1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÉT ĐẶC SẮC TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở PHỦ TÂY HỒ

38 50 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nét đặc sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở phủ Tây Hồ
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 368,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó,Phủ Tây Hồ là một trong những trung tâm lớn về tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh ở Hà Nội và Việt Nam nên đã được giới nghiên cứu quan tâm từ rất sớm, đặc biệt là các chuyên ngành dân tộc học, lịch sử, văn học .Tuy vậy, chưa có một công trình chuyên sâu về Phủ Tây Hồ từ chuyên ngành văn hóa. Hầu như trong toàn giới nghiên cứu, người ta mới chỉ dừng lại ở mức nhận thức rằng Phủ Tây Hồ là một đền phủ lớn mang tính trung tâm thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Hà Nội, còn cụ thể như thế nào thì hoàn toàn không rõ. Làm rõ vị trí và ý nghĩa của Phủ Tây Hồ trong bức tranh tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh sẽ cho chúng ta nhận thức về tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Lịch sử nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHỦ TÂY HỒ VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 7

1.1 Phủ Tây Hồ 7

1.1.1 Vị trí địa lí 7

1.1.2 Kiến trúc 7

1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu 8

1.2.1 Đôi nét về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Viêt Nam 8

1.2.2 Tục thờ Mẫu ở phủ Tây Hồ 13

CHƯƠNG 2: NÉT ĐẶC SẮC TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở PHỦ TÂY HỒ 14

2.1 Không gian thờ tự 14

2.1.1 phủ chính 14

2.1.1.1 Tiền đường 14

2.1.1.2 Trung đường 15

2.1.1.3 Mật cung 15

2.1.2 Lầu sơn trang 16

2.2 Lễ Hội 17

2.2.1 Lễ chính trong năm 17

2.2.2 Lễ Hầu Đồng 17

2.2.2.1 Khái niệm 17

2.2.2.2 Nghi thức 18

2.2.2.3Trình tự diễn ra lễ hầu đồng 21

Trang 2

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở PHỦ TÂY HỒ 24

3.1 Thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu 24

3.2 Xu hướng biến đổi của tín ngưỡng thờ Mẫu 25

3.3 Giải pháp 26

KẾT LUẬN 32

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

PHỤ LỤC 35

Trang 3

Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa và bắt nguồn từ vănminh lúa nước,từ một hình thức tôn vinh người phụ nữ làm Quốc Mẫu,ThánhMẫu,Vương Mẫu… Đạo Mẫu ra đời với ý nghĩa đó là coi tự nhiên là một người mẹ vàtôn thờ,đạo mẫu còn mang cho con người ở trên đời ba điều:Phúc-Lộc-Thọ.Đó là ướcmuốn ngàn đời của con người,hơn hết đạo Mẫu là tín ngưỡng mang đến cho con ngườisức khỏe,tài lộc ở cuộc sống trần thế, hướng con người về cõi sống chứ không phải vềcái chết,linh hồn.Tín ngưỡng thờ Mẫu còn thể hiện đậm nét chủ nghĩa yêu nước đãđược tâm linh hóa và tín ngưỡng hóa.

Trong tín ngưỡng thờ mẫu còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa nghệ thuật đặcsắc,đặc biệt là trong nghi lễ hầu đồng-đã sản sinh ra loại hình âm nhạc-hát văn,mà theonhiều nhà nghiên cứu đó là một trong hai loại hình dân ca tiêu biểu của người Việt.Hiện tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được bộ văn hóa thểthao và du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia,đồng thời đang trongquá trình hoàn thiện hồ sơ đẻ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thểđại diện cho nhân loại vào năm 2015.Trên dải đất hình chữ S đạo mẫu được thờ phụng

ở nhiều nơi như:Phủ Sòng Sơn(Thanh Hóa),Phủ Dầy(Nam Định),Phủ QuảngCung……Trong đó,Phủ Tây Hồ là một trong những trung tâm lớn về tín ngưỡng MẫuLiễu Hạnh ở Hà Nội và Việt Nam nên đã được giới nghiên cứu quan tâm từ rất sớm,đặc biệt là các chuyên ngành dân tộc học, lịch sử, văn học .Tuy vậy, chưa có một côngtrình chuyên sâu về Phủ Tây Hồ từ chuyên ngành văn hóa Hầu như trong toàn giớinghiên cứu, người ta mới chỉ dừng lại ở mức nhận thức rằng Phủ Tây Hồ là một đềnphủ lớn mang tính trung tâm thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Hà Nội, còn cụ thể như thế nào thìhoàn toàn không rõ Làm rõ vị trí và ý nghĩa của Phủ Tây Hồ trong bức tranh tínngưỡng Mẫu Liễu Hạnh sẽ cho chúng ta nhận thức về tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Trang 4

Vì vậy mà chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này để làm rõ hơn giá trị và vaitrò của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và đạo Mẫu ở Phủ Tây Hồ nói riêng để giữgìn,lưu truyền và phát huy nó một cách tích cực nhất.Góp phần vào việc bảo tồnnhững tinh hoa truyền thống của người Việt.

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu-khách thể

- Đối tượng:Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu

- Khách thể:phủ Tây Hồ-Hà Nội

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian:ở phủ Tây Hồ

- Thời gian:ngày diễn ra lễ hội từ mùng 3 tới mùng 8 tháng 3 âm lịch

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trên cơ sở khảo sát,đánh giá thực trang,tìm hiểu về đặc điểm,vai trò của tínngưỡng thờ mẫu nhằm đưa ra những giải pháp,kiến nghị để phát huy những giá trị vănhóa và khắc phục mặt hạn chế của phủ Tây hồ hiện nay

Sau khi miền Nam được giải phóng (1975) cả nước được thống nhất, chúng ta

có nhiều điều kiện tập trung nghiên cứu Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu,nhiều cuộc hội thảo và các bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam (không kểnhững bài viết trong báo và tạp chí) cơ bản đó là:

- “Đạo Mẫu ở Việt Nam” năm 1996 hay cuốn “Đạo Mẫu và các hình thứcShaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu á ” năm 2004 của tác giả Ngô ĐứcThịnh (chủ biên) ở đây, tác giả đã đưa ra những luận chứng khẳng định tín ngưỡngthờ Mẫu ở Việt Nam đã trở thành Đạo Mẫu Quan điểm này hiện nay có nhiều nhàkhoa học chưa đồng tình

Trang 5

- Cuốn “di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam ”, tácgiả Lê Quang Trứ (2000) có bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng còn sơ sài, tác giảgiới thiệu dàn đều bốn loại hình tín ngưỡng chủ yếu tại Việt Nam.

- Cuốn “Lịch sử tín ngưỡng Đông Nam á ” xuất bản năm 2000, tái bản năm

2003 của TS Trương Sĩ Hùng (chủ biên), trong đó có bài viết: Thờ Mẫu Việt Nam mộttín ngưỡng điển hình ở Đông Nam á Tác giả giới thiệu về lễ hội thờ Mẫu và bước đầuđưa ra kết luận tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mang sắc thái điển hình ở Đông Namá

- GS Vũ Ngọc Khánh, tác giả của cuốn sách “ Tín ngưỡng dân gian Việt Nam

”(tái bản có sửa chữa, bổ sung)(2001), tác giả có viết về các tín ngưỡng dân gian ViệtNam hiện nay, trong đó có cả tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ,nhưng không nghiên cứu sâu từng loại hình tín ngưỡng mà chỉ nêu khái quát từng loạihình tín ngưỡng dân gian mà thôi

- Cuốn “Văn hóa Thánh Mẫu ” của Đặng Văn Lung (2004), tác giả đã rất tâmhuyết với vấn đề “Mẫu ” nên đưa ra rất nhiều các tư liệu về các “Mẫu” nhưng lại viếtdưới góc độ văn hóa, văn học và lịch sử chứ chưa xét dưới góc độ tín ngưỡng và tôngiáo

- Năm 2005, cuốn sách “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam ”

do TS Nguyễn Đức Lữ (chủ biên) cũng viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam,nhưng chỉ đề cập đến khái niệm thờ Mẫu và một số đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu,chưa đi sâu vào nguồn gốc, vai trò…của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

- Năm 2005, Mai Thanh Hải là tác giả cuốn sách “Tìm hiểu tín ngưỡng truyềnthống Việt Nam ” Tác giả đưa ra quan điểm thờ Mẫu ở Việt Nam có cội nguồn bảnđịa và thờ Mẫu bắt nguồn từ triết lý nhân sinh

Trên đây chỉ là một số tác phẩm cơ bản của các nhà nghiên cứu trong nước,trong những năm gần đây về tín ngưỡng thờ Mẫu, tác giả luận văn mà chưa có điềukiện liệt kê tất cả những danh mục viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam tại phủ Tây

hồ hiện đang có ở nhiều tác phẩm và

5.Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được thực hiện để nghiên cứu đề tài:

- Điều tra thực tế

- Phỏng vấn trực tiếp tại phủ Tây Hồ

Trang 6

- Nghiên cứu tài liệu có liên quan

6.Đóng góp của đề tài

- Nếu nghiên cứu đề tài này thành công sẽ góp thêm tài liệu về tín ngưỡng thờMẫu ở phủ Tây Hồ.Bài nghiên cứu giúp cho người đọc hiểu thêm về tín ngưỡng thờMẫu ở phủ Tây Hồ và nét sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống đậm đà bản sắc dântộc của người Việt Nam.Ngoài ra,bài nghiên cứu còn là nguồn tài liệu tham khảo chonhững người làm công tác quản lí văn hóa

Trang 7

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: PHỦ TÂY HỒ VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 1.1Phủ Tây Hồ

đã nổi tiếng cả trong nước và ngoài nước.Hồ Tây là 1 trong những địa điểm có khungcảnh đẹp,không gian thoáng đãng ở Hà Nội,đây cũng là địa danh nổi tiếng gắn liền vớilịch sử của thủ đô ngàn năm văn hiến Quanh hồ có hơn 20 ngôi đình ,đền ,chùa đãđược xếp hạng với nhiều di tích nổi tiếng với nhiều văn vật giá trị như 100 bia đá, 165câu đối ,140 bức hoành phi,gần 20 quả chuông cổ Tuy có nhiều ngôi đền, chùaquanh đây nhưng có lẽ nhiều người Hà Nội và khách du lịch thập phương vẫn tìmnhiều đến đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ bởi nét kiến trúc cổ xưacũng như sự linh nghiệm nơi đây, đặc biệt là vào các ngày lễ , tết

1.1.2Kiến trúc

Về kiến trúc của phủ Tây Hồ bao gồm có tam quan,kiến trúc chính 3 nếp (tamquan thánh Mẫu),phương đình,tiền tế,hậu cung,điện sơn trang,khu nhà khách lầucô,lầu cậu.di tích phủ Tây Hồ hiện còn lưu giữ được khối di vật khá phong phú manggiá trị lịch sử,văn hóa,nghệ thuật thuộc thế kỉ XI,XX như bộ tượng tròn gần 300pho,hoành phi,câu đối….Đặc sắc nhất là bức đại tự ghi:” Thiên tiên trắc giáng”( tiêntrời xuất hiện ) và bức hoành phi ở cửa cung đề:” Mẫu nghi thiên hạ”( làm mẹ củathiên hạ )

Tam quan phủ Tây hồ không lớn nhưng được xây dựng khá công phu ,mangđậm phong cách dân gian của người Việt Các bức long phượng trình tường, tả thanhlong, hữu bạch hổ , hay tứ linh ( long , ly, quy , phượng) , tứ quý ( Tùng , cúc, trúc,

Trang 8

mai) Qua cổng tam quan là sân phủ rộng rãi chạy sát hồ nước Trong sân , bên trái cólầu Cậu, bên phải là lầu Cô Đó là những thị giả theo hầu Mẫu, giúp Mẫu hành đạo.

Ngoài ra,phía ngoài phủ chính xây 2 am thờ nhỏ thờ Cô và Cậu.Phía trước lầu

có tháp nhỏ,dưới gốc si là tấm bia của xã Vĩnh Thuận dựng năm Thiệu Trị 5(1845)

Từ sân phủ nhìn vào là mái hiên giả tam quan có kiến trúc độc đáo với nhữngmảng đắp nổi long phượng trình tường và tứ linh Chính giữa tam quan phía trên đề :

Tây Hồ hiển linh , phía dưới là phỉ long phún thủy, đặc biệt là năm con biền phúc đắp

nổi với ý tưởng ban phúc cho mọi người

Phía sau hiên tam quan là tiền đường,nơi thờ Ngọc Hoàng thượng đế Tiềnđường có kiến trúc theo kiểu phúc ốc trùng thiềm, tám mái cao vút len như một vọnglâu Đây là lối kiến trúc lâu quán của Đạo giáo, cư cao lâm hạ quan sát tứ phương.Sautiền đường là trung đường , thờ Tam Vị Thánh Mẫu bằng bài vị Nơi đây xây ba gianđơn giản, tưởng hồi bít đốc, chắc khỏe Tuy nhiên, nơi tôn nghiên nhất của phủ Tây

Hồ là mật cung Mật cung xây hai gian thờ dọc, kiến trúc theo kiểu phúc ốc trùngthiềm, thấp hơn so với tiền đường và bái đường, theo lối kiến trúc là tiền tôn hậu ty,tiền động hậu tĩnh, tiền náo nhiệt hậu tĩnh túc

Trong quần thể kiến trúc phủ Tây Hồ còn có động Sơn trang ba gian mới xâydựng bằng chất liệu bê tong giả gỗ theo lối phúc ốc trùng thiềm chồng diêm tám mái.Động xây cao , thoáng và vững chắc Trên tường có những mảng đắp nổi tứ linh , tứquý sinh động Các đầu đao là hồi long hồi phượng tinh tế, uy nghi Trên các tầu mái

là những chú trào phong ngạo nghễ, các bờ nóc là các con Si Vẫn (hình đầu rồng)

Kiến trúc phủ rất coi trọng cả nội thất và ngoại thất.Ngoại thất của các phủ thờMẫu Liễu Hạnh là cả một tổng thể thiên nhiên hùng vĩ rộng lớn và bí hiểm mà conngười hầu như không thể khám phá,không thể vươn tới và trong sự mênh mông ấy conngười thấy mình nhỏ bé chỉ có thể cầu xin một sự che chở.Ngoại cảnh phủ Tây Hồ làmặt nước mênh mông,là cây cối xum xuê của vùng ven hồ ăn lan qua đê sang bãi rồi rasông Hồng cuộn sóng,mà ngay cửa phủ đã có những cây cổ thụ trong đó có cây si giàsoi mình buông rễ xuồng hồ

1.2Tín ngưỡng thờ Mẫu

1.2.1 Đôi nét về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Viêt Nam

Tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc lâu đời, tuy nhiên có hệ thống và phát triểnmạnh vào thời hậu Lê Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời ở một đất nước nông nghiệp mà ở

Trang 9

đó nền canh tác lúa nước và xã hội mang tàn tích mẫu hệ có dấu ấn to lớn của vai tròngười phụ nữ Từ xa xưa, vai trò của người phụ nữ Việt Nam đã được đánh giá caođến mức tôn sùng Mẫu là đại diện của sự che chở, bao bọc, mẫu cũng là đại diện của

sự sinh sôi, nảy nở, trù phú Bởi thế, mỗi khi con người cảm thấy cô đơn, thấy bơ vơ,không có nơi nương tựa, việc họ tìm về mẫu để nhận được sự quan tâm, cứu giúp của

mẹ như một phản ứng rất đỗi tự nhiên Đưa các mẹ vào sự phụng thờ , người dân đãtôn các mẹ là bậc thánh, gọi là Thánh Mẫu Nhân dân đã coi Thánh Mẫu là mẹ củaTrời, Đất, Núi, Sông Tất cả chúng ta, cả con người và vạn vật đều là con của các mẹ.Mỗi cõi là do một bà mẹ sinh ra và cai quản Có bốn vị thánh :

- Thiên cung Thánh Mẫu :Bà mẹ của Trời Bởi quá xa xôi nên người ta còn gọi

là Mẫu Cửu Trùng, hay Mẫu Thượng Thiên

- Địa cung Thánh Mẫu : Là mẹ của Đất bà đẻ ra cả cõi trần gian này

- Thủy cung Thánh Mẫu: Là mẹ của Nước các biển lớn, sông, suối , đều làcon của mẹ

-Lâm cung Thánh Mẫu : Là mẹ của Núi non, Đồi, Rừng, Chữ hán , nhạc cũng

là núi nên cõi núi còn được gọi là Nhạc phủ

Bởi mẹ là bậc thánh, vị tối cao cai quản cả một cõi lớn như vậy nên theo hầu vàgiúp việc có quân gia, bộ hạ hay đó còn là các thần linh to nhỏ Đó là những ôngquan, ông hoàng: ngũ vị vương quan, thập vị hoàng tử , thập nhị tiên nàng,… theocách gọi dân gian,thì đó là các cậu, các cô,…

Tuy đã có bốn Mẫu tối cao rồi nhưng người dân Việt Nam còn mở rộng cảmquan để hình dung ra nhiều bà mẹ khác nên cũng có bốn lớp thánh mẫu ở các lĩnh vực

-Những bà mẹ của các dân tộc: có các bà mới có con cháu, các tộc người, vínhư mẹ Âu Cơ, bà Sao Cải, bà Thiên Y A Na, Việt Nam có 54 dân tộc anh em nêncũng có các bà mẹ là thủy tổ của tộc người mình

-Những bà mẹ của các vùng đất (các xứ, các miền) : các bà này thường do các

mẹ lớn sinh ra, được đưa về nơi này nơi nọ và để tạo ra đất đai, làng xóm hay bảnmường ở những nơi đó

-Những bà mẹ vốn là người thật : họ sinh ra các vua chúa, các danh nhân vănhóa, anh hung dân tộc Khi mất, họ cũng được tôn lên hàng Thánh Mẫu như bà Ỷ Lan,

bà Ngọc Dao, Cũng có khi, bản thân bà cũng là một anh hùng, khi mất bà cũng đượctôn vinh như vật như các nữ tướng của Hai bà Trưng,

Trang 10

-Có những bà đã là vị tổ của những ngành nghề , như nghề thủ công, nghề nôngtang, hay cả trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật Họ được nhân dân tôn làm Thánhmẫu , hoặc là thần, có những người được tôn làm Chúa , ví như bà Chúa thờ của dântộc Sán Dìu, bà chúa ca công,

Tuy các vị thánh này được tôn vinh nhưng không được xếp ngang hàng với bốn

bà Mẹ lớn (Trời, Đất, Non, Nước ) đã nói trên

Khi đưa mẹ vào sự phụng thờ như vậy đã hình thành nên tín ngưỡng thờ Mẫu,người ta gọi là tam phủ hay tứ phủ “Phủ” ở đây là dinh thự, chỗ ở , chỗ làm việc củacác quan lại , đó là một cõi Thiên phủ gọi là cõi Trời, Địa phủ là cõi Đất, Thủy phủ làcõi Nước, Nhạc phủ là cõi Non Mỗi cõi có một Mẫu đứng đầu, được gọi là ThánhMẫu Bốn cõi đó được gọi là tứ phủ Là toàn bộ không gian của vũ trụ , trên dưới, gần

xa Mỗi đức mẫu phụ trách một cõi như thế Sau này người ta gọi theo khẩu ngữ đểchỉ một địa điểm như gọi là Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ,…

Ban đầu, mới chỉ có tam phủ ,chỉ có ba bà mẹ Trời, Nước, Non Khi mời ba vịcùng các quan gia về thì gọi là Tam phủ công đồng Sau lại thấy, chỉ có ba cõi Trời,Nước, Non chưa đủ , phải có một cõi nữa là cõi đất , Thánh Mẫu đứng đầu , được gọi

là Địa cung Thánh Mẫu Nhưng cũng nên biết rằng Địa cung là chỉ cõi đất có người ở ,chứ không có âm Tứ phủ không nhắc gì đến cõi âm Người được ôn làm Địa cungThánh Mẫu là bà Liễu Hạnh Theo thứ tự tôn vinh,thì ba cõi Trời, Non, Nước xuấthiện trước , mẫu Thiên phải ở ngôi cao nhất nhưng vì trời cao xa, người dân không thểdõi theo được nên khi xuất hiện mẫu Địa thì mẫu Địa được dự vào ngôi chí tôn và thaythế cho mẫu Thiên Do vậy ở các bàn thờ tứ phủ, Mẫu Liễu được tôn vinh cao nhất ,mặc áo đỏ và ngồi ở giữa Mẫu Thiên không xuất hiện nữa , chỉ được tôn vinh theodanh nghĩa mà thôi Tại các phủ thờ không có tượng Mẫu Thiên là vì vậy

Như vậy , bàn thờ nói chung chỉ vào tứ phủ , thực ra chủ yếu chỉ có ba Mẫu :Mẫu Địa, Mẫu Thủy, Mẫu Nhạc, được gọi chung là Tam tòa Thánh Mẫu

Trong Tam tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Thiên sáng tạo bầu trời và làm chủquyền năng mây, mưa, sấm, chớp Trong điện thờ thường đặt ở giữa, mặc áo màu đỏhoặc hồng Thực ra những huyền thoại và thần tích của Mẫu Thượng Thiên đều trựctiếp liên quan tới Thánh Mẫu Liễu Hạnh, là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên, vị thầnchủ cao nhất và được thờ cúng nhiều nhất trong Đạo Mẫu ở nước ta.Có thể nói, vị trícủa Mẫu Thượng Thiên đã chuyển cho Mẫu Địa (Mẫu Liễu)

Trang 11

Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu còn có thể hóa thân vào Mẫu ThượngNgàn trông coi miền rừng núi, hay thành Mẫu Thoải trông coi vùng sông nước.

Mẫu Thượng Ngàn   là hóa thân của Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rừngnúi Trong điện thờ thường đặt ở bên trái Mẫu Thượng Thiên, mặc áo màu xanh Cácđền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở hầu khắp mọi nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính,gắn bó với hai truyền thuyết ít nhiều có khác biệt, đó là Suối Mỡ (Hà Bắc) và Bắc Lệ(Lạng Sơn)

Khác với Mẫu Thượng Thiên (mà Liễu Hạnh công chúa là hiện thân) là ngườiTrời, người Tiên, Mẫu Thượng Ngàn xuất xứ là người trần, tuy có là con gái hay cháuVua Hùng Đó là những người gắn bó với núi rừng, yêu thiên nhiên, cây cỏ, muôngthú, người có phép tiên có thể mang lại yên vui, ấm no cho dân lành Họ hiển Thánh

và trở thành vị thần bảo hộ cho rừng núi, bản làng

Ở Tây Nguyên, tục thờ Mẫu do người Việt mang vào lại đồng nhất MẫuThượng Ngàn với Mẹ Âu Cơ - Mẹ Tiên, sau khi từ biệt với Bố Rồng - Lạc Long, đãmang theo 50 người con lên núi, sinh sống, phát triển thành các dân tộc thiểu số ngàynay và Mẹ Âu Cơ trở thành vị Thánh Mẫu cai quản vùng rừng núi Bởi thế, các độngSơn Trang ở các đền Tây Nguyên thường tái hiện sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ

Huyền thoại và thần tích của Mẫu Thoải tuỳ theo từng nơi có khá nhiều khácbiệt, tuy nhiên, cũng có những nét chung cơ bản Đó là vị thần trị vì vùng sông nước,xuất thân từ dòng dõi Long Vương, liên quan trực tiếp với thủy tổ dân tộc Việt buổiđầu dựng nước Trong điện thờ thường đặt ở bên phải Mẫu Thượng Thiên, mặc áomàu trắng

Trong Tam Toà Thánh Mẫu ta còn thấy có sự kết hợp, đan quyện giữa tư duymang tính vũ trụ luận (Trời, Đất, Nước), tư duy huyền thoại (Thiên Thần, Sơn Thần vàThuỷ Thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân - Âu Cơ, Hùng Vương) Đây cũng làmột khía cạnh tâm lý mang đặc thù Việt Nam

Sau hàng Mẫu là Ngũ vị Quan lớn (hàng Quan), gọi tên từ Quan Đệ Nhất đếnQuan Đệ Ngũ, tuy nhiên không phải là không có quan niệm về sự hiện diện của Thập

vị Quan lớn thuộc hàng Quan Thường thì 5 vị đầu hay giáng đồng hơn, có lai lịchhoặc là Thiên thần hoặc là Nhân thần, 5 vị còn lại thì ít giáng đồng, bởi vậy thần tíchcũng không được rõ ràng Các quan lớn trong văn chầu hay khi giáng đồng thường cótính cách quý phái, hùng dũng, nhân từ, hay làm những việc phúc đức nhưng cũng

Trang 12

đáng sợ với người trần.Các vị đều mặc võ quan, mang kiếm hay kích, mặc võ phụcnhưng mầu sắc thì tuỳ thuộc các vị thần thuộc Thoải phủ (trắng), Thiên phủ (đỏ), Nhạcphủ (xanh) hay Địa phủ (vàng) Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ đều thuộc Thoải phủ,dòng Long Vương Bát Hải.

Tứ vị Thánh Bà hay Tứ vị Chầu Bà được coi như là hóa thân, phục vụ trực tiếpcủa Tứ vị Thánh Mẫu Tuy gọi là tứ vị Chầu Bà đại diện cho Tứ Phủ, nhưng số lượngcác vị Chầu Bà có thể tăng lên tới 12 , tuy nhiên trong số đó, các Chầu Bà từ Đệ Nhấttới Chầu Lục cùng Chầu Bé thường giáng đồng, được mọi người biết rõ thần tích, cónơi thờ phụng riêng, còn các vị khác thì ít giáng đồng và không mấy người biết tới.Nóichung các vị Thánh hàng Chầu phần lớn có nguồn gốc người dân tộc ở vùng núi, thuộcNhạc phủ, dòng Tiên nữ Khi giáng đồng, các Chầu đều ăn mặc theo trang phục dântộc Tày, Nùng, Dao, Mường, nhạc chầu văn theo điệu Xá Thượng mang đặc trưngmiền núi

Dưới hàng Chầu là hàng các ông Hoàng, được gọi tên theo thứ tự từ ÔngHoàng Đệ Nhất tới Ông Hoàng Mười, có hẳn một bản văn chầu 10 Ông Hoàng Tươngtruyền, cũng như các Quan, các Ông Hoàng đều có gốc tích là con trai Long Thần BátHải Đại Vương ở hồ Động Đình, tuy nhiên, theo khuynh hướng địa phương hóa thì cácông Hoàng đều gắn với một nhân vật nào đó ở cõi nhân gian, những danh tướng cócông dẹp giặc, những người khai sáng, mở mang cho đất nước Trong số mười ÔngHoàng thì thường có sáu Ông giáng đồng, trong đó có ba Ông giáng rất thường xuyên,

đó là Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bảy, và Ông Hoàng Mười Khi giáng đồng, các ÔngHoàng có phong cách gần giống các Quan Lớn, tuy nhiên có phần hào hoa phong nhã,vui tươi và quan hệ với người trần vui vẻ hơn so với các Quan

Hàng Cô được gọi tên từ Cô Đệ Nhất (Cô Cả) đến cô thứ 12 (Cô Bé), đều là cácthị nữ của Thánh Mẫu và các Chầu Tuy nhiên, khi giáng đồng các Cô có thể hóa thânvào các vai trò khác nhau của Tứ Phủ Có hẳn một bài văn chầu kể về 12 cô

Các Cậu Quận là những người chết trẻ, từ l - 9 tuổi, hiển linh thành các béThánh Người ta không biết rõ đầy đủ về 10 hay 12 vị thuộc hàng Cậu, họ là các phụ tácủa các Ông Hoàng Thường thì lần lên đồng nào cũng có giá Cậu Bơ (Ba) và CậuBé.Đó là những giá đồng với tính cách phóng túng, tinh nghịch, quần áo kỳ cục, lờinói ngọng ngịu của trẻ con, kèm theo các điệu múa lân hay múa hèo khá sôi nổi

Trang 13

Trong điện thần của đạo Mẫu còn có sự hiện diện của Hổ (Ngũ Hổ) và Rắn(Ông Lốt) Nơi thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía dưới điện thờ Công Đồng, còn hìnhtượng ông Lốt là đôi Bạch xà nằm vắt ngang phía trên điện thờ chính Trong quanniệm dân gian, Hổ là vị chúa cai quản rừng núi, còn Rắn thần là ở nơi sông nước.Trong hầu đồng, tuy không thường xuyên, nhưng cũng có trường hợp các vị Ngũ Hổhay Ông Lốt (rắn) giáng đồng Ngũ Hổ cai quản bốn phương và trung tâm, là con vậtquyền uy, là thần chiến trận, cứu giúp các chiến tướng trong trận mạc Trong tínngưỡng dân gian, Hổ là kẻ thù của ác thần, tà thần, chuyên hãm hại người sống cũngnhư người đã chết, là vị thần linh canh cửa các ngôi đền.

Trong các nghi lễ thờ cúng , hầu đồng là nghi lễ phổ biến của tín ngưỡng thờMẫu Ngoài ra còn có các lễ định kì hoặc thường kì khác theo ước tính của tín ngưỡngthờ mẫu như: Lễ xông đền và lễ hầu thượng nguyên vào đầu năm mới.Trong đó quantrọng nhất là tháng ba-tháng giỗ Mẫu Liễu Hạnh hay cò gọi là giỗ Mẹ

1.2.2Tục thờ Mẫu ở phủ Tây Hồ

Tục truyền rằng: bà là Quỳnh Hoa - con gái thứ hai của Ngọc Hoàng, bị đàyxuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý Xuống hạ giới, nàng chu du, khámphá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi địa linh sơn thủyhữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương giữa thiên nhiên huyềndiệu

Người tiên nữ ấy đã ngang dọc một trời giúp dân an cư lập nghiệp, diệt trừ maquái, trừng phạt tham quan Đến triều Nguyễn bà được nhà vua phong “mẫu nghi thiênhạ”, là một trong bốn vị thần “Tứ bất tử” của Việt Nam

Cũng theo truyền thuyết, Phủ Tây Hồ là nơi hội ngộ lần thứ hai của công chúaLiễu Hạnh và trạng Bùng Phùng Khắc Khoan Như tiền duyên xui khiến, Trạngnguyên Phùng Khắc Khoan trong lần đi thuyền dạo chơi trên hồ, thấy cảnh đẹp, bènghé vào quán Tiên chúa Tâm đầu ý hợp, họ cùng vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” mànay vẫn còn lưu truyền mãi Tiên chúa ở đây trong bao lâu không ai biết, chỉ biết khiPhùng Khắc Khoan trở lại tìm thì không còn Để nguôi ngoai nỗi nhớ, ông cho lập đềnthờ người tri âm.Đây chính là xuất xứ của tục thờ mẫu ở phủ Tây Hồ

Trang 14

CHƯƠNG 2: NÉT ĐẶC SẮC TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở PHỦ

Lớp thứ nhất, có tượng ông Hoàng Bảy,Hoàng Mười và Ngũ Vị Quan Lớn(ngũ

vị tôn ông,ngũ vị tôn quan).Các ông Hoàng là hóa thân của Ngũ Vị Quan Lớnđã đượcnhân hóa thành các danh tướng , danh nhân của các thời (ví dụ: ông Hoàng Đệ Nhấttức tướng Lê Lai, ông Hoàng Lục tức Lê Lựu, )

Về lớp tượng Ngũ Vị Quan Lớn, theo tín ngưỡng tam phủ Việt nam, việc giảithích về Ngũ Vị Quan Lớn chưa thống nhất:

 Quan niệm thứ nhất:

Quan Đệ Nhất - Thiên Quan (mặc áo đỏ)

Quan Đệ Nhị - Địa Quan - Quan Giám Sát (mặc áo xanh)

Quan Đệ tam - Thủy Quan (mặc áo trắng)

Quan Đệ Tứ - Quan Khâm sai (mặc áo vàng)

Quan Đệ Ngũ – Quan Tuần Tranh (mặc áo đen, tím, lam)

Như vậy tam phủ ở Việt Nam cũng thờ tam quan thần gồm :Thiên Quan (Quan

Đệ Nhất) - Địa Quan ( Quan Đệ Nhị) - Thủy Quan (Quan Đệ Tam) , cai quản Thiêngiới- Địa giới- Thủy giới.Còn Quan Đệ Tứ và Quan Đệ Ngũ chính là hóa thân củaTam Quan thần

 Quan niệm thứ hai: Ngũ Vị Quan Lớn là Ngũ phương thần , tương ứngvới Ngũ hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ

Kim - Tây phương thần (trang phục màu trắng)

Mộc - Đông phương thần (trang phục màu xanh)

Thủy - Bắc phương thần (trang phục màu tím, lam, đen)

Hỏa - Nam phương thần (trang phục màu đỏ)

Thổ - Trung ương thần (trang phục màu vàng)

Trang 15

Lớp trên cùng, thờ Ngọc Hoàng Phật giáo gọi Ngọc Hoàng là Đế Thích; Nhogiáo gọi là Thượng Đế; Đạo giáo gọi là Huyền Chúa; dân gian lại gọi là Ngọc Đế,Ngọc Hoàng, Thiên Đế, Ông Trời,… Dù gọi là gì thì Ngọc Hoàng Thượng Đế vẫn là

vị thần tối cao của Tam giáo cũng như trong quan niệm dân gian

Đứng hầu Ngọc Hoàng hai bên là Nam Tào(Nam Đẩu) và Bắc Đẩu Theo Đạogiáo, Nam Tào là dương , là cánh tay trái của Ngọc Hoàng ; Bắc Đẩu là âm, là cánhtay phải của Ngọc Hoàng Thần Nam Tào từ xưa luôn được mọi người tôn kính vì thần

có quyền năng to lớn, nắm giữ vận mệnh thọ yểu, hưng vong của Thiên tử , nắm tướclộc của Tể tướng bách quan, quản nhân gian sinh tồn, khoa cử Bởi vậy , thần NamTào được coi là “Diên Thọ ty” hay “Nam Đẩu chủ sinh” Còn thần Bắc Đẩu là tưmệnh thần, trông coi việc sống chết, thọ yểu, bần phú, họa phúc, tước lộc của nhângian, giải trừ mọi tai ách của con người

Ngoài ra bên trên điện có cặp hoàng xà treo mình trên xà trong điện

2.1.1.2 Trung đường

Chính giữa thờ Tam Vị Thánh Mẫu bằng bài vị Phía bên tả treo quả chuônglớn, bên hữu treo chiếc trống lớn theo đúng quy tắc tả dương hữu âm, tả chung hữu cổ.Chuông là đồ tế khí không thể thiếu trong các đền, quán, chùa, phủ vì tiếng chuôngđứng đầu bát âm Tiếng chuông thỉnh lên vào buổi sớm và buổi chiều để chiêu linhhồn, tăng uy nghi của phủ quán, khiến non sông thêm hùng tráng

Thỉnh chuông 3 hồi, 9 tiếng ,tổng cộng là 108 tiếng

Hồi thứ nhất thỉnh 33 tiếng phúc hỷ lâm môn

Hồi thứ hai thỉnh 33 tiếng cao quan hậu lộc

Hồi thứ ba thỉnh 33 tiếng diên niên ích thọ

Kêu 9 tiếng là để thấu đạt cửu trùng Khi thỉnh đến tiếng thứ 9 , tức là kết thúc

108 tiếng Phật giáo và tôn giáo dân gian đều quan niệm con người có 108 điều phiềnnão , nếu thỉnh 108 tiếng chuông tức là giải trừ được 108 điều phiền não

2.1.1.3Mật cung

Điện thờ Mẫu tường có 3 pho tượng nữ thần đặt song hành:

Mẫu Thiên (Mẫu Liễu Hạnh- Thiên Tiên Thánh Mẫu – Vân Hương ThánhMẫu) mặc trang phục hồng hay vàng

Mẫu Địa (Mẫu thượng Ngàn) là vị mặc áo xanh

Mẫu Thủy (Mẫu Thoải) trang phục màu trắng

Trang 16

Với tư tưởng một chúa ba ngôn (nhất thể tam vị) nhất sinh nhị, nhị sinh tam ,tam sinh vạn vật của triết học và thần học thì Mẫu Thiên là nhất ,nhất sinh nhị sinhtam, điều đó có nghĩa là từ Mẫu Thiên mà hóa thành Mẫu Địa(nhất sinh nhị) rồi lại hóathành Mẫu Thoải ( nhị sinh tam) ,chính vì thế mới có tên là Tam tòa thánh mẫu.

Ba vị mẫu này hợp thành Tam phủ,giải thích quá trình tiến hóa của cư dânViệt,từ rừng núi,sông suối xuống đồng bằng định cư trồng lúa nước Cũng theo quanđiểm niệm tam phủ thì cai quản thiên phủ có thiên quan ban phúc lộc cho conngười,cai quản địa phủ có địa quán xá bỏ tội lỗi cho con người,cai quản thủy phủ cóthủy quan cởi bỏ mọi chướng ngại,khó khăn cho con người.Với sức mạnh huyền bíban phúc,xá tội và giải ách,tín ngưỡng Tam phủ rất hấp dẫn mọi người

2.1.2 Lầu sơn trang

Với tư tưởng Tiên-Phật bất phân nên trên vị trí cao nhất của động Sơn Trangthờ Quan Thế Âm Bồ Tát.Phía dưới là ban thờ Mẫu Địa – Mẫu Đệ Nhị - Mẫu ThượngNgàn Hai bên hữu,tả thờ nhị vị Vương Bà hóa thân của Mẫu Địa Ngoài ra còn thờthật nhị vương cô,tộng cộng là 15 vị Đó là lý do vì sao khi cúng mặn ở động SơnTrang người ta đều sắm 15 phần lễ Các thần ở động Sơn Trang đều có trang phụcmàu xanh

Bên trên điện là 2 mãng xà xanh treo mình trên 2 bên xà, châu đầu về giữađiện.Đó là Thành xà Đại Tướng Quân(Ông Lốt) Đó là vị thần thánh mà vân đượcnhân dân Việt thờ tụng và còn là những bậc siêu linh, họ có thể trừ ma ,sát quỷ,cải lãohoàn đồng, chữa những bệnh cho dù người bệnh thập tử nhất sinh Thông thường , đó

là 2 mãng xà một xanh, một trắng , song như đã nói trên, các thần ở động Sơn Trangđều có trang phục màu xanh nên thay bạch xà thành thanh xà

Ban thờ phía dưới cùng của điện Mẫu là Ngũ Hổ Thần Quan (hay gọi nôm làquan Năm Dinh) Ngũ Hổ Thần Quan, chịu sự điều khiển của Ngũ phương thần, làbiểu tượng bằng năm mãnh hổ với năm màu sắc khác nhau:

Trang 17

Quan Năm Dinh có nhiệm vụ bảo vệ phủ điện, lại có nhiệm vụ nhận mệnh đitrừ tà, bắt quỷ, bảo hộ dân sinh.

Động Sơn Trang không chỉ có ở các phủ,đền mà còn có ở các chùa.Động SơnTrang là hình thức thờ Mẫu Địa rất đặc trưng ở Việt Nam.Bởi Mẫu Địa đã sinh ra vạnvật,dưỡng dục vạn vật Màu xanh của Mẫu ,của Vương Bà,của các Cô là màu xanh của

mẹ đất,của non ngàn,của đông phương mộ,của mùa xuân sinh sôi nảy nở và phát triển

2.2 Lễ Hội

2.2.1 Lễ chính trong năm

Trước đây cứ vào ngày 1 đến ngày 7 tháng 3 âm lịch hàng năm phủ Tây Hồ có

mở hội,nhưng thực ra là lễ hội để tưởng nhớ ngày giỗ thánh Mẫu 3 tháng 3

Trước khi vào hội hoặc từ tết Nguyên đán,các vị chức dịch và bô lão trong làngtiến hành lễ mộc dục(tắm tượng).Các cụ đi thuyền ra xa,đến trước Trấn Vũ quán để lấynước vì cho rằng nước ở đấy thiêng.Nước về được nấu cùng ngũ vị hương để bao sáitượng và các đồ tế khí,kể cả chuông khánh

Ngày 1 tháng 3 là ngày lễ đầu tháng,đồng thời là dâng hương cáo yết với Thánhmẫu và các thần điện

Ngày 3 tháng 3 là giỗ chính Ngay từ sáng sớm các quan phủ và huyện đã vềdâng hương làm nghi thức quốc tế như ở phủ Giầy Nam Định

Ngày 5 tháng 5 có lễ rước mã , nhưng lễ rước mã lần cuối được tổ chức vàonăm 1995.Từ đó dến nay không còn lễ rước mã Ngoài ra,còn có các ngày lễ như ngàysóc(mùng 1),ngày vọng(15) hàng tháng và việc cúng bái vào ngày Tứ quý bao gồm lễThượng Nguyên (tháng Giêng), Nhập hạ (tháng Tư), Tán hạ (tháng Bảy), Tất niên(tháng Mười hai) là những nghi lễ cúng chính của một năm Trong đó, lễ ThượngNguyên là quan trọng nhất vì là lễ trình, lễ cúng đầu tiên mở đầu năm mới Lễ Nhập hạ

để cầu chư thần chư thánh giải bệnh tật cho mùa hè Lễ Tán hạ để cảm tạ thần linh phù

hộ cho ba tháng hè và cầu cho ba tháng mùa thu được yên lành Lễ Tất niên là lễ tạ,kết thúc của cả một năm

Trong tín ngưỡng Tứ phủ, nghi thức cúng của bốn vấn nhìn chung là giống nhau, riêng trong lễ Thượng Nguyên có cúng sao giải hạn và trong lễ Nhập hạ có cúng Quan ôn Quan dịch để giải trừ dịch bệnh vì mùa hè có nhiều bệnh tật nhất trong năm Trước đây, lễ Thượng Nguyên thường được tổ chức vào đúng Rằm tháng Giêng, nhưng hiện nay do tín ngưỡng Tứ phủ phát triển, các đền các điện nhiều hơn nên mỗi

Trang 18

đền chọn lấy một ngày trong tháng (có thể từ mùng 6 tới ngày 20) sao cho không bị trùng giữa các đền để con nhang đệ tử thu xếp mà để tham dự.

Chuông và trống được treo ở bên trái trong tòa Trung tế Những hồi trống dóng dả vang lên phá tan bầu không gian vắng lặng của buổi sáng cũng để trình báo với trời đất, với thần linh, buổi lễ Thượng Nguyên mở đầu cho năm mới của phủ Tây Hồ bắt đầu Âm thanh vang động của hai nhạc cụ thiêng mở đầu cho một buổi lễ linh thiêng

chuông-Hồi chuông trống vừa dứt, các cung văn với vai trò thầy cúng ngồi trước ban thờ của tòa Tiền tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho nghi thức đầu tiên đó là khoa cúng Phật - Mẫu Người ngồi giữa cũng là người điều khiển toàn bộ buổi cúng gọi là pháp chủ, những người ngồi hai bên gọi là tả già, hữu già hay còn gọi là dây tả, dây hữu Quy định dây tả và dây hữu được tính cùng hướng với ban thờ nên những người ngồi bên phải lúc này lại là dây tả, còn những người ngồi bên trái là dây hữu

Trong tín ngưỡng Tứ phủ có nhiều khoa cúng khác nhau như khoa cúng Phật, khoa cúng Mẫu, khoa cúng Tứ phủ trình đồng (dành cho người bắt đầu xin gia nhập tínngưỡng Tứ phủ để đi hầu bóng), khoa Tam phủ đối kháng (cúng để xin cắt tình duyên cho người người trần khỏi cõi người âm), khoa Tam phủ thục mịnh di cúng hoán số (cúng Nam tào Bắc đẩu để xin đổi số, phê cho số trường sinh) v.v Đối với ngày Tứ quý, người ta thường cúng khoa cúng Phật (nếu đền thờ vọng Phật), khoa cúng Mẫu, hoặc cúng chung cả hai khoa cúng trên gộp thành khoa cúng Phật-Mẫu Nội dung khoacúng có thể chia làm ba phần Phần đầu để khai quang đàn tràng, dâng hương và nói lên ý nghĩa của buổi lễ Phần giữa với mục đích để thỉnh chư Phật, chư Thánh theo thứ

tự từ cao xuống thấp Phần cuối mời chư Phật, chư Thánh an tọa, thụ hưởng và cuối cùng các vị thần trở lại nơi mình ngự trị

Múa Sái tịnh với ý nghĩa làm sạch sẽ đàn tràng là một hiện tượng văn hóa khá độc đáo trong khoa cúng Phật-Mẫu Căn cứ vào sự xuất hiện múa Sái tịnh trong buổi

lễ người ta có thể biết khoa cúng trong lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ có quy mô đại cúng (chung cúng và tiểu cúng không có múa Sái tịnh) Người pháp chủ mặc áo cà

sa năm điều, đội mũ thất Phật Một tuần Sái tịnh gồm múa khai hoa, kết ấn, múa vòng thuận nghịch, thư chữ trong chén ngọc chản, cầm cành dương liễu vảy sái chữ tâm

Pháp chủ múa Sái tịnh trong khoa cúng Phật-Mẫu:

Trang 19

Trong khoa cúng, ngoài am hiểu khoa giáo, các thầy cúng cũng là những nhạc công thực sự Mỗi thầy cúng đảm nhiệm ít nhất một nhạc cụ Vị trí ngồi trong dây của

họ bị chi phối bởi sự sắp xếp theo quy định của các nhạc cụ Thông thường, pháp chủ

sẽ đảm nhiệm một mõ, một chuông Người đầu dây tả đảm nhiệm trống canh, người thứ hai chơi trống cái, người thứ ba gõ thanh la Người đầu dây hữu chơi tiu cảnh, người thứ hai xóc đôi nạo và người thứ ba gõ bạt Trong buổi lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ do số người bị hạn chế nên biên chế nhạc cụ có thay đổi Người đầu dây tảđảm nhiệm trống cái và trống đế, người thứ hai đánh trống canh Người đầu dây hữu đảm nhiệm tiu cảnh vừa kiêm đánh thanh la, người thứ hai xóc nạo

Như vậy ban thờ bao gồm : dây hữu, pháp chủ, dây tả, một tiu, một cảnh, một thanh la, một chuông, một mõ, một trống cái, một trống đế, một nạo, một trống canh

Nội dung khoa cúng được chuyển tải bằng bốn hình thức xướng chính đó là: bạch, tụng, kệ, canh Bạch không có giai điệu như canh, không ngân nga ở cuối câu như kệ, cũng không có nhạc cụ đệm theo, chỉ được điểm bằng tiếng chuông khi hết đoạn Chu kỳ mỗi câu bạch thường là 4 từ Tụng thì như đọc, dùng tiếng mõ gõ theo nhịp trường canh và đôi khi điểm thêm tiếng trống Kệ là lối xướng có ngân nga ở cuốicâu Kệ không có nhạc cụ đệm theo chỉ điểm tiếng mõ hoặc tiếng chuông ở cuối câu Thường mỗi câu kệ có 7 chữ Canh còn gọi là tán canh là lối diễn xướng theo giai điệu

và có nhạc cụ gõ đệm theo Trong khoa cúng Phật-Mẫu tại lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ có kệ Cam lộ thủy, kệ Giới hương, kệ Vân lai tập, canh Lô hương, canh Thanhlương địa, canh Hương cúng giàng, canh Vân lai tập

Nghi thức tiếp theo của buổi lễ đó là Tụng kinh Thông thường, kinh do một thầy cúng vừa tụng vừa gõ mõ, điểm chuông Trong buổi lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ lại được các thầy cúng đồng thanh tụng bản kinh Cứu khổ Đây là bản kinh ngắn nên dễ thuộc Nội dung kinh Cứu khổ để cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đến cứu giúp khi gặp tai nạn hiểm nghèo Ngoài bản kinh này, ở một số đền khác trongngày Tứ quý mà chúng tôi có dịp tham dự, người ta còn tụng kinh Dược sư hoặc kinh Phả môn Kinh Dược sư phổ biến hơn với mục đích cầu duyên thọ hoặc chữa bệnh Kinh Phả môn để cầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho hai chữ bình an

Nếu hai nghi thức đầu của buổi lễ Khoa cúng và Tụng kinh diễn ra bên trong phủ chính thì Cúng chúng sinh lại được tổ chức ngoài sân phủ, hướng ra mặt nước Tây

Hồ Người ta quan niệm rằng dù cúng Phật hay cúng Mẫu cũng phải cúng chúng sinh

Ngày đăng: 29/04/2021, 13:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.Ngô Đức Thịnh,Đạo Mẫu ở Viêt Nam,nxb.Văn hóa-Thông tin,2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Mẫu ở Viêt Nam
Nhà XB: nxb.Văn hóa-Thông tin
4.Hà Đình Thành,Phủ Tây Hồ,nxb.Văn hóa dân tộc,1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ Tây Hồ
Nhà XB: nxb.Văn hóa dân tộc
5.Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ,Danh tích Tây Hồ,nxb.Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh tích Tây Hồ
Nhà XB: nxb.Chính trị quốc gia
6.Lê Thị Chiêng,Mẫu Liễu Tây Hồ,nxb.Phòng Văn hóa Thông tin quận Tây Hồ,Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Liễu Tây Hồ
Nhà XB: nxb.Phòng Văn hóa Thông tin quận Tây Hồ
7. NLH, Vẻ đẹp trang phục hầu đồng trong Nghi lễ thờ Mẫu của người Việt, http://vanhoa.gov.vn/articledetail.aspx?sitepageid=539&articleid=20040#sthash.vcfwtKmu.dpbs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẻ đẹp trang phục hầu đồng trong Nghi lễ thờ Mẫu của người Việt,http
8. Vũ Ngọc Khánh, Tục thờ Thánh Mẫu ở Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ Thánh Mẫu ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w