Cùng với các điều kiện về chủ thể khởi kiện, về thẩm quyền giải quyết của tòa án, về thời hiệu và điều kiện vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ XUÂN DƯỠNG
MIỄN, GIẢM TẠM ỨNG ÁN PHÍ VÀ ÁN PHÍ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP.HỒ CHÍ MINH - THÁNG 01 - NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
MIỄN, GIẢM TẠM ỨNG ÁN PHÍ VÀ ÁN PHÍ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG
Học viên: LÊ XUÂN DƯỠNG, Cao học Luật Khóa 2 – Vĩnh Long
TP.HỒ CHÍ MINH - THÁNG 01 - NĂM 2018
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Lê Xuân Dưỡng
Trang 4- BLTTDS 2015 : Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 5PHẦN MỞI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC MIỄN, GIẢM TẠM ỨNG ÁN PHÍ VÀ ÁN PHÍ 6
1.1 Đối tượng được miễn tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự 7
1.2 Đối tượng được giảm tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự 15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2 THẨM QUYỀN, THỦ TỤC MIỄN, GIẢM TẠM ỨNG ÁN PHÍ VÀ ÁN PHÍ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 19
2.1 Thẩm quyền miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự 19
2.2 Thủ tục miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 32
KẾT LUẬN 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để có thể yêu cầu Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án dân sự cũng như thụ lý giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì người khởi kiện, bị đơn phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải đáp ứng được các điều kiện để thụ lý thì đơn yêu cầu mới được thụ lý Cùng với các điều kiện về chủ thể khởi kiện, về thẩm quyền giải quyết của tòa án, về thời hiệu và điều kiện
vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nào thì một trong các điều kiện quan trọng mà đương sự cần thực hiện đó là người khởi kiện, người phản tố, người có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí Nếu người khởi kiện, người phản tố, người có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án sẽ trả lại đơn và không thụ lý đơn; đối với người kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án thì cũng phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì mới được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét đơn kháng cáo Bên cạnh đó, khi Tòa án giải quyết vụ án thì một hoặc các bên đương sự phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm
Án phí là một trong những nguồn thu ngân sách của Nhà nước Tòa án thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Trong điều kiện nước ta còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, việc pháp luật quy định đương sự phải chịu án phí
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Qua nguồn thu này, Nhà nước cũng có thể đầu tư nhiều hơn cho các cơ quan Nhà nước trong đó có Tòa án, góp phần nâng cao hiệu quả làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, qua đó cũng nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước
Theo đó việc nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí là điều kiện bắt buộc để được thụ lý và giải quyết vụ án Tuy nhiên không phải mọi trường hợp đương sự đều bắt buộc phải nộp tạm ứng án phí, tiền án phí Theo quy định của pháp luật có một số trường hợp được miễn nộp hoặc giảm tiền tạm ứng án phí, tiền án phí Điều này thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là từ khi
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
Trang 7nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án được ban hành thì đối tượng được miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, tiền án phí càng được mở rộng
Những vấn đề trên phần nào nói lên vai trò quan trọng của án phí dân sự đối với pháp luật Việt Nam nói chung và quá trình tố tụng dân sự nói riêng Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng quy định của BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, tiền án phí vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc, chủ yếu tập trung ở các vấn đề về đối tượng được miễn, giảm, thủ tục và thẩm quyền xét đơn miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí Điều này
đã gây khó khăn cho các đương sự khi có đơn đề nghị được miễn, giảm và khó khăn cho Tòa án khi xem xét đơn đề nghị Cần phải được nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Từ đó, tác giả đã chọn đề tài “Miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí trong
tố tụng dân sự” làm luận văn Thạc sĩ luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài, trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về tạm ứng án phí, án phítrong tố tụng dân sự Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan như sau:
- “Giáo trình, luật tố tụng dân sự Việt Nam”của Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minhdo Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam xuất
bản năm 2012; “Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2012; “Giáo trình luật tố tụng dân sự”của Học viện tư phápdo Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất
bản năm 2007 Đây là những công trình được biên soạn đầy đủ về luật tố tụng dân
sự trong đó có phần án phí và nghĩa vụ chịu án phí dân sự Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho tác giả trong việc triển khai đề tài Tuy nhiên, đây là những công trình chuyên để giảng dạy nên chủ yếu trình bày về lý luận, chưa đi sâu nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí
- Luận văn thạc sĩ luật học“Án phí dân sự sơ thẩm” của tác giả Phan Văn
Thể bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Luật Hà Nội hoặc Luận văn thạc sĩ luật
học “Án phí dân sự trong pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Lan bảo vệ
năm 2014 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Các công trình này đã nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm;
Trang 8các quy định pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành về án phí dân sự và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về án phí dân sự Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu quy định của BLTTDS 2004 và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí theo quy định của BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
- Về các bài viết trên tạp chí pháp lý có các bài:“Một số vấn đề về án phí dân sự sơ thẩm và thực tiễn” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I, tháng 9/2013; “Đôi điều vềPháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án” của tác giả Thái Nguyên Toàn đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 13, tháng 7/2011; “Tìm hiểu một số quy định trong Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 03/2010; “Các bất hợp lý cơ bản từ những quy định về phí, lệ phí, chi phí thi hành án dân sự” của tác giả Lê Thu Hà đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6, tháng 5/2008; “Một số vấn đề cần lưu ý khi soạn thảo về án phí” của tác giả Lê Văn Luật đăng trên Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 04/2008; “Một số khó khăn, vướng mắc qua thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về giám định, chi phí giám định, định giá,
án phí cùng một số kiến nghị” của tác giả Phạm Minh Tuyên đăng trên Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 15, năm 2008… Nhìn chung, các bài viết này chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí theo quy định của BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
Với tình hình trên, đề tài “Miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự” đã nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ về miễn, giảm
tạm ứng án phí và án phí khi BLTTDS 2015và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 được ban hành
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành và phân tích thực tiễn áp dụng quy định về miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí; làm sáng tỏ hệ thống những quy định mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Đồng thời, thông qua thực tiễn áp dụng phát hiện những bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật, trên cơ sở
đó đưa ra một số kiến nghị cụ thể góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự về miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí nhằm nâng cao hiệu quả trong giải quyết các vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Trang 94 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
Về giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đây là đề tài rộng liên quan đến lĩnh vực tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự, nên trong luận văn tác giả tập trung làm rõ các vấn đề sau: một số quy định hiện hành của pháp luật tố tụng dân sự trong phạm vi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 phần quy định về miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương pháp diễn giải trong toàn luận văn Cụ thể:
Trong Chương 1, các phương pháp này được sử dụng để thể hiện nội dung đối tượng được miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí và chứng minh có những bất cập, vướng mắc trên thực tế từ đó đưa ra kiến nghị Ở Chương 2, các phương pháp này được sử dụng để thể hiện nội dung thẩm quyền, thủ tục miễn, giảm tạm ứng
án phí, án phí và chứng minh có những bất cập, vướng mắc trên thực tế từ đó đưa
ra kiến nghị
Phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh được sử dụng để tìm hiểu những quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 so với Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí; quy định của pháp luật so với thực tiễn áp dụng, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí để đề xuất bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Luận văn đã giải quyết vấn đề cơ bản của những quy định pháp luật về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí Đánh giá khách quan, toàn diện quy định của pháp luật đồng thời góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật còn bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng về miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí trong tố tụng dân sự
Giá trị ứng dụng: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác và các Luật sư Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng để học tập, nghiên cứu
6 Bố cục của luận văn
Trang 10Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chương:
Chương 1: Đối tượng được miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự
Chương 2: Thẩm quyền, thủ tục miễn, giảm tạm ứng án phí và án phí trong
tố tụng dân sự
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC MIỄN, GIẢM TẠM ỨNG ÁN PHÍ VÀ ÁN PHÍ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Tiền tạm ứng án phí là khoản tiền mà người khởi kiện, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải tạm nộp vào Ngân sách nhà nước thông qua cơ quan thi hành án dân sự, khoản tiền này do Tòa án tạm tính trên cơ sở quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm1 Mục đích buộc người có yêu cầu phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí là
để các đương sự có một sự cân nhắc trước khi yêu cầu, nếu yêu cầu không được chấp nhận thì số tiền tạm ứng đó sẽ bị mất và để được Tòa án chấp nhận giải quyết yêu cầu của mình thì trước tiên phải tạm nộp một khoản tiền
Tiền án phí dân sự là khoản tiền mà đương sự phải nộp vào ngân sách nhà nước khi Tòa án giải quyết vụ án dân sự và được thi hành khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Tiền án phí dân sự bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm2 Mục đích buộc đương sự phải nộp án phí cũng là nhằm để hạn chế việc khởi kiện, yêu cầu; để người dân hiểu được việc yêu cầu không đúng là phải mất một khoản phí hoặc nếu người có yêu cầu đúng mà người bị yêu cầu không được chấp nhận thì phải chịu một khoản phí Bên cạnh đó, án phí cũng là chính sách tài chính, là nguồn thu vào quỹ Nhà nước
Tuy nhiên, không phải bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào tham gia tố tụng dân sự đều phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí mà vẫn có trường hợp được miễn hoặc giảm nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 146 và khoản 1 Điều 147 BLTTDS 2015 Việc miễn hoặc giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí trong tố tụng dân sự cũng mang ý nghĩa quan trọng, là chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với các đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ, đối với các chủ thể đặc biệt có yêu cầu khởi kiện hoặc khởi kiện đối với các quan hệ pháp luật đặc biệt
1 Khoản 1 Điều 143 BLTTDS 2015
2 Khoản 2 Điều 143 BLTTDS 2015
Trang 121.1 Đối tượng được miễn tạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân
sự
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định cụ thể về các đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí trong tố tụng dân sự mà tại Điều 150 BLTTDS 2015 giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về các trường hợp được miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí
Tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án quy định đối tượng được miễn nộp tiền tám ứng án phí, án phí trong tố tụng dân sự bao gồm:
1 Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
2.Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự
3 Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
* Hộ nghèo:
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Trang 13+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
* Hộ cận nghèo:
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
6.Người cao tuổi, là người từ đủ 60 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009
7 Người khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn theo khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm
2010
8 Người có công với cách mạng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) thì người có công với cách mạng bao gồm:Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng
9 Đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa
Trang 14xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vi dụ: Đồng bào dân tộc Khơ me ở tỉnh Vĩnh Long Đối với việc xác định xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì căn cứ vào Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017 – 2020 Ví dụ: Tại tỉnh Vĩnh Long có xã Loan Mỹ thuộc huyện Tam Bình, xã Trà Côn thuộc huyện Trà Ôn là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
10 Thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ
So với quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 20093 thì Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mở rộng hơn nhiều về đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí Cụ thể bổ sung đối tượng là trẻ em, cá nhân thuộc
hộ cận nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thân nhân liệt sĩ (trước đây chỉ có
bố, mẹ liệt sĩ) Đây là những đối tượng không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp
so với mặt bằng chung của xã hội, rất khó khăn về tài chính nếu buộc họ phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí mới có thể thụ lý vụ án hoặc phải nộp tiền án phí khi vụ án được giải quyết thì họ không có khả năng hoặc sẽ ảnh hưởng đến tài chính của gia đình Do đó, để thể hiện tính chất nhân đạo của Nhà nước, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 đã đưa các đối tượng này vào để miễn tiền tạm ứng án phí, án phí cho họ
Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định của pháp luật về miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí trong thời gian qua tại các Tòa án đã phát sinh những bất cập, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí là trẻ em nhưng không quy định mức tuổi cụ thể và khả năng thu nhập là không phù hợp với quy định tại Điều 69 BLTTDS về năng lực hành vi tố tụng dân sự
Theo quy định tại Điều 69 BLTTDS 2015 về năng lực hành vi tố tụng dân
sự chia các mức độ tuổi của người chưa đủ 18 tuổi như sau:
3 Điều 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009
Trang 15- Đương sự là người chưa đủ 06 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân
sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện
- Đương sự là người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện
- Đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan
hệ dân sự đó Trong trường hợp này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của
họ thực hiện
Như vậy, đối với người chưa đủ 18 tuổi nhưng chưa có tham gia lao động, chưa có tài sản riêng thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Do đó, trường hợp người trong độ tuổi này không có người đại diện hợp pháp thì miễn tiền tạm ứng án phí, tiền án phí cho họ
là phù hợp Trường hợp họ có người đại diện hợp pháp thì buộc những người này phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí
Ví dụ: Cháu A 14 tuổi và cháu B 15 tuổi, mẹ hai cháu là bà C đại diện hợp pháp cho hai cháu khởi kiện ông D yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ E để lại vì
A và B được thừa kế thế vị từ cha là ông F (cụ E có 02 người do là ông D và ông F) Năm 2015 ông F chết do tai nạn, đến năm 2016 cụ E chết, tài sản của ông E hiện do ông D quản lý Bà C yêu cầu ông D phải chia cho cháu A và cháu B ½ di sản do cụ E chết để lại Trong trường hợp này, mặc dù cháu A và cháu B là trẻ em nhưng được bà C là mẹ đại diện khởi kiện, đồng thời việc khởi kiện là yêu cầu được chia di sản thừa kế nên cần phải buộc bà C nộp tiền tạm ứng án phí và trường hợp cháu A và cháu B được chia di sản thì phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “Trẻ em là người dưới
16 tuổi” Như vậy, với khái niệm trẻ em này thì người trong độ tuổi từ đủ 15 tuổi
Trang 16đến dưới 16 tuổi vẫn là trẻ em trong khi nếu họ đã tham gia giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ dân sự đó, tức họ đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự để làm Nguyên đơn Nếu họ có tài sản riêng để tham gia giao dịch dân sự thì việc miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí cho họ theo tác giả là không phù hợp
Ví dụ: Em Nguyễn Văn A 15 tuổi được cha mẹ cho số tiền 1.000.000 đồng
để mua chiếc xe đạp đi học Em A có đến Nhà sách B mua dụng cụ học tập và gửi
xe tại Nhà sách B nhưng sau đó xe bị mất trộm Chiếc xe đạp là tài sản riêng của
A, tham gia giao dịch hợp đồng gửi giữ tài sản với Nhà sách B, khi xe bị mất trộm thì A có đủ tư cách làm Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Nhà sách B bồi thường Nếu được bồi thường thì tài sản được trả lại cho A nên theo tác giả việc miễn toàn
bộ tiền tạm ứng án phí khi A khởi kiện là không phù hợp mà chỉ nên giảm một phần tiền tạm ứng án phí
Thứ hai, hiện nay, tiêu chuẩn về hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, tiêu chuẩn này lại không ổn định trong từng thời điểm và việc cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo chỉ trong thời gian 06 tháng, có khi vẫn một hộ đó khi họ nộp tiền tạm ứng án phí thì thuộc diện hộ nghèo được miễn nộp nhưng đến khi Tòa án xét xử thì họ lại không được công nhận là hộ nghèo hoặc có được gia hạn hay không thì Tòa án không biết rõ trong khi Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 lại không quy định thời điểm xét đơn Điều này gây khó khăn cho Tòa án khi giải quyết vụ việc
Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn Nguyễn Thị Lành với Bị đơn Phạm Thị Em do Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh thụ lý giải quyết4 Bà Lành cho rằng bà có hai thửa đất số 17, diện tích 205,5m2
loại đất vườn và thửa đất số 34, diện tích 77m2 loại đất ở tọa lạc khóm 4, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh Bà được Ủy ban nhân dân thị xã Bình Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 17 vào năm 2014 và thửa 34 vào năm 2005 Quá trình sử dụng đất bà Em lấn chiếm thửa 17 diện tích 49,2m2 và thửa 34 diện tích 37,8m2 Bà Lành khởi kiện yêu cầu bà Em tháo dỡ một phần căn nhà, hàng rào và cây trồng trên đất trả lại đất cho bà Phía bà Em có đơn yêu cầu phản tố yêu
4 Hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thụ lý số 67/2016/TLST-DS ngày 23/5/2016 của TAND thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Trang 17cầu công nhận cho bà được quyền sử dụng các phần đất tranh chấp nêu trên và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Lành tại thửa 17 và thửa
34
Bà Em có cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận hộ nghèo ngày 01/5/20165, có giá trị sử dụng đến ngày 31/12/2016 nên bà Em được Tòa án miễn nộp tiền tạm ứng án phí phản tố Tuy nhiên, đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì thời hạn của Giấy chứng nhận hộ nghèo còn không thì Tòa án không thể biết rõ để miễn hay không miễn tiền án phí nếu bà Em không được chấp nhận yêu cầu phản
tố, trường hợp bà Em không được gia hạn thì Tòa án có miễn hay không thì chưa
có quy định
Thứ ba, Luật Người khuyết tật 2010 phân biệt khuyết tật làm 03 mức độ: người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng và người khuyết tật nhẹ6 Tuy nhiên, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 không quy định rõ để được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì bắt buộc họ phải cung cấp cho Tòa án Giấy xác nhận khuyết tật hay không Việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí áp dụng cho tất cả các người khuyết tật hay chỉ áp dụng đối với người khuyết tật đặc biệt? Điều này đã gây khó khăn cho Tòa án vì có những đương sự nhìn bên ngoài thì thấy họ có thể bị mất hoặc hạn chế chức năng của một bộ phận cơ thể nhưng về tiêu chuẩn để xác định họ có phải là người khuyết tật hay không thì Tòa án không
có căn cứ trong khi họ vẫn chưa đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận khuyết tật theo khoản 1 Điều 19 Luật người khuyết tật năm 2010, gây ảnh hưởng quyền lợi cho đương sự
Thứ tư, việc xác định xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên Quyết định này lại có sự thay đổi theo từng giai đoạn Năm 2016 có Quyết định số 204/QĐ-TTg ngày 01/02/2016 thì đến năm 2017 có Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 và danh sách xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có sự thay đổi Trường hợp năm 2016 đương sự là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số nộp đơn khởi kiện và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và đến năm 2017 Tòa án đưa vụ
án ra xét xử nhưng xã đó không nằm trong danh sách có điều kiện kinh tế - xã hội
5 Phụ lục 1
6 Khoản 2 Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010
Trang 18đặc biệt khó khăn thì Tòa án có miễn tiền án phí hay không thì Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 chưa quy định rõ
Thứ năm, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh số UBTVQH11 về Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 thì thân nhân của liệt sĩ gồm: cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con; người có công nuôi dưỡng khi liệt
26/2005/PL-sĩ còn nhỏ Tuy nhiên, khái niệm thân nhân liệt 26/2005/PL-sĩ này còn quá hẹp trong khi có những liệt sĩ không có con ruột nhưng họ có con nuôi hoặc cha mẹ đẻ họ đã chết nhưng họ có cha mẹ nuôi thì những người này cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 Do đó, việc sử dụng khái niệm “thân nhân liệt sĩ” để áp dụng cho đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí là còn hạn chế
Thứ sáu, theo quy định tại điểm b và điểm h khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 thì người nhiễm chất độc da cam và người nhiễm HIV có khó khăn về tài chính thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý Theo tác giả, đây cũng là những đối tượng cần được bảo vệ, nhất là những người bị nhiễm chất độc da cam
ở những địa phương bị chiến tranh tàn phá, cuộc sống của họ đã rất khó khăn, khi
họ khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho họ thì cần thiết phải miễn toàn
bộ tiền tạm ứng án phí, tiền án phí cho họ Đối với người bị nhiễm HIV thì bản thân họ đã mang căn bệnh không thể điều trị, xã hội còn nhiều kỳ thị thì họ khó xin việc làm dẫn đến khó khăn về tài chính nên việc miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí, tiền án phí cho họ thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước Do đó, cần thiết phải bổ sung họ vào đối tượng miễn tạm ứng án phí, án phí
Từ đó, tác giả kiến nghị như sau:
Một là, không sử dụng khái niệm trẻ em để miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí mà cần quy định rõ độ tuổi là người chưa đủ 18 tuổi, không có tài sản riêng, chưa có thu nhập và không có người đại diện hợp pháp cho phù hợp với quy định về năng lực hành vi tố tụng dân sự tại Điều 69 BLTTDS 2015.Đối với trường hợp có người đại diện hợp pháp thì đưa vào điều khoản loại trừ Theo đó,sửa đổi điểm đ khoản 1 và bổ sung khoản 4 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 như sau:
“1 Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:
Trang 19đ) Người chưa đủ mười tám tuổi không có tài sản riêng, chưa có thu nhập
và không có người đại diện hợp pháp;……
…………
4 Trường hợp người chưa đủ mười tám tuổi không có tài sản riêng, chưa
có thu nhập có người đại diện hợp pháp thì người đại diện hợp pháp phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí”
Hai là, tiêu chuẩn để cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo cần
phải được quy định ổn định, có thể 05 năm mới xem xét thay đổi Mỗi năm có thể xác minh điều kiện kinh tế của các hộ gia đình đã được cấp giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo để tái cấp giấy chứng nhận nhưng việc cấp và tái cấp cần phải được quản lý chặt chẽ, tránh việc cấp giấy chứng nhận tràn lan Bên cạnh đó, sửa đổi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
về “cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo” thành “cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo tại thời điểm xét đơn”
Ba là, sửa đổi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về “người khuyết tật” thành “người được cấp Giấy xác nhận khuyết tật” bởi vì nhiều trường hợp người khuyết tật nhưng chưa làm hồ sơ
để được cấp giấy xác nhận Việc quy định cụ thể như vậy mới có căn cứ để Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí
Bốn là, sửa đổi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 về “đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn” thành “đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tại thời điểm xét đơn”
Năm là, sửa đổi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về “thân nhân liệt sĩ” thành “người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người thân thích có
quan hệ nuôi dưỡng với liệt sĩ
Sáu là, bổ sung điểm mới (điểm e) của khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 về đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí là người nhiễm chất độc da cam và người nhiễm HIV có khó khăn về tài chính Mục
Trang 20đích của việc bổ sung là thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với các đối tượng đặc biệt này Cụ thể như sau:
“1 Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:
Trước đây, theo quy định tại Điều 14 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm
2009 thì không dùng thuật ngữ “giảm tạm ứng án phí, án phí” mà là “miễn nộp một phần tạm ứng án phí, án phí” Theo đó, đối tượng được miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, án phí là người có khó khăn về kinh tế được Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận; mức tiền được miễn không được vượt quá 50% mức tiền tạm ứng
- Có căn cứ chứng minh người được giảm tạm ứng án phí, án phíkhông phải là người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có tài sản để nộp tiền tạm ứng án phí, án phí
- Theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì họ có tài sản
để nộp toàn bộ tiền án phímà họ phải chịu
So với quy định trước đây tại Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 20098 thì quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về đối tượng được giảm tạm ứng án phí, án phí hạn chế hơn rất nhiều, trong đó đã bỏ hẳn việc xác nhận của tổ
7 Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
8 Theo khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án: “Người có khó khăn về kinh tế được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận”
Trang 21chức nơi người có đơn đề nghị làm việc Điều này có ý nghĩa giúp hạn chế được tình trạng xác nhận tình trạng kinh tế khó khăn tràn lan, không đúng đối tượng của các Ủy ban nhân dân cấp xã Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 vẫn phát sinh những bất cập, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, hiện nay có một số hộ dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn không
do sự kiện bất khả kháng mà do không có việc làm ổn định hoặc có việc làm nhưng mức lương thấp, tuy nhiên họ không thuộc diện được cấp Giấy chứng nhận
hộ nghèo, cận nghèo Đối với những người này thì việc nộp tạm ứng án phí với số tiền lớn là vượt khả năng của họ nhưng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 lại quy định họ phải thuộc trường hợp gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có
đủ tài sản để nộp mới được giảm tạm ứng án phí, án phí Do trước đây việc xác nhận hoàn cảnh kinh tế khó khăn của một số Ủy ban nhân dân cấp xã khá tràn lan, không đúng đối tượng nên Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 đã sửa đổi lại nhưng việc này vô hình chung đã ảnh hưởng đến những người thật sự khó khăn cần được bảo vệ
Thứ hai, theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 có nêu khái niệm
sự kiện bất khả kháng, tuy nhiên “gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí” là thế nào thì hiện nay chưa có hướng dẫn
cụ thể trong khi các tranh chấp trong tố tụng dân sự thuộc nhiều lĩnh vực với nhiều giá trị khác nhau Bên cạnh đó, việc dựa vào xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phải nộp tạm ứng án phí, án phí cư trú theo tác giả là cũng không khách quan, dễ dẫn đến tình trạng xác nhận tùy tiện Theo tác giả, chỉ cần quy định người
đó có khó khăn về tài chính, có tài liệu chứng cứ kèm theo chứng minh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú là đủ để Tòa án xem xét, còn việc chấp nhận hay không chấp nhận giảm tiền tạm ứng án phí, án phí là quá trình đánh giá chứng cứ của Tòa án để ra quyết định phù hợp
Thứ ba, theo trình bày ở phần đối tượng được miễn tạm ứng án phí, án phí
thì đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nếu họ có tài sản riêng và đã tham gia giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình, nếu tranh chấp có liên quan đến giao dịch dân sự đó thì họ chỉ được giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí mà không miễn hoặc buộc nộp 100% Bởi vì, về mặt xã hội những người thuộc độ tuổi này vẫn còn ở lứa tuổi chưa thành niên, phần lớn vẫn sống phụ thuộc gia đình, chưa có thu nhập hoặc thu nhập chưa ổn định Tuy nhiên, về mặt tài sản thì họ có
Trang 22tài sản riêng và việc tranh chấp liên quan đến tài sản riêng của họ nên khi có yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập họ phải nộp một phần tạm ứng án phí bằng phân nửa tạm ứng án phí của người đủ 18 tuổi trở lên
Từ đó, tác giả kiến nghị như sau:
Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 theo hướng chỉ quy định đối tượng được giảm tiền tạm ứng án phí, án phí là người
có khó khăn về tài chính, có tài liệu chứng cứ kèm theo chứng minh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đồng thời quy định đối tượng được giảm 50% mức tạm ứng án phí là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng, tham gia giao dịch bằng tài sản riêng và tranh chấp có liên quan đến giao dịch dân sự đó Cụ thể như sau:
“1 Người có khó khăn về tài chính, có tài liệu chứng cứ kèm theo chứng minh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa
án mà người đó phải nộp
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng, tham gia giao dịch bằng tài sản riêng của mình và tranh chấp có liên quan đến giao dịch đó thì được giảm 50% mức tạm ứng án phí mà người đó phải nộp”
Trang 23KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu quy định của BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về đối tượng được miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí trong
tố tụng dân sự, tác giả rút ra một số kết luận như sau:
Một là, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 đã có những quy định mở rộng hơn, cụ thể hơn về đối tượng được miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí so với Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 Thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với một số đối tượng khó khăn trong xã hội cần được bảo vệ
Hai là, thực tế giải quyết các vụ án dân sự nói chung tại Tòa án cho thấy quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về đối tượng được miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí vẫn còn bất cập, vướng mắc như quy định đối tượng được miễn là trẻ em nhưng không dựa vào năng lực hành vi tố tụng dân sự theo Điều 69 BLTTDS 2015, quy định người khuyết tật nhưng không căn cứ vào việc cấp Giấy xác nhận khuyết tật, quy định đối tượng được giảm phải gặp sự kiện bất khả kháng gây khó khăn cho việc chứng minh
Ba là, cần sớm sửa đổ, bổ sung quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 nhằm đảm bảo vệ quyền lợi của người dân và một số đối tượng khó khăn khác
Trang 24CHƯƠNG 2 THẨM QUYỀN, THỦ TỤC MIỄN, GIẢM TẠM ỨNG ÁN PHÍ VÀ ÁN PHÍ
số 326/2016/UBTVQH14 thì thẩm quyền miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí trong tố tụng dân sự được thực hiện như sau:
- Trước khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí sơ thẩm
- Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí của bị đơn
có yêu cầu phản tố, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án
- Thẩm phán được Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm phân công có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí phúc thẩm
- Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm, Thẩm phán được Chánh
án Tòa án phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền xét miễn, giảm án phí cho đương sự có yêu cầu
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm có thẩm quyền xét miễn, giảm án phí cho đương sự có yêu cầu khi ra bản án, quyết định giải quyết nội dung vụ án
Thực tế giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án đã phát sinh những bất cập, vướng mắc về thẩm quyền xem xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí như sau:
Thứ nhất, hiện nay, tại Quyết định số: 345/2016/QĐ-CA ngày 07/4/2016
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định bộ phận Văn phòng của Tòa án
Trang 25nhân dân cấp tỉnh và Văn phòng của Tòa án nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận đơn khởi kiện9 Do đó, đối với những trường hợp người khởi kiện có đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí sơ thẩm cùng với việc nộp đơn khởi kiện thì việc Chánh án Tòa án làm công tác phân công một Thẩm phán xét đơn đề nghị là không cần thiết mà có thể giao cho Chánh Văn phòng thực hiện việc xét đơn đề nghị cho phù hợp với quy định mới
Thứ hai, trường hợp sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì nguyên đơn mới có yêu
cầu khởi kiện bổ sung và yêu cầu này phải nộp tiền tạm ứng án phí Theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 chỉ quy định sau khi thụ
lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí của bị đơn có yêu cầu phản tố, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án mà không quy định trường hợp nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện bổ sung là chưa đầy
án giải quyết Ngày 08/9/2016 Tòa án thụ lý vụ án Đến ngày 09/12/2016, bà Chính tiếp tục làm đơn khởi kiện bổ sung12 yêu cầu chia tài sản chung gồm thửa đất số 973, số tiền 50.000.000 đồng và đàn dê trị giá 45.000.000 đồng Giả sử bà Chính có đơn yêu cầu miễn, giảm tạm ứng án phí đối với yêu cầu chia tài sản thì trong trường hợp này Thẩm phán đang giải quyết vụ án có được xét đơn hay không thì Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 chưa quy định Do đó, theo tác giả cần bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
để có cơ sở pháp lý thống nhất thực hiện
Thứ ba, sau khi Tòa án đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nếu có đương sự
không đồng ý với bản án, quyết định sơ thẩm làm đơn kháng cáo thì họ phải nộp
9 Khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 5 Quyết định số: 345/2016/QĐ-CA ngày 07/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
10 Hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản khi ly hôn” thụ lý
số 248/2016/TLST-DS ngày 08/9/2016 của TAND thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
11 Phụ lục 2
12 Phụ lục 3
Trang 26tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trường hợp họ có đơn đề nghị miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phân công một Thẩm phán xét đơn đề nghị miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm13 Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định Thẩm phán được phân công xét đơn đề nghị phải khác với Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa sơ thẩm hoặc Thẩm phán đã ra quyết định sơ thẩm bị kháng cáo Bởi vì Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa sơ thẩm hoặc đã ra quyết định sơ thẩm mà đương sự có đơn kháng cáo bản án, quyết định
đó thì việc đương sự làm đơn đề nghị miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm có thể Thẩm phán sẽ không hài lòng, nếu tiếp tục giao Thẩm phán này xét đơn đề nghị thì có khả năng sẽ không khách quan Trường hợp Thẩm phán ra Thông báo không chấp nhận miễn, giảm sẽ dẫn đến tình trạng đương sự bức xúc khiếu nại kéo dài Do đó, cần phải quy định trong trường hợp này Chánh án Tòa
án cấp sơ thẩm phân công một Thẩm phán khác xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí phúc thẩm
Từ đó, tác giả kiến nghị:
Một là, sửa đổi khoản 1 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14quy
định thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí sơ thẩm trước khi thụ
lý vụ án là Chánh Văn phòng cho phù hợp với Quyết định số: 345/2016/QĐ-CA ngày 07/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Cụ thể:
“Điều 15 Thẩm quyền miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí
1 Trước khi thụ lý vụ án, Chánh Văn phòng có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí sơ thẩm”
Hai là, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 trường hợp sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện bổ sung thì Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ
án có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí Cụ thể như sau:
“Điều 15 Thẩm quyền miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí
………
2 Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải
quyết vụ án có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí củanguyên
13 Khoản 3 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
Trang 27đơn có yêu cầu khởi kiện bổ sung, bị đơn có yêu cầu phản tố, của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án”
Ba là, sửa đổi khoản 3 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
trường hợp sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm mà đương sự có đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí phúc thẩm thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán khác với Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa hoặc ra quyết định sơ thẩm có thẩm quyền xét đơn đề nghị Cụ thể:
“Điều 15 Thẩm quyền miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí
………
3 Sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán khác với Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa sơ thẩm hoặc ra quyết định
sơ thẩm có thẩm quyền xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí phúc thẩm”
2.2 Thủ tục miễn, giảmtạm ứng án phí và án phí trong tố tụng dân sự
Tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định người
đề nghị miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phải có đơn đề nghị nộp choTòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm Như vậy, Tòa án không tự mình căn cứ vào quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 để miễn, giảm cho đương sự mà bắt buộc đương sự phải làm đơn đề nghị miễn, giảm kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh Đơn đề nghị miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phải có các nội dung sau đây14:
- Ngày, tháng, năm làm đơn
- Họ, tên, địa chỉ của người làm đơn
- Lý do và căn cứ đề nghị miễn, giảm
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí và tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm, Tòa án thông báo bằng văn bản về việc miễn, giảm hoặc không miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí Trường hợp không miễn, giảm thì phải nêu rõ lý
do15
14 Khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
15 Khoản 5 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
Trang 28Trường hợp không đồng ý với thông báo của Tòa án thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về việc miễn, giảm hoặc không miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm phải xem xét giảiquyết khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại Quyết định của Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm là quyết định cuối cùng.Khiếu nại về án phí Tòa án trong bản án, quyết định của Tòa án được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự16
Thực tiễn áp dụng quy định nêu trên đã phát sinh những bất cập, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, hiện nay Tòa án nhân dân tối cao chưa hướng dẫn thống nhất
Mẫu “Đơn đề nghị miễn (giảm) tạm ứng án phí, án phí” Do đó, các đương sự mỗi người làm một hình thức khác nhau, không thống nhất tên gọi và không thống nhất nội dung, phần lớn đương sự không phân biệt được trường hợp nào là miễn trường hợp nào là giảm tạm ứng án phí, án phí mà trong đơn họ nêu “xin miễn giảm” Bên cạnh đó, quy định có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người làm đơn nhưng không hướng dẫn rõ việc xác nhận ngay trong Đơn đề nghị hay là một văn bản riêng biệt, gây khó khăn cho đương sự khi làm đơn và Tòa án khi tiếp nhận đơn
Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn Phạm Thị Nở với Bị đơn Phạm Thanh Hồng do Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết Bà Nở khởi kiện yêu cầu được chia thừa
kế phần đất thửa 372 và yêu cầu được hưởng 1.200m2 Do bà Nở có Giấy chứng nhận hộ cận nghèo17 nên bà Nở đã làm “Đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng ánphí và
án phí”18và có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Cái Vồn là hộ cận nghèo năm 201719
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 thì người đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí thuộc trường hợp quy định tại Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết phải có đơn đề nghị nộp
Trang 29cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm Sau đó thì Chánh án Tòa án sẽ phân công cho Thẩm phán xét đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án phải thông báo bằng văn bản về việc miễn hoặc không miễn tạm ứng án phí, án phí20 Trong khi đó, khoản 4 Điều 195 BLTTDS
2015 lại quy định: Trường hợp người khởi kiệnđược miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phíthì Thẩm phán phải thụ lý vụ ánkhi nhận được đơn khởi kiệnvà tài liệu, chứng cứ kèm theo Như vậy, quy định giữa Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và BLTTDS 2015 trong trường hợp này là mâu thuẫn nhau
Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơnPhạm Thị Nở với Bị đơn Phạm Thanh Hồng do Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyếtnêu trên21 Bà Nở có Giấy chứng nhận hộ cận nghèo Khi bà Nở nộp đơn khởi kiện thì song song đó có nộp đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng án phí và án phí và Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 195 BLTTDS 2015 đã thụ lý ngay vụ án
Như vậy, theo BLTTDS 2015 thì bà Phạm Thị Nở thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã thụ lý ngay vụ án khi nhận được tài liệu, chứng cứ kèm theo đầy đủ Trong khi đó, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định phải qua thủ tục xét đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí Với quy định này thì hiện nay các Tòa án không biết phải thực hiện theo thủ tục nào trong khi Nghị quyết là văn bản dưới luật
Thứ ba, trước đây Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 không quy
định hình thức xử lý đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí là Tòa án phải
ra thông báo hay quyết định nên các Tòa án thực hiện khác nhau Nay tại khoản 5 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định Tòa án xử lý đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí bằng hình thức ra Thông báo Tuy nhiên, hiện nay Tòa án nhân dân tối cao chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất Mẫu “Thông báo miễn (giảm) tạm ứng án phí, án phí” Do không có hướng dẫn một mẫu thống
20 Điều 15, Điều 16 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
21 Tlđd 9