1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yêu cầu điều tra viên của viện kiểm sát theo luật tố tụng hình sự việt nam

220 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yêu cầu điều tra của viện kiểm sát theo luật tố tụng hình sự việt nam
Tác giả Nguyễn Hạ Vĩ Khôi
Người hướng dẫn TS. Võ Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 38,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư Liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HẠ VĨ KHÔI

YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát

theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do bản

thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Võ Thị Kim Oanh Những thông tin,

tài liệu trong luận văn được thu thập một cách khách quan, trung thực, số liệu minh chứng có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Hạ Vĩ Khôi

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Quy chế số

111/QĐ-VKSTC

Quy chế Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi

tố, điều tra và truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số 111 /QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát

nhân dân Tối cao)

về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc

thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI PHÊ CHUẨN QUYẾT ĐỊNH KHỞI TỐ BỊ CAN 7 1.1 Quy định của pháp luật về yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can 7 1.2 Thực tiễn hoạt động yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can 12

1.2.1 Kết quả đạt được 12 1.2.2 Một số bất cập, vướng mắc và nguyên nhân 14

1.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can 25 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28 CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG VIỆC THỰC HIỆN YÊU CẦU CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI PHÊ CHUẨN QUYẾT ĐỊNH KHỞI TỐ BỊ CAN 29 2.1 Quy định của pháp luật về trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát 29 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can 32

2.2.1 Kết quả đạt được 34 2.2.2 Một số vướng mắc khi xác định trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát 35

2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát 41 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46 KẾT LUẬN 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

cầu điều tra của Viện kiểm sát trong trường hợp “yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu

làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn khởi tố bị can”1

Tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trong

thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra ” Tuy nhiên trong thực tiễn, việc kéo dài thời gian

quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can xảy ra khá thường xuyên, mà nguyên nhân của nó xuất phát từ việc nhận thức và vận dụng quy định này giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chưa thống nhất, làm cho thân phận pháp lý của người bị khởi tố ở trạng thái không rõ ràng, ảnh hưởng rất lớn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Qua nghiên cứu, học viên nhận thấy: từ khi có Quyết định Khởi tố bị can,

thân phận của người bị khởi tố có thể được ví như rơi vào tình trạng “nửa bị can”

Nghĩa là, ngay sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng ngay một

số biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn để đảm bảo cho hoạt động điều tra –

mà không cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát như: Lệnh cấm đi khỏi nơi

ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, tâm lý, danh dự, uy tín và các vấn đề về nhân thân của người bị khởi tố

Quyền năng yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi được thực hiện một cách hiệu quả sẽ đảm bảo cho hoạt động phê chuẩn quyết định khởi tố bị can được

1 Đây là một quy định hoàn toàn mới, lần đầu tiên được đưa vào Bộ luật Tố tụng hình sự

2 BL.TTHS (2015) các Điều 123, 124, 128, 129, 181 Trong đó, các Điều 124, 128, 129 chỉ cần “thông báo” cho VKS trước khi thi hành Các Điều 123, 181 khi thực hiện không cần sự phê chuẩn hoặc thông báo cho VKS

Trang 7

2

nhanh chóng Đây là điều kiện để Cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp, thủ tục tố tụng tiếp theo, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngược lại, kiên quyết hủy bỏ quyết định khởi tố bị can một cách kịp thời lại chính

là đảm bảo cho nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Kết quả này, tốt hay xấu đều có sự tác động trực tiếp từ quá trình, nhận thức

và vận dụng quy định “yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu” của Viện kiểm sát khi

phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Đến nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư Liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một

số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là các căn cứ pháp lý quan trọng nhất để điều chỉnh vấn đề thực hiện quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát và cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện quyền năng này vẫn không đề cập đến các vấn đề cốt lõi như:

- Số lần Viện kiểm sát được yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn khởi tố bị can, và ai là chủ thể thực hiện quyền năng này;

- Thời hạn mà Cơ quan điều tra có trách nhiệm bổ sung chứng cứ, tài liệu

theo yêu cầu của Viện kiểm sát và nội hàm của khái niệm “bổ sung chứng cứ, tài

liệu” trong yêu cầu này

Chính vì lẽ đó, việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo cho hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố

bị can là điều hết sức cần thiết Đây cũng là điều kiện hiện thực hóa để đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền con người, quyền công dân theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 của Nước CHXHCN Việt Nam

Với lý do nêu trên, học viên lựa chọn đề tài “Yêu cầu điều tra của Viện

kiểm sát theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” (với phạm vi như đã đề cập) để

nghiên cứu, làm Luận văn Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo tìm hiểu của học viên, vấn đề yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát trong

trường hợp “yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn quyết

định khởi tố bị can” từ trước đến nay chưa có công trình nghiên cứu Bởi lẽ: Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2015 là Bộ luật đầu tiên đưa ra quy định yêu cầu bổ sung chứng

Trang 8

3

cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn khởi tố bị can3 Như vậy, đây là một nội dung hoàn toàn mới, và cho đến thời điểm học viên chọn để nghiên cứu thì vấn đề này vẫn chưa được tiếp cận ở phạm vi, góc độ khác nhau như: công trình nghiên cứu ở cấp ngành, cấp Nhà nước, hoặc Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ

Tuy nhiên, tại thời điểm hiệu lực của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì tiền thân của vấn đề này cũng đã có sự quan tâm từ một số nhà nghiên cứu và chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác thực hành quyền công tố, được thể hiện thông qua một số công trình nghiên cứu, đề tài Luận văn Thạc sĩ hoặc bài viết trên các chuyên trang của ngành Kiểm sát nhân dân… như:

- “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai

đoạn điều tra”, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội (2005), trang 62, của tập thể tác giả:

Tiến sĩ Lê Hữu Thể (Chủ biên), Tiến sĩ Đỗ Văn Đương, Tiến sĩ Nông Xuân Trường, thể hiện dưới dạng công trình nghiên cứu Công trình này đề cập ở phạm vi rộng, xuyên suốt quá trình khởi tố, điều tra Chứ không tập trung vào hoạt động yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát – đặc biệt là khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

- Đề tài Luận văn Thạc sĩ: “Khởi tố bị can và hoạt động kiểm sát việc khởi tố

bị can tại TP Hồ Chí Minh”, tác giả Phạm Văn Đức Nghiên cứu về những vấn đề

lý luận - pháp lý về khởi tố bị can; thực trạng hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can tại thành phố Hồ Chí Minh và một số kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm sát hoạt động khởi tố bị can Nội dung đề tài này chủ yếu

đề cập thực trạng, giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm sát, chứ không giải quyết vấn đề trong phạm vi cụ thể là quyền năng yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

- Bài viết: “Một số vấn đề về khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố

bị can” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Đương, (Tạp chí Kiểm sát, số 01/2007)

Nội dung bài viết có nêu các quan điểm khác nhau và những vướng mắc trong thực tiễn khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can theo quy định tại Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2003 và đề ra một số phương hướng nhằm hoàn thiện quy định này Tuy nhiên phạm vi bài viết bao gồm cả hoạt động khởi tố bị can và phê chuẩn khởi tố bị can theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, chứ không phân tích hoạt động yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

3 BL.TTHS (2015) khoản 3 Điều 179

Trang 9

4

Nội dung các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên đã đem lại nhiều kết quả có giá trị, góp phần làm rõ quy định của pháp luật liên quan vấn đề yêu cầu điều tra và hoạt động khởi tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Tuy nhiên, xét về hiệu lực về mặt thời gian thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đến nay đã được thay thế bởi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Hơn nữa, các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên chủ yếu tập trung sâu và một hoặc một số vướng mắc cụ thể như thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố bị can; hoặc chỉ đề cập việc khởi tố bị can với tư cách là một hoạt động trong giai đoạn tố tụng hình sự; hoặc chủ yếu để làm sáng tỏ chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát - mà chưa phân tích khó khăn, vướng mắc khi thực hiện hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và chỉ ra những nguyên nhân Từ đó

đề ra các giải pháp hoặc kiến nghị để khắc phục

Chính vì lẽ trên, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, học viên tập trung

phân tích và đánh giá một số vướng mắc, bất cập liên quan đến hoạt động “yêu cầu

bổ sung chứng cứ, tài liệu” của Viện kiểm sát tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn chỉnh quy định pháp luật về vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích: Luận văn này nghiên cứu quy định của pháp luật Tố tụng hình sự

và các văn bản hướng dẫn có liên quan về hoạt động yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát (trong phạm vi thực hiện chức năng phê chuẩn khởi tố bị can); trách nhiệm của

Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu này và những bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành nhằm đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện Từ đó nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố - đặc biệt là đối với hoạt động yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Nhiệm vụ: Luận văn tập trung phân tích các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về các vấn đề liên quan đến hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và đánh giá thực trạng vận dụng quy định này trong thời gian qua để lý giải được những nguyên nhân gây ra vướng mắc, bất cập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về thực tiễn vấn đề

“quyền năng yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát và trách nhiệm thực hiện yêu cầu này”, cụ thể hóa thông qua hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ

Trang 10

sự năm 2015 tại Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra hai cấp ở một số địa phương

Phạm vi về thời gian: Luận văn lấy mốc thời điểm từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực là 01/01/2018 cho đến 31/8/2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện Luận văn này, học viên chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích để đưa ra nhận định, đánh giá các quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam về cải cách tư pháp; quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành; các Thông tư liên tịch, Quy chế nghiệp vụ, Chỉ thị của ngành Kiểm sát nhân dân về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, Quy chế phối hợp của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát một số địa phương Ngoài ra học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như: phương pháp so sánh, tổng hợp và chứng minh trong một số tình huống là vụ án cụ thể để hoàn thành Luận văn

6 Dự kiến kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài

Dự kiến kết quả nghiên cứu: góp phần hoàn thiện nội dung các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015; khoản 2 Điều 10 Thông tư liên tịch số BCA-BQP; điểm b, khoản 1 Điều 46 Quy chế 111/QĐ-VKSTC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, từ đó đảm bảo việc áp dụng theo một nhận thức chung, thống nhất và khắc phục tình trạng vận dụng một cách tùy nghi quyền năng yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát và trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu này Từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quyền năng yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát nói chung, hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn khởi tố bị can nói riêng; từ đó hạn chế việc kéo dài thời hạn quyết định thân phận pháp lý của bị can, xâm hại đến quyền con người, quyền công dân

Trang 11

04/2018/TTLT-VKSNDTC-6

Địa chỉ ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể giúp Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát hoàn thiện tốt hơn mối quan hệ phối hợp trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai ngành Đặc biệt giúp cho Viện kiểm sát hoàn thiện

cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc “Tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố

với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”4, đồng thời đảm bảo không bỏ lọt trội phạm và tránh làm oan người vô tội; bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Ngoài ra, Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo tại các trường trung cấp, đại học chuyên ngành; các lớp đào tạo nghiệp vụ chức danh tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư…

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 2 chương với cơ cấu như sau:

Chương 1: Yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định

khởi tố bị can

Chương 2 Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu

của Viện Kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

4 Chỉ thị số 06/CT- ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND Tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”

Trang 12

7

CHƯƠNG 1 YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI PHÊ CHUẨN QUYẾT ĐỊNH KHỞI TỐ BỊ CAN 1.1 Quy định của pháp luật về yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Theo ngôn ngữ Tiếng Việt, “yêu cầu” là việc nêu ra điều gì với người nào

đó, tỏ ý muốn người đó làm, vì đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy 5 Như vậy, trong lĩnh vực Tố tụng hình sự, yêu cầu điều

tra là hoạt động của Viện kiểm sát nêu ra vấn đề trong phạm vi tiến hành các hoạt động tố tụng để Cơ quan điều tra thực hiện Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện

sung, khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng

Yêu cầu điều tra là quyền năng pháp lý đặc biệt của VKS, xuất hiện cùng thời điểm phát sinh trách nhiệm thực hành quyền công tố và xuyên suốt quá trình điều tra vụ án hình sự Hoạt động này xuất hiện khi thông qua chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, VKS thấy việc tiến hành tố tụng của CQĐT còn thiếu sót, cần phải đề ra yêu cầu điều tra để CQĐT bổ sung hoặc khắc phục Do đặc thù của mỗi giai đoạn tố tụng có mục đích, nhiệm vụ khác nhau nên yêu cầu điều tra của VKS cũng được ghi nhận dưới tên gọi khác nhau, như: Yêu cầu kiểm tra, xác minh (trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố)7;

Yêu cầu điều tra9 (trong toàn bộ quá trình từ khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra)

tra, đề nghị truy tố nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản

1 Điều 245 BL.TTHS năm 2015)

Như vậy, “yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu” khi xét phê chuẩn quyết định

khởi tố bị can như tại khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm 2015 chính là một hình thức thực hiện quyền năng yêu cầu điều tra của VKS Ý nghĩa của quy định này là nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của VKS là

Trang 13

8

có căn cứ và đúng pháp luật; không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan

phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cũng khá tương đồng với hoạt động “trả hồ sơ

vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung” như quy định tại khoản 1 Điều 245 BL.TTHS

Bởi lẽ cả hai đều nhằm hướng đến mục tiêu không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và không vi phạm thủ tục tố tụng Tuy nhiên, hoạt động trả hồ sơ vụ án

để yêu cầu điều tra bổ sung có phạm vi gồm những vấn đề mang tính bao quát để đảm bảo cho quá trình truy tố, xét xử vụ án được toàn diện về cả nội dung lẫn hình thức Còn yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn QĐ.KTBC chỉ xuất hiện

ở một thời điểm ngắn trong quá trình điều tra và giới hạn cho một mục đích cụ thể

là hoạt động phê chuẩn của VKS có căn cứ và đúng pháp luật

Xuất phát từ đặc thù như trên, Yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS chỉ xuất hiện khi CQĐT đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, nhưng các chứng cứ, tài liệu thu thập chưa đầy đủ, cần thiết phải bổ sung; và nó tự chấm dứt khi VKS đã có quyết định phê chuẩn (hoặc hủy bỏ) Hiện nay, BL.TTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, ngày 19 tháng 10 năm

2018 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về phối hợp giữa CQĐT, VKS trong việc thực hiện một số quy định của BL.TTHS và Quy chế nghiệp vụ số 111QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của VKSND Tối cao là những căn cứ pháp lý quy định về vấn đề quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; và vấn đề chủ thể thực hiện quyền năng này

Thứ nhất, tại chế định “Khởi tố bị can”, khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm

2015 quy định:

“3 Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng

cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra”

11 Luật Trách nhiệm bồi thường của của Nhà nước (2017), khoản 2 Điều 3 quy định: khi đã có hoạt động phê chuẩn khởi tố bị can của VKS, nhưng “sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm… thì xem là làm oan và trường hợp này VKS là cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Trang 14

9

Với quy định về hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, BL.TTHS năm 2015 đã giải quyết được một cách cơ bản hạn chế của BL.TTHS năm 2003 là: VKS chỉ được phép phê chuẩn hoặc hủy bỏ QĐ.KTBC, chứ không có lựa chọn khác trong trường hợp chứng cứ, tài liệu làm căn cứu khởi tố mà CQĐT thu thập còn hạn chế Như vậy, quy định vừa trích dẫn trên cho phép VKS lựa chọn phương án thận trọng hơn Đó là thực hiện quyền yêu cầu CQĐT phải bổ sung chứng cứ, tài liệu trước khi quyết định việc phê chuẩn Tuy nhiên với nội dung được thể hiện tại BL.TTHS năm 2015, không có quy định nào

đề cập đến giới hạn về số lần VKS được quyền yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu trước khi buộc phải đưa ra quyết định cuối cùng Các văn bản hướng dẫn như Thông tư liên tịch, Quy chế nghiệp vụ cũng tương tự Điều này có nghĩa là những quy định của pháp luật đã mở rộng cánh cửa quyền năng cho VKS, nhưng lại không có cơ chế giới hạn để đảm bảo quyền năng này phải được sử dụng một cách hợp lý và không làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giải quyết vụ án

Thứ hai, Để cụ thể hơn hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, tại khoản 2 Điều 10 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã hướng dẫn như

sau: “Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can,

Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ Trường hợp xét thấy chưa đủ căn cứ để phê chuẩn, Kiểm sát viên kịp thời trao đổi với Điều tra viên những nội dung cần bổ sung chứng cứ, tài liệu và báo cáo lãnh đạo mỗi ngành để xin ý kiến, thống nhất các nội dung cần bổ sung ”

Quy định này được hiểu rằng: khi cần phải yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì mặc dù là người trực tiếp tiến hành tố tụng nhưng Kiểm sát viên không được phép tự thoát ly khỏi vai trò chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Viện Nghĩa là để xác định có cần thiết phải đề ra yêu cầu điều tra để buộc CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu hay không; yêu cầu vấn đề gì thì KSV phải báo cáo và tiếp thu sự chỉ đạo của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng được phân công) trước khi đưa ra nội dung yêu cầu bằng văn bản Nhận thức này hàn toàn phù hợp với quy định của BL.TTHS về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là

“trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự”12 Tuy nhiên hướng dẫn tại Thông tư

12 BL.TTHS (2015), điểm a khoản 1 Điều 41

Trang 15

10

04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP chỉ dừng lại ở góc độ đề cập đến việc KSV

có hoạt động “báo cáo lãnh đạo để xin ý kiến, thống nhất các nội dung cần bổ

sung’’ Chứ không đề cập cụ thể sau khi thực hiện báo cáo thì KSV, hay Viện

trưởng (hoặc Phó viện trưởng) là chủ thể có thẩm quyền ban hành yêu cầu Chính vì

có quy định, nhưng không rõ ràng nên Thông tư liên tịch hiện nay chưa đảm bảo tính thống nhất về nhận thức và vận dụng Tạo nguy cơ KSV vượt quá phạm vi đã được chỉ đạo yêu cầu CQĐT bổ sung Đến nay đã có nhiều ý kiến của VKS và CQĐT hai cấp đề nghị liên ngành tố tụng Trung ương cần bổ sung quy định một cách rõ ràng về thẩm quyền này, nhưng chưa được đáp ứng

Cũng liên quan đến vấn đề chủ thể thực hiện quyền yêu cầu bổ sung chứng

cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Quy chế số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của VKSND Tối cao về Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố quy định:

“Điều 46 Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

1

b) Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố

Trong tố tụng hình sự, mọi hành vi hoặc quyết định đều phải đảm bảo yếu

tố thẩm quyền về mặt chủ thể thì mới có giá trị pháp lý Theo quy định của BL.TTHS hiện hành, Kiểm sát viên là người trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng, kiểm sát các vấn đề về thủ tục, trình tự… nên việc xác định KSV là chủ thể

dẫn tại Quy chế 111/QĐ-VKSTC như vừa trích dẫn đã đề cao được tính chủ động của KSV trong quá trình xử lý vụ án, đúng như tinh thần của BL.TTHS hiện hành Tuy nhiên, hoạt động yêu cầu điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn QĐ.KTBC không nhằm mục đích làm sáng tỏ toàn diện vụ án (như mục đích của một bản yêu cầu điều tra thông thường), mà chỉ có ý nghĩa duy nhất là đảm bảo cho hoạt động phê chuẩn là có căn cứ Yêu cầu này sẽ có tác động một cách trực tiếp đến việc phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của CQĐT Do đó việc giao cho KSV toàn quyền trong toàn bộ quy trình xem xét đề nghị phê chuẩn

13 BL.TTHS (2015), điểm e, khoản 1 Điều 42: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

Trang 16

11

quyết định khởi tố bị can của CQĐT, rồi tự ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu mà hoàn toàn không thông qua vai trò chỉ đạo của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) như Quy chế nghiệp vụ hiện nay là không phù hợp với thực tiễn và

dễ phát sinh yếu tố chủ quan, lạm quyền

Như vậy, mặc dù được ban hành và có hiệu lực sau nhưng Quy chế 111/QĐ-VKSTC về Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố của VKSND Tối cao lại có cách vận dụng khác với hướng dẫn tại TTLT số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về vấn đề chủ thể thực hiện quyền yêu cầu điều tra trong quá trình bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn Điều này dẫn đến nhận thức của một số VKS địa phương về nội dung này là không thống nhất Trong thực tế, nếu VKS địa phương

áp dụng đúng hướng dẫn tại khoản 1 Điều 46 Quy chế số 111/QĐ-VKSTC, cho phép KSV tự ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu mà không thể hiện ý kiến của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) thì gặp sự phản ứng không tích cực

từ phía CQĐT (yêu cầu phải thể hiện vai trò, ý chí của Lãnh đạo hai ngành như

quản lý thì ở tình huống này, vai trò chỉ đạo điều hành của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) đối với các vấn đề mang tính hệ trọng trong giải quyết vụ án hình sự

đã bị vô hiệu hóa

Với các quy định đã viện dẫn và phân tích, có thể thấy yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là quyền năng xất phát

từ tính tất yếu khách quan Đây còn là công cụ để VKS đảm bảo được trách nhiệm của cơ quan công tố khi tiến hành phê chuẩn một quyết định tố tụng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân Nhưng với nội dung được thể hiện tại khoản 3 Điều 179 BL TTHS năm 2015 và những văn bản có liên quan lại không có quy định nào điều chỉnh giới hạn số lần mà VKS được thực hiện yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu Hơn nữa mâu thuẫn giữa Thông tư liên tịch và Quy chế nghiệp vụ về vấn đề xác định chủ thể nào được phép ban hành yêu cầu này khiến cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật tố tụng ở các VKS địa phương

là không giống nhau Như vậy, chỉ riêng việc quy định cách thức thực hiện quyền năng của VKS khi xét phê chuẩn QĐ.KTBC thì BL.TTHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn có liên quan hiện nay đã thể hiện tính tùy nghi quá cao Đây là bất cập mà nếu không có sự điều chỉnh để tạo nhận thức thống nhất, thì sẽ phát sinh

Trang 17

tố bị can khi không đủ căn cứ buộc tội chính là thực hiện vai trò tấm lá chắn của VKS trong việc chống oan, sai và bảo vệ quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, trong thực tế đã có nhiều vụ án tuy dấu hiệu tội phạm ban đầu là có, nhưng việc thu thập chứng cứ của CQĐT còn ở mức độ hạn chế, dẫn đến VKS không thể dứt khoát hủy bỏ QĐ.KTBC, nhưng đồng thời cũng không thể phê chuẩn ngay Vì vậy, thực hiện quyền năng yêu cầu điều tra để bổ sung chứng cứ, tài liệu trong trường hợp này

sẽ giải pháp tối ưu để đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu chống bỏ lọt tội phạm, nhưng cũng không gây oan, sai Chính vì lẽ đó, kể từ năm 2017, một trong số các chỉ tiêu hàng năm mà VKS Tối cao đề ra đối với VKS các cấp thì yêu cầu điều tra là tiêu chí bắt buộc phải đạt tỷ lệ ≥ 90%14 (kể từ năm 2018, yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để phê chuẩn QĐ.KTBC cũng thuộc chỉ tiêu này)

1.2.1 Kết quả đạt được

Như đã phân tich, quy định mới về vấn đề yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can tại khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm 2015 chính là cơ sở pháp lý quan trọng để VKS thực hiện tốt nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Hơn nữa luật hóa vấn đề này giúp cho căn cứ, chứng

cứ của hoạt động xét phê chuẩn khởi tố bị can được đảm bảo một cách đầy đủ nhất Dưới đây là số liệu liên quan đến việc thực hiện yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, và hiệu quả từ việc áp dụng quy định này của VKSND Tp Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận:

14 Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân và Hướng dẫn thực hiện (ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-VKSTC, ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng VKSTC): mục 10.4, phần II

Trang 18

13

Số vụ VKS có yêu cầu bổ sung

chứng cứ, tài liệu làm căn cứ

phê chuẩn Khởi tố bị can

22 vụ án/22 bị can (trong đó có 02 vụ/02BC yêu cầu từ

02 lần trở lên)15

33 vụ án/ 38 bị can (trong đó có 02 vụ/02BC yêu cầu từ 02 lần trở lên16)

Số vụ CQĐT rút lại quyết định

Số vụ đình chỉ trong giai đoạn

điều tra do hết thời hạn điều tra

vụ án nhưng không chứng minh

được bị can thực hiện tội phạm18

Số vụ Tòa án tuyên không

phạm tội; hoặc khác tội danh

VKS truy tố

Với các số liệu được viện dẫn cho ta thấy: từ khi BL.TTHS năm 2015 có hiệu lực thì số yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can chiếm tỷ lệ không nhỏ (khoảng 10% so với tổng số đề nghị phê chuẩn của CQĐT; trong đó có 01 vụ sau khi bổ sung theo yêu cầu của VKS thì Thủ trưởng CQĐT đã có văn bản rút lại Quyết định Khởi tố bị can để hủy bỏ vì hành vi không cấu thành tội phạm) Do đó, khi nhận thức và áp dụng đúng đắn quy định này sẽ đảm bảo cho chứng cứ chứng minh dấu hiệu tội phạm được rõ ràng ngay từ khi VKS thực hiện hoạt động phê chuẩn Đây cũng là tiền đề đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố của VKS nhằm tránh oan sai và không bỏ lọt tội phạm

15 Vụ án Phạm Thị Dịu-chứa mại dâm, (theo QĐ.KTVAHS số 40, QĐ.KTBC số 64, cùng ngày 30/01/2018 của CQ.CSĐT Công an Tp Phan Thiết); vụ án Đỗ Ngọc Vũ –Trộm cắp tài sản (theo QĐ KTVA số 199,

QĐ KTBC số 233, cùng ngày 16/10/2018 của CQ.CSĐT Công an Tp Phan Thiết)

16 Vụ án Trần Ngọc Tuấn - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (theo QĐ.KTVA số 100, ngày, QĐ.KTBC số 111, cùng ngày 12/4/2019 của CQ.CSĐT CA.Tp Phan Thiết); Vụ án Phạm Thái Châu, bị CQCSĐT Công an Phan Thiết khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (theo Quyết định KTVAHS số 195, QĐ Khởi tố bị can số 233, cùng ngày 13/9/2019)

17 Vụ Phạm Thái Châu, bị CQ.CSĐT Công an thành phố Phan Thiết khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (như chú thích tại mục 15)

18 BL.TTHS (2015), điểm b, khoản 2 Điều 230

Trang 19

- Một là: Viện kiểm sát có quyền yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu

bao nhiêu lần trước khi buộc phải quyết định việc phê chuẩn (hoặc hủy bỏ) quyết định khởi tố bị can?

Quyền năng, khi được trao nhưng không có cơ chế kiểm soát thì tất yếu sẽ dẫn đến khả năng bị sử dụng tùy tiện Trong thực tế, có những vụ án mà dấu hiệu tội phạm đã đủ để Viện kiểm sát phê chuẩn khởi tố bị can nhưng do không có quy định giới hạn nên VKS sẵn sàng vì cầu toàn về chứng cứ và lấy mục đích chống oan sai làm lý do mà sẵn sàng dễ dãi với số lần yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu - nhằm tuyệt đối hóa vấn đề chứng minh Điều này trước hết sẽ gây không ít khó

hưởng đến toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng Sau cùng, mục đích của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm không còn tính kịp thời Gây bức xức trong dư luận và chưa hài hòa trong mối quan hệ phối hợp khi thực hiện nhiệm vụ giữa CQĐT và VKS Điển hình:

- Vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại xã Tân Thắng, huyện Hàm

Giữa ông Trần Xuân Nam và ông Vũ Văn Yên có thực hiện giao dịch mua bán bất động sản Ngày 05/12/2018, ông Nam dùng điện thoại di động của mình gọi cho ông Yên để thỏa thuận chuyển tiền thanh toán cho giao dịch này Tuy nhiên, do

sơ suất, ông Nam bấm nhầm qua số thuê bao điện thoại của Nguyễn Trung Thành Mặc dù không phải là người được thụ hưởng từ giao dịch mua bán đất nhưng khi biết ông Nam nhầm lẫn, Thành vẫn dùng thủ đoạn gian dối, tự nhận mình là Yên và cho số tài khoản cá nhân của Thành để cho ông Nam chuyển vào 900 triệu đồng

19 Quyết định khởi tố bị can được Viện kiểm sát phê chuẩn sẽ mở ra cơ sở pháp lý cho việc CQĐT áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế và một số hoạt động khác phục vụ cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ và thu hồi tài sản phạm pháp để góp phần khắc phục hậu quả

20 Theo QĐ.KTVAHS số 25, ngày 03/4/2019; QĐ.KTBC số 42, ngày 10/5/2019 của CQCSĐT-CA tỉnh Bình Thuận (phụ lục 1)

Trang 20

09/VKS-P1, yêu cầu CQĐT làm rõ hai nội dung: “(1) Thu thập kết quả thu giữ điện tín

của chủ thuê bao đối với 02 sim số điện thoại (0916077677 và 0946706492) nhằm xác định các cuộc gọi, tin nhắn đi, đến của 02 số điện thoại này trong tháng 12/2018; (2) lập biên bản làm việc đối với bà Nguyễn Thúy Hằng (vợ của bị can) để thông báo việc Thành đang chiếm sữ trái phép tài sản của người khác, đồng thời yêu cầu bà Hằng báo lại cho Thành biết để hoàn trả số tiền trên ” Ngày 04/6/2019, CQĐT bổ sung xong

các nội dung trên, chuyển lại hồ sơ tiếp tục đề nghị VKS phê chuẩn

Ngày 07/6/2019, VKS có thêm công văn số 11/VKS-P1, yêu cầu CQĐT tiếp

tục bổ sung chứng cứ, tài liệu gồm các nội dung: (1) làm rõ nội dung các tin nhắn

ngày 07/12/2018 giữa Nguyễn Trung Thành với người bị hại Trần Xuân Nam; (2) Lấy lời khai của Thành để làm rõ hành vi của Thành là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay “Chiếm giữ trái phép tài sản” Đến ngày 20/6/2019, CQĐT bổ sung xong

và chuyển lại hồ sơ cho VKS, tiếp tục đề nghị phê chuẩn Ngày 21/6/2019 thì VKS

đã phê chuẩn các Lệnh, Quyết định trên Vụ án phải gia hạn thời hạn điều tra vì không thể kết thúc điều tra trong thời hạn ban đầu

Trong vụ án trên, VKS đã hai lần yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệutrước khi thực hiện phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Có thể thấy sự thận trọng này là đúng tinh thần các Chỉ thị của VKSND Tối cao gần đây trong hoạt động phê chuẩn các lệnh, quyết định Tuy nhiên qua phân tích hoạt động này dưới góc độ lý luận thì tại mục “1” của cả hai bản yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu đều cùng thể hiện nội dung liên quan đến hoạt động thu giữ thư tín Việc thu giữ thư tín không có mục đích nào khác ngoài làm rõ nội dung thông tin mà nó chứa đựng Cho nên việc VKS yêu cầu thu giữ thư tín (cuộc gọi, tin nhắn) tại bản yêu cầu lần thứ nhất, sau đó lại tiếp tục yêu cầu làm rõ nội dung của các tin nhắn tại bản yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu lần hai

là mang tính lặp lại Nói cách khác, quá trình này bị trùng lắp, không mang tính khái quát trong định hướng vấn đề cần bổ sung Đối với các nội dung của yêu cầu còn lại, học viên cũng cho là không thật sự cần thiết (có thể thực hiện trong quá trình điều tra)

Vì bản chất của những nội dung này không liên quan trực tiếp đến căn cứ để phê chuẩn, mà chỉ tập trung vào tình tiết giảm nhẹ, khắc phục hậu quả

Trang 21

16

Như vậy, nếu quy định của pháp luật có giới hạn yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu, thì trong trường hợp này buộc VKS sẽ phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện hơn, từ đó thận trọng trong việc sử dụng quyền năng của mình bằng cách đưa ra yêu cầu điều tra vừa đủ, nhưng với nội dung thật sự cần thiết và mang tính phổ quát Trên cơ sở đó, việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can chắc chắn sẽ được thực hiện kịp thời hơn, CQĐT sẽ sớm có căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn và thu hồi tài sản phạm pháp trong vụ án

- Hoặc trong vụ án Cố ý gây thương tích xảy ra tại đường số 5, KDC Bến

ngày 21/01/2020, anh Trương Minh Nhựt đến dự tiệc tại địa chỉ nói trên Trong quá trình ăn uống, anh Nhựt có hát và nhảy với các bạn nên Kim Chí Lập bực tức lấy một viên pháo từ túi quần, đốt và ném thẳng vào nhóm này Viên pháo nổ gây hậu quả làm anh Nhựt bị thương tích ở mắt với tỉ lệ thương tật là 41% Ngày 03/6/2020, CQĐT Công an Quận 8 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đề nghị VKS phê chuẩn Quá trình xét phê chuẩn, VKS đã ba lần yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu và đến ngày 12/8/2020 thì ra Quyết định Phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can

Cũng tương tự với vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở điển hình thứ nhất, VKS đã thận trọng khi đánh giá chứng cứ và đề ra nhiều yêu cầu bổ sung trước khi thực hiện việc phê chuẩn Tuy nhiên, tại yêu cầu lần bổ sung chứng cứ, tài liệu lần thứ hai (số 53, ngày 21/6/2020) thể hiện:

“(1): lấy lời khai đối tượng tên Tài để xác định nguồn gốc viên pháo; (2) Ghi lời khai Trà để xác định có hay không việc Tài lấy viên pháo tại nhà của Trà để đưa cho Lập trước khi xảy ra vụ án khoảng 10 ngày; (3) Lấy lời khai nhân chứng

Tý và Khanh để xác định viên pháo Lập dùng gây thương tích cho anh Nhựt là do Tài lấy tại nhà anh Trà”

Qua phân tích, đánh giá vụ án dưới hai góc độ thực tiễn, quan điểm cá nhân của học viên cho rằng 03 mục nội dung nói trên chủ yếu tập trung vào nguồn gốc của viên pháo (mang ý nghĩa xác định có yếu tố đồng phạm hay không?), chứ hoàn toàn không dùng làm căn cứ để khởi tố bị can Vì chỉ cần chứng minh được mối quan hệ nhân – quả là: Lập có hành vi đốt, ném viên pháo nổ gây hậu quả thương tích 41% cho anh Nhựt là đủ căn cứ khởi tố bị can và phê chuẩn Còn viên pháo do ai đưa; đưa lúc nào;

có sự tiếp nhận ý chí hay không thì có thể làm rõ trong quá trình điều tra Riêng đối

21 Theo QĐ.KTVAHS số 201; QĐ.KTBC số 113, cùng ngày 03/6/2020 của CQCSĐT-CA Quận 8, Tp Hồ Chí Minh (phụ lục 2)

Trang 22

17

với yêu cầu bổ sung lần ba (số 58, ngày 13/7/2020) với nội dung “yêu cầu giải thích

pháp y” thì thực tế, tỷ lệ thương tật và cơ chế thương tích của người bị hại đã được kết

luận bằng hoạt động giám định trước khi khởi tố vụ án, bị can Vấn đề này không được coi là chứng cứ mới, cho nên vướng mắc đã có thể được làm rõ ngay trong giai đoạn giải quyết tin báo tội phạm; hoặc trong yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu lần thứ nhất

mà không cần phải thực hiện bằng một yêu cầu độc lập - ở lần thứ ba

Qua điển hình hai vụ án mà VKS nhiều lần yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cho thấy: nếu không có giới hạn cụ thể

về số lần, mà để VKS áo dụng yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu một cách tùy nghi, thì rất dễ dẫn đến tâm lý dễ dãi của VKS khi đánh giá chứng cứ để đề ra nội dung yêu cầu CQĐT bổ sung, gây kéo dài thời gian quyết định thân phận pháp lý của người bị khởi tố Điều này không chỉ làm giảm sút chất lượng trong hoạt động yêu cầu điều tra của VKS mà về lâu dài còn tạo tâm lý chủ quan cho các chủ thể thực

hiện chức năng buộc tội Đó là tư duy theo kiểu “nếu chưa đủ chứng cứ, thì sẽ có

hoạt động bổ sung” Yêu cầu điều tra của VKS trong trường hợp này không còn

nguyên tính chất như là quyền năng giúp đảm bảo trách nhiệm của cơ quan thực hành quyền công tố; hoặc công cụ giúp bảo vệ quyền con người, quyền công dân nữa Mà sẽ dần biến thành giải pháp tình thế để các cơ quan tiến hành tố tụng dùng che đậy thiếu sót của mình trong trách nhiệm chứng minh dấu hiệu tội phạm

- Hai là: Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền là một trong các yếu tố hàng đầu

để xác định tính hợp pháp của một hành vi hoặc quyết định tố tụng Tuy nhiên với các quy định pháp luật hiện hành, vấn đề: chủ thể nào có thẩm quyền nhân danh VKS thực hiện hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can vẫn chưa được thống nhất về nhận thức Bởi lẽ: theo BL.TTHS năm

2015, chủ thể đại diện cho VKS để tiến hành tố tụng gồm: Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) và Kiểm sát viên Họ có nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các

Điều 41, 42 BL.TTHS năm 2015 Với các quy định này, KSV có quyền “Đề ra yêu

cầu điều tra”22 Tuy nhiên, với tư cách vừa là chủ thể có chức danh pháp lý, vừa là chủ thể thực hiện vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành thì Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng được phân công), ngoài thẩm quyền như một KSV - còn có vai trò cao hơn

Đó là “Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự”; “tiến hành các hoạt động tố tụng

22 BL.TTHS (2015), điểm e, khoản 1 Điều 42: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

Trang 23

đề yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu, phải do chính chủ thể “trực tiếp tổ chức và chỉ

đạo hoạt động thực hành quyền công tố” (Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng) mới đủ

tư cách nhân danh VKS để thực hiện quyền năng này Nhận thức như trên cũng phù hợp với quy định tại 2 Điều 10, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-

BCA-BQP (nếu chưa đủ căn cứ phê chuẩn khởi tố bị can thì KSV, ĐTV phải báo cáo

lãnh đạo hai ngành trước khi thực hiện việc yêu cầu bổ sung) Trong thực tiễn, đây

cũng là quan điểm được VKS nhiều địa phương đồng tình và đạt được sự nhất trí cao

từ CQĐT khi thực hiện quan hệ phối hợp trong giải quyết vụ án hình sự

Tuy nhiên, Quy chế 111/QĐ-VKSTC là hướng dẫn nghiệp vụ mang tính bắt buộc trong toàn ngành Kiểm sát Do đó để phủ định hoàn toàn nội dung tại điểm b, khoản 1 Điều 46 Quy chế này là điều không hề dễ dàng Theo tìm hiểu của học viên khi nghiên cứu Luận văn, đến nay dù chưa có báo cáo chính thức của các đơn vị VKS

về hậu quả xấu từ việc Kiểm sát viên vận dụng theo quy trình như tại Quy chế vừa viện dẫn Nhưng cũng đến lúc cần phải đặt ra tình huống: nếu thực tiễn xảy ra trường hợp KSV độc lập yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu trong quá trình nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can - mà hoàn toàn không thông qua ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) Thì khi có sai sót về nghiệp vụ sẽ rất khó khăn trong việc xác định yếu tố lỗi để xử lý trách nhiệm cá nhân

Nguyên nhân:

Thứ nhất: BL.TTHS năm 2015 và Thông tư BQP là căn cứ pháp lý quan trọng và trực tiếp nhất để điều chỉnh về hoạt động tiến hành tố tụng của VKS nhưng không có quy định nào đề cập về giới hạn số lần mà VKS được yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

23 BL.TTHS (2015), các điểm a, khoản 1 và điểm q khoản 2 Điều 41: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS; và Quy chế 111/QĐ-VKSTC (2020), khoản 2 Điều 6: Việc ban hành văn bản tố tụng của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố

Trang 24

19

Quy chế nghiệp vụ 111/QĐ-VKSTC tuy có đề cập hoạt động yêu cầu điều tra có thể thực hiện nhiều lần24 nhưng chỉ dưới góc độ đề ra yêu cầu điều tra và phối hợp giữa KSV với ĐTV trong quá trình giải quyết vụ án; chứ không điều chỉnh hoạt động cụ thể là yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Theo nhận thức và đánh giá của học viên, việc không đưa ra quy định giới hạn số lần Viện kiểm sát được yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là nhằm tạo cơ chế linh hoạt cho VKS trong việc thực hiện quyền năng pháp lý của mình Bởi lẽ ngoài trách nhiệm không để bỏ lọt tội phạm, VKS còn phải đảm bảo hoạt động điều tra, truy tố không làm oan người vô tội Bản thân quy định yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố

bị can có mục đích cơ bản là nhằm thu thập đủ chứng cứ, tài liệu cần thiết cho việc chứng minh dấu hiệu tội phạm Tuy nhiên, dưới bất kỳ lý do hay mục đích như thế nào, hoạt động này vẫn cần phải có một khung giới hạn cụ thể Để tránh yếu tố tùy nghi làm mất ý nghĩa và giá trị vốn có của nó Qua vụ án dưới đây, một lần nữa cho chúng ta thấy hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ tài liệu của VKS là cần thiết Nhưng nếu không được nhận thức và vận dụng một cách thống nhất trên cơ sở có quy định giới hạn cụ thể thì để phân biệt giữa sự cần thiết, với thiếu dứt khoát lại là một ranh giới rất mong manh

Vụ án Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra ngày 03/8/2018 tại

Bà Phạm Thái Châu là giám đốc công ty cổ phần Anh Châu Từ ngày 22/3/2018, bà Châu đại diện công ty Anh Châu ký hợp đồng ủy quyền cung cấp dịch vụ viễn thông với công ty Viettel – chi nhánh Bình Thuận Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 03/8/2018, nhân viên chăm sóc khách hàng của công ty Viettel – Chi nhánh Bình Thuận là ông Lương Bá Thiên có nhiệm vụ giao cho bà Châu 370 thẻ cào điện thoại với tổng mệnh giá là 33.180.000.đ Khi đến trụ sở công

ty Anh Châu, do không có mặt Châu nên Thiên giao số thẻ trên cho người hàng xóm, nhờ chuyển lại rồi đi về Theo đúng quy trình thì Thiên phải thu tiền về nộp cho kế toán công ty Viettel để được lấy mã kích hoạt lô thẻ cào Tuy nhiên, do tin tưởng nên ngay trong ngày, Thiên tự lấy tiền của mình nộp cho công ty Viettel để kích hoạt 370 thẻ cào vừa giao Sau đó, Thiên liên lạc với Châu để đòi lại số tiền này nhiều lần nhưng không được nên Thiên làm đơn tố cáo

24 Quy chế nghiệp vụ 111/QĐ-VKSTC (2020), khoản 1 Điều 47

25 Theo QĐ.KTVAHS số 195, QĐ.KTBC số 233, cùng ngày 13/9/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – CA

Tp Phan Thiết (phụ lục 3)

Trang 25

20

Sau khi CQĐT khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bà Phạm Thái Châu và chuyển hồ sơ đề nghị VKS kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Do hành chứng cứ chưa đủ để chứng minh dấu hiệu tội phạm nên VKS hai lần ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu để phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Trong cả hai lần bổ sung, quan điểm của CQĐT là đã đủ căn cứ chứng minh dấu hiệu tội phạm và có công văn đề nghị VKS phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với bà Châu nhưng VKS chưa đồng ý phê chuẩn Để tránh oan, sai và kéo dài thời hạn xử lý, CQĐT, VKS và Tòa án đã tiến hành họp liên ngành để đánh giá lại toàn bộ các tình tiết của vụ án Sau khi phân tích, thấy hành vi không cấu thành tội phạm nên Thủ trưởng CQĐT đã có văn bản đề nghị VKS cho rút lại Quyết định Khởi tố vụ án hình sự, Quyết định Khởi tố bị can để hủy bỏ theo

Có thể thấy trong vụ án này, VKS hai lần sử dụng quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Đáng lý ra sau lần bổ sung chứng cứ ban đầu, CQĐT không đáp ứng được các chứng cứ cần thiết và có dấu hiệu cho thấy đã hình sự hóa quan hệ dân sự Vì hành vi khách quan của Châu

là chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với Thiên, còn Công ty Viettel (chủ sở hữu của 370 thẻ cào) thì cũng trả lời bằng văn bản là không bị thiệt hại gì đối với số thẻ cào đã bán cho công ty Anh Châu Tuy nhiên, tại thời điểm này, do áp lực từ dư luận; tâm lý ngại bỏ lọt tội phạm và muốn tạo điều kiện cho CQĐT tiếp tục củng cố chứng cứ buộc tội nên VKS không dứt khoát trong việc hủy bỏ các quyết định khởi

tố vụ án, bị can và phục hồi các quyền lợi hợp pháp của người bị khởi tố - mà vẫn tiếp tục sử dụng quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu lần thứ hai (kết quả vẫn không làm thay đổi bản chất của vụ việc)

Như vậy, do pháp luật không có quy định điều chỉnh giới hạn số lần VKS được thực hiện quyền yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn khởi tố bị can nên tình trạng tùy nghi khi sử dụng quyền năng này tại một số VKS địa phương đã đến mức độ quan ngại Trong thực tế, ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố thì giữa CQĐT và VKS đã có sự phối hợp trong định hướng các chứng cứ cần làm rõ (dựa trên hoạt động thu thập chứng cứ của CQĐT cùng với quyền đề ra yêu cầu xác minh của VKS) để kết thúc hoạt động này bằng thủ tục khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Do đó trong hầu hết các vụ

26 TTLT số 04/2018/ TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, khoản 2 Điều 5

Trang 26

21

án, trước khi tiến hành khởi tố bị can thì quan điểm của CQĐT và VKS về cơ bản đã có tính định hướng, thống nhất Hơn nữa, tại khoản 1 Điều 10, Thông tư liên tịch số

04/2018/TTLT/VKSNDTC-BCA-BQP cũng đã quy định: “Cơ quan điều tra chủ động

trao đổi với Viện kiểm sát trước khi quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc

bổ sung quyết định khởi tố bị can” Ý nghĩa của hoạt động này là nhằm đảm bảo việc

khởi tố bị can là đã có sự đánh giá, thống nhất của hai ngành, để hạn chế tình huống đến khi CQĐT đề nghị VKS phê chuẩn khởi tố bị can mà còn có quan điểm trái chiều

Do đó, nếu VKS nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện và phối hợp chặt chẽ với CQĐT ngay từ đầu (theo những quy định và trình tự vừa được viện dẫn và phân tích) thì không có lý do gì để VKS phải tiếp tục nhiều lần đề ra thêm yêu cầu bổ sung chứng

cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Khi thực hiện Luận văn này, học viên nhận thấy rằng: về cơ bản, hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn khởi tố bị can cũng mang ý nghĩa chứng minh tội phạm như việc trả hồ sơ vụ án để để điều tra bổ sung (trong giai

yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS chỉ tồn tại ở một giai đoạn ngắn, với mục đích duy nhất là làm rõ căn cứ khởi tố bị can; còn trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung

là nhằm làm sáng tỏ toàn bộ nội dung, tình tiết của vụ án Điều này có nghĩa là phạm

vi yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu không cần thiết phải bao quát và toàn diện như mục đích của trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung Do đó, để nâng cao chất lượng của hoạt động yêu cầu điều tra và trách nhiệm của VKS trong hoạt động phê chuẩn, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân thì cần giới hạn hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS khi xét phê chuẩn khởi tố bị can một lần là phù hợp Quy định này cũng không bị xem là cản trở cơ hội thu thập chứng cứ của các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội Bởi lẽ, nếu CQĐT không thực hiện; hoặc thực hiện chưa đầy đủ theo yêu cầu; hoặc có tình tiết mới phát sinh sau khi bổ sung thì VKS vẫn còn có thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi lựa chọn quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của CQĐT

Thứ hai: vấn đề chủ thể thực hiện quyền năng yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu

Như đã đề cập tại mục 1.1 của Luận văn, bản chất của hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là một hình thức thực hiện quyền năng yêu cầu điều tra Quy định của pháp luật về trách nhiệm, quyền hạn của Viện

27 BL.TTHS (2015), khoản 2 Điều 174: VKS trả hồ sơ không quá 02 lần; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần

Trang 27

22

trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên tại các Điều 41, 42 BL.TTHS năm 2015 cho ta cơ

sở để nhận thức: cả hai chủ thể này đều có quyền hạn đề ra Yêu cầu điều tra Tuy nhiên,

do có ý nghĩa tác động mang tính chi phối đến quá trình phê chuẩn quyết định khởi tố bị can nên hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu đã được liên ngành tố tụng Trung ương hướng dẫn thêm tại khoản 2 Điều 10 TTLT số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-

BQP như sau: “ Trường hợp xét thấy chưa đủ căn cứ để phê chuẩn, Kiểm sát viên kịp

thời trao đổi với Điều tra viên những nội dung cần bổ sung chứng cứ, tài liệu và báo cáo lãnh đạo mỗi ngành để xin ý kiến, thống nhất các nội dung cần bổ sung” Dưới góc độ

nghiệp vụ kiểm sát, hoạt động này được thực hiện qua hai bước:

(1) Kiểm sát viên trao đổi với Điều tra viên nội dung dự kiến cần bổ sung; (2) Kiểm sát viên báo cáo với Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng được phân công) để xin ý kiến về nội dung dự kiến sẽ yêu cầu CQĐT bổ sung

Khác với mục đích của yêu cầu điều tra (bao gồm phạm trù rộng, với mục

đích làm rõ tội phạm, người phạm tội, cùng với các tình tiết khách quan khác của

vụ án và được thực hiện trong toàn bộ quá trình điều tra; có thể bằng lời nói hoặc văn bản28), hoạt động bổ sung chứng cứ tài liệu của VKS chỉ nhằm nhằm bảo đảm cho quyết định phê chuẩn khởi tố bị can là có căn cứ và đúng pháp luật Cho nên vai trò chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) trong quá trình này

là không thể tách rời Mặc dù với tầm quan trọng như đã phân tích, hướng dẫn tại Thông tư tuy có đề cập đến vai trò chỉ đạo, điều hành nhưng cũng chỉ dừng lại ở

việc thể hiện ý kiến của “lãnh đạo Viện” đối với những nội dung mà KVS báo cáo;

chứ không đề cập rõ: sau khi thống nhất nội dung thì ai là chủ thể nhân danh VKS

để ban hành yêu cầu này?

Bằng quy định: “Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm

sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm

rõ căn cứ khởi tố Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can” 29 , Quy chế số

111/QĐ-VKSTC đã khẳng định KSV là chủ thể có quyên đề ra yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn khởi tố bị can Quy chế này tuy cụ thể hơn Thông

29 Điểm b, khoản 1 Điều 46 (Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyết định thay đổi hoặc bổ sung

quyết định khởi tố bị can)

Trang 28

23

tư liên tịch số 04/2018 TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ở chỗ đã giải quyết vướng mắc cho câu hỏi: “chủ thể nào được ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can?” Tuy nhiên, cách thức mà Quy chế giải quyết vấn đề lại tạo ra mâu thuẫn với tinh thần được thể hiện tại khoản 2 Điều 10 TTLT số 04/2018 TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP mà VKSND Tối cao đã ký kết với liên ngành

tố tụng Trung ương trước đó Cụ thể:

- Theo Thông tư liên tịch: để ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong mọi trường hợp, Kiểm sát viên phải báo cáo và xin ý kiến của lãnh đạo trước khi thực hiện (tuy nhiên, vấn đề ai là người ký ban hành văn bản này thì không được đề cập đến);

- Theo quy chế nghiệp vụ: Kiểm sát viên được toàn quyền trong việc đề ra, ban hành yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi

tố bị can

Tăng thẩm quyền cho KSV trong quá trình thực hành quyền công tố là phù hợp với tinh thần tăng cường tính chủ động của người tiến hành tố tụng tại Bộ luật TTHS năm 2015 Nó nhằm khắc phục hạn chế của BL.TTHS năm 2003 là: Điều tra viên, Kiểm sát viên mặc dù là những người trực tiếp giải quyết vụ án hình sự nhưng chỉ được giao rất ít các thẩm quyền tố tụng nên không phát huy được yếu tố chủ động trong thực hiện nhiệm vụ Tuy nhiên, trong tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự, nhà làm luật đã đặt ra hai khía cạnh mang tính nguyên lý, đó là:

- Những hoạt động ảnh hưởng đến quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn

tố tụng, hoặc liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn điều tra, truy tố (các Lệnh, Quyết định, Phê chuẩn, Hủy bỏ…) thì do người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng mới là người được giao thẩm quyền;

- Những hoạt động mang tính chất phát hiện, hoặc nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án (hành vi tố tụng, hoạt động mang tính đặc thù chuyên môn nghiệp vụ) thì giao thẩm quyền cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

Đối chiếu với quy trình tố tụng, hoạt động phê chuẩn (hoặc hủy bỏ) quyết định khởi tố bị can ảnh hưởng trực tiếp đến việc khẳng định hoặc phủ định dấu hiệu tội phạm của một cá nhân/tổ chức Nó không chỉ quyết định đến việc CQĐT có quyền tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng đối với bị can nữa hay không; mà còn ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Từ những nhận định như trên, quan điểm cá nhân học viên (và cũng là quan điểm của nhiều đơn vị khác trong

Trang 29

24

ngành Kiểm sát hiện nay) cho rằng: việc giao cho KSV toàn quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ căn cứ khởi tố bị can như tại Quy chế nghiệp vụ 111/QĐ-VKSTC là chưa phù hợp cả lý luận lẫn thực tiễn, vì:

- Xét về lý luận, nếu để Kiểm sát viên toàn quyền trong việc yêu cầu bổ sung sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ căn cứ khởi tố bị can, mà không thông qua báo cáo đề xuất và nhận chỉ đạo từ Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) thì sẽ thoát ly và làm vô

hiệu hóa vai trò, thẩm quyền “trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền

công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự”30

- Đối với thực tiễn, KSV không thể độc lập ở mức độ nhân danh VKS để tự quyết định việc đồng ý hay không đồng ý với đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố

bị can của CQĐT Điều này sẽ tiềm ẩn nguy cơ chủ quan, tùy tiện trong việc thực hiện quyền năng của Viện kiểm sát, gây hệ lụy kéo dài quá trình quyết định thân phận pháp lý của người bị khởi tố

Trong hai quy phạm pháp luật điều chỉnh về cùng vấn đề trên thì Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP được ban hành trước so với Quy chế 111-QĐ/VKSTC31 Mặc dù Thông tư vẫn còn hạn chế do chưa quy định rõ thẩm quyền ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu Nhưng về cơ bản, nó cũng phần nào đáp ứng yêu cầu của thực tiễn vì đã nhấn mạnh vai trò chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu CQĐT, VKS trong trường hợp còn có sự khác nhau về quan điểm khởi tố bị can Tuy nhiên, do Quy chế nghiệp vụ số 111-QĐ/VKSTC có nội dung mâu thuẫn với tinh thần của Thông tư 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP nên đã không khỏi gây ra những lúng túng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của VKS ở nhiều địa phương

Tóm lại, quy định của pháp luật hiện hành không đặt vấn đề giới hạn số lần VKS yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn khởi tố bị can Hoạt động này hiện nay được VKS các địa phương vận dụng mang tính tùy nghi Xét ở góc độ tích cực thì đây là cơ chế ưu ái mà nhà lập pháp tạo điều kiện cho VKS nhằm đảm bảo sự “an toàn” trong quyết định phê chuẩn của mình Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý thì khoảng trống này tạo nên hệ quả xấu, làm quyền năng yêu cầu điều tra có xu hướng bị sử dụng tùy tiện Hơn nữa, mâu thuẫn trong việc xác định chủ thể có thẩm quyền thực hiện yêu cầu bổ sung

30 BL.TTHS (2015), điểm a, khoản 1 Điều 41: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó

Viện trưởng Viện kiểm sát

31 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 12 năm

2018 còn Quy chế 111/QĐ-VKSTC của Viện trưởng VKS Tối cao có hiệu lực ngày 17/4/2020

Trang 30

25

chứng cứ, tài liệu tại Thông tư liên tịch và Quy chế nghiệp vụ ngành Kiểm sát cũng tạo nên những vướng mắc trong thực tiễn, khiến cho việc thực hiện quyền năng yêu cầu điều tra của VKS khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can chưa thật sự là công

cụ hữu hiệu giúp VKS hoàn thành tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và tấm lá chắn bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát khi phê chuẩn khởi tố bị can

Trong quá trình nghiên cứu Luận văn này, học viên được tiếp cận hai luồng quan điểm đánh giá về việc quy định số lần mà VKS được yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can:

(1) Đối với đa số người có thực tiễn tiến hành tố tụng trong các vụ án hình

sự thì theo xu hướng yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu có thể được thực hiện nhiều lần (nhưng quan điểm này không đưa ra luận cứ để thống nhất được cụ thể bao nhiêu lần là hợp lý) Bởi lẽ hiện nay, nhìn chung thì chất lượng đội ngũ ĐTV, KSV tuy đã được chuẩn hóa trình độ, bản lĩnh nghiệp vụ Cơ bản đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên vẫn có địa phương, có trường hợp ĐTV, KSV vẫn còn chủ quan, thiếu kinh nghiệm về nghiệp vụ - đặc biệt là trong công tác đấu tranh, thu thập và đánh giá chứng cứ Nếu VKS chỉ được phép yêu cầu bổ sung chứng cứ duy nhất một lần trước khi phải quyết định việc phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can thì rất dễ xảy ra khả năng bỏ lọt tội phạm Điều này không tương tích với mô hình chính sách hình sự “kiểm soát tội phạm” mà Việt Nam đang vận dụng

(2) Đối với những nhà nghiên cứu, người tham gia tố tụng với vai trò chủ thể thực hiện chức năng bào chữa thì theo quan điểm pháp luật cần quy định cụ thể VKS chỉ được yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu một lần duy nhất Giới hạn này buộc VKS khi thực hiện quyền yêu cầu sẽ phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện trước khi quyết định đưa ra yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu Bên cạnh đó cũng buộc CQĐT phải nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và tính chủ động khi thực hiện nghĩa

vụ bổ sung Ưu điểm của ý kiến này là loại bỏ được tâm lý chủ quan của CQĐT và VKS

là “nếu chưa phê chuẩn được, thì vẫn còn cơ hội bổ sung” Đồng thời quan điểm của

VKS trong việc phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can sẽ được thể hiện một cách dứt khoát, không bị kéo dài làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý vụ án

Mặc dù bản thân cũng là người tiến hành tố tụng nhưng học viên nhận thấy quan điểm thứ hai là phù hợp Bởi lẽ nếu quy định cụ thể VKS chỉ yêu cầu CQĐT bổ

Trang 31

26

sung chứng cứ, tài liệu một lần duy nhất, ngoài tạo ra cơ chế buộc VKS sẽ nghiên cứu

hồ sơ vụ án một cách toàn diện để cân nhắc đưa ra yêu cầu thật sự cần thiết, còn góp phần giúp cho quy định của BL.TTHS tiệm cận hơn về sự cân bằng trong thực hiện vai trò tố tụng giữa chủ thể thực hiện chức năng buộc tội với chủ thể thực hiện chức năng bào chữa Hơn nữa, cách thức này cũng góp phần đưa nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự được hiện thực hóa Đây cũng là xu thế chung của pháp luật Hình sự mà nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đang hướng đến

Đối với vướng mắc về chủ thể thực hiện thẩm quyền yêu cầu bổ sung chứng

cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn QĐ.KTBC: nếu không giải quyết được mâu thuẫn trong Thông tư liên tịch và Quy chế nghiệp vụ như đã phân tích thì sẽ tồn tại các nhận thức

và vận dụng khác nhau trong quá trình thực hiện quyền năng của VKS khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Vì vậy, tại địa phương nơi học viên công tác, giữa

Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã đạt được thỏa thuận thống nhất phối hợp giữa hai ngành Theo đó, riêng trong quá trình xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, trường hợp VKS chưa đồng ý phê chuẩn (nhưng cũng không hủy bỏ ngay) thì sẽ vận dụng khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm 2015 để ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thể hiện bằng văn bản do Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) ban hành Còn đối với các nội dung mang tính chất làm sáng tỏ các vấn đề còn lại của vụ án thì Kiểm sát viên có thể thực hiện bằng Yêu cầu điều tra ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình kiểm sát điều tra Theo tìm hiểu và đánh giá của cá nhân học viên thì hiện nay, nhiều VKS nhiều địa phương cũng vận dụng theo phương thức này để thực hiện mối quan hệ phối hợp với CQĐT trong việc đề ra yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu Mặc dù giải pháp này không vận dụng theo hướng dẫn tại Quy chế nghiệp vụ số 111/QĐ-VKSTC của ngành Kiểm sát, nhưng rõ ràng nó sẽ giúp loại bỏ được yếu tố chủ quan, tùy nghi trong quá trình sử dụng quyền năng yêu cầu điều tra, đồng thời buộc KSV phải có trách nhiệm báo cáo, tuân theo sự chỉ đạo của Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng) về nội dung trước khi yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ, tài liệu

Qua đánh giá, phân tích về các vướng mắc của quy định pháp luật và quá trình thực tiễn vận dụng quyền năng yêu cầu điều tra của VKS khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, để bảo đảm quy định của pháp luật về Tố tụng hình sự được nhận thức và vận dụng một cách thống nhất, cần hoàn thiện, bổ sung các quy định của pháp luật, Thông tư liên tịch và Quy chế nghiệp vụ như sau:

(1) Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng: tại khoản

3 Điều 179 , trong đoạn “…Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết

Trang 32

27

định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy

bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra” cần sửa đổi, bổ sung

thành: “…Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can,

Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố

bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu tố tụng 32 làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra Yêu cầu này chỉ thực hiện một lần.” Luật hóa giới hạn số lần VKS được quyền yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ,

tài liệu giúp cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất Qua đó buộc VKS phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện nhằm đề ra nội dung yêu cầu điều tra thật sự cần thiết cho việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

(2) Bổ sung Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT/ VKSNDTC-BCA-BQP,

khoản 2, Điều 10 theo hướng: sửa câu: “Yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của

Viện kiểm sát phải được thể hiện bằng văn bản.” thành: “Yêu cầu bổ sung chứng

cứ, tài liệu phải do lãnh đạo Viện 33 ban hành”

(3) Sửa đổi Quy chế số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát

nhân dân Tối cao: tại điểm b, khoản 1 Điều 46 từ: “Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác

định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố”… thành: “Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên phải báo cáo đề xuất lãnh đạo đơn vi, lãnh đạo viện 34 ban hành Yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ căn cứ khởi tố”

Việc bổ sung Thông tư liên tịch và sửa đổi Quy chế nghiệp vụ như trên nhằm giải quyết mâu thuẫn như hiện nay về xác định chủ thể ban hành yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu trong giai đoạn khởi tố bị can, đồng thời khẳng định rõ Lãnh đạo Viện mới là chủ thể có thẩm quyền này

Ghi chú: Các trường hợp phê chuẩn quyết định thay đổi, hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can (theo Điều 180 BL.TTHS) thì cũng cần có sự thay thế, điều chỉnh tương tự để đảm bảo tính đồng bộ

32 Vấn đề phân định “tài liệu tố tụng”, học viên sẽ tiếp tục phân tích tại chương II

33 Sử dụng thuật ngữ “Lãnh đạo Viện” để tương thích với quy định về chủ thể tại TTLT số 04/2018/TTLT/ VKSNDTC-BCA-BQP và Quy chế số 111/QĐ-VKSTC Vì tại VKSND Tối cao, thẩm quyền phê chuẩn QĐ KTBC được Viện trưởng ủy quyền cho Kiểm sát viên VKSND Tối cao, hoặc KSV Cao cấp giữ chức vụ Vụ trưởng thực hiện (tại mục 64, Phụ lục A - Ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)

34 Quy chế nghiệp vụ số 111-QĐ/VKSTC, Điều 4 có sự phân cấp “Lãnh đạo viện” (gồm Viện trưởng, hoặc Phó viện trưởng) và “Lãnh đạo đơn vị” (gồm lãnh đạo cấp Vụ, hoặc lãnh đạo cấp Phòng)

Trang 33

28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ các phân tích trên cơ sở lý luận và vướng mắc trong thực tiễn như đã nêu trên, trước hết cần phải xác định: quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát về yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thật sự cần thiết, nhằm bảo đảm cho hoạt động phê chuẩn là có căn cứ và đúng pháp luật Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về Tố tụng hình sự hiện hành vẫn đang bỏ ngỏ nội dung giới hạn số lần Viện kiểm sát được quyền yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu và còn mâu thuẫn về vấn đề chủ thể thực hiện yêu cầu này Tại một số địa phương, VKS hai cấp đã tạm thời giải quyết vướng mắc bằng cách thống nhất với CQĐT về giải pháp, cách thức trong quan hệ phối hợp khi thực hiện hoạt động phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Đó là yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu phải do Viện trưởng (hoặc Phó viện trưởng), ban hành, chỉ tập trung vào nội dung làm rõ căn cứ khởi tố bị can để hạn chế việc yêu cầu nhiều lần Tuy nhiên bản thân giải pháp này cũng chỉ trên cơ sở thỏa thuận tạm thời, không mang tính đồng bộ vì chưa được luật hóa để nhận thức và vận dụng một cách thống nhất

Trong thực tiễn, hệ quả từ việc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu nhiều lần khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can khiến cho thời gian xử lý vụ án bị kéo dài, làm ảnh hưởng rất lớn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khởi tố Bên cạnh đó, nếu không quy định rõ chủ thể thực hiện quyền năng này thì sẽ không có

cơ sở phân định một cách rõ ràng trách nhiệm của Lãnh đạo với Kiểm sát viên trong trường hợp có sai phạm khi thực hiện nhiệm vụ

Chính vì lẽ trên, tại Chương 1, học viên tập trung phân tích, đưa ra những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn khi vận dụng quy định của pháp luật Từ đó đề nghị hoàn thiện bổ sung nội dung tại khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm 2015 và các quy định tại Thông tư, Quy chế nghiệp vụ nhằm phát huy hơn nữa giá trị tích cực của hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Trang 34

29

CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG VIỆC THỰC HIỆN YÊU CẦU CỦA VIỆN KIỂM SÁT

KHI PHÊ CHUẨN QUYẾT ĐỊNH KHỞI TỐ BỊ CAN 2.1 Quy định của pháp luật về trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát

Trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, chức năng phê chuẩn hoặc các thẩm quyền mang tính quyết định trong hoạt động điều tra cho thấy Viện kiểm sát không còn giữ vị trí thứ yếu, thụ động trong hoạt động điều tra vụ án hình sự mà đã trở thành cơ quan giữ vai trò quan trọng, chịu trách nhiệm về căn cứ

và tính hợp pháp đối với các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Để VKS thực hiện tốt vai trò này, BL.TTHS năm 2015, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

phạm pháp luật có liên quan đã dành nhiều quy định làm cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm thực thi quyền hạn của VKS Một trong số đó là chế định trách nhiệm của CQĐT (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) trong việc thực hiện yêu cầu của VKS Mặc dù các quy định của pháp luật hiện hành giúp nhận thức khá rõ ràng về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu của VKS là bắt buộc Tuy nhiên, quá trình vận dụng đã phát sinh một số vướng mắc do Luật không quy định thời hạn mà CQĐT phải thực hiện yêu cầu của VKS;

và cách sử dụng cụm từ “yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu” tại khoản 3 Điều 179

BL.TTHS năm 2015 là không rõ ràng, có thể gây nhầm lẫn về nội hàm Cụ thể:

Thứ nhất: tại khoản 1 Điều 167 BL.TTHS năm 2015 quy định trách nhiệm

của các chủ thể có liên quan trong việc thực hiện theo yêu cầu điều tra “Cơ quan

điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra” Yêu cầu bổ

sung chứng cứ, tài liệu của VKS khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cũng là một hình thức thực hiện quyền năng yêu cầu điều tra nên CQĐT phải có trách nhiệm thực hiện

“Điều 179 Khởi tố bị can

35 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (2015), khoản 2 Điều 11: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động Điều tra

Trang 35

30

3 Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn

Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can”

Để cụ thể trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu bổ sung chứng

cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, tại Điều 10 Thông tư liên tịch

số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP cũng quy định:

“2 Yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát phải được thể hiện bằng văn bản Trường hợp không bổ sung được chứng cứ, tài liệu thì Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do

Sau khi thực hiện việc bổ sung chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải có văn bản tiếp tục đề nghị phê chuẩn hoặc rút quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can kèm theo các chứng cứ, tài liệu bổ sung theo yêu cầu của Viện kiểm sát để Viện kiểm sát xem xét, quyết định theo thẩm quyền

3 Trường hợp xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì thời hạn xét phê chuẩn không quá thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ xét phê chuẩn, thì thời gian bổ sung chứng cứ, tài liệu không quá thời hạn gia hạn tạm giữ; nếu không bổ sung được chứng cứ, tài liệu trong thời hạn gia hạn tạm giữ thì

Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do và đề nghị VKS xem xét, quyết định.”

Các nội dung tại Bộ luật, Thông tư vừa được viện dẫn cho thấy trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu của VKS là nghĩa vụ bắt buộc Trách nhiệm này, ngoài nguồn gốc xuất phát từ chức năng tố tụng của CQĐT là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội; còn bởi nhiệm vụ là cơ quan có vai trò chủ công trong phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên chế định Khởi tố bị can tại Điều 179 BL.TTHS hiện hành chỉ đặt ra vấn đề trách nhiệm của

VKS trong việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là 03 ngày, hoặc “03 ngày kể

từ ngày nhận chứng cứ, tài liệu bổ sung”, nhưng lại bỏ trống thời hạn mà CQĐT

phải thực hiện trách nhiệm bổ sung chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của VKS

Tại khoản 3, Điều 10 Thông tư liên tịch số BQP, tuy đã khá chi tiết hơn khi đặt ra thời hạn mà CQĐT phải thực hiện yêu cầu bổ

Trang 36

04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-31

sung chứng cứ, tài liệu của VKS trong tình huống khi tiến hành khởi tố bị can mà

người bị khởi tố đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ Đó là: “thời gian bổ sung chứng

cứ, tài liệu không quá thời hạn gia hạn tạm giữ” Còn đối với những trường hợp khởi

tố bị can thông thường (không bị chi phối bởi thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ hình sự) thì cả BL.TTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP và những văn bản khác hướng dẫn về tố tụng hình sự đều không đề cập Điều này có nghĩa là kết của việc quả bổ sung chứng cứ, tài liệu là hoàn toàn phụ thuộc vào động thái tự giác và tích cực từ phía CQĐT, chứ không có quy định ràng buộc Đây là một bất cập rất lớn mà hiện nay các VKS hai cấp tại địa phương nhiều lần đưa ra kiến nghị để liên ngành tố tụng Trung ương có hướng dẫn giải quyết Vì nếu đã khẳng định trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện theo yêu cầu của VKS, nhưng lại không đề cập đến thời hạn mà CQĐT phải hoàn thành thì sẽ không thể phát huy được ý nghĩa và mục đích của hoạt động yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của VKS, đồng thời sẽ ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án

Thứ hai: theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm 2015; Điều 10, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP và Điều 46 Quy chế số

hợp VKS chưa phê chuẩn (hoặc hủy bỏ) quyết định khởi tố bị can, mà ban hành yêu cầu bổ sung Nhưng với giả định và sử dụng thuật ngữ như tại các quy định đã trích

dẫn, nội hàm của khái niệm “chứng cứ, tài liệu” tạo ra cách hiểu chưa hoàn toàn

thống nhất Vì:

- Dưới góc độ lý luận, “tài liệu” là nguồn hình thành nên chứng cứ như quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 87 BL.TTH năm 2015 Như vậy, VKS chỉ được yêu cầu CQĐT bổ sung duy nhất một nội dung Đó là vấn đề liên quan đến chứng minh dấu hiệu tội phạm (bởi tài liệu cần bổ sung mang ý nghĩa chứng minh, nên cũng là

bộ phận của chứng cứ)

- Ngược lại, nếu tiếp cận trên cơ sở thực tiễn, thông qua hoạt động yêu cầu điều tra thì “chứng cứ” là các nội dung có ý nghĩa chứng minh; còn “tài liệu” là các trình tự, thủ tục tố tụng Điều này có nghĩa là nội dung yêu cầu bổ sung của VKS có thể gồm một trong hai (hoặc cả hai) vấn đề:

(a) Bổ sung chứng cứ chứng minh (yêu cầu về nội dung);

(b) Bổ sung thủ tục tố tụng (yêu cầu về hình thức)

36 Quy chế nghiệp vụ số 111/QĐ-VKSTC, Điều 46 sử dụng cụm từ “tài liệu, chứng cứ”; khoản 1 Điều 31

TTLT số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP lại dùng cụm từ “chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng”

Trang 37

32

Nhận thức đúng đắn và thống nhất về nội dung này sẽ giúp cho giới hạn phạm

vi yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của VKS được rõ ràng và đầy đủ hơn Tuy nhiên, do BL.TTHS năm 2015 hoàn toàn không đưa ra định nghĩa “tài liệu”, mà chỉ quy định nó với góc độ là nguồn của chứng cứ Đồng thời những quy định tại Thông tư, Quy chế nghiệp vụ cũng không giải thích rõ ràng về vấn đề này nên tạo ra nhận thức chưa thống nhất ở một số cơ

quan tiến hành tố tụng các địa phương về khái niệm “tài liệu” cần bổ sung khi xét

phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là vấn đề về chứng cứ, hay là tố tụng?

Tóm lại, qua phân tích trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu của VKS khi phê chuẩn quyết khởi tố bị can, việc áp dụng quy định của pháp luật hiện hành đã phát sinh hai vướng mắc Đó là luật không quy định thời hạn mà CQĐT phải thực hiện yêu cầu của VKS; và phạm vi mà VKS có quyền yêu cầu CQĐT bổ sung chỉ là chứng cứ, hay có thể bao gồm cả thủ tục tố tụng? Các vướng mắc này trong thực tế sẽ làm giảm sút hiệu lực quyền năng của VKS, tác động xấu đến thời hạn giải quyết vụ án, đồng thời khiến cho phạm vi yêu cầu của VKS bị bó hẹp, không đáp ứng đủ những vấn đề cần khắc phục để làm rõ căn cứ khởi tố bị can

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Cơ sở lý luận và các quy định pháp luật nêu trên là nền tảng quan trọng giúp nhận thức thống nhất về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu của VKS, bao gồm cả trường hợp yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Đánh giá về vấn đề này, có ý kiến cho rằng: quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKS hoàn toàn có thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra Vì vậy khi CQĐT đã đề nghị phê chuẩn khởi tố bị can, nhưng nếu VKS đánh giá là chưa đủ chứng cứ, tài liệu thì VKS nên chủ động tự tiến hành một số hoạt động điều tra Chứ không nhất thiết phải thực hiện quyền yêu cầu rồi phụ thuộc kết quả bổ sung của CQĐT mới phê chuẩn Quan điểm này tuy có căn cứ về mặt pháp lý (vì không trái thẩm quyền của VKS), nhưng không phù hợp với thực tiễn và chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng Bởi lẽ:

- Nếu VKS tự thu thập chứng cứ, tài liệu để bổ sung cho thiếu sót trong hoạt động khởi tố bị can thì sẽ tạo cho CQĐT tâm lý ỷ lại trong việc thực hiện nhiệm vụ

“phát hiện, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội ”37 Vì nếu chưa rõ, thì sẽ có VKS bổ sung thay;

37 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (2015), khoản 3 Điều 8

Trang 38

33

- Yếu tố nhân lực, vật lực của VKS hiện nay chưa đủ để thay thế hoàn toàn CQĐT trong việc tiến hành một số biện pháp nghiệp vụ điều tra để phát hiện hoặc chứng minh dấu hiệu tội phạm Hơn nữa, VKS là cơ quan thực hành quyền công tố,

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra chứ không phải là cơ quan có trách nhiệm khắc phục thiếu sót của Cơ quan điều tra VKS chỉ tự thu thập chứng cứ thông qua trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục; hoặc người bị khởi

Khoản 1 Điều 167 và một số quy định khác của BL.TTHS năm 2015 khẳng định trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu điều tra của VKS, mà không cần đặt ra thời hạn CQĐT phải hoàn thành yêu cầu này Bởi lẽ đối với yêu cầu điều tra thông thường, điều tất yếu là CQĐT phải hoàn thành trước khi thời hạn điều tra kết thúc và kết quả thực hiện phải được thể hiện tại bản Kết luận điều tra39 Tuy nhiên, yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can lại có đặc thù riêng Yêu cầu này chỉ xuất hiện chỉ khi CQĐT tiến hành khởi tố bị can (nhưng VKS chưa quyết định được việc phê chuẩn hoặc hủy bỏ), và không còn tồn tại khi VKS đã thực hiện xong quyết định này Chính

vì thế, muốn việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can được thực hiện nhanh chóng, thì yêu cầu của VKS phải được CQĐT đáp ứng kịp thời, chứ không thể chờ đến khi kết thúc thời hạn điều tra Tuy nhiên, do không có sự điều chỉnh của pháp luật nên trong thực tiễn, để giải quyết vấn đề này VKS các địa phương phải có phương án tác động, hoặc xây dựng quy chế để đảm bảo trách nhiệm của CQĐT Tuy nhiên, để ràng buộc trách nhiệm của CQĐT thực hiện trong thời hạn được ấn định, mà không dựa vào căn cứ quy định của pháp luật hoặc hướng dẫn của liên ngành tố tụng Trung ương là một vấn đề rất nan giải mà không phải VKS địa phương nào cũng làm được

Cũng qua thực tiễn, yêu cầu điều tra của VKS khi xét phê chuẩn khởi tố bị can sẽ phát sinh nếu đề nghị phê chuẩn của CQĐT thuộc một trong hai (hoặc cả hai) trường hợp sau đây:

38 VKSTC (2019), Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 27/04 /2020 của Viện trưởng VKSND Tối cao về “tăng cường

trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”

39 TTLT số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, khoản 2 Điều 11: “Trường hợp Cơ quan điều tra không

thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát hoặc đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát thì Cơ quan điều tra phải nêu

rõ lý do trong bản kết luận điều tra”

Trang 39

34

- Thiếu chứng cứ quan trọng để chứng minh dấu hiệu tội phạm, (chứng cứ xác định có tội và chứng cứ ngoại phạm) Trường hợp này được coi là bổ sung về chứng cứ - hay còn gọi là bổ sung nội dung;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bắt buộc phải khắc phục trước khi phê chuẩn Đây được xem là trường hợp cần bổ sung về tài liệu - hay còn gọi là bổ sung về hình thức

Nhìn nhận thực tiễn của nội hàm và phạm vi hoạt động yêu cầu điều tra như

trên cũng là cơ sở để đánh giá và phân tích nội hàm của khái niệm “yêu cầu bổ sung

chứng cứ, tài liệu” của VKS khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

2.2.1 Kết quả đạt được

Kể từ năm 2017, một trong số các chỉ tiêu mà VKSND Tối cao đề ra thì yêu cầu điều tra là tiêu chí bắt buộc phải đạt tỷ lệ ≥ 90%40 (yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu cũng được xem thuộc chỉ tiêu này) Nhờ đó, chất lượng thực hành quyền công tố

và hoạt động phê chuẩn của VKS được nâng lên một cách rõ rệt Tỷ lệ án oan, sai và trả hồ sơ để điều tra bổ sung thuộc trách nhiệm của VKS giảm rõ hàng năm

63.607 vụ/ 107.735 b.can Tổng số bị can

Số bị cáo Tòa

án tuyên không

phạm tội

10 bị cáo (tỉ lệ 0,009743%

trên số truy tố)

09 bị cáo (tỉ lệ 0,009159%

trên số truy tố)

08 bị cáo (tỉ lệ 0,008166%

trên số truy tố)

04 bị cáo (tỉ lệ 0,003743% trên số truy tố)

Chú thích: các trường hợp CQĐT chủ động có công văn đề nghị rút lại Quyết

định Khởi tố bị can để tự hủy bỏ 42 (sau khi thực hiện yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài

40 Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân và Hướng dẫn thực hiện (ban hành kèm theo Quyết định số 379/QĐ-VKSTC, ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Viện trưởng VKSTC): mục 10.4, phần II

41 Số liệu thống kê toàn quốc của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

42 Thực hiện theo Điều 5, TTLT số 08/2018 TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP

Trang 40

BL.TTHS năm 2015 Đây là kết quả của quá trình triển khai thực hiện đồng bộ các quy định mới về tố tụng hình sự cùng với nhiều Chỉ thị, giải pháp của VKSND Tối cao mà một trong số đó là việc vận dụng có có hiệu quả quy định về yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và nhận thức chung về trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện yêu cầu này

2.2.2 Một số vướng mắc khi xác định trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát

Mặc dù cơ sở lý luận và thực tiễn như đã phân tích đều đưa đến nhận thức chung về trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là mang tính tất yếu và bắt buộc Tuy nhiên, quá trình vận dụng khoản 3 Điều 179 BL.TTHS năm 2015 trong thực tiễn đã nảy sinh một số vướng mắc Đó là:

Thứ nhất Vấn đề thời hạn mà Cơ quan điều tra phải thực hiện trách nhiệm

bổ sung chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của VKS:

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự, đó là “ bảo

đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm ”44 Cho nên các hoạt động như: tạm giữ, tạm giam; thời

hạn điều tra, điều tra bổ sung; thời hạn phê chuẩn; hoặc thủ tục, thẩm quyền thực hiện gia hạn đều được luật hóa bằng các quy định chi tiết về thời hạn cụ thể bằng giờ, ngày, tháng, năm, số lần nhằm hướng đến mục đích đảm bảo cho mọi thủ tục tố tụng đều được đặt trong khuôn khổ cụ thể về thời gian Nếu vượt khỏi giới hạn này thì xem là vi phạm và tùy theo mức độ hậu quả sẽ có chế tài nghiêm khắc Tuy vậy hiện nay các quy định tại BL.TTHS, Thông tư liên tịch đều bỏ trống quy định về thời

43 Theo số liệu thống kê năm của VKSTC, trong các năm 2018 và 2019, các tiêu chí về tỉ lệ án bị trả hồ sơ điều tra bổ sung; án Tòa tuyên khác tội danh mà VKS truy tố đều giảm rõ rệt Tuy nhiên, Luận văn không đưa vào đánh giá, phân tích vì giới hạn của phạm vi nghiên cứu

44 BL.TTHS (2015): Điều 2: Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự

Ngày đăng: 29/04/2021, 13:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w