ cho sự quốc tế hoá của nó.Quốc tế hoá TTCK - đó là một công cụ giúp các nớc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.Tóm lại, về mặt lịch sử hình thành và phát triển của TTCK, có thể chia làm bagiai đoạn: giai đoạn một là giai đoạn từ thế kỷ 15 và 16 đến cuối thế kỷ 19 trong đóngời ta mua bán chủ yếu các thơng phiếu và trái phiếu; giai đoạn hai là từ cuối thế kỷ

19 với sự ra đời của công ty cổ phần, ngời ta mua bán thêm một loại chứng khoán khi

đó chiếm u thế là cổ phiếu, đây là giai đoạn bùng nổ có tính cách mạng của TTCK; vàgiai đoạn thứ ba kể từ cuối thập kỷ 70 tới nay là giai đoạn quốc tế hoá của TTCK

Trang 15

TTCK rõ ràng đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của mỗiquốc gia nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung Những mặt tiêu cựccủa nó nếu không đợc kiểm soát sẽ gây ra những hậu quả không tốt cho nền kinh tế vàxã hội Kiểm soát các hoạt động của TTCK để hạn chế những tiêu cực của nó chính lànhiệm vụ của chính phủ.

Xét về điều kiện hình thành TTCK chúng ta thấy những điều kiện tiên quyết cho

sự hình thành TTCK là:

Thứ nhất, phải có nhu cầu huy động vốn, điều kiện này có thể nói lúc nào cũng

sẵn sàng

Thứ hai, thu nhập của dân c phải đến một mức độ nhất định làm nảy sinh nhu

cầu đầu t trực tiếp của những ngời tiết kiệm

Thứ ba, xuất hiện loại hàng hoá gọi là chứng khoán, trong đó cổ phiếu đóng vai

trò đặc biệt quan trọng

Thứ t, phải có một hệ thống luật pháp hữu hiệu để kiểm soát hoạt động của

TTCK

Trang 16

Phần II: Vấn đề xây dựng ttck ở nớc ta

I/ Sự cần thiết thành lập thị trờng chứng khoán ở nớc ta.

1 Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội VI Đảng cộngsản Việt Nam, nền kinh tế nớc ta đã có sự chuyển biến mạnh mẽ: tốc độ tăng trởng t-

ơng đối cao, đời sống nhân dân đợc cải thiện đáng kể, các nguồn tiền tệ tích tụ trongmọi tầng lớp dân c đã đợc động viên, khai thác bằng nhiều hình thức khác nhau Vớichính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, nhu cầu huy động vốn đầu

t ngày càng tăng và khả năng cung cấp vốn cũng ngày càng lớn mạnh Trong cơ chếmới, hoạt động giao lu vốn đã đợc khai thông và trên thực tế, một thị trờng vốn đã hìnhthành và phát triển ở Việt nam Tuy nhiên, sự phát triển của thị trờng vốn Việt nam chotới nay còn cha đợc quản lý, kiểm soát một cách đầy đủ, các công cụ của thị trờng nàycha đợc hoàn chỉnh và cha có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đáp ứng nhu cầu tăng tr-ởng của nền kinh tế Đặc biệt, một công cụ quan trọng của thị trờng vốn là thị trờngchứng khoán cho tới nay vẫn cha đợc hình thành

2 Việc phát triển kinh tế theo cơ chế thị trờng đã xoá bỏ tình trạng phân phối vốntheo địa chỉ và tạo điều kiện cho các nguồn vốn đợc tự do luân chuyển giữa ngời cóvốn và ngời cần vốn ở đây, quan hệ cung cầu về vốn đợc giải quyết thông qua thị tr-ờng và theo cơ chế thị trờng trên thị trờng vốn

Thị trờng vốn hoạt động dựa trên cơ sở 3 công cụ là: thị trờng ngầm, thị trờng tíndụng thông qua hệ thống ngân hàng và thị trờng chứng khoán

- Thị trờng ngầm xuất hiện từ rất lâu đời và ngày nay vẫn tồn tại, phát triển ở hầuhết các nớc, đặc biệt ở các nớc châu á và trong cộng đồng ngời Hoa ở nớc ngoài (HoaKiều) ở nớc ta , thị trờng ngầm phát triển rất mạnh thông qua các hoạt động: chơi hụi,chơi họ, cho vay lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, cơ quan làng xóm Gần

đây, còn xuất hiện tình trạng các cơ quan xí nghiẹp tự đứng ra huy động vốn trong nội

bộ cán bộ công nhân viên chức để kinh doanh, đây cũng là một biểu hiện của thị trờngngầm

Thị trờng ngầm có u điểm là tổ chức đơn giản, chi phí giao dịch thấp, việc cungứng vốn nhanh, gọn Nhng thị trờng này lại có đặc điểm là phạm vi hoạt động hẹp,khối lợng vốn đợc giao dịch nhỏ, không có sự bảo đảm về mặt pháp lý thiếu sự kiểmsoát của nhà nớc, nên độ rủi ro rất cao, dễ rơi vào tình trạng đổ vỡ do tệ nạn lừa đảophát sinh

- Thị trờng tín dụng qua hệ thống ngân hàng là thành lập các ngân hàng làmtrung gian thu hút vốn để cung ứng cho nền kinh tế

Thị trờng tín dụng ra đời từ nhiều thế kỷ nay và đã đạt đợc trình độ công nghệ rấtcao ở tất cả các nớc, hệ thống ngân hàng thơng mại phát triển không ngừng và đảmnhận khoảng 60-70% nhu cầu giao dịch vốn của nền kinh tế Tuy nhiên, thị tr ờng tíndụng mặc dù có nhiều u điểm, vẫn không tránh khỏi hạn chế, nh: tính độc quyền về lãisuất (ngân hàng tự định ra lãi suất để vay hoặc cho vay); về điều kiện vay hoặc chovay; về khối lợng vốn giao dịch Đồng thời việc giao dịch vốn đợc thực hiện thông qua

Ngày đăng: 28/08/2012, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w