Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống của con người từ xa xưa cho tới nay, không ai có thểphủ nhận vai trò to lớn của đất đai Đất đai là điều kiện tiên quyết không thểthiếu của bất kỳ nên kinh tế nào, ngay cả những nước phát triển đời sống kinh
tế chủ yếu là sản xuất công nghiệp - dịch vụ, cho đến những nước đang pháttriển nền kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp
Nước ta sau hơn 20 năm đổi mới đã có những thành tựu vượt bậc nhưnghiện vẫn đang là một nước nông nghiệp Vì vậy đất nông nghiệp đối với nước
ra ngày càng nhanh, ngày càng mạnh Đất nông nghiệp đang đứng trước nguy
cơ thu hẹp dần diện tích, do đó để có được hiệu suất sử dụng đất nông nghiệpngày càng cao và hợp lý, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất nôngnghiệp ngày càng phải hoàn thiện, chặt chẽ hơn nữa
Đối với huyện Thanh Trì, số lượng lao động làm trong ngành nôngnghiệp chiếm đa số( 68,9%), diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 53,6 %(thống kê năm 2005) qua đây để thấy được vai trò của đất nông nghiệp vớitoàn huyện và có nhận định đúng đắn hơn về công tác quản lý nhà nước vềđất nông nghiệp của huyện Thanh Trì.Qua thời gian thực tập tại Phòng Tàinguyên và Môi trường huyện Thanh Trì, nhận thức được tầm quan trọng của
công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp em đã lựa chọn đề tài “Tăng
Trang 2cường công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội’’ làm chuyền đề tốt nghiệp.
Đây là một nội dung trong 12 nội dung của công tác quản lý nhà nước
về đất đai Việc lựa chọn đề tài này nhằm mục đích củng cố thêm kiến thức đãđược học, bổ sung, mở rộng các lý thuyết đã được học, hệ thống hóa được các
lý luận và áp dụng lý luận vào thực tiễn
Dựa vào quá trình thực tập để tìm hiểu sâu về tình hình sử dụng đấtnông nghiệp và công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của huyệnThanh Trì Từ đó, đưa ra được các kiến nghị, với các cấp, các ngành, địaphương nhằm nâng cao chất lượng của công tác quản lý về đất nông nghiệptrên địa bàn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp là sản phẩm của sự nghiên cứu thực tiễncủa địa phương và nghiên cứu tổng hợp về lý thuyết Trong chuyên đề đã sửdụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp, phươngpháp điều tra, phương pháp phân tích…
Kết cấu của chuyên đề ngòai lới nói đầu và kết luận, chuyền đề gồm 3chương:
Chương I: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địabàn huyện Thanh Trì – Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì – Hà Nội
Do trình độ và thời gian hạn hẹp, nên chuyên đề không thể tránh khỏi.những sai sót, em rất mong nhận được những lời nhận xét và góp ý chochuyên đề hoàn thiện hơn
Trong thời gian qua, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình củacác cán bộ của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Trì – Hà Nội,các cô giáo, thầy giáo, đặc biệt là cô giáo Vũ Thị Thảo đã hướng dẫn em hoànthành chuyên đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Chương I:
Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1 Những vấn đề chung về đất nông nghiệp
1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Trước khi đi sâu tìm hiểu về đất nông nghiệp chúng ta tìm hiểu qua về
sự hình thành của đất đai trên bề mặt trái đất nói chung Đất đai được hìnhthành thông qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ vào sự phong hoá đá mẹ dưới sựtác động của không khí, gió, nước, sinh vật Sản phẩm của quá trình phonghoá đá đó là các chất vô cơ Như: N,C,S,Mg…Theo thời gian sản phẩm củaquá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của động vật,thực vật bị chết, phân, chất thải của động, thực vật (đây chính là một phầnnguồn dinh dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này)… và hìnhthành nên đất
Đất đai được hình thành trên bề mặt trái đất do đó đất đai là mộtkhoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu, lớp đấtphủ bề mặt,…); và theo chiều ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình,thuỷ văn, thảm thực vật…) Quỹ đất đai của mỗi vùng, địa phương luôn bịgiới hạn bởi địa giới hành chính của vùng, địa phương đó Quỹ đất đai củamột đất nước bị giới hạn bởi biên giới, địa giới lãnh thổ quốc gia, Và tổng quỹđất của tòan thế giới bị giới hạn bởi bề mặt trái đất, Chính vì thế không ai cóthể nói rằng đất đai là nguồn tài nguyên vô tận, không có giới hạn mà ngượclại đai có giới hạn
Con người từ thủa sơ khai, khi con người còn là con người nguyên thuỷcuộc sống mông muội dựa hoàn toàn vào đất đai Đất đai là nơi con ngườikhai thác, các loài động vật, thực vật bằng cách săn bắn, hái lượm, trú ngụ…Đất nông nghiệp cung cấp cho con người nguyên thuỷ tất cả những sản phẩmcần thiết của đời sống, đời sống con người những năm nguyên thủy là đờisống cộng đồng hoạt động sản xất nông nghiệp còn rất thô sơ, và đất đai là tư
Trang 4Dần dần, khi cuộc sống con người ngày càng phát triển, nhu cầu củacon người ngày càng tăng lên Con người nguyên thuỷ bắt đầu có những nhậnthức mới, những nhu cầu và sự thay đổi mới trong xã hội Lúc này, chỉ dựahoàn toàn vào thiên nhiên không có sự canh tác thôi không thể đáp ứng đựơcnhu cầu ngày một cao được nữa Từ đó con ngươì đã biết dựa vào đất nôngnghiệp để chăn nuôi,cày cấy, trồng trọt và từ đây cuộc sống con người bướcsang một thời kỳ mới, thời kỳ mà con người biết tự canh tác tạo ra của cải vậtchất cho bản thân, hạn chế ảnh hưởng của thiên nhiên đến đời sống Sản phẩm
mà con người tạo ra ngày càng đa dạng, đầy đủ hơn, Biết khai thác sức mạnhcủa đât nông nghiệp đời sống con người ngày càng tăng lên nhanh chóng, kéotheo nó là sự phát triển của xã hội, nền kinh tế và nhận thức
Cho đến ngày nay, khi con người đã thoát khỏi đời sống mông muộinhưng cuộc sống con người không thể tách rời khỏi đất nông nghiệp Dọctheo quá trình phát triển ta có thể thấy mục đích đầu tiên của con người đốivới đất đai là sản xuất nông nghiệp; và bây giờ có rất nhiều ngành sản xuấtmới ra đời, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ,sản xuất công nghiệp nặng…Con người vẫn không rời bỏ được nền sản xuấtnông nghiệp đã tồn tại từ rất lâu đời cho đến nay Như vậy, một nguồn đấttrong tổng quỹ đất của loài người là phục vụ cho mục đích trồng trọt, chănnuôi, nuôi trồng…Vậy quỹ đất đó được gọi là gì? Đất nông nghiệp được địnhnghĩa ra sao?
Theo luật đất đai năm 2003: “Đất nông nghiệp là đất được sử dụng vàomục đích sản xuất nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôitrồng thuỷ sản…,hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”
Đất đai khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được gọi làruộng đất Con người tác động vào đất nông nghiệp tạo ra của cải, vật chấtcho đời sống Đất nông nghiệp - ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là
tư liệu lao động của con người Lúc đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứngnhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh tế “tự cung tự cấp” Xã hội phát triển
Trang 5quá trình chuyên môn hoá xảy ra, nông phẩm không đơn chỉ để phục vụ chobản thân người sản xuất nữa Nông phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thịtrường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và cho toàn xãhội Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp – ruộng đất chiếm vịthế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người.
1.2 Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chung củađất đai đồng thời có những đặc điểm riêng của nó
1.2.1 Đặc tính hai mặt: Đất nông nghiệp không thể sản sinh và có khảnăng tái tạo
Như chúng ta đã biết về quá trình hình thành đất đai là quá trình của tựnhiên, đó là một quá trình dài, diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiều yếu
tố khác nhau, không thể ngày một ngày hai mà có khi là cả hàng ngàn hàngvạn năm mới hình thành nên được đất đai trên bề mặt trái đất Đất đai khôngthể di chuyển vị trí, nó có luôn luôn cố định (nó được hình thành ở đâu thìluôn ở đó, bản thân nó không thể di chuyển) đồng thời đất đai được hìnhthành với một số lượng hạn chế trên toàn cầu và phạm vi từng quốc gia Tính
cố định không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đất đai đồng thờicũng quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian (theo cả chiều rộng vàchiều sâu) gắn liền với môi trường mà đất đai phải chịu chi phối (nguồn gốchình thành,đá mẹ, các hệ sinh thái, khí hậu, chế độ mưa nắng…) Con ngườikhông thể tạo ra đất đai (đất nông nghiệp), quá trình hình thành nên đất đai làmột quá trình tự nhiên qua thời một khoảng thời gian dài, năng lực của conngười không đủ để tạo ra đất đai Chính vì vậy mà ta có thể nói đất đai (đấtnông nghiệp) không thể tái sinh
Tuy nhiên, con người - chủ thể hoạt động của nền kinh tế xã hội, Conngười tác động vào đất đai (đất nông nghiệp) theo hai hướng khác nhau: cóthể đó là tác động theo chiều hướng tích cực, có thể đó là tác động theo chiều
Trang 6lớn vào cải tạo và nâng cao chất lượng đất (đất nông nghiệp) khắc phục đượchiện tượng hoang hoá, khôi phục độ phì nhiêu của đất nông nghiệp, tạo ramột diện tích đất nông nghiệp mới cho sản xuất,Như vậy nếu biết cách gìngiữ và sử dụng thì đất đai vẫn có thể tái tạo lại, thực tế cũng đã chứng minhđiều đó,
Qua đây, có thể kết luận đẩt đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
có tính hai mặt: không thể tái sinh nhưng có khả năng tái tạo, Tính hai mặtnày rất quan trọng trong quá trình sử dụng đất, Một mặt, con người sử dụngđất nông nghiệp phải hết sức tiết kiệm, xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận khi phân
bố, sử dụng, chuyển mục đích sử dụng các loại đất, Một mặt, phải luôn chú ýứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng khả năng phục hồi sức sản xuất
và tái tạo đất nông nghiệp, phục hồi đất hoang hoá đưa vào sử dụng…,Trongquá trình sử dụng con người phải luôn biết cách khai thác đât đai (đất nôngnghiệp), không vắt kiệt khả năng sản xuất của đất đai (đất nông nghiệp)
1.2.2 Tính sở hữu và sử dụng
Có một thời xã hội loài người không có sự phân hóa, cuộc sống bầyđàn, mọi sản vật tìm được đều là của chung của toàn cộng đồng, ngay cả đấtđai Đất đai là sở hữu chung của cả bầy đàn, cộng đồng Cùng với sự pháttriển của xã hội chế độ sở hữu và chiếm hữu đất đai cũng phát triển theo Chế
độ chiếm hữu ruộng đất đã biến quyền sở hữu đất đai từ sở hữu chung của tậpthể, bầy đàn thành sở hữu tư nhân Cùng với quá trình thương mại hoá nềnnông nghiệp thì việc chia nhỏ quyền sở hữu đất đai
(đất nông nghiệp) và quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng là một tất yếu dĩnhiên dẫn đến quá trình bần cùng hoá nông dân những người luôn cần đếnđất đai như là một tư liệu lao động, đối tượng lao động trực tiếp Người nắmtrong tay đất đai là người có nhiều quyền lợi kinh tế lớn nhất trong nền sảnxuất xã hội, song song với nó người sở hữu đất đai còn nắm quyền các lực vềmặt chính trị Kẻ không có đất đai chỉ là kẻ làm thuê, làm công bị tách rakhỏi tư liệu sản xuất, mất đi tư liệu sản xuất Và như vậy, trong xã hội xuất
Trang 7hiện sự tách biệt giữa người sở hữu đất đai (đất nông nghiệp) và người sửdụng đất đất đai (đất nông nghiệp), người sở hữu đất nông nghiệp giờ đâykhông phải là người lao động trực tiếp mà trao quyền sử dụng, lao động trựctiếp đó cho các đôi tượng khác qua các hình thức cho thuê đất, giao đất, thuê,mướn (những đối tượng này cần có tư liệu sản xuất là đất đai nhưng lại bịtách khỏi quyền sở hữu đất)…
Người sở hữu đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất nông nghiệp, là người chủ sở hữu duy nhất đất nông nghiệp đượcnhà nước công nhận về mặt pháp lý, nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi hợppháp cho người sở hữu đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng Người
sở hữu đất nông nghiệp có quyền sử dụng, khai thác, mua bán, ứng dụngkhoa học vào sản xuất phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật nhàđặt ra…
Ở nước ta ngay sau ngày đất nước được giải phóng năm 1945 đất nướcbước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; và cho tới nay pháp luật nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà Nước làm đại diện chủ sở hữu”,Nhà nứơc thể hiện vai trò của mình thông qua việc
- Quyết định mục đích sử dụng đất
- Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Định giá đất
(Trích luật đất đai năm 2003)
Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi có từ đất nông nghiệpthu được bằng các chính sách tài chính về đất nông nghiệp như: chính sáchthuế sử dụng đất nông nghiệp, chính sách quy định về tiền thuê đất nôngnghiệp, thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp… Là ngườiđại diện chủ sở hữu đất nông nghiệp trên phạm vị cả nứơc nhưng nhà nước
Trang 8sử dụng đất nông nghiệp cho những người có nhu cầu sử dụng đất nôngnghiệp thông qua hình thức: giao đất, cho thuê đất…Người sử dụng trực tiếpđất nông nghiệp, được nhà nước ban một số quyền đối với đất nông nghiệpnhư: sử dụng, chiếm hữu, định đoạt nhưng các quyền mà nhà nước ban chocác các nhân, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp chỉ là các quyền hạn chế,không phải là quyền tuyệt đối hoàn toàn, người được nhà nước giao đất, chothuê đất không có quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng tối cao, nhữngquyền này là của nhà nước Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tạo ra nhiềuthuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và quản lý nhànước về đất nông nghiệp nói riêng, Nhà nước có thể thu hồi, điều chỉnh, giaođất, quyết định mục đích sử dụng của đất đai sao cho phù hợp với yêu cầucủa sự phát triển Khi cần thu hồi, lấy lại đất nông nghiệp nhà nước có thể bồithường cho cá nhân, tổ chức sử dụng đất tiền bồi thường thiệt hại, nếu người
sử dụng đất không chấp nhận với mức đền bù, hay vì lý do khác thì nhà nước
có quyền cưỡng chế đối với trường hợp đó
1.2.3 Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú
Trên bề mặt trái đất đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêngđược hình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốcsinh ra đất đai Đất nông nghiệp được tạo ra mang những tính chất khác nhauphụ thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp đất nông nghiệp đó Chính vì vậy
mà chúng ta có những loại đất nông nghiệp khác nhau như: đất phù sa, đất đỏbazan, đất sét thịt, đất cát…Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại đất nông nghiệpkhác nhau có tính chất và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại.Thậm chí trong một loại đất nông nghiệp đó không phải ở đâu loại đất
đó cũng giống nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơgiới, độ phì nhiêu của chúng là khác nhau Ví dụ như: đất nông nghiệp dophù sa Sông Hồng thường mang tính chất cơ giới nhẹ, nhiều kiềm Phù saSông Cửu Long thường mang tính chất cơ giới nặng hơn phù sa Sông Hồng,
Trang 9Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu,điều kiện tự nhiên của địa phương nơi đất nông nghiệp phân bố mà con ngườilựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao chophù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa Tính đa dạng và phong phúcủa đất nông nghiệp vì thế cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người Mỗimột địa phương một loại đất, một tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩmkhác nhau, phù hợp và như thế con người sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp
đa dạng và phong phú hơn Một số vùng có thể hình thành nên nền sản xuấtchuyên canh cây, con đặc sản mà không vùng nào có thể có đựoc mang lại giátrị kinh tế cao
1.3 Phân loại đất nông nghiệp
Phân loại đất nông nghiệp là một việc làm quan trọng cho công tác sảnxuất, quản lý đất nông nghiệp Dựa vào sự phân loại đó con người có thể xácđịnh được mục tiêu sản xuất, cây con giống phù hợp, chế độ chăm sóc hợp lý,
…Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân chia đất nông nghiệp Có thể phânchia đất nông nghiệp dựa vào: mục đích sử dụng, tính chất đất, độ Ph, thànhphần cơ giới…
Theo luật Đất đai năm 1993 thì:
Đất đai được chia thành 6 loại, trong đó đất nông nghiệp gồm các loạiđất sau:
Trang 10- Đất vườn tạp
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản:
Nuôi cá
Thuỷ sản khác
(Trích luật đất đai năm 1993)
Theo luật đất đai năm 2003 điều 13 quy định: đất đai chia làm ba nhómnhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng,Trong đó đất nông nghiệp gồm có:
- Đất sản xuất nông nghiệp gồm:
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của chính phủ
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Ta có thể nhận thấy sự thay đổi rất lớn giữa cách phân loại đất của luậtĐất đai năm 1993 và luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2003 đã quyđịnh chi tiết và cụ thể hơn, các loại đất đã được phân chia theo đúng mục đích
sử dụng Sự thay đổi có thể thấy rõ, một số loại đất chuyên dùng và đất nôngnghiệp nay chuyển sang đất phi nông nghiệp nông nghiệp Sự đổi mới này thể
Trang 11hiện một tư duy mới tránh xảy ra sự trùng lặp, chồng chéo trong phân chia cácloại đất như trước đây.
Ngoài ra, việc phân chia đất nông nghiệp còn theo nhiều cách khácnhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau Ví dụ, phân chia đất nông nghiệpdựa trên đặc tính đất đai, thổ nhưỡng của đất đai
Hay ta có thể phân chia đất nông nghiệp theo phân bố vị trí địa lý, tínhchất màu mỡ của đất đai, độ phì nhiêu của đất nông nghiệp…Ta có đất nôngnghiệp phân bố ở đồng bằng, đất nông nghiệp phân bố ở miền trung du,…Đấtnông nghiệp có tính chất màu mỡ cao, đất nông nghiệp độ phì thấp, đất nôngnghiệp có tính chất màu mỡ trung bình…
2 Vai trò đất nông nghiệp
2.1 Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
- Là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được
Đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốcgia, là điều kiện tồn tại, là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được cho sảnxuất cơ bản Quả thật, trong quá trình sản xuất tồn tại của con người, conngười không thể tách rời đất đai
Vai trò của đất đai trong ngành trồng trọt và ngành sản xuất nôngnghiệp còn được thể hiện rõ ràng hơn
Thứ nhất, đất nông nghiệp là đối tượng của sản xuất thể hiện ở chỗngười sản xuất tác động vào đất đai để sản xuất ra của cải nông nghiệp như:lương thực, thực phẩm, rau quả, động vật… Nhờ vào khoa học kỹ thuật, sựtiên tiến của công nghệ con người đã tác động làm thay đổi tính chất, độ phìcủa đất để phục vụ mục đích cuối cùng là sản lượng cây trồng ngày càng cao,chất lượng cây trồng ngày càng tăng lên không ngừng, khả năng chống chọivới những tác động bất lợi đến cây con nuôi trồng ngày càng lớn
Hoạt động của con người tác động vào đất có thể là trực tiếp hay giántiếp Con người trực tiếp tác động vào đất đai như là một tư liệu sản xuất, đối
Trang 12đất đai gián tiếp như: sản xuất phân bón, hoá chất…ứng dụng vào đất đai Tất
cả để phục vụ cho đời sống của con người
Thứ hai, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất, từ đất nông nghiệp cây cối,động vật được trồng trọt, chăn nuôi cho ra sản phẩm Đất nông nghiệp lànguồn cung cấp môi trường sống cho động, thực vật các nguồn khoáng sản
và dinh dưỡng cho sự sống của thực vật Trong đất nông nghiệp chứa đầy đủthức ăn, dinh dưỡng, không khí…mà cây con trồng cần thiết cho sự sống.Chính vì vậy người sản xuất đã có trong tay một tư liệu sản xuất vô cùngquan trọng không thể thay thế được
Mặt khác, mặc dù con người đã có sự cố gắng để tạo ra sản phẩm nôngnghiệp mà không cần dùng đến đất đai như: trồng cây trên nước, trồng câybằng dung dịch dinh dưỡng…Nhưng chưa có một quốc gia nào có thể táchrời trồng trọt với đất nông nghiệp cả Những sản phẩm tạo ra từ những thínghiệm chỉ là một khối lượng rất nhỏ và năng suất rất thấp, Điều này càngchứng minh sự cần thiết, và tầm quan trọng của đất đai nói chung và đất nôngnghiệp Có thể khẳng định con người luôn cần đến đất nông nghiệp để sảnxuất và đó là tư liệu sản xuất không thể thay thế được
2.2.Việc sử dụng đất nông nghiệp là một trong những yếu tố quyết địnhđến bảo vệ môi trường sinh thái của cuộc sống
Đất nông nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành nên môi trường,gắn liền với môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái Theo quy luật củamối liên hệ phổ biến thì để có được môi trường trong sạch các yếu tố trongmôi trường phải được bảo vệ và trong lành, nếu không yếu tố này sẽ ảnhhưởng đến yếu tố khác, một yếu tố không được bảo vệ có thể gây ảnh hưởngxấu đến các yếu tố khác và như thế môi trường sẽ bị ô nhiễm
Nếu đất nông nghiệp không có được môi trường trong sạch hiệu quả sửdụng đất nói chung sẽ giảm sút đáng kể Chúng ta có thể thấy nếu đất đai bị ônhiễm hậu quả tất yếu là nguồn nước bị ô nhiễm, không khí bị ô nhiễm, môitrường sống bị ô nhiễm…Con người khai thác đất đai không có ý thức
Trang 13thường chỉ xét đến các lợi ích trước mắt mà không thể nhìn thấy được lợi íchlâu dài Điều này càng làm suy giảm môi trường của cuộc sống hơn.
Tuy nhiên, con người có thể tác động lên đất đai theo hai mặt: một mặttiêu cực làm đất nông nghiệp và môi trường xấu đi Một mặt tích cực làm đấtnông nghiệp và môi trường tốt lên
Con người - chủ thể của hoạt động kinh tế - xã hội hoàn toàn có thể tạo
ra môi trường trong sạch cho đời sống của bản thân và cộng đồng bằngnhững hành vi tích cực: dùng phân bón hợp lý, không phá rừng ồ ạt, không
bỏ hoang hoá, khai thác đất đai hợp lý, năng suất, hiệu quả…Những hànhđộng này làm một trong những tác nhân quan trọng trong bảo vệ môi trườngnói chung và đất nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên, môi trường trong sạch làđóng góp chung của toàn xã hội, của toàn cầu, của cả thế giới, của cả cộngđồng loài người không phải là nhiệm vụ của riêng ai Do đó, cần có sự nỗ lựcchung và một chiến lược hợp tác, giúp đỡ, làm việc có hệ thống trên tầmquốc tế
2,3, Đất nông nghiệp là nguồn cung cho các mục đích sử dụng
Như Adam Smith đã nhận định “đất, trong hầu hết các tình huống sảnsinh ra một lượng lương thực nhiều hơn so với khối lượng đủ để duy trì sựsống của ngươi lao động”
Nói như vậy có nghĩa là đất nông nghiệp có thể sản sinh ra một lượngsản phẩm thừa đủ để cung cấp cho bản thân người nông dân sản xuất, mộtphần sản phẩm dư thừa còn lại sử dụng vào đâu? trong xã hội, quá trình traođổi, mua bán xảy ra và sản phẩm dư thừa được người sản xuất đưa ra thịtrường cung cấp cho xã hội, các cá nhân khác Cùng với khoa học công nghệcàng phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật vào sản xuất nôngnghiệp ngày càng nhanh và mạnh theo cả chiều sâu (khoa học và công nghệ
áp dụng hiệu quả, ngày càng mạnh, càng hiện đại) và chiều rộng (khoa họccông nghệ áp dụng vào hầu hết các công đoạn, các giai đoạn sử dụng đất, trên
Trang 14học công nghệ, con người có thể tạo ra một khối lượng lớn hơn nữa các sảnphẩm nông nghiệp Như vậy con người không cần phải sử dụng một diện tíchquá lớn để sản xuất ra sản phẩm đầy đủ cho đời sống, họ có thể sử dụng mộtdiện tích nhất định cũng đã đủ cung cho nhu cầu của xã hội Diện tích đấtnông nghiệp cần sử dụng cho quá trình sản xuất so với trước kia giảm xuống,Diện tích đất nông nghiệp dôi ra dùng vào đâu?
Quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, ngành sản xuất côngnghiệp và dịch vụ ngày càng mở rộng Nhu cầu đất đai phục vụ cho mục đíchsản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Quá trình chuyển dịch cơcấu đất đai cho các mục đích sử dụng của con người cũng xảy ra sao cho phùhợp Đất nông nghiệp sẽ là nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụngkhác, quỹ đất nông nghiệp được cắt để phân bổ cho mục đích sử dụng khác.Đối với nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn phụ thuộc nhiềuvào nền sản xuất nông nghiệp do vậy diện tích đất nông nghiệp còn chiếm tỷtrọng lớn trong quỹ đất của quốc gia Tuy có diện tích khá lớn khoảng 22 triệu
Ha (năm 2004) nhưng đất nông nghiệp chưa được khai thác đúng mức, hiệuquả và năng suất còn thấp, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp sovới thế giới Vì vậy, cần thiết phải chuyển một số diện tích đất nông nghiệpsang mục đích khác nhằm mang lại hiệu quả cao hơn Trong quá trình côngnghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước, cơ cấu nền kinh tế đang chuyển đổimạnh mẽ từng ngày, diện tích đất cần cung cấp cho mục đích xây dựng, giaothông, đất ở, đất khu công nghiệp, thương mại…gia tăng nhanh chóng Quỹđất nông nghiệp là một nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng đấtkhác cho nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và sẽ được chuyển sangmục đích phi nông nghiệp đã mang lại những hiệu quả lớn lao cho đất nước.Tuy nhiên, sự chuyển đổi này cần phải có tính toán và có quy hoạch rõ ràng,thực tế và mang tính dự báo cao…Trong hệ thống các điều khoản của Phápluật nước Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ cho các trường hợp điều
Trang 15chỉnh các quỹ đất nhằm cân đối các nhu cầu và bảo đảm diện tích đất nôngnghiệp cần thiết của xã hội.
3, Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp
3.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp
Như chúng ta đã biết bản chất của công tác quản lý nhà nước là sự tácđộng một cách có tổ chức, hệ thống nhằm mục đích điều chỉnh các hành vicủa con người, tổ chức, cá nhân…bằng quyền lực của nhà nước để hướng ýchí và mục đích của họ theo mục đích chung của toàn xã hội
Nhà nước tác động lên các đối tượng thông qua công việc thiết lập cácmối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thểvới nhau, quan hệ giữa cá nhân với tập thể… các mối quan hệ tồn tại trong xãhội là rất nhiều, tất cả các mối quan hệ đó đều cần phải được điều chỉnh để lợiích của người này không làm xâm phạm lợi ích của người khác, đảm bảođược lợi ích của đất nước
Trước hết nhà nước vừa là một cơ cấu có tổ chức bao gồm một hệthống các cơ quan từ trung ương đến địa phương Những tác động của nhànước lên các đối tượng quản lý là các tác động có tổ chức chứ không phải tácđộng một cách đơn lẻ đến một cá nhân, chủ thể đơn giản trong xã hội Mà sựtác động đó đặt trong hệ thống tổng hòa các mối quan hệ của xã hội bao hàmtòan bộ các cá nhân, tổ chức, thành phần kinh tế Tính tổ chức đó đặt ra vấn
đề là làm sao hình thành nên các tổ chức, bộ máy quản lý với cơ cấu và cơchế hoạt động thích hợp Mặt khác, các tổ chức, bộ máy đó hoạt động như thếnào? Sự phối hợp hoạt động, phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các cánhân, tổ chức như thế nào? Để bộ máy nhà nước quản lý mang lại hiệu quả tối
ưu, đạt được mục tiêu đã đề ra Đó là một vấn đề lớn đối với công tác tổ chức
bộ máy quản lý Nhà nước
Nhà nước còn tạo lập nên bộ máy sức mạnh về pháp luật, an ninh, bộmáy áp chế… để thực hiện công tác quản lý của mình đưa cá nhân, tổ chức
Trang 16ích đó không gây ảnh hưởng xấu đến xã hội Sự tồn tại của bộ máy áp chếtrong cơ cấu các cơ quan chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó làđiều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cầnthiết.
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể vàđối tượng quản lý Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từtrung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,,, và toàn bộ các cán bộcông nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước
…Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xãhội… Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, cáchoạt động, các mối quan hệ có liên quan Riêng trong lĩnh vực quản lý Nhànước về đất đai chủ thể quản lý nhà nước về đất đai (cụ thể ở đây là đất nôngnghiệp) thì nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý
là các cá nhân, tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp,
có liên quan đến đất nông nghiệp…Và đối tượng của công tác quản lý nhànước về đất nông nghiệp là những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc,vấn đề có liên quan đến đất nông nghiệp xảy ra trong xã hội
Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, Nhà nước
có các vai trò và nhiệm vụ quan trọng sau:
- Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất đai (đất nông nghiệp) trên phạm vi
cả nước Như đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nôngnghiệp của cả nước Đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý của công tác quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp, Chính vì vậy nhà nước phải thống nhất quản
lý đất đai (đất nông nghiệp) trên phạm vi cả nước Mục đích của việc này làmang lại lợi ích chung cho xã hội đảm bảo sử dụng đất (đất nông nghiệp) hợp
lý và hiệu quả cao nhất, có tầm nhìn xa vì mục đích chung của cộng đồng.Song song với nó Nhà nước luôn có các chế tài để đảm bảo quyền lợi, tráchnhiệm của mình và của người sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và đất đainói chung Người sử dụng đất nông nghiệp phải tuân thủ các quy định đã đặt
Trang 17Nếu không chấp hành các quy định đó thì người sử dụng đất đã vi phạm phápluật có thể bị phạt, thu hồi đất, tịch thu tài sản…Nhà nước thực hiện công tácquản lý qua những nhiệm vụ sau:
- Nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh
tế để định hướng cho quá trình sử dụng đất Nhà nước là người có các quyềntuyệt đối với đất đai: định đoạt, chiếm hữu… Do đó, nhà nước có quyền quyếtđịnh mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng… của đất đai (đất nông nghiệp).Trước hết nhà nước xác định tính chất, hiện trạng, đặc tính của đất đai (đấtnông nghiệp) từ đó xác định được mục đích sử dụng của các loại đất ở từngvùng, địa phương, nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực sao chophù hợp Qua quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được thông qua nhà nước
đã điều tiết các quỹ đất trong nền kinh tế, nhà nước quyết định mục đích sửdụng đất của vùng, địa phương… Người sử dụng đất tuân thủ theo quy hoạch,
kế hoạch của nhà nước đã được thông qua Mô hình chung mục đích sử dụng,
cơ cấu sử dụng, diện tích của các loại đất phân bổ…được thực hiện bởi ngườidân nhưng người xác định là Nhà nước Do đó, nhà nước có được chiến lượcphát triển lâu dài, bền vững cho đất nước
- Công tác kiểm kê, đánh giá phân hạng đất nông nghiệp là một việclàm không thể thiếu được của công tác quản lý nhà nước về đất đai (đất nôngnghiệp) Hàng năm nhà nước phải nắm bắt được cụ thể diện tích, chất lượng,mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng của các loại đất nói chung và của đấtnông nghiêp nói riêng, có như thể mới có thể tạo lập được quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, lâu dài, tính dự báo cao… Để cóđựơc điều đó đòi hỏi công tác kiểm kê đánh giá phân hạng đất nông nghiệpphải được thực hiện triệt để, theo đúng luật, đúng kế hoạch đề ra Công tácnày không những giúp cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất (đất nông nghiệp) mà nó còn đóng góp rất lớn cho công tác quản lýtài chính về đất nông nghiệp của nhà nước ta Tạo một nguồn thu quan trọng
Trang 18Nhà nước tính thuế đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền đềnbù…dựa trên khung giá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra nhiềuloại mỗi loại có một khung giá khác nhau Để phân chia được đất nông nghiệpthì công tác đầu tiên là phân hạng, đo đạc, đánh giá đất Qua đây ta có thểthấy vai trò lớn của công tác đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai.
- Đất đai là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào Giá trị của đấtđai ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất đai ngày càngphức tạp hơn Con người đã nhìn nhận thấy được tính quan trọng của đất đạiđối với đời sống của mình Chính vì vậy, các tranh chấp, mâu thuẫn, khiếukiện… trong các quan hệ đất đai thường nổ ra mạnh mẽ, Trong công tác quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp, cán bộ, công nhân viên chức có thể lợi dụngquyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân, lợi íchcủa người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của người khác,Chế tài Nhànước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất nông nghiệp,đảm bảo công bằng Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạmtrong lĩnh vực đất nông nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm các viphạm
Trong xã hội nước ta, một thời đất đai được xem như “ vô giá” đơngiản là vì đất đai không được mua bán trên thị trường Ngày nay, đất đai làmột tài sản có giá trị lớn, được phép mua đi bán lại Những mâu thuẫn trongmua bán, cạnh tranh, đất đai nổ ra thường xuyên Ngòai ra còn có nhiều loạihình khác như: thế chấp đất đai, cho thuê đất đai, …Nhiều mối quan hệ nảysinh nhiều vấn đề phát sinh cần phải điều chỉnh Để giảm thiểu những tác hại
có thể, công tác thanh tra, kiểm tra phải đặt lên hàng đầu
3.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Như đã trình bày ở trên đất nông nghiệp đóng vai trò to lớn đối vớicuộc sống của con người Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu đất đai thay đổitheo hướng chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế Vì vậy, trong tổng quỹ đấtkhông đổi thì đất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần diện tích do phải
Trang 19chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác (đất dùng cho công nghiệp,đất dùng vào mục đích thương mại, đất ở…) Nói như vậy nhưng không thểphủ nhận hoàn toàn đất nông nghiệp trong đời sống của con người ngày nay.
Để tồn tại con người luôn cần đến thức ăn, rau quả, củ, sản phẩm của nềnnông nghiệp - những nguồn cung cấp này chỉ có thể thỏa mãn được dựa vàosức mạnh canh tác đất nông nghiệp Dù gì đi nữa trong tổng quỹ đất của mỗiđất nước phải luôn có một quỹ đất nông nghiệp cần thiết với mục đích của sựđảm bảo một quỹ đất nông nghiệp hợp lý là bảo đảm quỹ lương thực, an ninhlương thực của quốc gia
Đứng trước sức ép của sự phát triển kinh tế, đất nông nghiệp phải cóđược sự quản lý và sử dụng hợp lý để không còn việc sử dụng tràn lan nếukhông có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, không những ảnh hưởngđến thế hệ này mà còn ảnh hưởng đến thế hệ sau, dẫn tới nguy cơ phá huỷ sựphát triển bền vững của thế giới
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc hàng năm có hàng vạn ha đất nôngnghiệp bị hoang hoá, bị sa mạc hoá, mất tính canh tác, bị bỏ không không aicanh tác Mỗi giây đồng hồ trôi qua có gần 20 ha bị hoang hoá, sa mạc hoá,Đây là một mối đe doạ lớn đối với quỹ đất nông nghiệp trên thế giới
Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước
ta đã đề ra nhiều tư duy, phương hướng phát triển và đổi mới cho đất nước.Nước ta xác định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nềnkinh tề thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sau hơn 20 năm đổi mới đấtnước bước đầu đã thu được rất nhiều thắng lợi như: DGP đầu người khôngngừng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế
từ 7% trở lên, thoát khỏi đói nghèo, đói ăn…Từ một đất nước đói nghèo, sốngnhờ vào viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứngnhất nhì thế giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà cònthoả mãn nhu cầu xuất khẩu nông phẩm Đất nông nghiệp là một tiềm lực to
Trang 20động, phong tục tập quán, trình độ phát triển… nếu biết cách khai thác và sửdụng sẽ là một tài nguyên vô giá cho sự phát triển của đất nước
Đất nước mở cửa phát triển, trong xu thế giao lưu hợp tác với các nướckhác trên thế giới, nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thể giới WTO
cơ hội và thách thức đang chờ đón Vấn đề lớn của nước ta trên con đườngphát triển là nguồn vốn, làm sao để thu hút được nhiêu nguồn vốn đầu tư từnước ngoài Nguồn vốn đối ứng để chúng ta đưa ra thu hút đầu tư chính là đấtđai, Bản thân đất đã mang lại một nguồn vốn lớn các doanh nghiệp, công ty,
tổ chức ngay trên sân nhà, tạo nhiều thuận lợi cho công cuộc hội nhập, hợptác quốc tế của nước
Các mối quan hệ liên quan đến đất đai vì vậy mà cũng trở nên đa dạng
và phức tạp hơn, không chỉ là mối quan hệ trong nước như trước kia nữa màphát triển hơn liên quan đến cả yếu tố nước ngoài Nhà nước chủ thể quản lýcủa xã hội, phải quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng mộtcách hợp lý, có các chế tài mới phù hợp với xu thế hội nhập để có được hiệuquả sử dụng tối ưu, lâu dài, bền vững…đảm bảo được nền độc lập dân tộc,phát triển kinh tế.Trong các chế tài quản lý Nhà nước đã có và đâng dần hoànthiện những quy định liên quan đến yếu tố nước ngoài giúp cho quá trình hộinhập của nước ta
Thực tế cho thấy, công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đấtnông nghiệp nói riêng đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trong suốt thờigian qua Đó là những tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách hành chính,nâng cao chất lượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp phục
vụ nhân dân ngày càng tốt hơn nữa Mong rằng trong thời gian tới Đảng vàChính phủ sẽ có phương hướng, biện pháp và hoàn thành tốt công tác quản lýcủa mình
4 Những quy định pháp lý về công tác quản lý nhà nước về đất nôngnghiệp,
4.1 Nội dung công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Trang 21Theo luật đất đai năm 2003 nội dung của công tác quản lý nhà nước vềđất đai nói chung gồm có 12 nội dung Tuy nhiên, đối với đất nông nghiệp làmột bộ phận của tổng quỹ đất đai, nó mang những đặc thù riêng biệt, chính vìvậy mà nội dụng của công tác quản lý của nhà nước về đất nông nghiệp cũng
có nhiều khác biệt Công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp có thể kháiquát ở các nội dung dưới đây:
4.1.1 Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và
tổ chức thực hiện văn bản đó
Để đảm bảo được vai trò quản lý của mình, bất kỳ một nhà nước nàocũng tạo ra và thực thi một chế tài phù hợp Những chế tài này là tiền đề,hàng lang cho lĩnh vực áp dụng Không có một quốc gia nào có thể có đượchiệu quản quản lý mà không cần đến chế tài Ngay cả ở nước ta, hệ thốngvăn bản điều chỉnh các mối quan hệ đất đai nói chung và đất nông nghiệp nóiriêng rất đa dạng Đó là những công cụ để nhà nước thực hiện đuợc quyềnquản lý của mình
Trên cơ sở hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai 1993 được ban hànhnhằm mục đích thể chế hoá các chính sách đất đai góp phần hoàn thiện chínhsách đất đai, từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước Luật Đất đaicũng đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2005 sao chohoàn thiện hơn với tình hình sử dụng đất, chế độ sở hữu của đất nước
Luật đất đai năm 2003 ra đời với nhiều nội dung mang tính chất đổimới (ví dụ như: sự phân chia đất theo tiêu chí mục đích sử dụng) là một bướctiến quan trọng trong sự phát triển của hệ thống văn bản pháp luật về đấtđai.Tiếp theo đó nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện luật Đất đai năm 2003
đã được ban hành: luật, pháp lệnh,quyết định, nghị định, thông tư… đểhướng dẫn, quy định cho công tác quản lý các cấp, các ngành, các vùng, cácđịa phương Các hoạt động, mối quan hệ liên quan đến đất đai còn được điềutiết thông qua một loạt bộ luật khác như: Luật Dân sự, Luật thuế sử dụng đất
Trang 22nông nghiệp, Luật hình sự…và các văn bản khác hướng dẫn thi hành, ápdụng luật có liên quan.
4.1.2 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồhiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai trên bề mặt trái đất có nhiều loại, nhiều tinh chất, nhiều vùng,nhiều tính chất khác nhau chúng được sử dụng vào nhiều mục đích khácnhau Để có một cơ chế quản lý phù hợp, có được định hướng, quy hoạch và
kế hoạch phù hợp với địa phương, tỉnh, thành phố, cả nước Việc đầu tiên bắtbuộc nhà nước phải nắm được các thông tin về đất đai như: Diện tích, loạiđất, tình hình sử dụng, phân bố, mục đích sử dụng,… Những thông tin này sẽđóng góp rất lớn cho công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đấtnông nghiệp nói riêng
Đối với đất nông nghiệp để quản lý được đất nông nghiệp một cách có
hệ thống nhà nước cũng cần những thông tin về đất nông nghiệp: diện tích,tình trạng sử dụng, mục đích sử dụng (trồng cây ngắn ngày, dài ngày…) Từnhững thông tin về đất nông nghiệp người quản lý có được kế hoạch sử dụnghợp lý và cho ra những quyết định sử dụng đứng đắn, giúp cho nền nôngnghiệp của đất nước phát triển đóng góp cho sự phát triển xã hội…Trongquá trình quản lý, sau khi tìm hiểu đưa ra quyết định, song song thực hiệnquyết định người quản lý phải thu thập tiếp những thông tin về đất nôngnghiệp để biết được tình hình đất nông nghiệp đang diễn biến như thế nào từ
đó có những điều chỉnh, sửa đổi kế hoạch, quy hoạch, pháp luật đất đai …Như vậy những đặc điểm của đất nông nghiệp là rất quan trọng trong côngtác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp Chính vì vậy, nhà nước phải tiếnhành khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồ hiệntrạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Việc đo đạc, khảo sát, phân hạng đất nông nghiệp là một công việc hếtsức khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, kỹ thuật, chi phí, phải tiến hành trênthực địa rất vất vả,công phu, phụ thuộc vào thời tiết, địa hình…Nhà nứơc ta
Trang 23đã nhận thấy được vai trò quan trọng của công tác đo đạc, đánh giá , phânhạng đất đai …nên từ rất sớm đã tiến hành đo đạc bản đồ, đánh giá, phânhạng đất Tuy có nhiều trở ngại lớn do kinh phí, công nghệ, kỹ thuật, nguồnlực,, còn yếu nhưng nhà nước ta vẫn luôn coi trọng và cố gắng làm tốt côngtác trên
Nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nước ta đã áp dụng nhiềutiến bộ khoa học kỹ thuật của thể giới như: hệ thống định vị GPS, hệ thốngthông tin địa lý GIS, viễn thámcông nghệ kỹ thuật số, công nghệ ảnh số …chính vì vậy công tác đo đạc, phân hạng, đánh giá… đã có rất nhiều bướcphát triển trong thời gian qua Trên cơ sở bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng
sử dụng đất và các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra, khảo sát(diện tích, mục đích sử dụng, hiện trạng sử dụng…) các cấp có thẩm quyềnthiết lập bản đồ quy hoạch, kế hoạch cho từng loại đất (đất nông nghiệp, đấtcông nghiệp, đất ở) trên từng phạm vị và trên toàn lãnh thổ, phù hợp với quyhoạch, kế hoạch chung
- Việc đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp phải dựa vào cơ sở khoahọc, Tuân thủ các căn cứ để phân hạng đất nông nghiệp như: chất đất, vị trí,địa hình, điều kiện khí hậu, thành phần cơ giới của đất…
Công tác đánh giá, điều tra, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng, phân hạngđất nông nghiệp là một công tác rất quan trọng Đó là cơ sở tiên quyết đầutiên đáp ứng cho công tác quản lý nhà nứơc về đất nông nghiệp, cho công táclập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất…căn cứ để xác định tiền thuê đất, tiền
sử dụng đất,thuế chuyển quyền sử dụng đất…Thực hiện nghĩa vụ tài chínhđối với nhà nước, tạo nguồn thu cho ngân sách
4.1.3 Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nôngnghiệp
Bất kể quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nóichung và đất nông nghiệp nói riêng
Trang 24Đứng trên cương vị là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai nói chung
và đất nông nghiệp nói riêng Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất cho các vùng, lãnh thổ, ngành… Xét trên phạm vi quyhoạch thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp có thể được lập chomột huyện, thành phố, vùng, cả nước Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất được quy định rất rõ và cụ thể trong luật đất đai năm 2003 từ điều 21 đếnđiều 30 Điều 21 quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất, điều 23 quy định về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 22Căn cứ lập quy hoạch , kế hoạch sử dụng đất
Điều 24 quy định về kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Điều 25 quyđịnh thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nội dung của quy hoạch sử dụng đất:
+ Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế xãhội và hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai
+ Xác định phương hướng mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch,
+ Xác định diên tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế
-xã hội, quốc phòng an ninh,
+ Xác định các biện pháp sử dụng và bảo vệ, cải tạo đất, môi trường
+ Xác định diện tích đất phải thu hồi đề thực hiện các công trình, dự án.+ Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Nội dung Kế hoạch sử dụng đất gồm có 6 nôi dung:
+ Phân tích đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước+ Kế hoạch chuyển diện tích đất chuyên trồng lúa nước và đất có rừngsang sử dụng vào mục đích khác, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong đấtnông nghiệp
+ Kế hoạch thu hồi diện tích các loại đất để phân bổ cho nhu cầu xây dựngkết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp dịch vụ, phát triểndô thị, khu dân
cư nông thôn, quốc phòng, anh ninh
+ Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sử dụng vào các mục đích
Trang 25+ Cụ thể hoá kế hoạch sử dụng đất năm năm đến từng năm.
+ Giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Thông thường quy hoạch sử dụng đất được lập cho thời gian dài (kỳquy hoạch sử dụng đất là 10 năm) Quy hoạch sử dụng đất mang tính khả biến(có thể thay đổi, không cố định) Trong xu thế xã hội luôn luôn biến đổi, trong
xã hội luôn luôn vận động theo quy luật phát triển, các hoạt động diễn rakhông ngừng chính vì vậy mà nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnhvực, các địa phương có sự thay đổi thường xuyên Đối với đất nông nghiệpcũng vậy Chính vì lý do đó mà quy hoạch sử dụng đất mang tính khả biến, nóphải được điều chỉnh, sửa đổi phù hợp với nhu cầu đất nước, sự phát triển của
xã hội
Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp được lập theo kỳ kế hoạch, và phảidựa trên quy hoạch sử dụng đất đã được ban hành, phù hợp với sự phát triểnkhoa học công nghệ…Trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất nếu cầnphải đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp với phương hướng phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương thì phải tiến hành chỉnh sửa sao cho phù hợp
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng trong công tác quản lýnhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch nhà nước sẽ điều chỉnh,phân bổ, xác định, thay đổi mục đích sử dụng ngắn hạn hay dài hạn, xác định
cơ cấu các loại đất cho các vùng đất, vùng lãnh thổ, quyết định phân bổ, thuhồi các loại đất …Quy hoạch, kế hoạch phải được lập một cách có khoa học,
hệ thống, phải sát với thực tế Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất phải tuân theo quy định của luật pháp
4.1.4 Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đấtnông nghiệp
- Công tác giao đất, cho thuê đất
Trang 26“ Giao đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hànhchính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”
“Cho thuê đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng chođối tượng có nhu cầu sử dụng đất”
Việc giao đất, cho thuê đất là một công việc cụ thể hoá của nhà nước vềtrao quyền sử dụng đất cho người dân, người dân là người sử dụng trực tiếp,
họ là người khai thác đất đai Nhiệm vụ của người dân được giao đất, chothuê đất trước hết là sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn sử dụng vàthực hiện đầy đủ các nhiệm vụ tài chính với các cơ quan chức năng
Việc giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào:
+ Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đôthị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
+ Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất,chothuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất ( theo điều 31 luật Đất đai năm2003)
Việc giao đất cho các hộ gia đình, các cá nhân, tổ chức sử dụng lâu dàihoặc có thời hạn Giao đất có thu tiền sử dụng đất và giao đất không thu tiền
+ Tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm
vê nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối,
+ Đơn vị vũ trang nhân dân được nhà nước giao đất để sản xuất nôngnghiệp,lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc kết hợp với nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh
+ Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
+ Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp
Trang 27Đất nông nghiệp được giao có thu tiền sử dụng đất cho trường hợp: “tổchức kinh tế được giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôitrồng thuỷ sản, làm muối.
(Trích luật Đất Đai năm 2003)
Ngoài việc quy định việc giao đất có thu tiền sử dụng đất, không thutiền sử dụng đất…Nhà nước còn quy định về thời hạn giao đất mà ngườiđược giao được quyền sử dụng đất Đất nông nghiệp được giao lâu dài trongnhững trường hợp sau:
+ Đất rừng phòng hộ, đất rừng dặc dụng
+ Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng (đất được giao cho cộngđồng dân cư sử dụng để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn liền với phong tục,tập quán của dân tộc thiểu số)
► Còn một số loại đất nông nghiệp khác được giao sử dụng có thời hạn:+ Đất trồng cây hàng năm
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản
+ Đất làm muối giao cho các hộ gia đình, các cá nhân sử dụng
+ Đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng sản xuất giao cho hộ gia đình, cánhân sử dụng,
- Về thời hạn giao đất được quy định cụ thể tại điều 70 luật Đất đai năm2003
+ Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối có thòihạn giao là 20 năm,
+ Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất có thời hạn sử dụng là 50 năm.(Trích luật Đất đai năm 2003)
Trong thời hạn sử dụng đất được giao, người sử dụng đất phải tân thủđầy đủ quyền và nghĩa vụ Phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn.Khi có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép nếu trong trườnghợp quy định phải xin phép của pháp luật.Tuy nhiên, sau thời hạn sử dụng đất
Trang 28Khoảng thời gian quy định thời hạn sử dụng đất là rất cần thiết cho công tácquản lý nhà nước về đất nông nghiệp Nó đảm bảo người sử dụng đất phải có
kế hoạch sử dụng đất hiệu quả, có phương hướng cụ thể, chú ý sử dụng đấtđúng mục đích
Ngoài hình thức giao đất cho các đối tượng, nhà nước còn quy định vềhình thức cho thuê đất Có hai hình thức cho thuê đất đó là: cho thuê trả tiềnhàng năm và cho thuê thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê Hầu hếtcác trường hợp sử dụng đất nông nghiệp đều là trả tiền theo hàng năm Nhưngđối với trường hợp là “ người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, các cánhân nước ngoài thuê đất thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp,lâmnghiệp, thuỷ sản, làm muối” là phải thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gianthuê (luật Đất đai năm 2003) Quy định này đảm bảo cho sự quản lý của Nhànước đối với đất đai Dù gì thì đối với các bên có yếu tố nước ngoài Nhà nướcphải có biện pháp để quản lý chặt chẽ hơn trong nước để không bị thất thoátnguồn lực đất đai quý báu,
Thời hạn cho thuê đất để sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp,làm muối được quy định trong luật Đât đai năm 2003 cũng tương tự như thờihạn giao đất tương ứng Hết thời hạn cho thuê người sử dụng đất có thể xintiếp tục thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng mảnh đất Nếu mảnh đất đókhông có quy hoạch, không bị thu hồi, người sử dụng đất đó sử dụng hợppháp thì Nhà nước có thể xem xét và cho tiếp tục sử dụng
Ngoài ra, khi có nhu cầu chuyển đổi giữa hình thức giao đất hay chothuê đất, người sử dụng đât có thể xin phép chuyển đổi hình thức.Thời hạn sửdụng đất còn lại được tính theo quy định của pháp luật (Luật đất đai năm
2003 và các văn bản hướng dẫn có liên quan) Đây là một điểm linh hoạttrong quy định của pháp luật cho người sử dụng đất lựa chọn hình thức giao,cho thuê sao cho phù hợp với tình hình kinh doanh, sử dụng, điều kiện tàichính, kinh tế …Các quy định cụ thể khác được trình bày trong điều32,32,67,35 của bộ Luật Đất đai năm 2003
Trang 294.1.5 Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
Khi sử dụng đất nông nghiệp người sử dụng đất nông nghiệp đượcquyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất khi thấy cần thiết, nhà nước quy định
ở trong luật Đất đai năm 2003 Đây là một biện pháp quản lý nhà nước về đấtđai, tạo điều kiện cho người sử dụng đất nông nghiệp có điều kiện linh hoạttrong cách sử dụng, nâng cao hiệu quả của đất đai Có hai trường hợp chuyểnmục đích sử dụng đất nông nghiệp:
- Thứ nhất chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép của nhà nước
- Tuy nhiên cũng có trường hợp chuyển mục đích sử dụng không phảixin phép khi chuyển mục đích sử dụng đất (trường hợp chuyển mụcđích sử dụng đất trong cùng một loại đất), Riêng đối với đất nôngnghiệp những trường hợp phải xin phép khi chuyển mục đích sử dụngđất là:
+ Chuyển đất chuyên dùng trồng lúa nước sang trồng cây lâu năm, đấtrừng, đất nuôi trồng thuỷ sản
+ Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng cho mụcđích khác
+ Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Ngoài trường hợp trên thì không phải xin phép khi chuyển mục đích sửdụng đất; tuy nhiên, phải có sự đăng ký với văn phòng đăng ký quyền sử dụngđất Với quy định trên của Luật Đất đai năm 2003 người sử dụng đất có thểchủ động hơn trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng sao cho phù hợp manglại hiệu quả kinh tế thực sự cho đời sống Đồng thời, nhà nước cũng nắmđược những biến động của đất nông nghiệp, nắm bắt được tình hình đất nôngnghiệp trong cả nước, chính vì vậy công tác quản lý nhà nước về đất nôngnghiệp sẽ thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều
Ngoài ra luật Đất đai năm 2003 còn quy định cụ thể về thẩm quyền cho
Trang 304.1.6 Thu hồi đất nông nghiệp
Theo luật Đất đai năm 2003 “ thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết địnhhành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đát đã giao cho tổ chức,UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật”
Luật Đất đai năm 2003 quy định rất rõ về các trường hợp phải thu hồiđất, vấn đề bồi thường, tái định cư cho người bị thu hồi đất.…Việc thu hồiđất là một vấn đề rất phức tạp ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của dân cư, hộgia đình, cá nhân ,tổ chức…Vì vậy công tác này cần được làm trịêt để, khoahọc và chính xác đảm bảo tính công bằng tránh thất thoát nguồn vốn của nhànước, các đơn vị tài trợ
Để phục vụ cho đời sống của nền kinh tế, nhiều trường hợp Nhà nướcphải tiến hành thu lại đất đai như:
+ Tổ chức, cá nhân sử dụng đất bị giải thể,phá sản chuyển đi nơi khác,giảm nhu cầu sử dụng đất mà không phải thuộc trường hợp đất có tranhchấp, đất không có giấy tờ hợp pháp, đất giao cho các tổ chức mà phápluật quy định không được quyền chuyển mục đích sử dụng đất
+ Người sử dụng đất tình nguyện trả lại đất
+ Đất được sử dụng trong vòng 12 tháng liền mà không được cơ quan nhànước có thẩm quyền quyết định giao đất cho phép
+ Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhànước
+ Đất sử dụng không đúng mục đích sử dụng được giao
+ Đất giao không đúng thẩm quyền
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Việc thu hồi đất là một việc làm cần thiết để tận dụng nguồn lực củađất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, đồng thời đưa việc sử dụngđất đai (đất nông nghiệp) vào quy định Mục đích trước hết của việc thu hồiđất là phục vụ cho lợi ích quốc gia, cộng đồng Luật Đất đai năm 2003 cónêu: “ trong những trường hợp cần thiết nhà nước thu hồi lại đất đang sử
Trang 31dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,lợiích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại” Như vậy, người sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp được đền bù thiệt hạinếu bị thu hồi lại đất Trước khi thu hồi lại đất nhà nước phải thông báo chongười sử dụng đất về quyết định thu hồi và làm rõ mức đền bù, hỗ trợ hoamàu cho người bị thu hồi đất Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/CPngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, “
hộ gia đình,cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất đượcbồi thường thì thường bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặcbằng tiền theo gía đất có cùng mục đích sử dụng
Trường hợp mà đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức đượcgiao, đất nông nghiệp nhận giao khoán… khi bị thu hồi được quy định trongđiều 10 Nghị định 197/2004/NĐ – CP,
Theo Luật Đất đai năm 2003 thì cơ quan nào có thẩm quyền quyết địnhgiao đất thì có thẩm quyền thu hồi đất và được cụ thể hoá như sau:
+ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đốivới tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổchức, cá nhân nước ngoài,
+ UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đấtđối với trường hợp là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người ViệtNam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền vớiquyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”
(Trích luật Đất đai năm 2003)
4.1.7 Thống kê, kiểm kê đất nông nghiệp
Điều 53 khoản 2 luật Đất đai năm 2003 quy định trách nhiệm về thực hiệnthống kê, kiểm kê đất đai :
- UBND các cấp tổ chức thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai của địaphương và báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai lên cấp trên trực
Trang 32- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo kết qủa thống kê,kiểm kê đất đai lên Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo lên chính phủ kết qủa thống kêhàng năm, kết quả thống kê năm năm của cả nước
- Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả kiểm kê đất hàng năm đồng thời
kế hoạch sử dụng đất năm năm của cả nước
- Bộ Tài nguyên và Môi trưòng quy định biểu mẫu và hướng dẫn phươngpháp thống kê, kiểm kê đất đai”
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Việc thống kê đất đai được thực hiện hàng năm, mỗi năm thực hiện mộtlần phục vụ cho tình hình quản lý đất đai Qua công tác thống kê nhà nướcnắm bắt tình hình thực tế của địa phương, tỉnh thành, cả nước, có được thôngtin về các loại đất (diện tích, phân bổ, tình hình sử dụng, …)
Việc kiểm kê là một công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, kinhnghiệm, kinh phí phân bổ lớn…và được thực hiện 5 năm một lần, có thểxem công tác kiểm kê như là một bước kiểm tra lại công tác thống kê đất đai
Số liệu của thống kê, kiểm kê là nguồn cung quý giá cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ra quyết định
Luật Đất đai quy định rất kỹ càng về công tác kiểm kê, thống kế đất đai
từ cơ quan thực hiện, quá trình thực hiện, thời gian thực hiện… ( điều 35, 33)4.1.8 Công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nôngnghiệp
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mốiquan hệ giữa người sử dụng đất và nhà nước, công nhận quyền sử dụng hợppháp của người sử dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất hợp pháp,”
Các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình sử dụng đất hợp pháp được nhà nướccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Để được cấp giây chứng nhậnquyền sử dụng đất người sử dụng đất phải làm hồ sơ trình lên cơ quan nhà
Trang 33nước có thẩm quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối vớimảnh đất đó Đây là công tác đăng ký quyền sử dụng đất, để có được giấychứng nhận các nhân, tổ chức, hộ gia đình sử dụng đất bắt buộc phải làm thủtục đăng ký, theo luật đất đai năm 2003 điều 46 thì : “Đăng ký quyền sửdụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đấtxác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất” Đối với đât nông nghiệp người dân làm hồ sơ đăng ký với cơquan nhà nước có chức năng có thẩm quyền, sau khi hoàn thành hồ sơ nạplại cho Văn phòng Đăng ký Đất và Nhà ở các huyện, thành Cơ quan nhànước thu nhận hồ sơ giải quyết và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận chongười dân sử dụng đất đủ điều kiện được cấp…Người được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất được phép toàn quyền sử dụng đất, trên mặt pháp lý
họ là ngưởi chủ duy nhất được thừa nhận quyền sở hữu và được trao, bảo vệnhững quyền, lợi ích chính đáng bởi pháp luật Nhà nước Theo quy định củapháp luật thì đăng ký quyền sử dụng đất được chia làm hai trường hợp đó là:
- Đăng ký ban đầu trong các trường hợp là: người sử dụng đất đang sửdụng đất nhưng chưa kê khai hoặc đã kê khai nhưng chưa đăng kýquyền sử dụng đất,(tức là trường hợp chưa từng được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất)
- Đăng ký biến động quyền sử dụng đất được thực hiện khi mà người sửdụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệphợp pháp nhưng nay có nhu cầu thay đổi mục đích sử dụng đất, thayđổi thời hạn sử dụng đất, chuyển đổi, mua bán, chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, …
(Trích Luật Đất Đai năm 2003)
Ngày nay, việc đăng ký quyền sử dụng đất đã thụân lơị hơn rất nhiều sovới trước đây nhờ vào những quy định chặt chẽ của luật Đất đai năm 2003
và các văn bản hướng dẫn thi hành khác như: thông tư
Trang 341900/2001/TT-cấp giấy chứng nhận quyển sủ dụng đất là điều kiện tiên quyết để thực hiệnthành công công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và về đất nôngnghiệp nói riêng Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sởquan trọng và cần thiết, bới nó xác lập mối quan hệ giữa nhà nước và ngươì
sử dụng đất hợp pháp Mặt khác người sử dụng đất phải đăng ký sử dụng đấtđai vì có như thế họ mới có thể có đủ giấy tờ, chứng thu pháp lý cần thiết khi
họ tham gia vào thị trường mua bán, chuyển nhượng, chuyển mục đích sửdụng …Dựa trên việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơquan quản lý nhà nước sẽ thiết lập hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác quản
lý đất đai, Đối với đất nông nghiệp trình tự xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nông nghiệp cũng được quy định cụ thể, các giấy tờ chứng nhận
hồ sơ cần phải được hoàn thiện để cấp giấy chứng nhận, người sử dụng đấtđược quyền kê khai, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất Có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtngười sử dụng đất đó mới là chủ thực sự của diện tích đất đăng ký, họ đượcquyền tham gia vào thị truờng khi thấy cần thiết…Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất nông nghiệp là chứng thư bảo đảm, chứng minh người chủ duy nhấtđược pháp luật công nhận, bảo vệ Vì thế, người sử dụng đất hợp pháp nên kêkhai, đăng ký với các cơ quan, ban ngành chức năng xin cấp giấy chứng nhậnquyền sở hữu đất nông nghiệp vì lợi ích của bản thân
Ngoài những quy định về trình tự, thủ tục của việc đăng ký, cấp giấychứng nhận luật Đất đai năm 2003 còn quy định cụ thể về các trường hợp cấpgiấy chứng nhận cho cộng đồng dân cư, cho cơ sở tôn giáo, cách viết giâychứng nhận khi cấp cho các cá nhân đồng sở hữu, trình tự thủ tục, giấy tờ đểthực hiện các trường hợp này Điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các trườnghợp bị hồi giấy chứng nhận quyến sử dụng đất,… (điều 49, 50 ,51 - Luật Đấtđai năm 2003) Theo đó, người sử dụng đất phải thoả mãn điều kiện sau thìmới được cấp giấy chứng nhận:
Trang 35- Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấnxác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất.
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật Đất đainăm 2003:
- UBND tỉnh, thành phố thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận cho tổchức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cánhân nước ngoài
- UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, ngườiViệt Nam ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với đất ở
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Nói chung những quy định về việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất nông nghiệp được quy định rất chi tiết và đầy đủ trong luật Đấtđai năm 2003
Việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp làmột công tác được Nhà nước ta chú ý và được triển khai khá sớm ở nước ta,kết quả mang lại đã được công nhận
4.1.9 Thực hiện công cụ tài chính trong công tác quản lý nhà nước về đấtnông nghiệp
Công cụ tài chính là một trong những biện pháp của nhà nước banhành ra nhằm phân phối lại lợi ích của các bên tham gia trong các mốiquan hệ liên quan đến đất đai Việc thực thi công cụ tài chính trong quản
lý sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo được các yêu cầu mà Nhà nướcđặt ra như: bổ sung được khối lượng vào ngân sách Nhà nước để phục vụcho công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất của người sử dụng đấtlàm cho họ có ý thức hơn trong công tác sử dụng đất, đảm bảo được vai trò
Trang 36Theo điều 54 Luật Đất đai năm 2003 thì thu tài chính từ đất nôngnghiệp gồm có:
- Tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyểnmục đích sử dụng đất từ được nhà nước giao không thu tiền sử dụng đấtsang đất có thu tiền sử dụng đất Chuyển từ thuê sang giao đất có thutiền sử dụng đất
- Tiền thuê đất đối với đất do nhà nước cho thuê
- Tiền thu từ việc xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Thuế sử dụng đất
- Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
- Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai
- Tiền bồi thường cho nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý, sử dụngđất đai
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Việc thu tài chính đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng phảituân theo quy đinh của pháp luật cả về phía người sử dụng đất (đối tượngphải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước) và về phía cơ quan,ban ngành quản lý (chủ thể quản lý, thu các khoản tài chính về đất đai) Vềphía người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình về thuế
sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, các khoản phí và lệ phí…Phía
cơ quan quản lý thực hiện quản lý nguồn thu chặt chẽ tránh gây thất thoát,
sử dụng bừa bãi…Việc tính toán tiền sử dụng đất phải căn cứ vào diệntích, thời hạn sử dụng đất, khung gía đất tương ứng, tuân theo các văn bảnhướng dẫn như: thông tư 117/2004/TT-BTC (ngày 07/12/2004), nghị định198/2004/NĐ- CP “ diện tích đất được tính tiền sử dụng đất là diện tíchđược nhà nước giao,cho phép chuyển mục đích sử dụng, được chuyển từđất giao sang đất cho thuê có thu tiền, được cấp giấy chứng nhận Giá đểtính tiền sử dụng đất là gía đất tại thời điểm giao đất do UBND tỉnh, thành
Trang 37phố ban hành”, Nghị định 74/NĐ-CP ngày 25/10/1993 quy định chi tiết thihành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp được phân ra nhiều hạng đất khác nhau, thuế sửdụng đất được thu hàng năm Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đấtđược tính dựa trên giá do UBND tỉnh, thành phố ban hành tại thời điểm
mà mảnh đất đó được chuyển nhượng
► Phí, lệ phí như: lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính
Nguồn thu tài chính từ đất nông nghiệp là khá lớn và đa dạng.Nguồn thu đó phải được tận dụng sử dụng đúng mục đích mang lại kết qủacho người sử dụng, người quản lý Để tạo ra một môi trường lành mạnhhơn cho công tác tài chính đát nông nghiệp nên chăng chính phủ cần tạolập một khung gía phù hợp, sát với giá thị trường, đồng thời nâng cao tinhthần trách nhiệm của người thu, quản lý nguồn ngân sách này, Nếu có thể,thì nguồn thu tài chính đất nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả lớn hơnnhiều
4.1.10 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật cùa người dân sửdụng đất nông nghiệp và của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Điều 132 luật Đất đai năm 2003 “ thanh tra đất đai là thanh tra chuyênngành đất đai”
- Thanh tra việc quản lý Nhà nước về đất đai của UBND các cấp,
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người dân, tổchức, cá nhân
Việc thanh tra đất đai đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giàu kinhnghiệm, nghiệp vụ và lực lượng thanh tra đủ lớn, …Mục đích của công tácthanh tra là mang lại những thông tin nhanh và chính xác về tình hình sửdụng đất đai phát hiện sớm những trường hợp vi phạm để xử lý kịp thời Mặtkhác thanh tra đội ngũ thực hiện công tác quản lý nhà nước để phát hiện hành
vi gian lận, tham ô, thanh lọc bộ máy, hạn chế, triệt tiêu hành động có hại cho
Trang 384.1.11 Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất nông nghiệp
Gần đây, dư luận đã dấy lên nhiêu vụ kiện tụng về đất đai, có vụ mangtính tập thể khiếu kiện hang loạt, gây bức xúc xã hội, mất niềm tin của dânchúng Hơn nửa số đơn thư khiếu kiện là về lĩnh vực đất đai đủ thấy tình hình
sử dụng, quản lý đất đai ở nước ta đang rối rắm
Đất đai được hình thành trong một khoảng thời gian lâu dài, mang tínhlịch sử xã hội, vấn đề đất đai rât phức tạp đê giải quyết được tranh chấp,khiếu nại là rất khó khăn, mất nhiêu thời gian, hệ thống pháp luật phải đầy đủhoàn thiện
Điều 85,86,87 luật đất đai năm 2003 đã quy định về công tác giải quyếttranh chấp, khiếu kiện, tố cáo, Nghị định 181/NĐ – CP quy định bổ sung thêmnhững vấn đề về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp đất đailiên quan đến địa giới hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo…Tuy nhiên hệthống văn bản hướng dẫn như thế là vẫn chưa đủ, còn nhiều quy định mang tínhchất chung chung không cụ thể khó khăn cho người thực thi luật
Ngoài ra công tác thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo còn liên quanđến nhiều bộ luật khác nữ như: Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật thừa kế, …Trong nhiều trường hợp việc áp dụng luật phải linh họat, kết hợp với nhau để
có đựoc phương án giải quyết chính xác nhất
4.2 Phân cấp bộ máy quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp
Bộ máy quản lý Nhà nước đựơc thành lập từ trung ương đến địaphương, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đứng đầu thựchiện công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên đất, nước, tàinguyên…Các cơ quan tổ chức quản lý cấp dưới được phân cấp, phân quyềnphù hợp Bộ máy quản lý Nhà nước ngày càng hoàn thiện, càng tinh giản, thìhiệu quả làm việc, giải quyết vấn đề càng nhanh chóng, thuận lợi
Theo quy định của Nhà nước ta thì bộ máy quản lý Nhà nước đượcthành lập, phân cấp trách nhiệm quyền hạn như sau
Trang 39CÁN BỘ ĐỊA CHÍNH
XÃ, PHƯỜNG, THỊ
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊA CHÍNH
TRUNG TÂM ĐIỀU TRA QUY HOẠCH
VỤ ĐẤT ĐAI
VỤ ĐĂNG KÝ THỐNG KÊ ĐẤT ĐAI
………
THANH TRA
Trang 405 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về đất nôngnghiệp
Đất nông nghiệp là một bộ phận của tổng quỹ đất của cả nước Nó đượchình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đất là sản phẩm của tựnhiên, do tự nhiên tạo ra Chính vì vậy việc sử dụng và quản lý sủ dụng đấtnông nghiệp bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên, quy luật sinh thái tự nhiên,quy luật kinh tế - xã hội, yếu tố khoa học công nghệ và tổ chức bộ máyquản lý nhà nước về đất nông nghiệp
5.1 Điều kiện tự nhiên
Đất nông nghiệp được sử dụng vào mục đích nông nghiệp (trồng trọt,chăn nuôi, cày cấy thí nghiệm về nông nghiệp) Sản xuất nông nghiệp lại làmột ngành chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: thời tiết, khí hậu,chế độ gió mùa…Tuy có sự phát triển của khoa học, công nghệ, áp dụngkhoa học kỹ thuật vào sản xuất nhưng đời sống sản xuất nông nghiệp vẫnluôn gắn liền với điều kiện tự nhiên, những biện pháp áp dụng chỉ có thể hạnchế một phần các tác động có hại của thiên nhiên đến quá trình sản xuất màthôi Việc sản xuất nông nghiệp không thể tách rời hoàn toàn với thiên nhiên.Thiên nhiên, điều kiện tự nhiên vẫn là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đếnsản xuất nông nghiệp như câu tục ngữ : “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứgiống”
Sử dụng đất nông nghiệp phải chú ý đến điều kiện tự nhiên, thời tiết,khí hậu, ẩm độ, chế độ mưa nắng …Mặt khác đất nông nghiệp phân bố ởnhiều vùng khác nhau chế độ dinh dưỡng, độ màu mỡ, phì nhiêu cũng khácnhau…Chính vì vậy năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trên các loại đấtnông nghiệp cũng khác nhau, trên các vùng khác nhau là khác nhau Để làmtốt công tác quản lý người quản lý phải có chính sách linh hoạt, phù hợp vớitừng điều kiện cụ thể Chính vì thế trong khi tính giá tiền sử dụng đất, tiềnthuê đất nhà nước đã có những chế tài phân chia ra nhiều loại đất nôngnghiệp khác nhau, dựa trên sự phân chia đó để tính tiền sử dụng đất Ngoài ra