+ Các phương tiện thanh toán quốc tế được ghi bằng ngoại tệ: - Hối phiếu Bill of Exchange - Kỳ phiếu Promissory Note - Séc Cheque - Thư chuyển tiền Mail Transfer - Điện chuyển tiền Teleg
Trang 1Đề cương ôn tập môn Phương thức thanh toán quốc tế trong Du lịch
Câu 1: Nêu và giải thích các thành phần của ngoại hối.
Trả lời:
Ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ các phương tiện thanh toán có giá trị được dùng trong trao đổithanh toán giữa các quốc gia với nhau Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của từng quốc gia, kháiniệm ngoại hối có thể không giống nhau
Theo văn bản quy luật về quản lý ngoại hối của nước CHXHCN Việt Nam hiện nay (điều 4, mục 1trong Nghị định của Chính phủ số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 về quản lý ngoại hối), ngoại hối được hiểubao gồm:
+ Ngoại tệ (Foreign Currency): tiền của nước khác lưu thông trong một nước Ngoại tệ bao gồm: ngoại tệ
tiền mặt và ngoại tệ tín dụng
+ Các phương tiện thanh toán quốc tế được ghi bằng ngoại tệ:
- Hối phiếu (Bill of Exchange)
- Kỳ phiếu (Promissory Note)
- Séc (Cheque)
- Thư chuyển tiền (Mail Transfer)
- Điện chuyển tiền (Telegraphic Transfer)
- Thẻ tín dụng (Credit Card)
- Thẻ ghi nợ (Debit Card)
- Thư tín dụng ngân hàng (Bank Letter of Credit)
Là những chứng từ chi trả phát sinh từ quan hệ tín dụng, thể hiện một số tiền nhất định, được lưuthông dễ dàng từ người này sang người khác
Phần lớn các phương tiện thanh toán này hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương mại
và tín dụng ngân hàng Các phương tiện này không có giá trị nội tại của nó, mà nó chỉ là dấu hiệu của tiền tệ
+ Các chứng khoán có giá trị được ghi bằng ngoại tệ:
- Cổ phiếu (Stock)
Cổ phiếu chính là sản phẩm riêng có của công ty cổ phần Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấyxác nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của
cổ đông đối với công ty cổ phần Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần tương ứng với số lượng cổphần mà cổ đông nắm giữ Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn
- Trái phiếu công ty (Debenture)
Trang 2Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếuđối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quyđịnh
Người mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ Tên của tráichủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu
vô danh)
Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụngvốn vay của người vay Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định tronghợp đồng vay
Người phát hành trái phiếu là doanh nghiệp được gọi là trái phiếu doanh nghiệp (công ty)
- Công trái quốc gia (Government Loan)
- Trái phiếu kho bạc (Treasury Bill)
Người phát hành trái phiếu là Kho bạc nhà nước thì gọi là trái phiếu kho bạc
+ Vàng – tiêu chuẩn quốc tế
+ Đồng tiền đang lưu hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào vàchuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng làm công cụ thanh toán quốc tế
Câu 2: Nêu bản chất và phân tích các chức năng của Ngân hàng cấp I.
nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng
* Chức năng của ngân hàng trung ương:
Ngân hàng trung ương thực hiện hai chức năng cơ bản: là ngân hàng của quốc gia và thực hiện chứcnăng quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàncho cả hệ thống ngân hàng, qua đó mà thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế NHTW thực hiệncác chức năng này thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh song tính chất kinh doanh chỉ là phươngtiện nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chứ không phải là mục đích của NHTW Nói cách khác, mụcđích hoạt động của NHTW không phải là mưu tìm doanh lợi mà là ổn định lưu thông tiền tệ, tín dụng và hoạtđộng ngân hàng từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế
+ Chức năng ngân hàng của quốc gia: Được thể hiện ở các nhiệm vụ sau đây:
- Ngân hàng phát hành tiền : Ngân hàng Trung ương được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền
theo các qui định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành ) nhằmđảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia Đồng tiền do NHTW phát hành làđồng tiền lưu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cưỡng chế lưu hành, vì vậy mọi người không cóquyền từ chối nó trong thanh toán
- Ngân hàng của các ngân hàng : Ngân hàng trung ương không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng
trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trunggian Bao gồm:
Trang 3- Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian dưới dạng Tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửithanh toán.
- Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giángắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung giankhông chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứngtrước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW
- Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tàikhoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW nên chúng có thể thực hiện thanhtoán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau Khi đó, NHTW đóng vai trò làtrung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian
- Ngân hàng của chính phủ : Là một định chế tài chính công cộng, NHTW đã được xác định ngay từ khi ra
đời là ngân hàng của chính phủ Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng chochính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sách cho chính phủ
+ Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng:
Đây là chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ương của một ngân hàng phát hành Việc thựchiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW Nói cách khác, NHTWquản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh của mình
- Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia :Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô
trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằmđảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm
- Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng : Với tư cách là ngân hàng của các ngân
hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thôngqua các hoạt động đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngânhàng trung gian nhằm: Đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trongnền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng
Câu 3: Nêu bản chất và phân tích các nghiệp vụ cơ bản của một Ngân hàng thương mại.
Trả lời:
* Bản chất của Ngân hàng thương mại
Luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các Công
ty, Xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân bằng việc nhận tiefn gửi, tiền tiết kiệm… chovay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những Xí nghiệp hay cơ sở mà nghềnghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác
và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Như vậy, ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nềkinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lậpnguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế
Từ đó có thể nói bản chát của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
- Ngân hàng thương mạn là một tổ chức kinh tế
- Ngân hàng thương mahi hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng
* Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
+ Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản nợ - nguồn vốn) của Ngân hàng thương mại
Trang 4Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với
xã hội Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hộilàm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế
Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm:
- Vốn điều lệ (Statutory Capital)
- Các quỹ dự trữ (Reserve funds)
- Vốn huy động (Mobilized Capital)
- Vốn đi vay (Bonwed Capital)
- Vốn tiếp nhận (Trust capital)
- Vốn khác (Other Capital)
Vốn điều lệ và các quỹ:
Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn tự có của Ngân hàng (Bank’s Capital) là nguồnvốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động
+ Vốn điều lệ của ngân hàng trước hết được dùng để:
- Xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảmbảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn
+ Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động
của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ quy định trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng, bao gồm:
- Quỹ dự trữ: được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm để bổ sung vốn điều lệ
- Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắo rủi ro, thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng
- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ
- Quỹ khen thưởng phúc lợi
- Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tàn sản, nguồn vốn đầu tưXDCB
Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàngvừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng
Vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sởhữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi kháchhàng yêu cầu Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
- Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
- Các khoản tiền gửi khác
Đối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất thì nhu cầu giao dịch với những tiện lợi nhanhchóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này
Đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết định và ngườigửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời
Trang 5Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho ngân hàng thương mại thông qua biện pháp chiếtkhấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng Làm như vậy,NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đố với ngân hàng thương mại.
Vay các ngân hàng thương mại khác thông qua thị trường liên ngân hàng (Interbank Market)
+ Vốn vay ngân hàng nước ngoài.
Vốn tiếp nhận:
Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước… để tài trợ theo cácchương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theođúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định
Vốn khác:
Đó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch
vụ ngân hàng…)
+ Nghiệp vụ sử dụng vốn (tài sản Có- Tài sản) (cấp tín dụng và đầu tư):
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồntại và hoạt động của ngân hàng thương mại Đâyn là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọngcủa tài sản Có của ngân hàng Thành phần Tài Sản Có của ngân hàng bao gồm:
- Dự trữ (Reserves)
- Cho vay (loans)
- Đầu tư (Investment)
- Tài sản Có khác (Other Assets)
Dự trữ
Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải đảm bảo an toàn để giữvững được lòng tin của khách hàng Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khảnăng thanh toán: đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phầnnguồn vốn không sử dụng nó để sắn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán Phần vốn để dành này gọi là dự trữ.Ngân hàng TW được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiềngửi dự trữ bắt buộc do chính phủ quy định Dự trữ bao gồm:
+ Dự trữ sơ cấp (Primary Reserves): bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng TW, tại các ngân hàng khác + Dự trữ thứ cấp (Secondary Resereves): (cấp hai) là dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán,
nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận lợi Thuộc loại này gồm:
- Tín phiếu kho bạc
- Hối phiếu đã chấp nhận
- Các giấy nợ ngắn hạn khác
Gọi là dự trữ thứ cấp bởi vì nó được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt Khi quản lý
dự trữ bắt buộc, ngân hàng TW có thể áp dụng 1 trong 3 phương pháp:
- Phương pháp phong tỏa: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại ngânhàng TW và sẽ bị phong tỏa để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ
- Phương pháp bán phong tỏa: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được quản lý và phong tỏatại một tài khoản riêng ở NHTW
- Phương pháp không phong tỏa: theo phương pháp này tiền dự trữ được tính và thực hiện hàng ngàytrên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bịphong tỏa, nó cỏ thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt hay tiền gửi ngân hàng TW hay dưới dạng chứng khoánngắn hạn là tùy NH thương mại, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng NHTW sẽm kiểm tra việc thực hiện dự trữ bắtbuộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)
Trang 6Cấp tín dụng: (Credits):
Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để cấptín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:
+ Cho vay (Loans):
Là tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thương mại Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho người đi vayvay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn vàtiền lãi Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn Người đi vay có ýthức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay.Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúnghạn…do chủ quan hoặc khách quan Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảmvốn vay: thế chấp, cầm cố …
+ Chiết khấu (Discount)
Ðây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và mộtchủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳphiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác
+ Cho thuê tài chính (Financial leasing):
Là loại hình tín dụng trung, dài hạn Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hayvốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trongmột thời gian nhất định Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ Khi kếtthúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị tho bêncho thuê
+ Bảo lãnh ngân hàng: (Bank Guarantee)
Trong loại hình nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng nhờ đó kháchhàng sẽ được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết
+ Các hình thức khác (Other)
Ðầu tư ( Investment)
Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn
và đáng kể của ngân hàng thương mại Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình vànguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:
+ Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiệnbằng vốn của ngân hàng
+ Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…
Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt độngđầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thìmức độ rủi ro sẽ rất thấp
Tài sản Có khác:
Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài sản lưu động nhằm: Xây dựng hoặcmua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệthống kho quỹ…ngoài ra còn các khỏan phải thu, các khoản khác…
Câu 4: Vẽ sơ đồ và giải thích quy trình của phương thức thanh toán tài khoản mở.
Trả lời:
+ Định nghĩa:
Trang 7Phương thức thanh toán tài khoản mở (phương thức ghi sổ) là một phương thức thanh toán mà trong
đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thànhgiao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) người mua trả tiền cho người bán
+ Quy trình thanh toán
Quy trình thanh toán của phương thức thanh toán tài khoản mở được mô tả theo sơ đồ sau:
1 Hai bên đối tác ký hợp đồng kinh tế
2 Người mua giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cùng với gửi chứng từ, hàng hóa, dịch vụ
3 Người bán báo nợ trực tiếp
4 Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền đến định kỳ thanh toán
+ Đặc điểm của phương thức thanh toán tài khoản mở
- Không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản của thực thi thanh toán
- Dùng cho phương thức mua bán hàng đổi hàng, nhiều lần, thường xuyên trong mỗi thời kỳ nhất định
- Dùng trong thanh toán tiền phi mậu dịch như tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồngtrong dịch vụ môi giới, ủy thác, tiền lãi cho vay và đầu tư
- Thường dùng trong thanh toán nội địa
+ Áp dụng phương thức thanh toán tài khoản mở trong du lịch
Với đặc điểm là quá trình gửi và nhận khách diễn ra nhiều lần trong một thời kỳ nhất định, giá trị mộtlần cung ứng dịch vụ du lịch thường không lớn (thường chỉ từ vài chục tới vài nghìn USD) nên nếu các doanhnghiệp lữ hành gửi và nhận khách áp dụng phương thức thanh toán tài khoản mở sẽ tiết kiệm được chi phíchuyển tiền Tuy vậy, do tính chất trung gian trong hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành nhận khách, do sốlượng các đối tác lớn, nên thực tế các doanh nghiệp lữ hành chỉ thường áp dụng phương thức thanh toán nàyđối với việc thanh toán phạt do có khiếu nại
Câu 5: Vẽ sơ đồ và giải thích quy trình của phương thức thanh toán chuyển tiền.
Trả lời:
* Định nghĩa
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người cần chuyển tiền) yêu cầungân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhấtđịnh bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
* Các bên tham gia
- Người cần chuyển tiền là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài (có thể là người mua, ngườimắc nợ, người đầu tư, người chuyển kinh phí ra nước ngoài, kiều bào chuyển tiền về nước)
Trang 8- Người hưởng lợi là người được nhận tiền chuyển có thể là người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tưhoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước chuyển tiền
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước hưởng lợi
* Quy trình thanh toán
Quy trình thanh toán của phương thức chuyển tiền có thể được mô tả theo sơ đồ sau:
1 Người cần chuyển tiền cần chuyển một khoản tiền nhất định cho một người hưởng lợi nào đó, vì nhiều
lý do khác nhau có thể là sau giao dịch thương mại, cần đầu tư, cần chuyển kinh phí…
2 Người cần chuyển tiền viết đơn yêu cầu chuyển tiền và nếu không có tài khoản mở tại ngân hàng đemtiền mặt đến, nếu có tài khoản mở tại ngân hàng thì phải có ủy nhiệm chi
3 Ngân hàng chuyển tiền chuyển tiền tới ngân hàng đại lý tại nước ngoài
4 Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi
* Các yêu cầu về chuyển tiền của Việt Nam
Muốn chuyển tiền ra nước ngoài cần có giấy phép của Bộ chuyên ngành và Ngân hàng Nhà nước.VD: Người Việt Nam trong trường hợp muốn chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài thì chỉ được chuyểnvốn đầu tư ra nước ngoài trong trường hợp dự án đầu tư ra nước ngoài đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấpgiấy phép và Ngân hàng nhà nước xem xét duyệt giấy phép cho người đó được chuyển vốn ra nước ngoài đểđầu tư cho dự án
Chuyển tiền thanh toán trong ngoại thương thường phổ biến theo hình thức chuyển khoản Các yêu cầucần thiết để chuyển khoản thanh toán trong ngoại thương bao gồm:
+ Có hợp đồng mua bán ngoại thương
+ Có bộ chứng từ gửi hàng (cung ứng dịch vụ) của người xuất khẩu gửi đến
+ Có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu (nếu cần)
+ Có ủy nhiệm chi và phí chuyển tiền
- Khi người cần chuyển tiền viết đơn chuyển tiền gửi đến ngân hàng chuyển tiền cần ghi đủ:
+ Tên, địa chỉ của người hưởng lợi, số tài khoản nếu người hưởng lợi yêu cầu
+ Số ngoại tệ xin chuyển ghi bằng số và bằng chữ, loại ngoại tệ
+ Lý do chuyển tiền
+ Những yêu cầu khác
+ Ký tên, đóng dấu
* Trường hợp áp dụng phương thức chuyển tiền
- Trả tiền hàng nhập khẩu với nước ngoài
- Thanh toán cho các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Người chuyển tiền
Người nhận tiền
Ngân Hàng đại lý
Ngân Hàng chuyển tiền
1
4 3
2
Trang 9- Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư hoặc chi tiêu phi thương mại.
- Chuyển kiều hối
* Áp dụng phương thức chuyển tiền trong kinh doanh du lịch
Trong lĩnh vực du lịch quốc tế đối tượng chính của các hợp đồng là dịch vụ du lịch Chúng được cungứng trong những điều kiện rất đặc biệt Chính vì lẽ đó, các phương thức thanh toán quốc tế trong du lịch đượcvận dụng sao cho phù hợp với những điều kiện đặc thù của du lịch Trong hợp đồng du lịch quốc tế thườngquy định về việc thanh toán đặt cọc nên phương thức chuyển khoản là thích hợp nhất trong thanh toán giữacác đối tác Phụ thuộc vào những điều kiện thỏa thuận trong các hợp đồng đã được ký kết, các doanh nghiệp
lữ hành gửi khách sẽ chuyển khoản thanh toán cho các cơ sở nhận khách theo các phương thức khác nhau.Một số trường hợp cụ thể là:
- Chuyển khoản đặt cọc được theo định kỳ (hàng tuần, hàng tháng, 3 tháng một) theo định kỳ chuyểnkhoản quyết toán
- Chuyển khoản một lượng tiền nhất định để đảm bảo trang trải chi phí cho doanh nghiệp nhận kháchcho cả mùa du lịch (trong trường hợp giữa các đối tác có mối quan hệ bền vững với nhau)
- Chuyển khoản trước toàn bộ giá trị theo hợp đồng (trong trường hợp giữa các đối tác có quan hệ bềnvững với nhau)
Ở Việt Nam việc thanh toán giữa các doanh nghiệp lữ hành gửi khách và cơ sở nhận khách thườngđược thực hiện theo phương pháp với trinh tự sau:
- Chậm nhất 14 ngày tính đến ngày đoàn đến, bên gửi khách phải gửi thông báo chính xác số lượngkhách sẽ đi cho bên nhận khách
- Dựa vào hộp đồng đã ký và số lượng khách đã được thông báo, bên nhận khách gửi giấy báo giá cụthể, số tiền phải thanh toán cho bên gửi khách
- Chậm nhất 7 ngày tính đến ngày đoàn đến, bên nhận khách phải nhận được thanh toán đặt cọc của bêngửi khách (có thể là 30%, 50% hoặc 70% giá trị của hợp đồng, tùy thuộc sự thỏa thuận của 2 bên đối tác)
- Hoặc một ngày trước khi đoàn về, hoặc một số ngày sau khi đoàn về bên gửi khách sẽ chuyển khoảnthanh toán nốt cho bên nhận khách
Câu 6: Nêu bản chất và trình bày các vấn đề cơ bản về cơ chế lưu thông Séc.
Trả lời:
* Bản chất Séc
Về bản chất Séc, Séc là một thanh toán chỉ thị thanh toán bằng mẫu in sẵn của ngân hàng, chủ tàikhoản phát hàng ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng được chỉ thị rõtrên Séc, hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc trả cho người cầm Séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặthay bằng chuyển khoản
Trên thế giới tồn tại hai dạng Séc: Séc theo Công ước Giơ-ne-vơ năm 1931 (được hầu hết các nướcChâu Âu chấp nhận như Đức, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Áo, Bồ Đào Nha…)
và dạng Séc Anglosaxon (được sử dụng tại Anh, Mỹ, Ixrael và một số nước khác) Việt Nam sử dụng dạngséc theo Công ước Giơ-ne-vơ về séc năm 1931
Hiện nay tại Việt Nam chưa có luật riêng về séc, chỉ có Nghị định của Chính phủ ban hành quy chếphát hành và sử dụng séc Trong đó, quy định: “séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập trên mẫu doNgân hàng Nhà nước quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toáncủa mình để trao cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc người cầm séc”
* Các đối tượng có liên quan đến séc
Trang 10+ Người phát hành séc: là người ra lệnh cho người trả tiền, nơi có tiền của anh ta, trả một số tiền nào đó theochứng từ.
+ Người trả tiền: thông thường người trả tiền là một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng
+ Người nhận tiền: có thể là người hưởng lợi séc, người được chuyển nhượng séc hoặc chính là bất cứ ai cầmséc
* Điều kiện để được sử dụng séc
Một cá nhân hay tập thể muốn được sử dụng séc cần phải đảm bảo những điều kiện như sau:
+ Có tài khoản vãng lai tại ngân hàng
+ Trên tài khoản có đủ số dư có hoặc được cấp một khoản tín dụng
+ Có quyền sử dụng quyển sổ séc thông qua một hợp đồng Séc
* Hình thức và nội dung của Séc
+ Về mặt hình thức: Séc là những bản mẫu in sẵn của ngân hàng Tại Việt Nam, hình thức của tờ Séc doThống đốc ngân hàng nhà nước quy định Khi phát hành, chủ tài khoản chỉ cần điền thêm những nội dung cầnthiết Việc điền thêm này cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Sử dụng ngôn ngữ thống nhất trên Séc
- Phải dùng bút mực không phai (không được điền bằng bút chì, mực đỏ)
- Không được tẩy xóa
+ Về nội dung của Séc: Theo Công ước Giơ-ne-vơ về Séc năm 1931, trên Séc cần ghi đủ những nội dung sau
đây:
- Tiêu đề Séc
- Chỉ dẫn nhất định về việc trả một khoản tiền nhất định
- Ngân hàng thanh toán (nơi người ký phát Séc có tài khoản)
- Nơi thanh toán (địa chỉ ngân hàng thanh toán, trường hợp thiếu chỉ dẫn được coi như tại trụ sở chính)
- Ngày và nơi phát hành Séc
- Chữ ký của người phát hành Séc Nếu là tổ chức thì phải có chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng
và dấu của tổ chức đó (nếu có)
- Số Séc, số tài khoản, số hiệu của ngân hàng
- Số tiền: phải được ghi rõ ràng, vừa bằng số và vừa bằng chữ khớp với nhau, có kysn hiệu tiền tệ Ngàynay, rất nhiều ngân hàng trên thế giới dùng máy in nhiều màu để in số tiền (cả bằng số và bằng chữ) và kýhiệu tiền lên chỗ trống tương ứng trên tờ Séc
- Người nhận tiền: có thể là người thứ ba hoặc chính người ký phát Séc Trường hợp không có tên haingười nhận tiền thì người hưởng lợi chính là người cầm Séc
- Thời hạn hiệu lực của Séc: Trên Séc không ghi rõ thời hạn hiệu lực của Séc Nhưng thực chất, thời hạnhiệu lực Séc được xác định tùy thuộc vào phạm vi không gian mà Séc lưu hành và luật pháp các nước quyđịnh Tại nhiều quốc gia, thời hạn hiệu lực của Séc thường được suy định như sau: Nếu là Séc lưu hành trongmột nước, thời hạn hiệu lực của Séc là 8 ngày kể từ ngày kể từ ngày phát hành Séc; nếu lưu thông ngoài nướcnhưng trong cùng một châu lục là 20 ngày và nếu lưu thông ngoài nước nhưng không cùng một châu lục là 70ngày.Quá thời hạn quy định như trên nếu Séc không quay trở lại ngân hàng thì Séc sẽ mất hiệu lực
Tại Việt Nam, thời hạn hiệu lực thanh toán của Séc là 15 ngày kể từ ngày ký phát
* Các điều kiện đặc biệt trong việc sử dụng phương tiện thanh toán Séc
Séc là một công cụ tiền bút toán Nó được ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán thay chotiền mặt và được sử dụng rộng rãi tại những quốc gia có hệ thống ngân hàng phát triển cao Hiện nay, Séc lànhững phương tiện chi trả được dùng tương đối phổ biến trong thanh toán nội địa của hầu hết các nước trên
Trang 11thế giới Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về hàng hóa và dịch vụ Séc có giá trị thanhtoán trực tiếp như tiền tệ, nên trong việc sử dụng Séc cần chú trọng các điều kiện đặc biệt sau đây:
+ Đối với người sử dụng Séc: Đối với việc ký phát hành, chỉ có các mẫu Séc của các tổ chức tín dụng phát
hành được phép sử dụng, đối với các trường hợp khác sẽ không có trách nhiệm thanh toán Các bản mẫu Sécđược trao cho chủ tài khoản trên cơ sở giấy biên nhận
- Các mẫu Séc phải được bảo vệ cẩn thận.Việc mất các bản mẫu Séc hoặc giấy biên nhận phải đượcthông báo ngay cho người giữ tài khoản Khi kết thúc hợp đồng Séc, những bản mẫu Séc chưa sử dụng phảiđược gửi trả lại người giữ tài khoản
- Các bản mẫu Séc phải được ghi rõ ràng và đúng quy định Không tẩy xóa, gạch Nếu ghi hỏng phảihủy bỏ toàn bộ mẫu Séc Giá trị Séc phải được ghi bằng chữ và số Séc cầm tay được phát hành theo mẫu Séccầm tay Séc đích danh được phát hành theo mẫu Séc đích danh Việc sửa đổi và gạch chéo văn bản mẫu Séckhông được phép
- Trong trường hợp không muốn thanh toán cho các Séc sau khi đã được phát hành, người phát hành Séccần thông báo cho ngân hàng thanh toán (không phải cho người hưởng séc cuối cùng) Ngân hàng thanh toánđược ủy quyền thông báo việc không thực hiện thanh toán Séc cho một cơ quan bảo vệ tín dụng về kinh tế
- Việc hủy bỏ chỉ được theo dõi khi việc hủy bỏ được thông báo kịp thời cho người giữ tài khoản, đểcho việc theo dõi của họ có thể được thực hiện trong phạm vi thời gian quy định
- Người chủ tài khoản chịu mọi hậu quả của các hành vi chống lại các điều kiện trên cũng như các rủi rocủa việc mất, lạm dụng, giả mạo Séc, mẫu Séc và mẫu giấy biên nhận Ngân hàng thanh toán chỉ chịu tráchnhiệm đối với những sai lầm trong phạm vi có liên quan tới những nguyên nhân khác gây ra những tổn hại củachủ tài khoản
+ Đối với ngân hàng thanh toán Séc:
- Ngân hàng thanh toán Séc được ủy quyền kiểm tra quyền của người xuất trình Séc hoặc của giấy biênnhận
- Ngân hàng thanh toán sẽ thanh toán các Séc được xuất trình đúng thời hạn từ số dư của chủ tài khoản
mà không cần phải hỏi trước chỉ tài khoản
- Ngân hàng thanh toán được ủy nhiệm thanh toán Séc ngay cả trong trường hợp tài khoản của chủ tàikhoản không có đủ số dư Trong trường hợp không thanh toán, việc xác nhận theo luật quy định về Séc đượcthông báo cho người xuất trình Séc mà không cần hỏi lại trước người chủ tài khoản Trong trường hợp tàikhoản của chủ tài khoản không có đủ số dư thanh toán kho Séc được xuất trình, ngân hàng thanh toán thựchiện thanh toán một phần giá trị ghi trên Séc Trong trường hợp này, người phát hành Séc phải ký một bảnhợp đồng về việc thực hiện thanh toán đặc biệt như vậy
- Ngân hàng thanh toán phải theo dõi Séc cấm chỉ trong phạm vi 6 tháng sau khi hết hạn xuất trình, tính
từ ngày hủy, sau đó ngân hàng thanh toán có thể thanh toán các Séc xuất trình, chừng nào người phát hànhkhông kéo dài việc cấm thanh toán bằng văn bản 6 tháng tiếp theo
+ Đối với người nhận Séc:
- Khi nhận Séc phải kiểm tra tính hợp lệ của Séc: về hình thức, nội dung, chữ ký, thời hạn hiệu lực
- Phải xuất trình Séc để yêu cầu thanh toán trong thời hạn của Séc
- Đối với Séc bị từ chối thanh toán phải truy đòi Séc Nếu là người nhận Séc đầu tiên thì truy đòi đối vớingười phát hành Séc, nếu là người được chuyển nhượng Séc thì truy đòi đối với người hưởng lợi trước đó.Trong trường hợp này, người truy đòi Séc phải chứng minh được rằng Séc được xuất trình trong thời hạn vàngân hàng thanh toán từ chối trả tiền Séc (được chứng minh thông qua dấu hiệu đã xuất trình và không thanhtoán của ngân hàng thanh toán để lại trên tờ Séc) Người truy đòi Séc có trách nhiệm thông báo về việc khôngthanh toán cho người hưởng trước đó cũng như người phát hành trong vòng 4 ngày tính sau ngày bị từ chối