1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng Ngữ văn 10 tuần 2: Khái quát văn học dân gian việt nam

22 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mời quý thầy cô giáo và các bạn học sinh cùng tham khảo Bài giảng Ngữ văn 10 tuần 2: Khái quát văn học dân gian việt nam thiết kế bằng Powerpoint chuyên ghiệp giúp nâng cao kĩ năng và kiến thức trong việc soạn bài giảng điện tử giảng dạy và học tập. Bài giảng Ngữ văn 10 tuần 2: Khái quát văn học dân gian việt nam trình bày bằng Slide rất sống động với các hình ảnh minh họa giúp các em học sinh dễ dàng hiểu được bài giảng và nhanh chóng năm bắt các nội dung chính bài học.

Trang 2

Khái niệm văn học dân gian:

- Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng

- Được tập thể sáng tạo.

- Nhằm mục đích phục vụ cho những sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

Trang 3

I Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian:

Trang 4

Phù điêu Phật Bà Quan Âm bằng vàng lá Tranh Đông Hồ “Đàn lợn âm dương”

Lỡ Hẹn Sáng tác: Hồng Xương Long

-Tất cả có phải là tác phẩm văn học dân gian không?

Trang 5

Phù điêu Phật Bà Quan Âm bằng vàng lá Tranh Đông Hồ “Đàn lợn âm dương”

Trang 6

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao)

Truyện cổ tích Tấm Cám, Trầu Cau

Trang 7

I Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian:

- Xây dựng bằng chất liệu ngôn từ

- Ngôn từ trong văn học dân gian: giàu hình ảnh và cảm xúc

Trang 8

b Văn học dân gian tồn tại và phát triển nhờ truyền miệng:

- Truyền miệng: ghi nhớ theo kiểu nhập tâm

và phổ biến bằng lời nói hoặc trình diễn

cho người khác nghe, xem

- Con đường truyền miệng :

từ người này sang người khác, từ địa phương này sang địa phương khác, từ đời này sang đời khác

- Quá trình truyền miệng luôn được thực hiện qua diễn xướng dân gian (nói, kể, hát, biểu diễn)

Trang 9

Các bài đồng dao hát trong sinh hoạt thiếu nhi

Dung dăng dung dẻ:

Dung dăng dung dẻ

Dắt dế đi chơi Đến ngõ nhà Trời Lạy Cậu lạy Mợ Cho chó về quê Cho dê đi học Cho cóc ở nhà Cho gà bới bếp

Xì xà xì xụp.

Một số bài khác:

Qh

Trang 10

2 Đặc trưng thứ hai:

Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể):

- Tập thể:

+ Theo nghĩa hẹp: một nhóm người

+ Theo nghĩa rộng: một cộng đồng dân cư

Trang 11

- Quá trình sáng tác tập thể :

+  Ban  đầu: có thể do một cá nhân

sáng tác

+ Sau đó: do truyền miệng, tác phẩm

được sửa chữa, bổ sung cho hoàn chỉnh.

+  Cuối  cùng: tác phẩm thành tài sản

chung, không thể nhớ và không cần nhớ ai từng là tác giả

Trang 12

=> Kết luận chung:

Tính truyền miệng và tính tập thể là hai

đặc trưng cơ bản, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng

+  Trong sinh hoạt lao động,  văn học dân gian

đóng vai trò phối hợp với nhịp điệu của các hoạt động thực tiễn

   Ví dụ: hò chèo thuyền, kéo gỗ, hò giã gạo,

+ Văn học dân gian gây không khí để kích thích lao động, gợi cảm hứng cho người trong cuộc.

Trang 13

III Hệ thống thể loại của VDHG: (SGK).

Trang 14

III Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:

1 Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc: (Chức năng nhận thức)

- VHDG cung cấp tri thức về mọi lĩnh vực đời sống: tự nhiên, xã hội, con người

- Những kinh nghiệm lâu đời: được đúc kết lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 15

- Tục ngữ:

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.”

(Tục ngữ)

“Những người ti hí mắt lươn, Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người”

Trang 16

Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh  sinh.

Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh,

Ở trên tỉnh Lạng, có thành tiên xây.

Trang 17

- Thể hiện trình độ và nhận thức của nhân dân  khác nhận thức của giai cấp thống trị (vấn đề lịch

sử, xã hội) Ví dụ: 

- Kho tàng văn học dân gian của

54 dân tộc góp phần làm phong phú vốn tri thức của văn học dân gian Việt Nam

Trang 18

o Giai cấp thống trị quan niệm:

“Trứng rồng lại nở ra rồng, Liu điu lại đẻ ra dòng liu điu.”

o Nhân dân lao động lại quan niệm:

“Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa thì quét lá đa.

Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa.”

Hoặc:

“Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.”

Ví dụ:

Trang 19

III Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:

2 Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lý làm người: (Chức năng giáo dục)

- Giáo dục tinh thần nhân đạo và niềm lạc

quan: yêu thương đồng loại, đấu tranh

giải phóng con người khỏi bất công, niềm tin: thiện thắng ác

- Hình thành những phẩm chất tốt đẹp

cho con người: yêu  nước,  chống  ngoại 

xâm, vị tha, cần kiệm, óc thực tiễn…

Trang 20

III Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:

3 Văn học dân gian có giá trị thẩm mỹ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc: (Chức năng thẩm mĩ)

- Văn học dân gian là nơi xây dựng và mài giũa cho ngôn ngữ văn học dân tộc

- Nhiều tác phẩm trở thành mẫu mực về nghệ thuật để ta học tập

- Nó trở thành nguồn nuôi dưỡng cho sự phát triển của văn học viết

Trang 21

 Ghi nhớ (SGK)

Trang 22

Cám ơn Thầy cô

và các bạn đã chú ý

theo dõi

Ngày đăng: 29/04/2021, 13:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w