1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của nhật bản vào việt nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do giữa việt nam và nhật bản (tt)

11 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 365,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do FTA, trong đó đã ký kết với các đối tác có nền kinh tế lớn như Nhật Bản trong k

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới Xu hướng này vừa thúc đẩy hợp tác phát triển, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới

có thể thiếu các hoạt động giao lưu kinh tế quốc tế

Trong thời gian qua, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những kết quả tích cực và có những tác động sâu đến kinh tế và xã hội Việt Nam Cùng với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó đã ký kết với các đối tác có nền kinh tế lớn như Nhật Bản trong khuôn khổ Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) và Hiệp định VJEPA, ký với EU trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), ký với Hoa Kỳ, Nhật Bản và 9 quốc gia khác trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)…

Thực tế cho thấy, thời gian qua, Nhật Bản luôn là một trong những nước có nguồn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam mạnh nhất Kể từ khi tham gia các Hiệp định thương mại

tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản là Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản và Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam đã tăng lên đáng kể do những thuận lợi mà các Hiệp định này mang lại cho các nhà đầu tư Nhật Bản.Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ, khả năng tận dụng những cơ hội từ hai Hiệp định trên để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian qua còn hạn chế, thể hiện vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng, đã tụt xuống vị trí thứ hai (sau Hàn Quốc) và

có xu hướng giảm xuống trong 2 năm gần đây Nguyên nhân chủ yếu là do không ít cán

bộ, doanh nghiệp và người dân còn thiếu thông tin, kiến thức và chưa biết cách khai thác những cơ hội từ Hiệp định AJCEP và VJEPA Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực thấp, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển và hoạt động xúc tiến đầu

Trang 2

tư chưa thực sự hiệu quả,… cũng là những yếu tố gây cản trở thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam và cần phải được giải quyết trong thời gian tới

ASEAN và Nhật Bản ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (AJCEP) vào tháng 4/2008 và tới 01/12/2008 thì bắt đầu có hiệu lực Hiệp định AJCEP được đánh giá là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) toàn diện trong nhiều lĩnh vực, bao gồm thương mại hàng hóa, đầu tư, dịch vụ và hợp tác kinh tế.Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) được ký kết vào ngày 25/12/2008 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/10/2009 Đây là FTA song phương đầu tiên của Việt Nam, trong đó cả Việt Nam và Nhật Bản dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với Hiệp định AJCEP Hai Hiệp định này

đã có những tác động không nhỏ, ảnh hưởng tới thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam Tuy nhiên thì việc tận dụng được những cơ hội thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam còn thấp Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do khi Hiệp định AJCEP và VJEPA đi vào thực hiện, nhiều doanh nghiệp vẫn còn thụ động trong việc tìm hiểu hai Hiệp định này và do đó, họ không có sự chuẩn bị trước và tìm cách để tận dụng những cơ hội do Hiệp định đem lại Trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý chưa thực

sự là cầu nối để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với Hiệp định VJCEP và AJCEP

Xuất phát từ thực tiễn hoạt động cũng như quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phù hợp với chuyên ngành đào tạo, người

viết đã chọn đề tài “Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản”

làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản

Luận văn có nhiệm vụ: hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về các Hiệp định

thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản (AJCEP và VJEPA), phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2006-2015, đánh giá đúng

Trang 3

và khách quan về những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản

3 Kết cấu luận văn

Với đối tượng nghiên cứu là lý luận và thực tiễn về tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của một quốc gia khi thực hiện các hiệp định thương mại tự do, bài luận văn được kết cấu gồm 3 chương (ngoài lời mở đầu, kết luận và các danh mục phụ thêm) trong đó:

Chương 1:Tổng quan chung về các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Nhật Bản ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

Chương 2:Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản

Chương 1:

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) được ký kết vào 04/2008 và tới 01/12/2008 thì mới có hiệu lực Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) được ký kết vào ngày 25/12/2008 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/10/2009 Hiệp định AJCEP và VJEPA có nội dung toàn diện bao gồm các lĩnh vực như thương mại dịch vụ, thương mại hàng hoá, cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, hợp tác về tiêu chuẩn kỹ thuật, di chuyển lao động Những lĩnh vực này đã tác động trực tiếp tới hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

Trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản, Việt Nam đã có rất nhiều những cơ hội trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam như: Việt Nam có thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam của Nhật Bản có thể nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu tốt từ Nhật Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì Việt Nam cũng gặp những thách

Trang 4

thức không nhỏ về vệ sinh an toàn thực phẩm, xuất xứ hàng hoá,… và những thách thức

về cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam để thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư Nhật Bản

Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam , trong đó bao gồm các nhân tố quốc tế như: xu hướng toàn cầu hoá và các liên kết khu vực đang hình thành ngày càng nhiều như sự ra đời của WTO, EU, ASEAN, các Hiệp định thương mại tự do; nền kinh tế toàn cầu đang theo xu hướng phát triển mạnh; khoa học – công nghệ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đó, việc Việt Nam thu hút được đầu tư trực tiếp của Nhật Bản còn phụ thuộc vào các nhân tố xuất phát

từ phía Nhật Bản như: Nhật Bản là quốc gia đang có dân số bị già hoá, vì vậy, quy mô lực lượng lao động đang ngày càng giảm, thiếu lao động một cách trầm trọng, khiến cho chi phí nhân công cao lên nhiều Ngoài ra, Nhật Bản là quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi các tác động của thiên nhiên như động đất, sóng thần Những trận động đất tại Nhật thường mạnh gây nên những cơn sóng thần lớn, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế, con người, của cải Đó là lí do các doanh nghiệp Nhật Bản đang có xu hướng tìm thị trường bên ngoài để đầu tư, tránh những rủi ro trên Bên cạnh đó, Nhật Bản là quốc gia có khoa học – kỹ thuật hiện đại, phát triển và đồng tiền Yên là một đồng tiền mạnh Đây là những lợi thế lớn của Nhật Bản khi đầu tư ra nước ngoài vì sẽ thu được lợi nhuận lớn Ngày nay, các Hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia trên thế giới đang gia tăng Nhờ những thuận lợi mà các Hiệp định thương mai tự do này mang lại mà các doanh nghiệp Nhật Bản đem đầu tư ra nước ngoài sẽ được đối xử công bằng và được lợi về thuế quan Ngoài

ra còn có các nhân tố từ phía Việt Nam khiến cho Nhật Bản có xu hướng đầu tư sang nhờ những lợi thế về chính trị - xã hôi, vị trí địa lí, nguồn nhân lực dồi dào, văn hoá khá tương đồng

Trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản, có hai quốc gia

là Singapore và Thái Lan là thành viên và đây là 2 quốc gia thu hút được tổng vốn đầu

tư từ Nhật Bản sang rất lớn Mỗi quốc gia đều có những kinh nghiệm riêng để thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản sang Việt Nam và mang lại những hiệu quả cao Vì vậy, Việt Nam có thể từ những kinh nghiệm đó để rút ra những bài học để tăng cường hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam có hiệu quả

Trang 5

Chương 2:

Nhật Bản là một quốc gia có quy mô đầu tư trực tiếp ra nước ngoài rất lớn, đặc biệt là những năm gần đây.Nhật Bản đã liên tục đầu tư ra nước ngoài với quy mô vốn hàng năm lên tới hơn 100 tỷ USD kể từ năm 2011 và đạt mức cao nhất là gần 140 tỷ USD vào năm 2013 Nhật Bản đang có xu hướng đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài cả về quy

mô và tốc độ.Hình thức đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản đa dạng, tuỳ thuộc vào tình hình nền kinh tế của từng quốc gia, nhưng trong đó có hai loại hình đầu tư phổ biến nhất là hình thức doanh nghiệp liên doanh và hình thức đầu

tư 100% vốn nước ngoài, Nhật Bản đầu tư ra nước ngoài ở rất nhiều các lĩnh vực nhưng tập trung nhiều nhất là các thiết bị máy móc, tài chính – bảo hiểm, thương mại

và bán lẻ, thiết bị giao thông vận tải Hiện nay, các nhà đầu tư của Nhật Bản đã đầu tư

ra hầu hết các khu vực trên thế giới với quy mô đầu tư rất lớn, tập trung nhiều ở khu vực Châu Âu, Châu Á và đag có xu hướng tăng dần ở khu vực Bắc Mĩ, trong đó, Hoa Kỳ luôn

là đối tác giành vị trí đầu bảng trong số các đối tác nhận đầu tư từ Nhật Bản

Về thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam thời gian qua thì Nhật Bản là quốc gia luôn giữ tốc độ đầu tư vào Việt Nam khá lớn, có tính ổn định cao, đứng thứ hai về lượng vốn đầu tư vào Việt Nam (tính đến 6/2016 với 40.45 tỷ USD và số

dự án là 3117 dự án) Năm 2008, AJCEP bắt đầu có hiệu lực thực hiện và năm 2009, VJEPA có hiệu lực Các FTA này đã có tác động không nhỏ tới việc thu hút đầu tư vốn đầu tư trực tiếp từ thị trường Nhật Bản vào Việt Nam Trước khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản thì Việt Nam thu hút được vốn đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào Việt Nam dao động khoảng hơn 1 tỷ USD, tăng dần từ năm 2006 là 1.04 tỷ USD với 97 dự án tới năm 2007 là 1.39 tỷ USD với 159 dự án Sau khi Hiệp định VJEPA có hiệu lực, số dự án và vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tăng lên liên tục trong 3 năm liền, từ 144 dự án với 2,399 tỷ USD vốn đầu tư năm 2010 lên đến 352 dự án với 5,875 tỷ USD vốn đầu tư Tuy nhiên, bước sang năm 2014, 2015, nguồn vốn đầu tư này vào Việt Nam bắt đầu giảm sút, chỉ còn 2,05 tỷ USD năm 2014,

và tiếp tục giảm xuống chỉ còn 1,842 tỷ USD năm 2015 Theo JETRO (2016), nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống luật pháp của Việt Nam chưa hoàn thiện, vận hành thiếu

Trang 6

minh bạch, thủ tục hành chính phức tạp và rào cản về ngôn ngữ, vấn nạn tham nhũng tại các dự án đầu tư có liên quan đến ODA Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chi phí lao động tăng nhanh, ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển và công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài chưa thực sự hiệu quả cũng được xem là những nguyên nhân dẫn đến vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam bị chững lại Ngoài ra, do nhu cầu tái thiết đất nước, Chính phủ Nhật Bản đang kêu gọi các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư kinh doanh trong nước cộng với đồng yên mất giá, đã dẫn đến các tập đoàn lớn của Nhật Bản hạn chế đầu tư ra nước ngoài

Về cơ cấu vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực, trong giai đoạn thực thi Hiệp định VJEPA vừa qua, dòng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam phân bố không đều, tập trung nhiều vào công nghiệp chế biến, chế tạo Đây cũng là những lĩnh vực mà các doanh nghiệp Nhật Bản có thế mạnh và phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam

Về địa bàn đầu tư, theo xu hướng chung của cả nước, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tập trung chủ yếu ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi Hiện tại, Nhật Bản đã đầu tư vào 49/63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó, địa phương dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư của Nhật Bản là Thanh Hóa với 10 dự án và 9,68 tỷ USD tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng vốn (chiếm 25,7% tổng vốn đầu tư) Hà Nội đứng vị trí thứ hai với 661 dự án và tổng vốn đầu tư là 4,1 tỷ USD (chiếm 10,9% ) Bình Dương đứng vị trí thứ 3 với 248 dự án và tổng số vốn là 3,58 tỷ USD (chiếm 10,2% ) Trong khi

đó, các tỉnh thuộc các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, nơi mà tư duy của chính quyền địa phương về hội nhập quốc tế còn chậm đổi mới, kết cấu hạ tầng chậm phát triển, chất lượng nguồn nhân lực thấp,… là những cản trở chủ yếu dẫn đến không thu hút được hoặc thu hút được rất ít vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung, vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản nói riêng Điều này đã góp phần dẫn đến mất cân đối đầu tư theo khu vực và tạo ra khoảng cách ngày càng lớn về trình độ phát triển kinh tế và thu nhập vùng miền

Về hình thức đầu tư, cũng giống như tình trạng của cả nước, các dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam chủ yếu là hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước

Trang 7

ngoài và hình thức liên doanh Điều này đặt ra yêu cầu là Việt Nam cần cải thiện môi trường pháp lý thuận lợi không những cho hình thức 100% vốn đầu tư của Nhật Bản phát triển, mà còn thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các hình thức khác, đặc biệt là hình thức doanh nghiệp liên doanh để bên đối tác Việt Nam dễ dàng học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ phía Nhật Bản, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động của các doanh nghiệp FDI

Thời gian qua, trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản, để đạt được những kết quả thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam như trên thì Việt Nam đã sử dụng một số biện pháp như: hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách, đơn giản các thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam; thông tin thông tin tuyên truyền về các FTA giữa Việt Nam và Nhật Bản thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tivi,… trên các website của các cơ quan, ban ngành như Trang thông tin điện tử thương mại công nghiệp VCCI, trang web của Bộ công thương, Bộ Kế hoạch đầu tư, trên các bản tin thời sự, ; cải cách thủ tục hành chính, ; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ và đưa ra các hoạt động xúc tiến đầu tư sang thị trường Nhật Bản,

Qua các biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản thì Việt Nam cũng đã thu được nhiều kết quả tốt như: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam

“ngày càng tăng cả về số dự án, vốn đăng kí và vốn thực hiện, trong đó dẫn đầu là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đang có xu hướng chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, tức là đầu tư nhiều hơn vào các ngành công nghệ cao, Điều này sẽ giúp phát triển năng lực công nghệ của nước ta trong thời gian tới Đây thực sự

là 1 thành công lớn của Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam

Bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam còn gặp khó nhiều khó khăn như: Việt Nam chưa thu hút được nhiều

Trang 8

tập đoàn lớn của Nhật Bản đầu tư, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tiến tới được chuỗi giá trị toàn cầu mà chủ yếu hợp tác sản xuất với các doanh nghiệp Nhật, trước hết là sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ở mức độ gia công thấp, mức độ tận dụng được các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản của các doanh nghiệp để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản vào Việt Nam còn rất hạn chế Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ Nhật Bản vào Việt Nam trong quá trình thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản gặp những hạn chế trên bởi những nguyên nhân sau: hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về FDI còn chưa đồng

bộ, thiếu các văn bản hướng dẫn, gây khó khăn cho các nhà đầu tư Nhật Bản; nhận thức

về các hiệp định thương mại tự do, trong đó có các FTA giữa Việt Nam - Nhật Bản và năng lực hội nhập quốc tế của các doanh nghiệp còn hạn chế; thủ tục hành chính còn nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp FDI từ Nhật Bản khi đầu tư vào Việt Nam; nguồn nhân lực ở Việt Nam chưa đáp ứng được những yêu cầu của các nhà đầu tư Nhật Bản; ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển và các hoạt động xúc tiến đầu tư vẫn còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam hai năm

2014, 2015 có xu hướng giảm cũng một phần do khách quan từ phía Nhật Bản: sau một loạt các thảm hoạ động đất, sóng thần, nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề nên Nhật Bản có

kế hoạch tái thiết lại các khu vực Vì vậy, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra những chính sách mới kêu gọi các doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường kinh doanh và đầu tư trong nước nhằm khôi phục và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế trong nước, đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời chính phủ Nhật Bản đã sử dụng biện pháp giảm giá đồng Yên

Chương 3:

Trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời gian tới, Việt Nam có những định hướng cho việc thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam cho đến năm 2020 như sau: Việt Nam đã chọn lựa phát triển

ưu tiên 6 ngành công nghiệp trong chiến lược công nghiệp hoá, đó là: sản xuất ô tô và phụ tùng ô tô, điện tử, chế biến nông, thuỷ sản, môi trường và tiết kiệm năng lượng, đóng tàu và máy nông nghiệp,… ; hướng dòng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các

Trang 9

ngành: công nghiệp, dịch vụ, thương mại; hướng dần các dự án này từ chiều rộng sang chiều sâu, từ các dự án thâm dụng lao động sang các dự án thâm dụng vốn Nhật bản là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực công nghệ Vì vậy cần có định hướng thu hút đầu tư mạnh

từ các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản thông qua những chính sách đầu tư

Trong thời gian tới, để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản thì có thể thực hiện một số các giải pháp bao gồm: Thứ nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu của các FTA giữa Việt Nam và Nhật Bản thông qua khắc phục các chồng chéo và mâu thuẫn còn tồn tại trong quy định của Luật Đầu tư 2015 và các luật khác, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu của Việt Nam và quốc tế Thứ hai là đẩy mạnh công tác cung cấp thông tin tuyên truyền về các FTA giữa Việt Nam và Nhật Bản tới các doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ quản lý để tìm cách để tận dụng những cơ hội do Hiệp định đem lại Thứ ba là tăng cường cải cách các thủ tục hành chính nhằm tạo nên một môi trường đầu tư thông thoáng, ổn định, thu hút các nguồn lực đầu tư từ Nhật Bản, phát triển nền kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các biện pháp như đơn giản hoá các thủ tục, thiết lập các cơ chế một cửa, rút ngắn thời gian cấp phép,…Thứ tư là đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp Nhật Bản Đào tạo cả về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, phong cách làm việc và cả ngôn ngữ cho lao động Việt Nam để có thể làm việc cho các doanh nghiệp đang đầu tư tại Việt Nam Thứ năm là tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ vào một số ngành, sản phẩm trọng điểm vì ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển thì có thể tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất của Nhật Bản thông qua việc đào tạo nhân lực về

kỹ thuật công nghiệp hỗ trợ, xây dựng các chiến lược phát triển, cải thiện chất lượng cơ

sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ,… Thứ sáu là đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư đối với các doanh nghiệp Nhật Bản với các hoạt động như: nghiên cứu, đổi mới nội dung cũng như hoàn thiện các cách thức thực hiện, tăng cường xây dựng mối quan

hệ hợp tác với nhà đầu tư Nhật Bản thông qua việc tìm hiểu, khai thác thông tin và các hoạt động đối ngoại, đẩy mạnh các hoạt động đi xúc tiến đầu tư,…

Trang 10

Để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời gian tới, tác giả có đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp như: nâng cao tiềm lực của các doanh nghiệp Việt Nam, chủ động tìm hiểu thông tin để nắm được những cơ hội và thách thức mà các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản đem lại, nghiên cứu sẵn các phương án xúc tiến đầu tư và lên kế hoạch rõ ràng để các hoạt động này mang lại hiệu quả, tăng cường liên kết, liên doanh với nhau để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ sản xuất, hỗ trợ nhau cùng tham gia vào chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu

KẾT LUẬN

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và quá trình Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đã, đang và sẽ tạo nhiều cơ hội cùng với những thách thức, khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế nói chung, thu hút FDI vào Việt Nam nói riêng Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) vào tháng 4/2008 nhưng tới 01/12/2008 thì bắt đầu có hiệu lực Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) được ký kết vào ngày 25/12/2008 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 1/10/2009 Đây là hai Hiệp định thương mại tự do mà trong đó cả Việt Nam và Nhật Bản dành nhiều ưu đãi cho nhau Hai Hiệp định này đã có những tác động không nhỏ, ảnh hưởng tới thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, tạo ra rất nhiều

cơ hội cũng như thách thức cho Việt Nam tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam Tuy nhiên, khả năng tận dụng những cơ hội từ hai Hiệp định này để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian qua còn hạn chế, thể hiện vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng,

đã tụt xuống vị trí thứ hai (sau Hàn Quốc) và có xu hướng giảm xuống trong 2 năm gần đây Nguyên nhân chủ yếu là do không ít cán bộ, doanh nghiệp và người dân còn thiếu thông tin, kiến thức và chưa biết cách khai thác những cơ hội từ Hiệp định VJEPA Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực thấp, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển và hoạt động xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả,… cũng là những yếu tố

Ngày đăng: 29/04/2021, 12:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w