1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN: Nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn 10 thông qua hệ thống câu hỏi định hướng soạn bài theo biên soạn của giáo viên

17 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 70,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cho thấy giải pháp đã có tác động rất tích cực đến kết quả học tập của học sinh. Điểm số của học sinh nhóm thực nghiệm cao và đồng đều hơn so với nhóm đối chứng và các em đã yêu thích giờ văn hơn. Điều đó chứng tỏ rằng việc cho học sinh soạn bài theo hệ thống câu hỏi định hướng mà giáo viên biên soạn đã nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học sinh yêu thích, chăm học hơn và đặc biệt là kết quả học tập môn Ngữ văn cao hơn.

Trang 1

MỤC LỤC

2.3 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài trang 5

4.2 Phân tích dữ liệu trang 12

5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ trang 14

Trang 2

1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Luận ngữ viết: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học” Có thể thấy, niềm yêu thích say mê chính là động lực thúc đẩy, nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi con người Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của học sinh, hơn ai hết việc phải tìm ra nhiều cách thức để phát huy cao nhất tính tích cực, sáng tạo của người học, gây niềm hứng thú say mê học tập và mang lại kết quả cao trong học tập ở các em học sinh chính là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi giáo viên đứng lớp

Thiết nghĩ, “làm sao để khiến học sinh thích mà học, rồi từ đó say mà học?” luôn là câu hỏi trăn trở, thường trực của hầu hết các giáo viên giảng

dạy Tìm ra giải pháp để phát huy cao nhất tính tích cực, sáng tạo đồng thời tạo niềm hứng thú, say mê học tập và mang lại kết quả cao trong học tập của các em học sinh đối với môn Ngữ văn cũng là một trong những vấn đề đặt ra với hầu hết các giáo viên giảng dạy bộ môn này Có thể nói môn Ngữ văn có một vai trò quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh, giúp các em biết yêu thương trân trọng cái đẹp, cái thiện, lên án, căm ghét cái

ác, cái xấu từ đó có hành động suy nghĩ phù hợp Qua đó góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn, tích cực chủ động trong cuộc sống đặc biệt là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như hiện nay

Trong thời đại số hiện nay, một trong những vấn đề nhiều giáo viên băn khoăn, trăn trở là tình trạng học sinh chán học môn Ngữ văn, quay lưng lại với môn Ngữ văn cũng như các bộ môn khoa học xã hội khác Với nhiều học sinh, giờ học Ngữ văn chỉ quanh quẩn trong vài hoạt động nhàm chán: đọc – nghe, chép bài, học thuộc, trả bài Trong đó việc đọc – nghe không còn hứng thú, ghi chép dài dòng không sáng tạo và trả bài (trong các bài kiểm tra) là đọc lại, chép lại bài giảng của thầy cô hay các bài văn mẫu Cách dạy văn, học văn như thế khiến học sinh cảm thấy giờ văn nặng nề, nhàm chán Học sinh hiện nay sống trong thời đại khoa học công nghệ tiên tiến, có khả năng tiếp

Trang 3

cận một cách nhanh chóng và không giới hạn với một kho giải trí và thông tin khổng lồ trên internet Sức ép và sự căng thẳng trong học tập cũng làm gia tăng ở các em nhu cầu giải trí bằng các trò chơi điện tử và mạng xã hội Có thể nói trong cuộc cạnh tranh để thu hút sự chú ý và yêu thích của giới trẻ giữa môn Ngữ văn và các phương tiện giải trí khác, ưu thế không thuộc về văn chương Việc học môn Ngữ văn của các em học sinh như đọc văn bản, soạn bài, … chỉ là học đối phó, học tủ, học vẹt cho nên kết quả học tập ngày càng thấp Vậy làm thế nào để học sinh yêu thích môn Ngữ văn, từ đó chăm học, nâng cao kết quả học tập? Một trong số giải pháp mà tôi mạnh dạn lựa chọn để cải thiện tình hình đó là “Nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn 10

thông qua hệ thống câu hỏi định hướng soạn bài theo biên soạn của giáo viên”.

Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương nhau về học lực Đó là các em học sinh lớp 10A12 (gồm 38 em – nhóm thực nghiệm); lớp 10A8 (gồm 42 em – nhóm đối chứng) Nhóm thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế ở các tết đọc văn trong chương trình Ngữ văn 10, tập 1(trừ các tiết đọc văn thuộc phần Văn học nước ngoài và phần đọc thêm) Nhóm đối chứng được dạy bình thường trong cùng thời gian và phạm vi trên

Kết quả cho thấy giải pháp đã có tác động rất tích cực đến kết quả học tập của học sinh Điểm số của học sinh nhóm thực nghiệm cao và đồng đều hơn so với nhóm đối chứng và các em đã yêu thích giờ văn hơn Điều đó chứng tỏ rằng việc cho học sinh soạn bài theo hệ thống câu hỏi định hướng

mà giáo viên biên soạn đã nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học sinh yêu thích, chăm học hơn và đặc biệt là kết quả học tập môn Ngữ văn cao hơn

2 GIỚI THIỆU 2.1 Hiện trạng

Việc soạn bài môn Ngữ văn là việc làm quen thuộc và bắt buộc của mỗi học sinh trước khi đến lớp Có thể thấy đây là hoạt động cần thiết đối với việc

Trang 4

tự học, tự chuẩn bị bài của học sinh đi vào nề nếp, quy củ; để sự tương tác, chất lượng các tiết dạy – học của thầy và trò đạt hiệu quả cao Để việc chuẩn

bị bài ở nhà của học sinh diễn ra được tốt, học sinh cần có sự định hướng Thông thường hiện nay, yếu tố định hướng để học sinh chuẩn bị bài ở nhà chính là hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa Nhìn chung, hệ thống câu hỏi này được xây dựng kĩ lưỡng dựa trên yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của từng bài học Tuy nhiên hệ thống câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa đặc biệt là phần văn bản mới chỉ là định hướng chung cho mọi đối tượng học sinh, chưa có sự phân loại cụ thể Các câu hỏi đặt ra còn chung chung, hệ thống câu hỏi chưa có tính dẫn dắt, hỏi gộp nhiều ý trong một câu khiến học sinh lúng túng Trong khi đó, đối tượng học sinh rất

đa dạng, khả năng nắm vấn đề của học sinh ở mỗi vùng miền có sự khác nhau nên sử dụng câu hỏi chung trong sách giáo khoa nhiều khi chưa phù hợp Một thực trạng khác nữa, từ hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa, đã có rất nhiều

bộ sách biên soạn câu trả lời sẵn nên nhiều học sinh đối phó bằng cách sao chép tài liệu vào vở mà không cần đọc văn bản, không nắm được chút gì về văn bản

Qua thực tế giảng dạy nhiều năm của bản thân ở trường THPT Krông

Nô, kết hợp với việc tham khảo ý kiến của đồng nghiệp trong tổ chuyên môn, tôi nhận thấy hiện nay đa số học sinh chưa thực sự chủ động và tích cực trong việc soạn bài trước khi đến lớp Các em thấy khó khăn khi soạn các bài đọc văn Đây có thể được xem là nguyên nhân chính khiến các em học sinh không hứng thú với môn Ngữ văn dẫn đến kết quả học tập không cao

2.2 Giải pháp thay thế

Giáo viên xây dựng một hệ thống câu hỏi định hướng phần đọc văn và cung cấp đến học sinh trước mỗi kì, giúp học sinh soạn bài Hệ thống câu hỏi định hướng giáo viên biên soạn căn cứ vào: Tài liệu Chuẩn kĩ năng, kiến thức Ngữ văn 10; Hệ thống câu hỏi hướng dẫn ở mỗi bài học trong Sách giáo khoa Ngữ văn 10; Đối tượng học sinh ban cơ bản trường THPT Krông Nô

Trang 5

2.3 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài

- Phạm Thúy Hằng (2011) Đặt câu hỏi trong dạy học tác phẩm tự sự dân

gian chương trình Ngữ văn lớp 10, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc

gia Hà Nội

- Lưu Thị Nụ (2008) Thiết kế bộ câu hỏi đặc trưng thể loại dạy học tác phẩm

văn học nước ngoài trong nhà trường THPT Việt Nam – Khóa luận tốt

nghiệp, Khoa Sư phạm – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Trần Thanh Tuấn, Xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài soạn Ngữ văn 12, Giáo viên trường THPT Long Hiệp – Huyện Trà Cú – Tỉnh Trà Vinh

2.4 Vấn đề nghiên cứu

Việc giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài môn Ngữ văn 10 có nâng cao kết quả học tập của học sinh không?

2.5 Giả thuyết nghiên cứu

Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài môn Ngữ văn 10 sẽ nâng cao kết quả học tập của học sinh

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khách thể nghiên cứu

Tôi chọn khách thể nghiên cứu là hai lớp: 10A8 và 10A12, trường THPT Krông Nô năm học 2016 – 2017

Giáo viên:

Lớp 10A8 (lớp thực nghiệm) do cô giáo Nguyễn Thị Huyền làm chủ nhiệm Lớp gồm 42 học sinh (trong đó 18 nữ, 24 nam); Lớp 10A12 (lớp đối chứng) do thầy giáo Nguyễn Quốc Việt làm chủ nhiệm Lớp gồm 38 học sinh (trong đó 15 nữ, 23 nam) Cả hai lớp đều có số lượng học sinh nam nhiều hơn học sinh nữ Cả hai giáo viên chủ nhiệm đều giảng dạy bộ môn Toán, là những giáo viên trẻ, yêu nghề, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh

Trang 6

Học sinh:

Hai nhóm lớp được chọn tham gia nghiên cứu có điểm tương đồng nhau về giới tính, ý thức học tập, kết quả học tập

Bảng 1: Bảng tương quan giữa hai nhóm

Các

thông tin

Học sinh các nhóm Học lực Hạnh kiểm

Lớp 10A8 42 24 18 1 7 31 3 0 39 3 0 0

3.2 Thiết kế

Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 10A8 là nhóm đối chứng và lớp 10A12

là nhóm thực nghiệm Tôi dùng bài kiểm tra khảo sát đầu năm (bài kiểm tra chung toàn trường cho học sinh khối 10 để xếp lớp) làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T – tets để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động

Kết quả:

Bảng 2: Kiểm chứng để kiểm tra kết quả tương đương

Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm

P = 0,78 > 0,05 từ đó kết luận điểm chênh lệch điểm số trung bình của

hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi

là tương đương

Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương

Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu

Trang 7

Nhóm trước tác

động

tác động

Soạn bài theo hệ thống câu hỏi do giáo viên biên

soạn

03

Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa

04

Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T – tets độc lập

3.3 Quy trình nghiên cứu

Chuẩn bị của giáo viên:

- Đối với lớp 10A12 (nhóm thực nghiệm), giáo viên cung cấp hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài Hệ thống câu hỏi bao gồm toàn

bộ các tiết đọc văn thuộc phân môn Văn học trong chương trình Ngữ văn lớp

10, tập 1 (trừ các văn bản thuộc phần Văn học nước ngoài và các bài đọc thêm) Ở mỗi tiết dạy, giáo viên sử dụng thời gian củng cố bài học để kiểm tra

vở soạn nhằm đánh giá việc soạn bài của học sinh Các bài cụ thể:

+ Chiến thắng Mtao Mxây + Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy + Tấm Cám

+ Tam Đại con gà + Nhưng nó phải bằng hai mày + Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa + Tỏ lòng

+ Cảnh ngày hè + Nhàn

+ Đọc Tiểu Thanh kí

Trang 8

- Đối với lớp 10A8 (nhóm đối chứng), giáo viên tiến hành dạy học bình thường Học sinh nhóm thực nghiệm soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1)

Tiến hành dạy thực nghiệm:

Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể như sau:

Bảng 4: Thời gian thực hiện

Tuầ

n

Ngày tháng Tiết

PPCT

Tên bài

3 13/9/2016 8, 9 Chiến thắng Mtao Mxây

4 20/9/2016 11, 12 Truyện An Dương Vương và Mị Châu –

Trọng Thủy

6 4/10/2016 18, 19 Tấm Cám

7 11/10/2016 21 Tam Đại con gà;

Nhưng nó phải bằng hai mày

8 18/10/2016 24, 25 Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

12 15/11/2016 35 Tỏ lòng

13 22/11/2016 36, 37 Cảnh ngày hè

14 29/11/2016 39, 40 Nhàn

14 2/12/2016 41 Đọc Tiểu Thanh kí

3.4 Đo lường

Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm học 2016 – 2017 do trường THPT Krông Nô ra chung cho tất cả học sinh khối 10

Bài kiểm tra sau tác động lần 1 là bài viết số 2 do giáo viên bộ môn ra

đề chung cho hai lớp (xem phần phụ lục) Bài kiểm tra này được tiến hành cho học sinh hai lớp làm trong tuần 8, theo phân phối chương trình Ngữ văn

10 Đề kiểm tra gồm hai phần: phần đọc – hiểu và phần làm văn với tỉ lệ điểm

là 3/7 Thời gian kiểm tra 90 phút

Trang 9

Bài kiểm tra sau tác động lần 2 là bài kiểm tra chất lượng học kì I, năm học 2016 – 2017, đề kiểm tra do tổ chuyên môn ra chung cho học sinh toàn trường (xem phần phụ lục) Đề kiểm tra cũng gồm hai phần: phần đọc – hiểu

và phần làm văn với tỉ lệ điểm là 3/7 Thời gian kiểm tra 90 phút Bài kiểm tra này được tiến hành cho học sinh toàn trường thi trong tuần 18 theo lịch thi học kì I, năm học 2016 – 2017 của trường THPT Krông Nô Học sinh thi theo danh sách sắp xếp thứ tự họ và tên, mỗi phòng thi gồm 24 em

Tiến hành kiểm tra và chấm bài:

Đối với bài kiểm tra sau tác động lần 1, tôi tiến hành cho học sinh làm bài viết số 2 (2 tiết) trên lớp theo đúng phân phối chương trình giảng dạy môn Ngữ văn 10 Tôi đã chấm bài theo đáp án và biểu điểm đã xây dựng (trình bày

ở phần phụ lục)

Đối với bài kiểm tra sau tác động lần 2, học sinh toàn trường tiến hành làm bài kiểm tra học kì I theo lịch thi của nhà trường Bài kiểm tra được cắt phách và do tổ chuyên môn chấm theo đáp án và biểu điểm đã xây dựng (xem phần phụ lục)

4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 4.1 Trình bày kết quả

Bảng 5: Kết quả trước tác động

Trang 10

ĐIỂM SỐ LƯỢNG

Bảng 6: Kết quả sau tác động

Trang 11

8 3 0 10 4

Bảng 7: So sánh điểm trung bình kiểm tra sau tác động lần 1

Chênh lệch giá trị TB

Bảng 8: So sánh điểm trung bình kiểm tra sau tác động lần 2

Đối chứng Thực nghiệm

Chênh lệch giá trị TB

4.2 Phân tích dữ liệu

Qua bảng 6 (bảng kiểm tra trước tác động), ta thấy kết quả của hai nhóm trước tác động là tương đương (chênh lệch điểm trung bình chỉ là 0,1) Nhưng sau tác động ở cả hai lần (bảng 7, bảng 8), kết quả học tập của hai nhóm đã có sự chênh lệch Cả hai nhóm đều tăng, nhưng nhóm thực nghiệm tăng nhiều hơn Sau tác động lần 1, điểm trung bình của nhóm thực nghiệm là 6,9 điểm trung bình của nhóm đối chứng là 5,9 Sau tác động lần 2, sự chêch lệch điểm trung bình giữa hai nhóm cao hơn lần 1 Ở lần tác động này, điểm trung bình của nhóm thực nghiệm là 6,0 còn điểm trung bình của nhóm đối chứng chỉ là 4,9 Sau tác động kiểm chứng chêch lệch điểm trung bình bằng T–Tets cho kết quả P của hai lần tác động là: sau tác động lần 1 cho kết quả

Trang 12

của P = 0,00011 sau tác động lần 2 cho kết quả của P = 0,00015 Qua kết quả sau hai lần tác động, có thể thấy sự chêch lệch giữa điểm trung bình của nhóm thực nghiệm với nhóm đối chứng là có ý nghĩa, tức là chêch lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do tác động

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn lần 1 là:

SMD = (6,9 - 5,9): 1,15 = 0,87 Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn lần 2 là:

SMD = (6,0 - 4,9): 1,2=0,92

Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn nằm ở mức từ 0,8 – 1,00 cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài đến kết quả học tập môn

Ngữ văn của nhóm thực nghiệm là lớn.

Như vậy giả thuyết về đề tài “ Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài môn Ngữ văn 10” làm nâng cao kết quả học tập của học sinh đã được kiểm chứng

Trang 13

Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau hai lần tác động

của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm

4.3 Bàn luận

Kết quả bài kiểm tra sau tác động ở cả hai lần của nhóm thực nghiệm điểm trung bình lần lượt là 6,9 và 6,0 còn kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng lần lượt là 5,9 và 4,9 Độ chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm lần 1 là 1,0 và lần 2 là 1,1 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra SMD lần lượt

là 0,87 và 0,92 Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn

Phép kiểm chứng T – Tets điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là P = 0,0001 < 0,001 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm

Việc giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài đã tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, giúp phát huy tính chủ động, tích cực và sang tạo của học sinh Các em cũng đã yêu thích giờ học văn hơn, hứng thú sôi nổi hơn trong giờ học

Tuy nhiên để thực hiện tốt tác động này thì giáo viên phải thật sự tâm huyết với nghề, chuẫn bị kĩ giáo án trước khi lên lớp, đặc biệt là khâu thiết kế

hệ thống câu hỏi giúp học sinh soạn bài ở nhà

5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 6.1 Kết luận

Việc giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng giúp học sinh soạn bài môn Ngữ văn 10 ở trường THPT Krông Nô thay thế cho việc học

Ngày đăng: 29/04/2021, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w