Mục tiêu - Nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài của bọ nước thuộc bộ Hemiptera ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà nhằm cung cấp dữ liệu về đa dạng sinh học các loài bọ nước thuộc bộ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Tường
Vi và TS Phan Quốc Toản, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và dìu dắt tôi trên con đường khoa học từ khi tôi còn là một sinh viên
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Anh Đức, Bộ môn Động vật học Không xương sống, Khoa Sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu khoa, phân loại và định danh côn trùng nước Hemiptera
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô, cán bộ trong Khoa Sinh – Môi trường trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, nhất là TS Trịnh Đăng Mậu, cùng với các thầy cô, anh chị trong Trung tâm Nghiên cứu Côn trùng – Ký sinh trùng thuộc Trường Đại học Duy Tân đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm việc tại đây
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè, những người luôn sát cánh, động viên và có nhiều giúp đỡ đối với tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu khoa học
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu tránh nhiệm về đề tài của mình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu 1
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu về Côn trùng nước bộ Cánh nửa (Hemiptera) trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu Côn trùng nước bộ Cánh nửa (Hemiptera) tại Việt Nam 6
1.3 Tình hình nghiên cứu Hemiptera ở nước tại Bán đảo Sơn Trà, thành phần Đà Nẵng 8
1.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 10
1.4.1 Vị trí địa lý 11
1.4.2 Địa hình – Địa chất và thổ nhưỡng 11
1.4.3 Khí hậu 11
1.4.4 Thủy văn 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu 13
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 13
1.2.2 Thời gian nghiên cứu 13
2.2 Địa điểm nghiên cứu 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 16
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 16
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
Trang 53.1 Thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Error
! Bookmark not defined
3.2 Độ giàu loài giữa các điểm trong khu vực nghiên cứu và giữa khu vực nghiên
cứu với một số khu vực khác Error! Bookmark not defined
3.3 Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera
giữa khu vực nghiên cứu và một số khu vực khác Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18
1.Kết luận 30
2.Kiến nghị 30
PHỤ LỤC 37
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Tọa độ điểm thu mẫu 14 Bảng 2 Đặc điểm sinh cảnh của các địa điểm thu mẫu 15 Bảng 3 Thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 18 Bảng 4: Chỉ số tương đồng Bray - Curtis giữa các địa điểm thu mẫu tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 27 Bảng 5 Độ cao của các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 29 Bảng 6 Chỉ số tương đồng Bray – Curtis giữa các khu vực (%) 29
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 14 Hình 2 Cấu trúc thành phần loài theo bậc họ (%) 20 Hình 3 Cấu trúc thành phần loài thu được ở các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 21 Hình 4 Cấu trúc thành phần loài trên các điểm thu mẫu theo mùa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 22 Hình 5 Thành phần loài theo bậc họ tại các điểm thu mẫu 23 Hình 6 Thành phần loài theo bậc họ tại các điểm thu mẫu theo mùa 24 Hình 7 Biểu đồ đường cong tích lũy và ước đoán số lượng loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 25
Hình 8 Số lượng loài, giống và họ giữa các khu vực 26
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Hemiptera là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài đa dạng nhất , sinh sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau Trong đó có khoảng 5000 loài sinh sống ở nước (sau đây được gọi tắt là Hemiptera ở nước) [20, 25, 45, 46] Phần lớn trong số đó sống
ở các thủy vực nước ngọt (như sông, suối, ao hay hồ) và một số loài sống ở biển [6]
Các loài Hemiptera ở nước đóng vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái thủy sinh [20, 25, 34, 48, 61] Chúng chủ yếu ăn các loài động vật nhỏ như giáp xác cỡ nhỏ, các loài côn trùng nước khác , nhờ phần phụ miệng có cấu tạo kiểu chích hút [3] Chỉ
có một số ít loài thuộc họ Corixidae là ăn thực vật Bên cạnh đó, Hemiptera ở nước cũng là nguồn thức ăn quan trọng của cá và các loài động vật không xương sống ở thủy sinh khác [8, 9] Một số loài Hemiptera ở nước chủ yếu ăn ấu trùng muỗi nên còn đợc biết đến với vai trò là tác nhân kiểm soát sinh học của vector truyền bệnh [19, 25,
55, 69] Ngoài ra, Hemiptera ở nước còn nằm trong nhóm các động vật không xương sống ở nước được sử dụng làm chỉ thị sinh học để đánh giá chất lượng nước [19, 25, 55] Ở một số nước châu Á (như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Trung Quốc),
một số loài còn được làm thức ăn cho con người, như loài Cà cuống (Lethocerus
indicus) [48, 61]
Mặc dù bộ Hemiptera ở nước có sự đa dạng tương đối cao và có nhiều ý nghĩa thực tiễn quan, nhưng những nghiên cứu về đối tượng này còn khá ít Tại Việt Nam mới chỉ xuất hiện một vài nghiên cứu về Hemiptera ở nước tại một số khu vực và một vài Vườn Quốc gia Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng, là một khu vực có giá trị về mặt đa dạng sinh học, sinh thái, du lịch và quân sự Tuy nhiên
chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về côn trùng nước Hemiptera tại khu vực này Vì vậy,
để phần góp phần xây dựng dẫn liệu đầy đủ về thành phần loài côn trùng nước bộ
Hemiptera tại khu vực nghiên cứu này, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự đa dạng
thành phần loài Côn Trùng nước bộ Hemiptera tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” nhằm nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài côn trùng nước Hemiptera tại khu
vực được tiến hành
2 Mục tiêu
- Nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài của bọ nước thuộc bộ Hemiptera ở
Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà nhằm cung cấp dữ liệu về đa dạng sinh học các loài
bọ nước thuộc bộ Hemiptera ở bán đảo Sơn Trà từ đó phục vụ cho công tác quản lí và bảo tồn
Trang 83 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài thuộc bộ Hemiptera ở nước tại Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà
- Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần loài giữa các điểm thu mẫu trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và độ giàu loài giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà với một số khu vực khác
- Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera giữa các điểm thu mẫu thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà với một số khu vực khác
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
4.1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Đây là nghiên cứu đầu tiên về côn trùng cánh nửa Hemiptera ở nước tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng Do đó đề tài sẽ góp phần bổ sung
dữ liệu đa dạng sinh học cho Khu bảo tồn Sơn Trà nói riêng và góp phần vào dữ liệu nghiên cứu về Hemiptera ở nước của Việt Nam Những giữ liệu về giá trị đa dạng sinh học nói chung của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà sẽ giúp các nhà khoa học, các nhà quản lý làm cơ sở trong việc hoạch định các chính sách bảo tồn giá trị đa dạng sinh học của khu vực này
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu về Côn trùng nước bộ Cánh nửa (Hemiptera) trên thế giới
Côn trùng nước bộ Hemiptera (bộ Cánh nửa ở nước) có mặt ở hầu hết các lục địa ngoại trừ Nam Cực, bao gồm 2 phân bộ: Gerromorpha (gồm những loài sống trên màng nước), Nepomorpha (gồm những loài sống hoàn toàn dưới nước) Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã ghi nhận được trên 4.400 loài thuộc 266 giống, 19 họ
và ước tính Côn trùng nước bộ Hemiptera có thể lên tới 7.000 loài Trong đó khu vực
Á – Úc có trên 654 loài [45, 46] Côn trùng nước bộ Hemiptera đã được quan tâm nghiên cứu nhiều về các mặt hình thái, sinh học, sinh thái, phân loại và tiến hóa Những nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Hemiptera ở nước được thực hiện từ khoảng thế kỷ 18 Ví dụ, Fabricus (1775) đã mô tả loài đầu tiên thuộc Côn trùng nước
bộ Hemiptera đó là “Cimex cursitans” (ngày nay gọi là Limnometra cursitans) cho khu
vực Australia Trong thế kỷ 19, dẫn liệu về Côn trùng nước bộ Hemiptera của Australia được bổ sung và mô tả bởi Erichson (1842), Fieber (1951) Nghiên cứu phân loại học Hemiptera ở nước bắt đầu phát triển hơn từ đầu thế kỷ 20 Cho đến nay, ở Australia đã có trên 261 loài được mô tả, thuộc 54 giống (trong đó, 14 giống là đặc hữu của khu vực này), 15 họ [20]
Ở Châu Á, các công trình nghiên cứu về Côn trùng nước bộ Hemiptera được bắt đầu khá sớm bởi các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) [20, 30, 31, 32] Côn trùng nước bộ Hemiptera được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippine [17, 18, 19, 38, 39, 57] Từ những năm 1920 – 1930, ở Trung Quốc, Hoffmann đã công bố nhiều nghiên cứu phân loại, sinh học của Côn trùng nước bộ Hemiptera [34]
Andersen (1982, 1998) mô tả 8 loài thuộc giống Eotrechus có phân bố từ Ấn Độ,
Nepal và Myanmar, miền bắc Thái Lan đến khu vực nam Trung Quốc [13, 17] Năm
1995, Andersen & Chen đã ghi nhận 9 loài thuộc giống Rhyacobates từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Myanmar và Thái Lan [19] Zettel (2000) ghi nhận 4 loài thuộc
giống Rhagovelia [62] Liu & Zheng (2000) đã đưa ra danh lục gồm 14 loài thuộc họ Aphelocheridae và mô tả 1 loài mới được ghi nhận đầu tiên: Aphelocheirus carinatus
từ tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) [28] Tran & Zettel (2006) mô tả 1 loài mới từ Đông bắc
Ấn Độ, Eotrechus pilicaudatus [58] Tran et al (2010) ghi nhận 4 loài thuộc giống Hydrometra lần đầu tiên ở đảo Hải Nam (Trung Quốc): Hydrometra gilloglyi, H
jaczewskii, H greeni và H longicapitis, góp phần bổ sung thêm thành phần loài Côn
trùng nước bộ Hemiptera ở đây [56]
Khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng có số lượng loài Côn trùng nước bộ Hemiptera chiếm ưu thế, đặc biệt có nhiều giống thậm chí là phân họ đặc hữu [34, 61] Esaki (1923-1930) đã mô tả nhiều loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở khu vực này và
Trang 10các vùng lân cận, bổ sung thêm vào bậc phân loại cao hơn mà ngày nay tiếp tục được nghiên cứu Lundblad (1933) đưa ra tổng quan chung về Côn trùng nước bộ Hemiptera, với danh lục những loài ở khu vực Ấn Độ đến New Guinea và Nhật Bản
[25, 61] Polhemus & Polhemus (1989) mô tả 2 loài mới thuộc giống Hebrus từ môi
trường cạn đến đầm lầy ngập mặn ở Đông Nam Á [43] Các nghiên cứu về thành phần loài ở biển thuộc phân họ Haloveliinae của Singapore, Malaysia, Thái Lan, với 6 loài mới thuộc giống Xenobates được nghiên cứu bởi Andersen (2000) [18] Năm 2002,
Andersen đã đưa ra khóa phân loại 5 giống: Strongylovelia, Entomovelia,
Haloveloides, Halovelia và Xenobates ở Đông Nam Á [21] Fernando & Cheng (1974)
ghi nhận 102 loài thuộc 12 họ ở khu vực bán đảo Malaysia Cho đến năm 2004, đã có
có tổng cộng 167 loài nước ngọt thuộc 64 giống, 18 họ được biết đến ở khu vực bán đảo Malaysia và Singapore [21, 22, 26, 38, 39, 40] Với mẫu vật thu được từ các suối ở phía đông và nam Thái Lan, Vitheepradit & Sites (2007, 2011) mô tả 3 loài mới thuộc giống Ptilomera (Gerridae), ghi nhận tổng cộng 7 loài thuộc giống này ở Thái Lan và
mô tả 1 loài mới thuộc họ Naucoridae: Heleocoris mcphersoni [49, 59] Cho tới nay,
Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Thái Lan có khoảng hơn 200 loài thuộc 17 họ [36, 37] Yang & Murphy (2011) đưa ra khóa phân loại tới 3 giống, 5 loài thuộc họ Mesoveliidae ở Đông Nam Á [68] Zettel (2012) mô tả 3 loài mới thuộc họ Naucoridae
ở Trung Quốc và Philiipine trong đó: Ctenipocoris sinicus, Heleocoris jaechi ở Trung
Quốc và Stalocoris freitagi ở Philippines [67] Dữ liệu phân bố cập nhật của những
loài thuộc họ Notonectidae ở Đông Nam Á và danh lục mô tả từng loài ở Philiipine và Brunei được đưa ra bởi Zettel et al (2012) [68, 70]
So với hai khu vực lân cận là Ấn Độ và Thái Lan, Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Myanmar vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, mới chỉ có một số dẫn liệu
đơn lẻ trong các nghiên cứu phân loại như nghiên cứu về giống Metrocoris (Gerridae)
của Chen & Nieser (1993) và Hydrometra (Hydrometridae) của Zettel (2006) [23, 60] Zettel (2011) công bố danh lục loài thuộc phân bộ Gerromorpha ở khu vực Myanmar, với tổng cộng 64 loài, trong đó với 7 loài mới cho khoa học, 8 loài là ghi nhận mới [59]
Nghiên cứu đầy đủ và hệ thống nhất về khu hệ Hemiptera ở nước là của Chen et
al (2005) cho khu vực Malesia (khu vực nằm giữa eo Kra của miền nam Thái Lan và các đảo phía Đông của New Guinea; các đảo Bismarck và Solomon) Tại khu vực này, các tác giả đã ghi nhận khoảng 1.000 loài thuộc 100 giống, 17 họ, chiếm một phần tư tổng số loài Hemiptera ở nước đã biết trên thế giới [25] Chen et al (2008) bổ sung
thêm dẫn liệu về 3 loài mới từ khu vực này, đó là Micronecta lumutensis từ Borneo, Indonesia, Enithares rinjani từ Lombook (Indonesia); Neusterensifer stysi từ New
Guinea [24] Khu vực Malesia cũng là khu vực có tính đặc hữu cao, ví dụ khu hệ Hemiptera ở nước ở đảo Borneo có khoảng 80 loài đặc hữu [61]
Trang 11Năm 2012, Polhemus & Polhemus đưa ra khóa phân loại đến loài của giống
Ochterus (Ochteridae) và Nerthra (Gelasotocoridae) cùng với mô tả 3 loài mới: Ochterus pseudomarginatus từ Singapore và quần đảo Malaysia, Ochterus signatus từ
Malaysia và Việt Nam và Ochterus singaporensis từ Singapore [40] Tran & Polhemus (2012) mô tả thêm loài mới Ranatra raffelesi từ Singapore và Indonesia Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã tu chỉnh vị trí phân loại của phân loài Ranatra longipes thai Lansbury, và tách thành một loài riêng biệt, gọi là Ranatra thai Lansbury [52] Nghiên
cứu nói trên đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng dữ liệu về Côn trùng nước bộ Hemiptera trên thế giới
Điều đáng chú ý là các khóa phân loại đến loài Hemiptera chỉ áp dụng được cho các cá thể trưởng thành, vì thiếu trùng không có đủ các đặc điểm hình thái để có thể phân biệt ở bậc loài Hiện nay, mới chỉ định loại được đến bậc họ các mẫu thiếu trùng của Hemiptera ở nước [14, 61]
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại phát sinh, tập tính hay sự thích nghi của Côn trùng nước bộ Hemiptera Có thể kể đến công trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978) về tiến hóa của các họ thuộc bộ Hemiptera Cả hai công trình này đều tập trung vào cấu trúc và sự phát triển của trứng và ấu trùng, cấu trúc của các phần phụ miệng và một số cấu trúc khác [25, 61] Andersen (1982) đã
có nghiên cứu tổng hợp và mang tính nền tảng về tiến hóa, chủng loại phát sinh, đặc điểm hình thái, sự thích nghi, địa lý sinh vật và hệ thống phân loại đến bậc giống của các họ trong phân bộ Gerromorpha [14] Ngoài ra những nghiên cứu về hóa thạch của Popov (1971), Carpenter (1992), Andersen (1998), Rasnitsyn & Quicke (2002) đã cung cấp những bằng chứng quan trọng về tiến hóa của Hemiptera ở nước [25] Michael (2003), David & John (2005) nghiên cứu về phương thức di chuyển trên bề mặt nước của Côn trùng nước bộ Hemiptera [28, 35] Sự tiến hóa và thích nghi của Hemiptera ở nước cũng đã được nghiên cứu ở cấp độ sinh học phân tử, hoặc kết hợp giữa các đặc điểm hình thái với sinh học phân tử, ví dụ như các nghiên cứu của
Damgaard et al (2005) về Halovelia và Steinovelia, Damgaard (2008) về phân bộ
Gerromorpha [25, 27]
Vai trò và ý nghĩa ứng dụng của Côn trùng nước bộ Hemiptera đã được tổng
quan trong cuốn “Heteroptera of Economic Importance” của Schaefer & Panizzi
(2000) [45] Các họ Naucoridae, Belostomatidae, Nepidae có vai trò trong kiểm soát
ấu trùng muỗi Ngoài việc được sử dụng làm thức ăn cho cá và con người, một số loài của họ Belostomatidae có thể giúp kiểm soát những vật chủ trung gian của sán Bên cạnh đó, chúng còn được dùng làm sinh vật chỉ thị trong đánh giá chất lượng nước [50]
Trang 121.2 Tình hình nghiên cứu Côn trùng nước bộ Cánh nửa (Hemiptera) tại Việt Nam
Việt Nam là điểm nóng về đa dạng sinh học (Biodiversity Hotspot) thuộc khu vực Indo-Burma (gồm Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và nam Trung Quốc) Nằm trọn trong vùng nhiệt đới, rìa phía đông nam của phần lục địa Châu Á, giáp với biển Đông nên Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa, có sự khác biệt giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam Ngoài ra, địa hình Việt Nam phức tạp với nhiều vùng núi cao, hệ thống sông ngòi dày đặc Sự kết hợp của các yếu tố địa hình thủy văn, khí hậu là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học của Côn trùng nước ở Việt Nam nói chung và Côn trùng nước bộ Hemiptera nói riêng Loài thuộc họ Gerridae đầu tiên được mô tả
từ Việt Nam là, 1903 Ptilomera hylactor Breddin Hai thập kỷ sau, China (1925) mô tả loài Gigantometra gigas có kích thước lớn nhất thuộc họ Gerridae và là đặc hữu của
Việt Nam và đảo Hải Nam (Trung Quốc) [50] Phần lớn các nghiên cứu về Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Việt Nam được công bố tản mản trong một số tài liệu nghiên cứu
ở khu vực Đông Nam Á như của Kirkaldy (1902), Esaki (1923), Lansbury (1972, 1973), Nieser (2002, 2004), Polhemus & Polhemus (1995, 1998) [31, 32, 34, 38, 39]
Năm 1989, Polhemus & Polhemus ghi nhận Aphelocheirus similaris từ Hà Nội [37] Chen & Nieser (1993) ghi nhận 6 loài thuộc giống Metrocoris ở Việt Nam [23]
Zettel & Chen (1996) đã có những dẫn liệu về họ Gerridae ở Việt Nam, ghi nhận tổng cộng khoảng 40 loài thuộc 18 giống [73] Năm 1997, Hecher công bố 2 loài mới:
Pseudovelia intonsa và P pusilla, hiện chỉ tìm thấy ở Việt Nam [29] Zettel (1998) ghi
nhận Aphelocheirus similaris ở Lào Cai và cho rằng loài này chỉ thấy ở miền bắc Việt
Nam [69] Các nghiên cứu về khu hệ Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Việt Nam những năm gần đây đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, tuy chỉ mới tập trung vào một
số giống hay họ Zettel & Tran (2004) mô tả 2 loài mới: Rhagovelia polymorpha và R
yangae, đồng thời cũng là ghi nhận đầu tiên của nhóm loài R papuensis ở khu vực
Đông Nam Á, dựa trên mẫu vật thu được ở Hà Tĩnh và Đà Nẵng, góp phần mở rộng dẫn liệu về vùng phân bố của nhóm loài này [70] Tran & Zettel (2005) đã mô tả 2 loài
mới: Metrocoris vietnamensis và M quynhi cho Việt Nam, bổ sung thêm dữ liệu về
thành phần loài thuộc Metrocoris được công bố trước đó [57]
Năm 2006, Tran & Yang cung cấp dẫn liệu đầu tiên về loài Rhyacobates
abdominalis ở Việt Nam và mô tả 3 loài mới: Eotrechus vietnamensis, Rhyacobates anderseni và Rhyacobates gongvo, trong đó cả hai giống Eotrechus và Rhyacobates
lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam [55] Zettel & Tran (2006) mô tả 5 loài mới từ
Việt Nam, trong đó 4 loài thuộc giống Strongylovelia, 1 loài thuộc giống Entomovelia, ngoài ra có 3 loài: Halovelia malaya, Haloveloides sundaensis và Xenobates mandai
được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam [71] Trần Anh Đức (2008) đã xây dựng khóa phân loại đến loài của họ Gerridae (Gerromorpha) ở Việt Nam, bao gồm 64 loài thuộc
Trang 1326 giống [50] Với mẫu vật thu được từ Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phú trước
đây), Hòa Bình, Hà Giang, Polhemus et al (2008) mô tả thêm loài mới: Cheirochela
tonkina (Naucoridae) ở khu vực dãy Trường Sơn và các vùng lân cận [40]
Zettel (2009) công bố loài mới thuộc họ Helotrephidae từ Việt Nam, Malaysia,
Philippines trong đó Việt Nam có loài mới là Helotrephes confusus [67] Polhemus et
al (2009) mô tả thêm 2 loài mới thuộc giống Eotrechus: E fansipan từ Sa Pa, Lào Cai
và E pumat từ Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát (Nghệ An), đồng thời đưa ra khóa
định loại đến loài của giống này ở Việt Nam Ngoài ra, các tác giả đã cung cấp những
dẫn liệu đầu tiên về phân bố của loài E brevipes ở Việt Nam Cho đến nay có 4 loài thuộc giống Eotrechus đã được mô tả và ghi nhận cho khu hệ Hemiptera ở Việt Nam
[47] Với mẫu Côn trùng nước bộ Hemiptera thu được ở khu vực suối tỉnh Điện Biên
và Đà Nẵng, Tran & Polhemus (2009) mô tả 2 loài mới: Amemboides falcatus và
Amemboides gladiolus Trước đây Amemboides được coi là một phân giống của Amemboa, thì trong nghiên cứu này, các tác giả đã tách thành hai giống riêng biệt: Amemboa Esaki, 1925, và Amemboides Polhemus & Andersen, 1984 [53] Cũng trong
thời gian này, Tran et al (2009) và Zettel & Tran (2009) đã mô tả thêm 2 loài mới cho
Việt Nam: Velia laticaudata và Aphelocheirus tuberculipes [55, 73] Tran et al (2010)
đã phát hiện thêm 3 loài thuộc Hydrometra ở Việt Nam: Hydrometra albolineata; H
jaczewskii và H ripicola, đồng thời cũng bổ sung dẫn liệu mới về phân bố của 9 loài
Hydrometra ở Việt Nam [56]
Dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở một số thủy vực thuộc Khu vực bảo tồn Thiên nhiên và Di tích lịch sử Vĩnh Cửu (Khu bảo tồn Thiên nhiên Vĩnh Cửu) và Vườn Quốc gia Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai được đưa ra bởi Phạm Thị Diệp (2010) Trong đó, 59 loài thuộc 35 giống, 12 họ được ghi nhận ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Vĩnh Cữu; Vườn Quốc gia Cát Tiên ghi nhận 49 loài thuộc 36
giống, 12 họ, ghi nhận thêm 4 loài cho Việt Nam: Pseudovelia sexualis, Tetraipis
zetteli, Timasius schwendingeri và Hydrometra okinawana [10] Năm 2011, Tran et al
đưa ra dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera tại khu vực nội thành ở Hà Nội, trong đó ghi nhận 23 loài thuộc 12 giống, 9 họ [51] Ngô Quang Hiệp (2012) đã ghi nhận 49 loài thuộc 28 giống, 9 họ ở Vườn Quốc gia Ba Vì Đây là những dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở các khu vực này [10] Tran & Polhemus (2012) đã đưa ra khóa phân loại tới loài của Gerris ở
Việt Nam và mô tả 1 loài mới: Gerris curvus [49] Ngoài ra, các tác giả cũng ghi nhận thêm 2 loài: Gerris latiabdominis và Gerris gracilicornis cho Việt Nam [54] Polhemus & Polhemus (2012) ghi nhận thêm: Ochterus signatus là loài mới ở khu vực
Maylaysia và Việt Nam [41]
Những nghiên cứu nói trên đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả và ghi nhận loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại đến loài của các họ, giống, góp phần làm cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu tiếp theo về Côn trùng nước bộ
Trang 14Hemiptera ở Việt Nam Cho tới nay, ở Việt Nam đã có dẫn liệu của khoảng 170 loài Côn trùng nước bộ Hemiptera, thuộc 18 họ Trong đó, nhiều nhất là họ Gerridae có gần 70 loài, họ Veliidae có khoảng 40 loài [12, 15, 23, 29, 40, 42, 50] Các họ khác như Hebridae, Hermatobatidae, Helotrephidae, Ochteridae ít được nghiên cứu do hạn chế về tài liệu phân loại và mẫu vật Điểm đáng chú ý là những nghiên cứu về thành phần loài Hemiptera ở nước tại Việt Nam mới chỉ tập trung ở khu vực đất liền, trong khi đó các khu vực biển – đảo hầu như chưa được nghiên cứu
1.3 Khóa phân loại Côn trùng cánh nửa Hemiptera
1 Anten tiếp xúc và dài hơn so với đầu (chủ yếu sống trên mặt nước, khu cận nhiệt, vùng có đá xen, hoặc dọc theo các bờ vực) 2
- Anten ngắn hơn so với đầu và dưới mắt, có thể quan sát từ phía trên (sống dưới mặt nước, ngoại trừ hai họ sống ở duyên hải là Ochteridae và Gelastocoridae) NEPOMORPHA
2 Hiên tại cánh to, cánh ngắn hoặc không có cánh Khớp nối của chân sau nhỏ, có hình trụ hoặc hình nón Khoang khớp nối có hình giống như một cái ổ cắm điện (Sống trên bề mặt nước, dọc theo lề nước, vào mùa xuân, cận nhiệt hoặc dòng nước ấm áp 3: GERROMORPHA
- Cánh to, khớn nối chân sau lớn, ngang, khoang coxal rộng (Sống trên bờ biển, vùng cận nhiệt hoặc trong số vùng có đá xen kẽ) 8: LEPTOPODOMORPHA
3 Đầu rõ rệt kéo dài và chiều dài hơn chiều rộng Mắt nằm ở giữa hoặc xa phía sau với đầu (Trên mặt nước yên tĩnh hoặc liền kề bờ biển và cả trên nền rừng ẩm ướt) HYDROMETRIDAE
- Đầu không rõ ràng Mắt nằm ở gốc đầu 4
4 Đầu và protonum vô cùng ngắn, đầu là đoạn ngắn nhất trong 3 đoạn Mosa – and metanota được nối lại với nhau trừ hai bên Luôn luôn không có cánh Móng vuốt ở phía trước (loài ở biển) HERMATOBATUDAE
- Đầu dài hơn chiều rộng Meso- and metanota không hoàn toàn nối lại với nhau Không có cánh, cánh ngắn và cánh to Móng vuốt phía trước đỉnh hoặc cận âm (ở biển
và nước ngọt) 5
5 Macropterous với mesocutellum tạo thành tấm hình tam giác, tròn hoặc ngang phía sau thùy đại tràng Đốt bụng 4 với tuyến mùi hương .6
- Macropterous với mesocutellum không nhìn thấy, ẩn bởi thùy đại tràng Đốt bụng 4
mà không có tuyến mùi hương .7
6 Bucculae phát triển tốt, đạt đến cơ sở của đầu Tarsi 2 đoạn (lề của ao, suối hoặc khu vực ngập triều, một số loài lưỡng cư hoặc thậm chí chìm vĩnh viễn) HEBRIDAE
- bucculae quảng cáo hoặc phát triển kém Tarsi 3 đoạn (lề của ao và suối, cũng đan
Trang 15xen) MESOVELLIDAE
7 Đầu với rãnh dọc trung bình trên mặt lưng cẳng chân của con đực thường có một chiếc gai ngắn dọc theo rìa bên trong Xương đùi chân cuối thường cứng hơn xương đùi giữa (nước đọng, suối, nước ngọt hoặc biển) VELLIDAE
- Đầu không có rãnh dọc trung bình trên mặt lưng cho xương chày của nam mà không cần lược xương đùi sau thường mảnh mai hơn xương đùi giữa (đứng trên vùng nước chảy, nước ngọt hoặc biển) GERRIDAE
8 Đầu cứng, mắt rất to, đạt tới khoảng một phần ba chiều dài của đại từ; cơ thể dài dưới 2 mm (đá ngập nước) OMANIIDAE
- Đầu không bao giờ cứng hoàn toàn mắt nhỏ hơn, chỉ chạm tới cổ hoặc hơi xa; thân dài hơn 2,2mm 9
9 Vòi dài, thon nhọn và đạt đến chiều dài của coxae sau hoặc xa hơn (Rìa ao và suối, cũng là môi trường sống liên triều) SALDIDAE
- Vòi rất ngắn, đạt tối đa đến đỉnh của coxae phía trước, thường chỉ đến cơ sở của nó (giữa những tảng đá lớn dọc theo suối, thác nước, thậm chí trong các hang động trên đất liền) LEPTOPODIDAE
12 Lỗ thở ở đầu hiện tại (littoral, sống trên bờ) 13
- Lỗ thở ở đầu không thấy (sống dưới nước) 14
13 Đầu ngang và nhìn cứng chắc Tỉ lệ tarsal (số lượng các đoạn tarsal trên chân trước, giữa và chân sau) 2-2-2 Râu được che giấu trong pít bên dưới mắt Xương đùi phía trước phát triển (dòng suối, littoral) GELASTTOCORIDAE
- Đầu bình thường và có dạng hình tròn Tỉ lệ tarsal là 2-2-3 Râu không được che phủ
trong pít Xương đùi chân trước không phát triển mạnh (ao hoặc bờ suối)
OCHTERIDAE
14 Cơ thể và lời nói đầu với các đường tối ngang Chân vịt hình tam giác rộng không phân đoạn, ngang phù hợp, xuất hiện như đỉnh của đầu Front-tarsi với một phân đoạn, giống như muỗng hoặc muỗng, có tua dài setae cứng ở giữa (dòng chảy hoặc dòng chảy chậm, nước ngọt và nước mặn) CORIXIDAE
- Màu sắc cơ thể không bao giờ như trên Chân vịt hình trụ, ngắn dài, rõ ràng là phân khúc, không ổn định theo chiều ngang Front-tarsi phân đoạn hay không, không giống như scoop hoặc tua với setae dài cứng 15
Trang 1615 Chân trước không hiếp dâm Dorsum thường lồi mạnh hoặc nghịch đảo hình thuyền; cephalonotal sulcus (đầu-đại từ ranh giới) (Hình 10) đôi khi không đầy đủ (Bơi trên chúng lưng) 16
- Chân trước hiếp dâm Dorsum thường bằng phẳng; đầu và prothorax không bao giờ hợp nhất (Bơi với mặt lưng trên cùng) 18
16 Thân thon dài, hình nêm, thường dài trên 4mm; chân sau thon dài, hình mái chèo,
có hai và móng vuốt không rõ ràng (nước đọng hoặc chảy chậm các luồng) NOTONECTIDAE
- Thân hình bầu dục, khỏe, dài dưới 3,5 mm; chân sau không oái oăm, thường có hai móng khác biệt
18 Đầu rộng hơn nhiều so với dài, chỉ được sản xuất một chút ở phía trước của đôi mắt Chân vịt hình trụ, ngắn và dày, không vượt qua tuyến tiền liệt (Nước đọng cũng như dòng chảy xiết) NAUCORIDAE
- Đầu thường dài hơn rộng và được sản xuất trước mắt Chân dài, thon, kéo dài ít nhất đến giữa mesosternum (Trong số sỏi hoặc đá chảy nhanh luồng)
đó cho thấy Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà hứa hẹn là môi trường sống thuận lợi cho
sự phát triển của côn trùng nước nói chung và côn trùng nước bộ Hemiptera nói riêng
Tuy nhiên cho tới nay, chưa có nghiên cứu chính thức nào về Hemiptera ở
nước tại khu vực Bán đảo Sơn Trà, thành phổ Đà Nẵng
1.5 Khái quát về điều kiện tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Bán đảo Sơn Trà nằm cách trung tâm thành phố Ðà Nẵng chừng 10 km về hướng Ðông Bắc Sơn Trà có diện tích 60 kilômét vuông, chiều dài 13 kilômét, chiều rộng 5 kilômét nơi hẹp nhất 2 kilômét, Bán đảo Sơn Trà cùng với đèo Hải Vân bao bọc thành phố Đà Nẵng và vịnh Đà Nẵng
Trang 17Cầu Thuận Phước - cầu treo đẹp nhất Đà Nẵng và kỷ lục của Việt Nam được bắc qua bán đảo này Bán đảo Sơn Trà nhiều thắng cảnh thiên nhiên và trong tương lai không xa sẽ trở thành khu du lịch nổi tiếng của thành phố và của cả nước
Du lịch Quốc gia [6]
Núi Sơn Trà cao đến gần 700m, xưa nay được xem như đài khí tượng thiên nhiên của nhân dân quanh vùng
1.5.2 Địa hình – Địa chất và thổ nhưỡng
Sơn Trà được hình thành từ tiền Cambi cách đây khoảng 2000 triệu năm, với kiểu hình đồi và núi thấp, cấu tạo bởi macma axit chạy theo đường kính tuyến có độ cao tuyệt đối là 696 m Độ cao trung bình của bán đảo là 350m Do cấu tạo của địa hình là khối Macma axit nên các đỉnh đồi và núi ở đây thường nhọn và sườn dốc lớn Sơn Trà nằm hoàn toàn trong vành đai nội chí tuyến Bắc, có khí hậu nhiệt đới biển và chịu ảnh hưởng của hoàn lưu cực đới lạnh, thời gian mùa đông ngắn Thảm thực vật tự nhiên là rừng lá rộng thường xanh trảng cây bụi và trảng cỏ Với sự tác động của các yếu tối ngoại cảnh và nội tại, Sơn Trà tạo ra một lớp vở phong hóa kiểu Feralit Macma axit granit Quá trình hình thành chính là rửa trôi các chất kim loại kiềm, kiềm thổ Silic Tích lũy sắt, nhôm của sản phẩm phong hóa tàn tích và sườn tích
Về thổ nhưỡng, Sơn Trà có tổ hợp đất núi vàng nâu, tổ hợp đất đồi vàng nâu và
Nhiệt độ trung bình năm từ 24 – 25,50C Biên độ nhiệt giao động trong năm từ
7 – 90C Biên độ nhiệt ngày chênh lệch không lớn từ 1,5 – 20C
Mùa hè, tháng nóng nhất là tháng 6, 7, 8 Nhiệt độ trung bình trong mùa từ 28 –
290C Nhiệt độ trung bình cao nhất từ 34 – 360C Mùa đông, tháng lạnh nhất là tháng
1 Nhiệt độ trung bình mùa từ 21 – 220C Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 18 -190C Những ngày có gió mùa Đông Bắc nhiệt độ có khi xuống dưới 150C Nhiệt độ trung
Trang 18bình của Sơn Trà qua các tháng trong năm so với thành phố Đà Nẵng có sự khác biệt
1.5.3.2 Độ ẩm
Độ ẩm tương đối của Sơn Trà phụ thuộc vào chế độ gió mùa Độ ẩm tương đối (HR%) trung bình năm là 85 – 90% vào các tháng 9, 10, 11, 12 và tháng 1 năm sau có
độ ẩm tương đối cao, cụ thể: HR% 84 – 88%, có khi vượt quá 88%
Thời kỳ khô hạn có độ ẩm thường vào các tháng 6, 7, 8 có HR% < 80% Tháng khô nhất vào tháng 7 thường có độ ẩm trung bình <75%, đôi khi xuống dưới 50%, thường xảy ra vào những ngày có gió Tây Nam nóng và khô thổi đến Nhìn chung độ
ẩm của Sơn Trà so với thành phố Đà Nẵng chênh nhau không lớn khoảng từ 2 – 4%
1.5.3.3 Gió
Tốc độ gió trung bình hàng năm từ 2,5 – 3m/s Vào mùa lạnh có khi gió mùa Đông Bắc xâm nhập sau xuống phía nam, gió thường có tốc độ mạnh lên tới 30 – 35 m/s Gió có tần suất cao là gió Tây Bắc; Bắc và Đông Bắc/ Mùa hề tốc độ gió mạnh nhất từ 15 -25 m/s, chủ yếu là gió Tây Nam
Trang 19CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bộ Cánh nửa (danh pháp khoa học: Hemiptera) là một bộ khá lớn trong lớp côn
trùng, phân lớp côn trùng có cánh
2.1.1.1 Đặc điểm chung
- Cơ thể dẹp hoặc có hình trụ, dài từ 1 đến 109mm
- Mắt kép phát triển, thường có thêm hai mắt đơn
- Phần phụ miệng kiểu chính hút, thường gồm 4 đốt
- Râu hình chùy, sợi, gấp khúc
- Cánh có cánh đôi Một số loài cánh hoàn toàn tiêu giảm hoặc kép phát triển
- Chân rất đa dạng, tùy thuộc vào môi trường sống và tập tính sinh dưỡng
- Bụng gồm các đốt dính chặt vào nhau được che phủ Thiếu trùng gần giống dạng trưởng thành những cánh còn ngắn
2.1.1.2 Chu kỳ sinh thái và chu kỳ sống
- Biến thái không hoàn toàn: Từ trứng nở ra ấu trùng và biến đổi dần dần đến khi trưởng thành, không qua giai đoạn nhộng, ấu trùng và con trưởng thành có khá nhiều đặc điểm cơ thể giống nhau
- Nhiều loài có kiểu trinh sản trong một phần chu trình sống của mình
- Hầu hết các côn trùng thuộc bộ cánh nửa ăn cỏ, nhựa cây, một số khác ăn thịt, ăn các loại côn trùng khác thậm chí có thể ăn những động vật có xương sống nhỏ
- Một số họ thuộc bộ cánh nửa thích nghi với cuộc sống ở dưới nước, ví dụ như bọ gạo (Notonectidae) và bã trầu (Nepidae), chúng chủ yếu ăn thịt, có chân như mái chèo để
di chuyển trong nước Các loài gọng vó (Geridae) lại lợi dụng sức căng bề mặt của nước để có thể đứng trên những vũng nước đọng, chúng bao gồm cả
chi Halobates (gọng vó biển), nhóm côn trùng duy nhất là sinh vật biển thật sự
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu vật trưởng thành của Côn trùng nước bộ Hemiptera ở nước thu được ở một số thủy vực thuộc khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu
1.2.2 Thời gian nghiên cứu
Toàn bộ mẫu vật côn trùng nước Hemiptera được thu thập và xử lý bởi Nguyễn Thị Quyên vào tháng 9/2018 và tháng 4/2019
Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2019 tới tháng 5/2019
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Có 6 địa điểm nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (Bảng 1) Được tiến hành theo hai mùa trong năm: mùa mưa (từ tháng 9/2018) tiến hành thu tập mẫu vật 4 điểm S1, S2, S3 và S6 và mùa khô (từ tháng 3/2019) tại 6 điểm S1, S2, S3, S4,
Trang 20S5 và S6 Mỗi địa điểm thu mẫu được miêu tả qua hình 1, bảng 1 và bảng 2 thể hiện sơ
đồ các địa điểm thu mẫu
hình 1 Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Bảng 1 Tọa độ điểm thu mẫu
Trang 21Bảng 2 Đặc điểm sinh cảnh của các địa điểm thu mẫu
S1 Suối cạnh bể nước trên
S2 Suối nằm ngay bên cạnh
bể chứa nước trên đường
tới cây đa ngàn năm
Suối nhỏ và dốc, tốc độ chảy trung bình
Nền có nhiều đá lớn đan xen dòng chảy Suối tạo thành những vũng nước nhỏ, nguồn nước đã và đang bị ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt của các công nhân xây dựng bể chứa nước Độ che phủ khoảng 75-90%
S3 Suối Ôm Suối nhỏ và dốc, tốc độ chảy trung bình
Nền có nhiều đá lớn đan xen dòng chảy Suối tạo thành những vũng nước nhỏ tương đối trong và sạch Ít mùn thực vật, độ che phủ có chỗ 0-5% có chỗ 85-95%
Bên trái suối bị tác động bởi việc xây bể chứa nước
S4 Suối nằm bên phải chùa
S5 Sơn Trà tịnh viên Suối nhỏ, tốc độ dòng chảy trung bình
Có hồ nuôi cá trong khuôn viên của Sơn Trà tịnh viên
S6 Suối Đá Suối nhỏ, dốc, dòng chảy chậm
Suối tạo thành những vũng nhỏ, đục, đang bị ô nhiễm bởi quá trình sinh hoạt của du khách
Độ che phủ khoản 60-75%
Nhìn chung các điểm thu mẫu đều đã và đang bị tác động bởi hoạt động của con người
Trang 222.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên
Dụng cụ thu mẫu là vợt cầm tay có miệng vợt và cán làm bằng inox Chu vi miệng vợt là 20 cm, cán vợt có chiều dài khoảng 40 - 50cm, lưới quây quanh miệng vợt tạo thành hình trụ với khoảng cách từ đáy lưới tới miệng vợt là 30 cm, kích thước mắt lưới nhỏ: 0,1mm x 0,2mm Đối với nhóm Côn trùng nước bộ Hemiptera sống trên mặt nước, sử dụng vợt quét nhanh và dứt khoát trên mặt nước nơi chúng có mặt, sau
đó nghiêng miệng vợt để tránh chúng nhảy ra ngoài Đối với nhóm sống dưới nước, sử dụng vợt quét vào những nơi có giá thể như cây thủy sinh, cành cây, rễ cây, lá…hoặc đối với nhóm sống sát bờ nước thì hắt nước lên nơi trú ngụ của chúng để cho chúng trôi xuống, sau đó dùng vợt để thu mẫu
Ngoài ra, điều kiện sinh cảnh nơi thu mẫu cũng được ghi chép lại tại bảng 1 cùng với chụp ảnh sinh cảnh và thu mẫu ở các điểm thu mẫu (Phụ lục 3)
Mẫu vật sau khi thu được bảo quản trong cồn 70o và đem về lưu trữ và phân tích tại Trung tâm nghiên cứu Côn trùng – Ký sinh trùng, cơ sở Hòa Khánh, Trường Đại học Duy Tân
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Mẫu vật được phân tích dựa trên các khóa định loại đã được công bố của nhiều tác giả khác nhau, như:
Các khóa định loại các taxon thuộc họ Gerridae của Andersen (1982),
Polhemus & Polhemus (1995), Cheng et al (2001), Trần Anh Đức (2008) [14, 26, 44]; khóa định loại họ Veliidae của Andersen (1981, 1983), Polhemus (1990), Andersen et
al (2002) [12, 15, 21, 22, 42]; khóa định loại các loài thuộc họ Notonectidae của
Lansbury (1968), Nieser (2004) [30, 39]; khóa định loại các loài thuộc họ Nepidae của Lansbury (1972, 1973) [32, 33]; khóa định loại các loài thuộc họ Naucoridae của Trần Anh Đức 2015 [75]
Dụng cụ sử dụng phân tích vật mẫu gồm có: kính hiển vi soi nổi, kính hiển vi, đĩa Petri, lam kính, kim nhọn
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Để so sánh mức độ tương đồng giữa các khu vực nghiên cứu dựa trên sự có mặt hay vắng mặt của các loài trong từng khu vực, chúng tôi sử dụng chỉ số tương đồng Bray-Curtis [76]:
BCij = 100 x 𝟐𝒂/(𝟐𝒂 +𝒃+𝒄) Trong đó:
BCij : Chỉ số tương đồng Bray Curtis giữa mẫu i và mẫu j
Trang 23a : Số loài chung giữa khu vực i và j
b : Số loài chỉ có ở khu vực i
c : Số loài chỉ có ở khu vực j Giá trị chỉ số tương đồng Bray-Curtis dao động từ 0 tới 100% Giá trị BCjk
>50%, biểu thị mức độ tương đồng cao, giá trị BCjk càng lớn thì mức độ tương đồng giữa 2 khu vực càng lớn Khi giá trị S’jk thấp sẽ cho độ tương đồng ở 2 khu vực thấp
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel® v.2003 của hãng Microsoft® Corporation
Trang 24CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Khu bảo tồn thiên nhiên
4 Limnometra matsudai Miyamoto,
Trang 252 Veliidae
24 Perittopus asianticus Zettel, 2001 - -+ - - -+
31 Enithares madalayensis Distant,
1910
-
33 Enthiares woodwardi Lansbury,
(Ghi chú : “” có mặt “+” Đợt thu mẫu tháng 9/2018 “-” Đợt thu mẫu tháng 4/2018)
Trước đó, ở Việt Nam, loài limnogonus fossarum fossarum, Ptilometra tigrina,
Limnometra matsudai, Limnogonus nitidus và Microvelia douglasi được ghi nhận tại
khu di tích thánh địa Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam [2 ] Loài Enithares metalica được ghi nhận tại tỉnh Hà Giang [1] Loài Rhagovelia bisinuata được ghi nhận tại tỉnh Nghệ An [71] Loài Metrocoris stranguloides được ghi nhận tại tỉnh Gia Lai, loài Metrocoris
obscurus được ghi nhận tại tỉnh Lào Cai [3] Loài Ptilometra hymalayensis được ghi
nhận tại dãy núi Hymalaya [7]
Trang 26Trong số các loài Côn trùng nước bộ Hemiptera bắt gặp tại Khu bảo tồn thiên
nhiên Sơn Trà có Limnogonus hungerfordi, Metrocoris nigrofasciatus, Enithares
madalayensis và Enithares woodwardi là ghi nhận mới cho Việt Nam, góp phần mở
rộng thêm dữ liệu về phân bố của các loài này Trước đó, loài này mới chỉ tìm thấy ở các nước như Singapore, Myanmar [63]
Ngoài ra, do hạn chế về tài liệu cũng như mẫu vật so sánh nên chưa xác định được tên
khoa học chính xác của một số vật mẫu giống Metrocoris, giống Amemboa và giống
Amemboides thuộc họ Gerridae; giống Xenobates, giống Microvelia thuộc họ Veliidae;
giống Enithares thuộc họ Notonectidae; giống Heleocoris thuộc họ Naucoridae và cuối cùng là giống Cercotmetus thuộc họ Nepidae Do vậy, để khẳng định chính xác
tên khoa học chính xác của các vật mẫu trên thì cần nghiên cứu và so sánh trực tiếp với mẫu vật của những loài đã được mô tả
Cấu trúc thành phần loài của Hemiptera ở nước tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà theo bậc họ (%) được tóm tắt trong hình 2
hình 2 Cấu trúc thành phần loài theo bậc họ (%)
Trong đó, họ Gerridae có nhiều loài nhất với 19 loài chiếm 45%, điều này phù hợp với các nghiên cứu trước vì nhóm Gerridae dễ bắt gặp ở ngoài tự nhiên và có phân
bố khá rộng Họ Notonectidae đều có 12 loài chiếm 30%, đối với Hemiptera ở nước nói chung, các khóa định loại đến loài thường chỉ áp dụng được cho con trưởng thành
của loài này Trong nghiên cứu này, các mẫu thuộc giống Enithares thu được gần như
là thiếu trùng nên chưa xác định được chính xác tên loài Vì vậy, trong các đợt khảo sát tiếp theo, cần chú ý để thu được con trưởng thành của giống này Tiếp theo họ
Trang 27Veliida có 8 loài chiếm 20%, là họ có số lượng lớn nhất trong bộ Hemiptera ở nước, tuy nhiên vì kích thước nhỏ nên rất khó quan sát và thu mẫu Và cuối cùng họ Naucoridae và họ Nepidae, nhìn chung, các loài thu được trong nghiên cứu này đều là những loài có phân bố rộng và dễ dàng bắt gặp ngoài tự nhiên Tuy nhiên trong thời gian nghiên cứu này lại chỉ thu được chỉ có duy nhất 1 loài thuộc 1 giống chiếm 2,5%
3.1.1 Thành phần Côn trùng ở nước Hemiptera giữa cái địa điểm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Cấu trúc thành phần loài trên mỗi địa điểm nghiên cứu thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà được tóm tắt trong hình 3
Hình 3 Cấu trúc thành phần loài thu được ở các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Sơn Trà
Trong các địa điểm thu mẫu, khu vực suối gần suối gần chùa Linh Ứng (S4) bắt gặp
28 loài chiếm 35%, khu vực suối Đá (S6) bắt gặp 18 loài chiếm 23%, khu vực Suối gần cây đa (S2) bắt gặp 11 loài chiếm 14%, khu vực suối trên đường số 2 (S1) bắt gặp
8 loài chiếm 10%, khu vực Sơn Trà tịnh viên (S5) và khu vực suối Ôm (S3) đều bắt gặp 7 loài chiêm 9%
3.1.2 Thành phần loài thu được ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà vào hai mùa mưa và khô
Cấu trúc thành phần loài trên mỗi địa điểm nghiên cứu thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà trong hai mùa mưa và mùa khô (hình 3)
Điểm S1 10%
Điểm S2 14%
Điểm S3 9%
Điểm S4 35%
Điểm S5 9%
Điểm S6 23%
Loài
Trang 28Hình 4 Cấu trúc thành phần loài trên các điểm thu mẫu theo mùa tại Khu bảo
tồn thiên nhiên Sơn Trà
Nhìn chung thành phần loài thu được ở tất cả các điểm thu mẫu tại Khu bảo tổn thiên nhiên Sơn Trà vào mùa khô đều nhiều hơn rõ rệt so với mùa mưa, có siệu liệu thống kê ở hình 3 Điểm thu mẫu S1, điểm thu mẫu S3 và điểm thu mẫu S6 thành phần loài thu được vào mùa khô nhiều gần gấp đôi so với mùa mưa Không tiến hành thu mẫu tại các điểm thu mẫu S4 và điểm thu mẫu S5 vào mùa khô trong đợt nghiên cứu
Trang 29Hình 5 Thành phần loài theo bậc họ tại các điểm thu mẫu
Nhìn chung, mỗi điểm thu mẫu đều có ít nhất 3 họ, duy chỉ có điểm S5 chỉ xuất hiện
họ Gerridae Điểm thu mẫu S4 có số lượng họ và loài cao nhất trong tất cả các điểm thu mẫu Điểm thu mẫu S4 là điểm có mức độ đa dạng loài cao nhất
Điểm thu mẫu S5 với số lượng loài ít nhất (7 loài thuộc cùng một họ Gerridae)
Điểm thu mẫu S5 là điểm có mức độ đa dạng loài thấp nhất
3.2.2 Mức độ da dạng loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà theo mùa
Tính đa dạng loài của Hemiptera ở nước tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà còn thay đổi theo mùa (hình 5)
Trang 30Hình 6 Thành phần loài theo bậc họ tại các điểm thu mẫu theo mùa
So sánh giữa thành phần loài thu được trong được trong hai mùa, ta thấy mùa khô thu được nhiều loài và nhiều họ hơn Họ Notonectidae vào mùa khô thu được nhiều hơn mùa mưa 9 loài, tiếp theo là họ Gerridae vào mùa khô thu được nhiều hơn mùa mưa 8 loài, họ Veliidae vào mùa khô thu được nhiều hơn mùa mưa 6 loài Hai họ Naucoridae và Nepidae chỉ thu được vào mùa khô
Dựa trên số liệu của loài hiếm gặp (chỉ gặp trên một điểm thu mẫu) và số lượng loài có mặt tại 2 địa điểm thu mẫu ta có biểu đồ thể hiện Đường cong tích lũy loài Fatted acc và các chỉ số ước đoán về số lượng loài thực tế có thể có tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà qua hình 6
10
3
2 18
Trang 31Hình 7 Biểu đồ đường cong tích lũy và ước đoán số lượng loài tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Sơn Trà
Dựa trên các chỉ số ước đoán số lượng loài có thể xuất hiện trong thủy vực (Boot, Chao, Jacknife 2), số lượng loài Côn trùng ở nước Hemiptera tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có thể đạt tới 84 loài (chỉ số Chao), 78 loài (Jacknife 2) và 50 loài (Boot) Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng đường cong tích lũy để đánh giá độ giàu loài của Côn trùng ở nước Hemiptera tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, cho thấy tiềm năng về đa dạng loài tại khu vực nghiên cứu khá cao (hệ số góc = 13,92) (Hình 7) Điều này cũng được khẳng định thông qua các chỉ số ước đoán, số lượng loài thực tế ghi nhận (41 loài) chỉ đạt 52,56% (Jacknife 2), 48,81% (Chao) và 82% (Boot) so với
số lượng loài ước đoán có thể có
Mức độ đa dạng loài trong thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có thể con lớn hơn rất nhiều so với thành phần loài thu được trong đợt nghiên cứu này
3.2.3 Mức độ da dạng loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Kết quả so sánh thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà với các khu vực khác đã được nghiên cứu trước đây: Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn, tỉnh Hà Giang và thủ đô Hà Nội được trình bày ở Phụ lục 2 Có 41 loài bắt gặp ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn 36 loài, tỉnh Hà Giang 44 loài, Thủ đô Hà Nội 23 loài (Hình 4)
Trang 32Hình 8 Số lượng loài, giống và họ giữa các khu vực
Số lượng họ thu được tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà ít hơn so với các khu vực khác Tuy nhiên, số lượng loài thu được ở đây lại lớn hơn hai khu vực Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn (5 loài) và thủ đô Hà Nội (17 loài)
Mức độ đa dạng loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà cao hơn so với hai khu vực Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn và thủ đô Hà Nội, thấp hơn so với tỉnh Hà Giang, tuy nhiên chênh lệch giữa hai khu vực này là không lớn (1 loài)
Điều đáng chú ý là số lượng loài côn trùng nước Hemiptera được tìm thấy ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà ít ghi nhận ở khu vực đất liền của nước ta trong các nghiên cứu trước đây
3.3 Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài
3.3.1 Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Kết quả tính toán mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà thể hiện qua chỉ số Bray-Curtis được trình bày trên Bảng 4
Trang 33Điểm thu mẫu S1 S2 S3 S4 S5 S6
Bảng 4 Chỉ số tương đồng Bray – Curtis giữa các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Sơn Trà (%)
- Xét điểm thu mẫu S1:
Điểm thu mẫu S1 có mức độ tương đồng Bray – Curtis lớn nhất với điểm thu mẫu S3 (40%), tiếp theo là điểm thu mẫu S6 (31,58%), sau đó là điểm thu mẫu S4 (28%), cuối cùng là hai điểm thu mẫu S2 và điểm thu mẫu S5 (22,22%)
- Xét điểm thu mẫu S2:
Điểm thu mẫu S2 có mức độ tương đồng Bray – Curtis lớn nhất với điểm thu mẫu S3 (43,75%), tiếp theo là điểm thu mẫu S6 (29,27%), sau đó là điểm thu mẫu S4 (26,42%), tiếp sau đó là điểm thu mẫu S1 (22,22%), cuối cùng là điểm thu mẫu S5 (14,63%)
- Xét điểm thu mẫu S3:
Điểm thu mẫu S3 có mức độ tương đồng Bray – Curtis lớn nhất với điểm thu mẫu S2 (43,75%), tiếp theo là điểm thu mẫu S1 (40%), sau đó là điểm thu mẫu S6 (28,57%), tiếp sau đó là điểm thu mẫu S4 (25,53%), cuối cùng là điểm thu mẫu S5 (22,22%)
- Xét điểm thu mẫu S4:
Điểm thu mẫu S4 có mức độ tương đồng Bray – Curtis lớn nhất với điểm thu mẫu S1 (28%), tiếp theo là điểm thu mẫu S2 (26,42%), sau đó là điểm thu mẫu S3 (25,53%), tiếp sau đó là điểm thu mẫu S6 (23,33%), cuối cùng là điểm thu mẫu S5 (14,63%)
- Xét điểm thu mẫu S5:
Điểm thu mẫu S5 có mức độ tương đồng Bray – Curtis lớn nhất với điểm thu mẫu S6 (28,57%), tiếp theo là hai điểm thu mẫu S1 và điểm thu mẫu S3 (22,22%), cuối cùng là hai điểm thu mẫu S2 và điểm thu mẫu S4 (14,63%)
- Xét điểm thu mẫu S6:
Điểm thu mẫu S6 có mức độ tương đồng Bray – Curtis lớn nhất với điểm thu mẫu S1 (31,58%), tiếp theo là điểm thu mẫu S2 (29,27%), sau đó là hai điểm thu mẫu S3 và điểm thu mẫu S5 (28,57%), cuối cùng là điểm thu mẫu S4 (23,33%)
Trang 34Độ cao của các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà được trình bày qua bảng 5
Bảng 5 Độ cao của các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Dựa vào bảng 5 ta nhận thấy, sự tương đồng của các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà không phụ thuộc vào độ cao của điểm thu mẫu Các điểm thu mẫu S3, S4 và S5 có độ cao gần bằng nhau nhưng lại có mức độ tương đồng không quá 30% Trong khi điểm thu mẫu S1, S2 và S3 có sự chênh lệch về độ cao rõ rệt lại cho mức độ tương đồng cao hơn rất nhiều (hơn 40%)
Mức độ tương đồng Bray – Curtis của côn trùng cánh nửa Hemiptera không phụ thuộc vào độ cao của điểm thu mẫu
Đặc điểm sinh cảnh của điểm thu mẫu (bảng 2) ta nhận thấy:
- Các điểm thu mẫu có cùng sinh cảnh sống nhiều lá rụng trên bề mặt nước (S4 và S6)
thì sẽ thu được loài thuộc giống Microvelia, họ Veliidae
- Các điểm thu mẫu có dòng suối chảy qua tạo thành các vũng nước lớn (S2, S4 và S6)
thì sẽ thu được loài thuộc giống Enithares, họ Notonectidae
- Các điểm thu mẫu có đá xen sẽ thu được loài thuộc giống Rhagovelia và giống
Nếu so sánh riêng giữa khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn thì có 6 loài trùng nhau, giữa khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và tỉnh Hà Giang chỉ có 3 loài trùng nhau, giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
và Thủ đô Hà Nội có 4 loài trùng nhau
Kết quả tính toán mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực thể hiện qua chỉ số Bray-Curtis được trình bày trên Bảng 6
Trang 35Bảng 6 Chỉ số tương đồng Bray – Curtis giữa các khu vực (%)
Khu Vực Khu bảo tồn thiên
nhiên Sơn Trà
Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn
Tỉnh Hà Giang
Có thể thấy, vị trí địa lý ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn là gần nhau, và đều nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới điển hình nên đây cũng có thể là lý do để giải thích cho kết quả của sự tương đồng trên Ngoài ra với thủ đô Hà Nội do số lượng loại bắt gặp ít nên làm tăng tỉ số tương đồng
Tuy vậy, kết quả nói trên chỉ phản ánh được phần nào mối tương quan giữa các khu vực nghiên cứu, do kết quả thu mẫu phụ thuộc nhiều yếu tố như thời gian thu mẫu, địa điểm thu mẫu… Vì vậy, để có thể lý giải rõ hơn, cần phải tiếp tục nghiên cứu đầy
đủ hơn về thành phần loài ở các khu vực này
Trang 36KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và phân tích vật mẫu thu được tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, chúng tôi có một số kết luận sau:
1 Đã thu được 17 loài thuộc 18 giống, 8 họ trong đó đợt thu mẫu tháng 9/2018
đã thu được 6 loài thuộc 6 giống, 4 họ, ở lần thu mẫu thứ 2 vào tháng 4/2019 có tất cả
17 loài thuộc 18 giống, 8 họ côn trùng ở nước Hemiptera tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà Trong đó, họ Gerridae có nhiều loài nhất với 9 loài thuộc 4 giống, tiếp đến họ
Veliidae có 4 loài thuộc 3 giống Limnogonus hungerfordi, Metrocoris nigrofasciatus,
Enithares madalayensis và Enithares woodwardi là ghi nhận mới cho Việt Nam
2 Kết quả phân tích tính tương đồng về thành phần loài giữa các điểm thu mẫu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà với một
số khu vực khác cho thấy thành phần loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có tương đồng nhiều nhất với Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn so với các khu vực khác, và thấp nhất với tỉnh Hà Giang
3 Môi trường sống của côn trùng Hemiptera đang ngày càng bị thu hẹp do hoạt động xây dựng công trình, rác thải từ người dân và du khách, cũng như khô cạn nguồn nước ở một số con suối trên Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà
Trang 37TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1] Trần Anh Đức & Chu Thị Đào (2014), Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cánh
nửa Hemiptera ở nước tại khu vực tỉnh Hà Giang, Hội nghị khoa học toàn quốc về
sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6 (2014) 85-90
[2] Chu Thị Đào (2017), Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bộ Cánh Nửa ở nước
(Insecta: Hemiptera) tại khu di tích thánh địa Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN: khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 33, số 1S (2017) 72-78
[4] Đinh Thị Ngọc Hiền (2012), Nghiên cứu thành phần loài côn trùng nước bộ
Hemiptera ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ khoa học
trường Đại học khoa học tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội
[5] Phạm Thị Diệp (2012), Nghiên cứu thành phần loài côn trùng nước bộ Hemiptera
ở Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang, Luận văn thạc sĩ
khoa học trường Đại học khoa học tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội
[6] hoi/tin-tuc-thoi-su/ham-chui-song-han-lien-quan-den-40-biet-thu-son-tra-3331713/ [7]https://web.archive.org/web/20170326132512/http://nguoidothi.vn/vn/news/chuyen-hom-nay/nhip-song-do-thi/6102/dung-de-son-tra-bi-bam-nat-va-thu-hep.ndt
https://web.archive.org/web/20170326071224/http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-7.https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0_N%E1%BA%B5ng#Kh%C3%AD_h%E1%BA%ADu
[8] http://www.baotangbrvt.org.vn
[9] http://www.kiengiang.gov.vn
[10] Phạm Thị Diệp (2010), Thành phần loài Côn trùng nước bộ Cánh nửa
(Hemiptera) ở một số thủy vực thuộc khu vực Vĩnh Cửu và VQG Cát Tiên, Khóa luận
tốt nghiệp hệ đại học chính quy Ngành Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
[11] Ngô Quang Hiệp (2012), Nghiên cứu thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) ở
nước tại Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp hệ đại học chính quy
Ngành Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
[12] Andersen N.M (1981), “A new genus of Veliinae and descriptions of new
Oriental species of the subfamily (Heteroptera: Veliidae)”, Entomologica
Scandinavica, 12(3), pp 339-356
[13] Andersen N.M (1982), “Semiterrestrial water striders of the genera Eotrechus Kirkaldy and Chimarrhometra Bianchi (Insecta, Hemiptera, Gerridae)”, Steenstrupia,
9(1), pp 1-25
Trang 38[14] Andersen N.M (1982), The semiaquatic bugs (Hemiptera: Gerromorpha):
phylogeny, adaptations, biogeography and classification, Entomonograph 3,
Scandinavian Science Press Ltd., Denmark
[15] Andersen N.M (1983), “The Old World Microveliinae (Hemiptera: Veliidae) I
The status of Pseudovelia Hoberlandt and Perivelia Poisson, with a review of Oriental species”, Entomologica Scandinavica, 14, pp 253-268
[16] Andersen N.M (1989), “The coral bugs, genus Halovelia Bergroth (Hemiptera, Veliidae) II Taxonomy of the H malaya-group, cladistics, ecology, biology, and biogeography, Entomologica Scandinavica, 20, pp 179-227
[17] Andersen N.M (1998), “Notes on the genus Eotrechus Kirkaldy (Hemiptera: Gerridae), with a cladistic analysis and a new species from China”, Steenstrupia,
24(1), pp 1-8
[18] Andersen N.M (2000), “The marine Haloveliinae (Hemiptera: Veliidae) of
Singapore, Malaysia and Thailand, with six new species of Xenobates Esaki”, The
Raffles Bulletin of Zoology, 48 (2), pp 273-292
[19] Andersen N.M & Chen P.P (1995), “A taxonomic revision of the ptilomerine
genus Rhyacobates Esaki (Hemiptera: Gerridae) with five species from China and adjacent countries”, Tijdschrift voor Entomologie, 138(1), pp 51-68 19, pp 327–345
14 Andersen N.M & Weir T.A (2004), Australian Water Bugs – Their biology and
identification (Hemiptera-Heteroptera, Gerromorpha & Nepomorpha),
Entomonograph 14, Apollo Books Csiro Publishing
[20] Andersen N.M., Yang C.M & Zettel H (2002), “Guide to the aquatic Heteroptera
of Singapore and Peninsular Malaysia 2.Veliidae”, The Raffles Bulletin of Zoology,
[22] Chen P.P & Nierser N (1993), “A taxonomic revision of the Oriental water
strider genus Metrocoris Mayr (Hemiptera, Gerridae) Part I.”, Steenstrupia, 19(1), pp
[24] Chen P.P., Nieser N & Zettel H (2005), The aquatic and semi-aquatic bugs
(Heteroptera: Nepomorpha & Gerromorpha) of Malesia, Fauna Malesia Handbook 5,
Boston
[26] Cheng L., Yang C.M & Polhemus J.T (2001), “Guide to aquatic Heteroptera of