Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông hồng đoạn chảy qua thành phố hà nội và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông hồng đoạn chảy qua thành phố hà nội và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 1BÙI THỊ TRÚC QUỲNH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG HỒNG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường Khoa : Môi trường
Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2BÙI THỊ TRÚC QUỲNH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG HỒNG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngàn : Khoa học Môi trường Lớp : K47 – KHMT – N02
Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Minh Cảnh
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nhằm thực hiện tốt phương châm “Học đi đôi với hành, gắn lý thuyết với thực tiễn” của các trường đại học trong cả nước nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là giai đoạn quan trọng giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành, vận dụng vào thực tế để giải quyết vấn
đề cụ thể
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường, đặc biệt là các thầy cô giáo khoa Môi trường đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo ThS Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, dìu dắt em trong suốt quá trình thực hiện đề tài và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành tốt khóa luận này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân, những người đã luôn động viên, tạo điều kiện góp ý và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận
Em xin chúc toàn thể các Thầy, Cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày….tháng….năm 2019
Sinh viên
Bùi Thị Trúc Quỳnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng phương pháp phân tích các thông số chất lượng nước mặt 20
Bảng 4.1 Tải lượng ô nhiễm trung bình trên đầu người theo WHO 37 Bảng 4.2 Cơ cấu chăn nuôi, quy mô, loại hình chăn nuôi hiện nay trên địa
bàn thành phố Hà Nội 42 Bảng 4.3 Định mức tải lượng ô nhiễm chăn nuôi 42 Bảng 4.4 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt sông Hồng 44
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Bản đồ sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội 21 Hình 4.2 Thành phần chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 37 Hình 4.3 Biểu đổ kết quả quan trắc hàm lượng chỉ tiêu TSS trong nước
sông Hồng 46
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CNCB NLS Công nghiệp chế biến nông lâm sản
SXVLXD Sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý của đánh giá và bảo vệ môi trường nước 7
2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt trên thế giới và ở Việt Nam 8
2.2.1 Vấn đề ô nhiễm nước mặt trên thế giới 8
2.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại Việt Nam 12
2.2.3 Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại thành phố Hà Nội 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Phạm vi nghiêm cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 17
3.2.2 Thời gian tiến hành 17
3.3 Nội dung nghiên cứu 17
Trang 83.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 17
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích 18
3.4.3 Phương pháp tổng hợp so sánh đối chiếu với QCVN 08: 2015/BTNMT 19
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 21
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Nội 21
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
4.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt lưu vực sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội 34
4.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước lưu vực Sông Hồng 34
4.2.2 Hiện trạng chất lượng nước sông Hồng 43
4.3 Đánh giá mức độ tác động của môi trường nước sông Hồng 46
4.3.1 Đánh giá mức độ tác động đến kinh tế - xã hội 46
4.3.2 Đánh giá mức độ tác động đến hệ sinh thái 47
4.4 Các giải pháp để bảo vệ môi trường nước sông Hồng 48
4.4.1 Về xây dựng, hoàn chỉnh chính sách pháp luật 48
4.4.2 Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải 48
4.4.3 Về công tác quan trắc 49
4.4.4 Về áp dụng các công cụ kinh tế 50
4.4.5 Về sự tham gia và trách nhiệm của cộng đồng 50
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Dưới áp lực của gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng tiêu cực tài nguyên nước như: Tăng dòng chảy của lũ quyét, cạn kiệt nước vào mùa khô, suy thái chất lượng nước và sẽ có xu hướng ngày càng cạn kiệt nếu không được bảo vệ
Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông nghiệp hóa kéo theo nhu cầu sử dụng nước phục vụ sản xuất tại các nhà máy, sinh hoạt của người dân tại các đô thị, làng mạc, cung cấp cho công tác nông nghiệp v.v… ngày càng tăng cao Để đảm bảo nguồn nước cho các nhu cầu này, việc khai thác nước mặt, nước ngầm tại chỗ là những biện pháp ưu tiên hàng đầu đối với các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý cũng như các chủ thể dự án tại các khu, cụm công nghiệp Đồng thời, sau quá trình sử dụng nguồn nước thải tạo ra cũng tăng cao Điều đáng chú ý ở đây là lượng nước thải lớn tạo ra này hầu như không được xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn lại được xả thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận là các nhánh sông, suối Điều này đã và đang gây
ô nhiễm môi trường nước mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất của con người và sức khỏe người dân
Trang 10Sông Hồng có lưu vực sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam, có chiều dài qua địa phận Việt Nam là 556 km Đoạn sông Hồng này chảy qua Hà Nội dài khoảng 163 km đi qua các huyện: Ba Vì – Sơn Tây – Phúc Thị - Đan Phượng, thành phố Hà Nội và Thường Tín – Phú Xuyên Sông Hồng là một ví dụ điển hình của sông ngòi vùng Đông Nam Á chịu tác động mạnh mẽ của con người
và khí hậu trong lưu vực Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp, đô thị hóa, gia tăng dân số và gia tăng sử dụng hàm lượng phân bón, hóa chất trong nông nghiệp… đã và đang ngày càng trở thành tác nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường nước sông Hồng đặc biệt là đoạn sông chảy qua thành phố Hà Nội [20] Chính vì vậy, việc xem xét, đánh giá chất lượng nước sông Hồng chảy qua địa phận Hà Nội, cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nhà quản lý, nhằm bảo
vệ môi trường đoạn sông Hồng chảy qua thành phố Hà Nội nói riêng và phát triển bền vững vùng lưu vực sông Hồng nói chung là rất quan trọng
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy được tầm quan trọng của công tác đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường – Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên và dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên Th.S
Nguyễn Minh Cảnh em thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được sức ép của kinh tế - xã hội lên môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội
- Đánh giá được hiện trạng chất lượng môi trường nước sông Hồng đoạn
chảy qua thành phố Hà Nội và mức độ tác động của nước sông Hồng đến đời sống xã hội
- Đề xuất được các giải pháp để bảo vệ môi trường nước sông Hồng
Trang 111.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài là một bước tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây tác động ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước lưu vực sông Hồng đoạn chảy
qua thành phố Hà Nội nói riêng và toàn bộ lưu vực sông Hồng nói chung
- Nâng cao kiến thức và kỹ năng rút ra kinh nghiệm thực tế, vận dụng nâng cao kiến thức đã học
- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm môi trường:
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên" [14]
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Trên thế giới, Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất
thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật
và vật liệu
Ở Việt Nam, Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi
trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường
gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật BVMT Việt Nam 2014)
- Khái niệm suy thoái môi trường:
“Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành
phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.” [14]
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông,
Trang 13hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước:
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công
nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"
* Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ
lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại
kể cả xác chết của chúng
* Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý
- Khái niệm về tiêu chuẩn môi trường:
Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014:
“Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng
môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo
vệ môi trường.”[21]
2.1.1.2 Các thông số đánh giá chất lượng nước
Chất lượng nước được đánh giá bởi các thông số, các chỉ tiêu đó là:
- Các thông số lý học, ví dụ như:
Trang 14+ Nhiệt độ: Nhiệt độ có tác động đến các quá trình sinh hóa diễn ra trong nguồn nước tự nhiên sự thay đổi về nhiệt độ sẽ kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan + pH: là chỉ số thể hiện độ axít hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá trình đông tụ hóa học, sát trùng, làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn Trong hệ thống xử lý nước thải bằng quá trình sinh học thì pH phải được khống chế trong phạm vi thích hợp đối với các loài vi sinh vật liên quan, pH là yếu tố môi trường có ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và giới hạn sự phát triển của vi sinh vật ở trong nước
- Các thông số hóa học, ví dụ như:
+ BOD: (Biochemical oxygen Demand - nhu cầu oxy sinh hoá) là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian
Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hoá sinh học xảy ra thì các vi sinh vật sử dụng oxy hoà tan, vì vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết cho quá trình phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng đánh giá ảnh hưởng của một dòng thải đối với nguồn nước BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật
+ COD: (Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học) là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ
và hữu cơ Như vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các chất hoá học trong nước, trong khi đó BOD là lượng oxy cần thiết để oxy hoá một phần các hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ oxy hoà tan trong nước (DO) Do vậy nhu cầu oxy hoá học và oxy sinh học cao sẽ làm giảm nồng độ DO của nước,
Trang 15có hại cho sinh vật nước và hệ sinh thái nước nói chung Nước thải hữu cơ, nước thải sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác nhân tạo ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước
+ NO3: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất có chứa nitơ trong nước thải
+ Các yếu tố kim loại nặng (KLN): Các kim loại nặng là những yếu tố
mà tỷ trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, Cadmi, Sắt, Mangan…ở hàm lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động vật, thực vật nhưng khi hàm lượng tăng chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con người thông quan chuỗi thức ăn
- Các thông số sinh học, ví dụ như:
+ Coliform: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm về mặt sinh học của nguồn nước
2.1.2 Cơ sở pháp lý của đánh giá và bảo vệ môi trường nước
2.1.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật
- Luật bảo vệ môi trường 55/2014/QH13 được Quốc Hội nước Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2015;
- Luật tài nguyên nước 17/2012/QH13 đã được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/07/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Trang 16- Thông tư số 75/2017/TT-BTNMT ngày 29/12/2017 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất
- Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước
- Thông tư số 12/2015/TT-BTNMT ngày 31/03/2015 Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
2.1.2.2 Các quy chuẩn môi trường liên quan tới đánh giá chất lượng nước
- QCVN 08-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
- QCVN 38:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh
- QCVN 39:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu
2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Vấn đề ô nhiễm nước mặt trên thế giới
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nước đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống ăn uống, sinh hoạt, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải…Tài nguyên nước trên thế giới có trữ lượng khoảng 1,45 tỷ km³ trong đó trữ lượng nước sông là 12.000 km³ chiếm khoảng 0,001% tổng lượng nước [17] Đây là nguồn nước chính phục vụ cho nhu cầu của con người do vậy nó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống, sự phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Nhưng ngày nay nguồn nước đang
bị đe dọa nghiêm trọng, ngày càng ô nhiễm làm ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sức khỏe, sự phát triển của nhân loại
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp
độ đáng lo ngại Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển
kỹ nghệ Sau đây là một vài ví dụ tiêu biểu: Riachuelo là con sông lớn chảy
Trang 17qua thủ đô Buenos Aires của Argentina Thay vì trở thành nguồn cung cấp nước tưới tiêu và điều hòa khí quyển cho thành phố, sông Riachuelo giờ đây nổi tiếng là con sông bị ô nhiễm nặng nhất châu Mĩ, gây nhức nhối cho dân
cư cũng như chính phủ nước này Từ nhiều năm nay, người ta đã không còn thấy con cá nào sống ở dưới sông Riachuelo, còn mùi xú uế thì nồng nặc bốc lên kèm theo nhiều rác rưởi nổi trên mặt nước Nước sông Riachuelo không còn chút oxi nào và bị ô nhiễm nặng vì nước thải sinh hoạt, chất độc hóa học
từ các nhà máy ven sông đổ ra kèm theo lượng khổng lồ rác thải trong thành phố dồn về Dọc triền sông Riachuelo hiện đang có tới hơn 2 triệu người dân Argentina sinh sống mà người ta thường gọi đùa là “làng rác” Đa số dân cư trong khu vực này đều là lao đông nghèo, người nhập cư bất hợp pháp và một phần không nhỏ tầng lớp xã hội người da đen sinh sống Họ điềm nhiên vứt rác và đổ bất cứ thứ gì không cần thiết xuống sông như một tiền lệ và thói quen đã được mọi người chấp nhận từ lâu Nạn ô nhiễm môi trường quanh khu vực Riachuelo kéo theo nguy cơ bùng phát những ổ dịch nguy hiểm do thiếu vệ sinh như: tiêu chảy, lao, hen suyễn, sốt rét, sốt xuất huyết và thậm chí
cả bệnh ung thư, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe người dân thủ đô Buenos Aires của Argentina
Các dòng sông ngoài việc cung cấp nước cho mục đích sản xuất, sinh hoạt, khai thác các nguồn lợi sẵn có thì bên cạnh đó nó cũng là nơi tiếp nhận một khối lượng chất thải rất lớn từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển khoa học
kỹ thuật
Do dân số trên Trái Đất ngày càng tăng nhanh đã gây áp lực lớn tới tài nguyên nước trên hành tinh, con người ngày càng xả thải nhiều chất thải độc hại và chưa có biện pháp quản lý và xử lý triệt để nguồn nước thải dẫn đến
Trang 18chất lượng nước ngày càng suy giảm Hầu hết các hoạt động của con người đều ảnh hưởng đến chất lượng nước
Việc xử lý nước thải là một vấn đề rất khó khăn, tốn nhiều thời gian và tiền của Ở các nước phát triển, ước tính có khoảng 90% nước thải được thải trực tiếp vào sông, hồ mà không qua bất kì biện pháp xử lý nào hoặc có biện pháp xử lý nhưng không triệt để đã gây ra nhiều ảnh hưởng đến môi trường nước Tại Mỹ, mỗi năm có 850.000.000 gallon nước thải do bị rò rỉ và hệ thống cống thoát nước kết hợp không đồng bộ, đã gây ra ô nhiễm các nguồn nước sông, hồ và vịnh ở Hoa Kỳ Sông, hồ và đại dương trong một phạm vi rộng đang bị ô nhiễm nặng kết quả là sản lượng thủy sản tự nhiên, hệ sinh thái
và cảnh quan bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Mặt khác, theo nghiên cứu của Ezzat (và các đồng nghiệp), 2002 về chất lượng nước sông Nile ở Ai Cập cho thấy chất lượng nước sông tại đây cũng đang trong tình trạng báo động Hiện tại có hơn 700 cơ sở công nghiệp hoạt động dọc theo lưu vực sông và hầu hết nước thải được thải thẳng ra môi trường mà chưa qua xử lý Thành phần nước thải chứa nhiều các chất độc hại như kim loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh, các hóa chất công nghiệp, do đó khi tích đọng xuống đáy, nó tạo thành lượng bùn rất lớn và gây ảnh hưởng đến hoạt động sống của các sinh vật tầng đáy, kết quả là chúng bị chết [27] Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty Aurul (Rumani) đã thải
ra 50 - 100 tấn xianua và kim loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare (thuộc vùng Đông- Bắc) Sự nhiễm độc này đã khiến các loài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người [28]
Bên cạnh đó, chất lượng nước sông tại các quốc qua ở khu vực Châu phi cũng không có tín hiệu khả quan Hầu hết nước từ các sông, suối, ao, hồ và thủy vực đã khan hiếm nay lại chịu sự tác động từ nước thải từ các hoạt động
Trang 19sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt nên đã bị suy giảm đáng kể cả
về chất lượng và số lượng
Cụ thể, tại Zimbabwe việc xả thải công nghiệp và đô thị hóa đã làm cho hồ Chivero bị ô nhiễm, chất lượng nước ngày càng suy giảm, sự tích lũy của các hợp chất amoniac đã dẫn đến nhiều loại cá sống trong hồ bị chết hàng loạt
Trong khi đó, năm 1991 tại Nam Phi Công ty Cổ phần Năng lượng nguyên tử gây ra một vụ tràn dầu rất lớn gần đập Hartbeesport làm cho các loại cá và động vật thủy sinh sống trong hồ bị chết Việc các nguồn nước sông
bị ô nhiễm đã gây ra một nguy cơ nghiêm trọng về sức khỏe cho những cộng đồng nằm gần sông, những người sử dụng trực tiếp nguồn nước đó [29]
Trong khi đó tại Trung Quốc, hầu hết các kênh rạch, sông và hồ đang bị
ô nhiễm từ các hoạt động xả thải của các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt Kết quả là nguồn nước của nhiều thành phố và khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến sức khỏe và hoạt động sống của con người
Tại Thái Lan tình hình ô nhiễm môi trường nước ở nhiều khu vực cũng đang trong tình trạng tương tự Theo kết quả nghiên cứu của Thares Srisatit
và cộng sự cho thấy tại Bangkok môi trường nước tại các khu công nghiệp đang trong tình trạng báo động Trong 30 mẫu phân tích thì có đến 27 mẫu cho thấy các chỉ tiêu BOD5, COD, N tổng vượt TCCP từ 4 - 6 lần, trong đó có một số chỉ tiêu như Pb, As vượt TCCP từ 7 - 8 lần [27]
Như vậy chúng ta nhận thấy rằng, chất lượng nước tại nhiều con sông lớn trên thế giới bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, hàng ngày hàng giờ phải hứng chịu các nguồn ô nhiễm khác nhau Do đó, việc cần làm trước tiên là phải tiến hành đánh giá, kiểm tra, quan trắc hệ thống sông, để xác định được cụ thể thành phần của nguồn nước thải gây ô nhiễm, xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm hạn chế sự tác
Trang 20động tiêu cực đến chất lượng nước sông, nâng cao khả năng cung cấp nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của con người
2.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cùng với quá trình gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nên việc sử dụng nước ngày càng tăng cao Trong khi đó, quá trình xử lý nước chưa đạt hiệu quả và vấn đề xử lý các vi phạm còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ Vì vậy, chất lượng nước tại nhiều thủy vực, nhiều con sông đang xuống cấp nghiêm trọng, nhiều nơi ô nhiễm cục bộ và trong tình trạng đáng báo động
Việt Nam có tài nguyên nước khá phong phú, có hơn 2.360 con sông lớn hơn 10km trong đó có 9 hệ thống sông có diện tích và lưu vực từ 10000 km² trở lên Phần lớn sông ngòi nước ta đều là nước ngọt, vừa cung cấp nước phục
vụ sinh hoạt của con người, vừa phục vụ cho nghành sản xuất khác Tuy nhiên, nước ngọt là nguồn tài nguyên hạn chế và dễ bị suy thoái, tối cần thiết cho sự sống, phát triển của con người, sinh vật và môi trường [12]
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp
và đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với mức độ nghiêm trọng khác nhau Nông nghiệp là nghành sử dụng nhiều nước nhất dùng tưới lúa và hoa màu, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long
và đồng bằng Sông Hồng Việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học càng góp phần ô nhiễm môi trường nông thôn Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước nhiều nhất Mỗi ngành có một loại nước thải khác nhau dẫn tới mối khu vực có mức độ ô nhiễm khác nhau Khu công nghiệp Thái Nguyên xả nước thải vào sông Cầu khiến cho nước sông có màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m³ nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt… xuống sông Hồng làm nước sông bị ô nhiễm đáng kể Khu công nghiệp Biên Hòa, thành
Trang 21phố Hồ Chí Minh tạo ra nguồn nước thải từ công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận Nước dùng cho sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số tăng nhanh và tốc độ đô thị hóa nhanh Nước cống từ nước thải sinh hoạt cùng với nước thải của các
cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị nước ta Điều đáng nói là các loại nước thải đều được thải trực tiếp ra môi trường, chưa qua xử lý, vì ở nước ta chưa có hệ thống xử lý nào đúng nghĩa như tên gọi
Theo thống kê, khu vực miền Bắc có hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Thái Bình, khu vực miền Trung có hai con sông lớn là sông Mã
và sông Cả, trong khi đó tại miền Nam có hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long là các dòng sông chính Tuy nhiên, trong những năm qua, quá trình khai thác và xả thải của con người chưa hợp lý nên đã gây ra những tác động đáng kể đến chất lượng nước tại các hệ thống sông trên
Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần
- Sông Đồng Nai: Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu với sông Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 -6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l) nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm vi sinh
và dầu mỡ rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, … chưa vượt tiêu chuẩn, nhiễm mặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu Vùng thượng lưu nước có chất lượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do
Trang 22hàm lượng cao của các chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh Khả năng tự làm sạch của sông Đồng Nai khá tốt
- Sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ (DO = 1,5 - 5,5 mg/l; BOD = 10 - 30 mg/l), dầu mỡ, vi sinh, không có điểm nào đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm cao nhất là ở vùng sông chảy qua trung tâm TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, sông Sài Gòn còn bị axit hoá nặng do nước phèn ở đoạn Hóc Môn - Củ Chi (pH = 4,0 - 5,5)
- Sông Cầu: Chất lượng nước các sông thuộc lưu vực sông Cầu ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Khu Gang thép Thái Nguyên , chất lượng nước không đạt cả tiêu chuẩn A và B Tiếp đến là đoạn sông Cà Lồ, hạ lưu Sông Công, chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn A và một số yếu tố không đạt tiêu chuẩn B Yếu tố gây ô nhiễm cao nhất là các chất hữu cơ, NO và dầu Ô nhiễm nhất là đoạn từ nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ tới cầu Gia Bảy, ôxy hòa tan đạt giá trị thấp nhất (0,4 - 1,5 mg/l), BOD5, COD rất cao (>1000mg/l); Colifom ở một số nơi khá cao, vượt quá tiêu chuẩn
A tới hàng chục lần Hàm lượng NO2 > 2,0 mg/l và dầu > 5,5mg/l, vượt quá tiêu chuẩn B tới 20 lần
- Sông Nhuệ - sông Đáy: Hiện tại, nước của trục sông chính thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đã bị ô nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ Chất lượng nước sông Nhuệ từng lúc (phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc), từng nơi vượt trên giới hạn cho phép đối với nước loại B Các sông khác có chất lượng nước ở mức giới hạn cho phép đối với nước loại B Nếu không có biện pháp ngăn ngừa khắc phục, xử lý ô nhiễm kịp thời thì tương lai không xa nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy không thể sử dụng cho sản xuất được
Trang 23Ngoài ra, ô nhiễm nước ở các sông hồ ở nội thành Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Tp Đà Nẵng đang ở mức trầm trọng, các chỉ tiêu quan trắc đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, thậm chí hàng trăm lần
Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng các dòng sông ở Việt Nam đang ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng do việc xả nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp Nếu chúng ta không có giải pháp quản lý và xử lý triệt để thì hậu quả sẽ rất khó lường Vì vậy, cần có quá trình quản lý chặt chẽ hơn của các cơ quan chức năng cũng như việc tôn trọng
về pháp luật của các cơ sở sản xuất cũng như hoạt động của những người dân
để đảm bảo chất lượng nước tại các con sông
2.2.3 Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại thành phố Hà Nội
Theo một số báo cáo từ Bộ tài nguyên và Môi trường, mỗi ngày thành phố Hà Nội thải ra ngoài môi trường khoảng 300000 tấn nước thải bào gồm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp Đặc biệt phần lớn lượng nước thải này chưa qua xử lý nên chứa nhiều các chất độc hại gây ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng Cụ thể, thống kê lượng chất hữu cơ xả thẳng ra môi trường là
3600 tấn/năm, dầu mỡ là 317 tấn cùng hàng chục tấn các kim loại nặng độc hại như chì, thủy ngân, sắt…[30]
Lượng nước thải trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu xả thải ra các con sông hồ lớn như sông Tô lịch, sông Nhuệ, hồ Linh Đàm, hồ Bảy Mẫu… Tiêu biểu nhất là tình trạng ô nhiễm tại sông Tô Lịch – nơi từng tự hào là con sông trong sạch của thủ đô thì giờ đây nước sông bị ô nhiễm nặng nề, bốc mùi hôi thối ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân hai bên ven sông Theo khảo sát của công ty cổ phần nước và môi trường Việt Nam, tình trạng cấp nước tại một số giếng ngầm cho các khu vực Hai Bà Trưng, Hà Đông, Ba Đình, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm có hàm lượng sắt cao, các quận Long Biên, Ba Đình, Thanh Xuân có hàm lượng
Trang 24mangan cao Đặc biệt hơn, nguồn nước ngầm tại khu vực phía Nam thủ đô đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do khu vực này có địa hình thấp, toàn bộ nước
từ thành phố đều dồn về khu vực này [30]
Nguyên nhân ô nhiễm:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước tại Hà Nội, tuy nhiên được chia làm hai nhóm chính là nguyên nhân khách quan và chủ quan
Nguyên nhân khách quan:
Sự gia tăng dân số trên địa bàn thành phố trong khi cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp thời kéo theo các vấn đề về nước thải và rác thải
Các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng, lượng nước thải, khí thải của các đơn vị này chưa được xử lý triệt để trước khi đưa
ra ngoài môi trường
Hệ thống cấp thoát nước của thành phố chưa đáp ứng được nhất là vào mùa mưa lũ, tình trạng ngập lụt xảy ra thường xuyên
Nguyên nhân chủ quan
Đa số người dân trên địa bàn thành phố còn chưa nhận thức đúng đắn cũng như có ý thức, trách nhiệm trong việc xả rác và nước thải sinh hoạt ra môi trường
Các công ty, xí nghiệp chưa chú trọng đầu tư hệ thống xử lý nước thải
Trang 25PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường nước mặt Sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội
3.1.2 Phạm vi nghiêm cứu
Chất lượng môi trường nước mặt Sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Trên tổng chiều dài khoảng 15 km của sông Hồng đoạn chảy qua địa phận thành phố Hà Nội
3.2.2 Thời gian tiến hành
- Thời gian bắt đầu: 01/2019
- Thời gian kết thúc: 05/2019
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Nội
- Ảnh hưởng của các vấn đề về kinh tế - xã hội lên môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội
- Đánh giá mức độ tác động của môi trường nước sông Hồng
- Các giải pháp để bảo vệ môi trường nước sông Hồng
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp là phương pháp phổ biến thường được dùng khi nghiên cứu một đề tài Đây là phương pháp tham khảo tài liệu
Trang 26có sẵn liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phương pháp này là phương pháp truyền thống nhanh và hiệu quả Với phương pháp này có thể áp dụng nghiên cứu các thông tin sau:
- Các thông tin điều kiện tự nhiên, đặc điểm dòng chảy, đặc điểm kinh tế
xã hội, sự phát triển các ngành nông, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của thành phố Hà Nội
- Các số liệu quan trắc, phân tích chất lượng nước sông Hồng năm 2019
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
a) Số mẫu: đề tài tiến hành lấy 3 mẫu nước sông Hồng, vị trí lấy mẫu
cụ thể như sau:
- NM1: Mẫu nước sông Hông lấy tại Cầu Long Biên- TP Hà Nội
- NM2: Mẫu nước sông Hồng lấy tại phường Chương Dương, Hoàn Kiếm, TP Hà Nội
- NM3: Mẫu nước sông Hồng lấy tại Cầu Vĩnh Tuy- TP Hà Nội
b) Phương pháp lấy mẫu:
- TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-2:2006), chất lượng nước – lấy mẫu
- Phần 1: Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
- TCVN 6663-3:2003 (ISO 5667-3:1985), chất lượng nước – lấy mẫu
- Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
- TCVN 6663-6:2008 (ISO 5667-6:2005), chất lượng nước – lấy mẫu
- Phần 6: Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
c) Cách lấy mẫu:
Mẫu nước được lấy trong điều kiện thời tiết tốt: trời nắng, nhiệt độ tại thời điểm lấy mẫu 23℃ Mẫu được lấy 2 lần mỗi lần 250ml bằng ca định lượng sau đó bảo quản trong chai dung tích 500ml
Trang 27Nước thải sau khi lấy về được bảo quản và phân tích các chỉ tiêu: BOD5, COD, NO3, DO, Fe, Cr, coliform, pH, TSS, NH4 theo yêu cầu tại Trung tâm quan tắc và môi trường tỉnh Hà Nội
- Tiêu chuẩn kỹ thuật cho lấy mẫu và phân tích chất lượng nước Sông Hồng + Tiêu chuẩn kỹ thuật cho lấy mẫu và bảo quản mẫu: Lấy mẫu và bảo quản mẫu theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5996:1995 - Hướng dẫn lấy mẫu ở Sông và Suối
3.4.3 Phương pháp tổng hợp so sánh đối chiếu với QCVN 08: 2015/BTNMT
Từ số liệu thứ cấp cùng với số liệu đo đạc, khảo sát thực tế, phân tích trong phòng thí nghiệm, tính toán được tải lượng ô nhiễm so sánh với QCVN
để đưa ra được mức độ ô nhiễm môi trường nước, từ đó so sánh tại các điểm lấy mẫu đưa ra điểm tối ưu có chất lượng nước phù hợp cho việc xử lý cấp cho sinh hoạt
Trang 28* Phương pháp phân tích
Bảng 3.1 Bảng phương pháp phân tích các thông số chất lượng nước mặt
STT Tên chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân tích
(Nguồn: Thông tư số 29/2011/TT – BTNMT)
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Nội
Hình 4.1 Bản đồ sông Hồng đoạn chảy qua thành phố Hà Nội
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20m so với mực nước biện nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà,
Trang 30hai bên sông Hồng và chi lưu các con song khác Khu vực nội thành có một
số gò đồi thấp như gò Đống Đa, núi Nùng
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
- Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn
- Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì
- Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức
- Cực Đông là xã Lệ Chí, huyện Gia Lâm
Hà Nội nằm hai bên sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
4.1.1.2 Diện tích tự nhiên
Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 05 năm 2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm
2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô bao gồm: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện
Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn
Diện tích đất phân bổ sử dụng (332889,0 ha)
- Đất nông, lâm nghiệp, thủy sản : 188601,1 ha
- Đất phi nông nghiệp : 134947,4 ha
- Đất chưa sử dụng : 9340,5 ha
(Theo“Niên giám thống kê Hà Nội năm 2010” của Cục Thống kê thành phố Hà Nội)
Trang 314.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu thành phố Hà Nội có đặc trưng nổi bật là gió mùa ẩm, nóng và mưa nhiều về mùa hè, lạnh và ít mưa về mùa đông; được chia thành bốn mùa rõ rệt trong năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa xuân bắt đầu vào tháng 2 (hay tháng giêng âm lịch) kéo dài đến tháng 4 Mùa hạ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, nóng bức nhưng lại mưa nhiều Mùa thu bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10, trời dịu mát, lá vàng rơi Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thời tiết giá lạnh, khô hanh Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ có tính chất tương đối, vì thành phố Hà Nội có năm rét sớm, có năm rét muộn, có năm nóng kéo dài, nhiệt độ lên tới 40°C, có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 5°C
Thành phố Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời khá dồi dào Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 120 kcal/cm², nhiệt
độ trung bình năm 24,9°C, độ ẩm trung bình 80 - 82% Lượng mưa trung bình trên 1700mm/năm (khoảng 114 ngày mưa/năm)
Trong lịch sử phát triển, Hà Nội cũng đã nhiều lần trải qua các biến đổi bất thường của khí hậu - thời tiết Tháng 5 năm 1926, Hà Nội chứng kiến một đợt nắng khủng khiếp có ngày nhiệt độ lên tới 42,8°C Tháng 1 năm 1955, mùa đông giá buốt nhất trong lịch sử, thành phố Hà Nội sống trong cái giá lạnh xuống đến 2,7°C Và gần đây nhất tháng 11 năm 2008, sau khi vừa mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội hứng chịu một cơn mưa dữ dội chưa từng thấy Hầu như tất cả các tuyến phố đều ngập chìm trong nước, lượng mưa lớn vượt quá mọi dự báo đã gây ra một trận lụt lịch sử ở Hà Nội, làm nhiều người chết, gây thiệt hại vật chất đáng kể [18]