1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng nhà nước và pháp luật trong bộ luật hồng đức

155 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông đã kế thừa những tinh hoa giá trị tư tưởng đạo đức, chính trị được sáng tạo nên trong các giai đoạn phát triển nước ta của lịch sử dân tộc và vận dụng nó, cải cách nó theo chiều hướn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM

  

VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG

TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁT LUẬT TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM

  

VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG

TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁT LUẬT TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

Chuyên ngành: Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS.TRỊNH DOÃN CHÍNH

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Nội dung trong luận văn này là trung thực, chưa từng công bố bởi tác giả nào khác

Tác giả

Võ Thị Xuân Hương

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN

ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC 10 1.1 Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XV cho quá trình hình thành tư tưởng về nhà nước và pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 10

1.1.1 Khái quát đặc điểm lich sử xã hội thời kỳ Lê sơ 11 1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ Lê sơ với sự hình thành tư tưởng nhà nước và pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 19

1.2 Tiền đề văn hóa, tư tưởng với việc hình thành tư tưởng nhà nước và pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 43

1.2.1 Tiền đề văn hóa, tư tưởng thời kỳ Lê sơ với việc hình thành tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật 43 1.2.2 Kết cấu cơ bản của Bộ luật Hồng Đức 50

Kết luận chương 1 53 Chương 2: NỘI DUNG, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC, PHÁP LUẬT CỦA

BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC 55 2.1 Nội dung tư tưởng về nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức 55

2.1.1 Nội dung tư tưởng về nhà nước trong bộ luật Hồng Đức 55 2.1.2 Nội dung tư tưởng về pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức 80

Trang 5

2.2 Giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng nhà nước,

pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 108

2.2.1 Giá trị và hạn chế của tư tưởng nhà nước và pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 108

2.2.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng nhà nước và pháp luật trong bộ luật Hồng Đức 124

Kết luận chương 2 133

PHẦN KẾT LUẬN 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một quốc gia muốn phát triển bền vững và ổn định không chỉ cần phát triển các mặt, các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa mà cần phải có một bộ máy nhà nước và pháp luật vận hành tốt, để điều chỉnh vận hành các lĩnh vực

đó của xã hội Vì chính nó là bộ não để xây dựng hệ thống nhà nước pháp luật hoàn thiện, nó phụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức của giai cấp thống trị Do vậy có thể nói quản lý nhà nước và điều hành pháp luật chiếm vị trí đặc biệt

về mặt lý luận cũng như thực tiễn tổ chức xã hội nói chung cũng như xã hội Việt Nam hiện nay nói riêng

Nhà nước và pháp luật là hai yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; nhà nước và pháp luật đều là phương tiện của quyền lực chính trị, cùng phát sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong theo sự vận động của xã hội Nhà nước và pháp luật tồn tại phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau, không có nhà nước thì sẽ không có pháp luật,

và ngược lại không có pháp luật thì không vận hành tổ chức được bộ máy nhà nước, không thiết lập được những mối liên hệ với các nước khác Pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và mang tính bắt buộc chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng quyền lực

Mặc dù trong mấy chục năm qua, sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta đã cố gắng rất nhiều trong việc xây dựng một nhà nước kiểu mới, nhà nước và pháp luật do dân vì dân phù hợp với hiến pháp chế độ xã hội đã lựa chọn; nhưng giờ đây trong công cuộc cải cách hành

Trang 7

chính nhà nước vẫn đang là một trong những mục tiêu và nhiệm vụ cấp bách hàng đầu và cần thiết nhất Để hoàn thành nhiệm vụ đó chúng ta phải tiếp tục đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X

cũng đã xác định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối họp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật, xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra giám sát tính họp hiến, họp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” [27, tr.125 ]

Việc nghiên cứu về quản lý Nhà nước và cũng cố pháp luật thực sự là một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng hàng đầu đối với nhà nước ta Để hoàn thành nhiệm vụ đó một mặt chúng ta phải tiếp thu những giá trị kinh nghiệm tổ chức quản lý nhà nước của dân tộc ta trong lịch sử để lại; mặt khác, chúng ta cũng phải biết kế thừa những tinh hoa, giá trị về quản lý nhà nước và pháp luật của nhân loại từ xưa đến nay, để từ đó rút ra nhửng bài học bổ ích cho việc xây dựng tổ chức quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đó cũng là đòi hỏi khách quan đối với mọi người chúng ta đang góp phần thực hiện công cuộc đổi mới nhà nước và pháp luật Việt Nam Trải qua dòng lịch sử của dân tộc, từ thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang với loại hình nhà nước sơ khai, chưa có pháp luật thành văn, kinh qua những nhà nước quân chủ trung ương tập quyền của các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn rồi đến thời đại Hồ Chí Minh, với nhà nước kiểu mới và nền pháp luật phục vụ

Trang 8

hướng lên chủ nghĩa xã hội Bằng những thành tựu đạt được, ông cha ta đã hun đúc và tạo nên biết bao nhiêu kinh nghiệm và truyền thống quý báu trong lĩnh vực quản lý Nhà nước, xây dựng và cũng cố pháp quyền

Triều đại Lê sơ là một trong những triều đại đạt được những thành tựu

rự rỡ nhất về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội Trong đó pháp luậ là một trong những thành tựu có giá trị đặc biệt trong dòng lịch sử pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thời Lê sơ nói riêng Điều đó được thể hiện tập trung trong Bộ Luật Hồng Đức, nó là nguồn sinh khí, là giá trị về triết lý chính trị và pháp luật quý báu của dân tộc ta đất nước ta Đây cũng chính là đỉnh cao của hoạt động lập pháp thời kỳ phong kiến Việt Nam Các nhà nước và pháp luật là hai phạm trù luôn luôn cùng đi song song với nhau trong một chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc V.I Lê nin đã nói “nhà nước là bộ máy dùng để giữ vững sự thống trị của một giai cấp này đối với một giai cấp khác” [58, tr.84] nhưng để làm được điều đó cần phải có pháp luật

Theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trong thời

kỳ trung đại đã trải qua biết bao nhiêu những biến động, thay đổi trong dòng biến thiên của lịch sử xã hội Để đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn trong mỗi thời đại đã xuất hiện những nhà tư tưởng, những nhà chính trị lớn trong lịch sử như: Ngô Quyền thời kỳ Tiền Lê, Lý Nhân Tông thời kỳ nhà Lý, Trần Nhân Tông nhà Trần, Hồ Qúy Lý thời kỳ nhà Hồ Tư tưởng của Hồ Qúy Ly chịu ảnh hưởng rất nhiều hệ tư tưởng Nho giáo, tuy ông là người có chính kiến riêng, có bản lĩnh của một nhà lãnh đạo Nhưng trong mọi hành động và suy nghĩ ông là một nhà nho cấp tiến, ông tôn sùng tư tưởng Nho giáo và vận dụng một cách tuyệt đối dẫn đến mù quáng, tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng tư tưởng cải cách của ông rất toàn diện, táo bạo trên mọi lĩnh vực của đời

Trang 9

sống xã hội như kinh tế, chính trị, quân sự, giáo dục Tư tưởng cải cách của ông đã góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển mới của một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền là người đóng vai trò khai mở mới cho việc cải cách mới trong lịch sử Việt Nam thời Hậu Lê Trong đó, đặc biệt là nhà tư tưởng chính trị Lê Thánh Tông Ông là vị vua anh minh, có tố chất thông minh và là một nhà tư tưởng có nhiều ảnh hưởng Phật giáo và Nho giáo Ông

đã kế thừa những tinh hoa giá trị tư tưởng đạo đức, chính trị được sáng tạo nên trong các giai đoạn phát triển nước ta của lịch sử dân tộc và vận dụng nó, cải cách nó theo chiều hướng uyển chuyển, mềm mại để giải đáp nhiệm vụ lịch sử xã hội Đại Việt đặt ra ở thế kỷ XV, giữ vững độc lập, thống nhất của chủ quyền quốc gia, dân tộc; và ông đã dùng bộ máy nhà nước để “an dân” dùng hệ thống pháp luật để “ trị nước ”, đưa đất nước vào sự phát triển ổn định

Để xây dựng hệ thống nhà nước, pháp luật có hiệu lực và hiệu quả Lê Thánh Tông đã tiếp thu những giá trị tinh hoa của thời đại, đồng thời ông đã

kế thừa những tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm và tư tưởng đạo đức chính trị của Nho giáo Ông đã chọn lọc, kế thừa để cải cách nó cho phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của nhà nước Đại Việt ở thế kỷ XIV – XV Đó chính là triết lý của sự phát triển xã hội hài hòa và bền vững, bởi vì ông dung hợp các nguồn tư tưởng từ quá khứ của dân tộc với những triết lý phong phú, sâu sắc của Phật giáo và những thâm trầm của Nho giáo, tính nghiêm khắc, cứng nhắc của Pháp trị; ông đã kế thừa và so sánh chọn lọc, tổng hợp lại để sáng tạo nên

hệ thống pháp luật đáp ứng được yêu cầu của lịch sử Tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ Luật Hồng Đức của ông tạo nên những nét độc đáo và đặc sắc riêng ghi dấu ấn đậm trong lịch sử tư tưởng pháp luật Việt Nam, là nguồn lực nội sinh để chúng ta kế thừa, tiếp nối và phát huy sức mạnh truyền thống

Trang 10

đó trong công cuộc đổi mới, hoàn thiện hệ thống nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Đề tài “Tư tưởng Nhà nước và pháp luật trong Bộ Luật Hồng Đức’’

góp phần cung cấp một cách nhìn khái quát nội dung về nhà nước và pháp luật của bộ luật này Từ đó chúng ta có thể rút ra bài học có ý nghĩa, có giá trị lịch sử cho chúng ta thời đại mới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chính từ những ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ Luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông cho nên từ trước đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu trong nước và ngoài nước tiếp cận dưới nhiều gốc độ khác nhau về vấn đề này, như:

Hướng thứ nhất là, nghiên cứu Bộ Luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông trong dong chảy lịch sử của dân tộc, tiêu biêu cho hướng này trước hết phải

kể đến các tác phẩm Hồng Đức thiện chính thư, do Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác

phiên dịch và Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Luật khoa thạc sĩ đề tựa, Trường Luật khoa Đại học Sài Gòn, Nxb Nam Hà ấn quán, Sài Gòn, năm 1959 Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỷ XV – XVIII, do Giáo sư Tiến sĩ Đào Trí

Úc chủ nhiệm đề án Hay tác phẩm Đại việt sử ký toàn thư, tập 1, tập 2 Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1998; Lịch sử Việt Nam cổ trung đại,

do Huỳnh Công Bá chủ biên, Nxb.Thuận hóa, Huế , xuất bản năm 2011; Giáo

trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội,

Nxb Công an nhân dân, năm 2004; Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Trường

Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2003, đề cập rất nhiều lĩnh vực trong xã hội, nhưng trong đó nhà nước và pháp luật là cơ sở tiền đề, nền tảng xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp luật phong kiến thịnh trị của Bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ

Trang 11

Để làm rõ tư tưởng pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức, theo hướng

nghiên cứu này, còn có tác phẩm như: Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, của Phan Huy Chú , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1961; tác phẩm, Tư

tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, của Doãn Chính, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, năm 2011 Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà

nước phong kiến Việt Nam, của Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội; năm 2011 Những kế sách xây dựng đất nước của cha

ông ta Bùi Xuân Đính, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2004; tác phẩm Đại Việt thông sử ký Ngô Hoàng Hậu, của Lê Qúy Đôn, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội, năm 1978; Đại cương lịch tư tưởng Triết học Việt Nam, tập 1, Nxb Đại

học quốc gia, Hà Nội, năm 2002, Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Vũ Văn

Gầu Lịch sử tư tưởng chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chính Minh; tác phẩm Pháp luật các triều đại Việt Nam

và các nước của Cao Văn Liên, Nxb Thanh niên, năm 2004 Lịch sử các chế định chính trị và pháp quyền Việt Nam, tập 1, Phan Đăng Thanh – Trương Thị

Hòa, Nxb Chính trị quốc gia, năm 1993 Giáo trình Lịch sử Nhà nước và

pháp luật Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân,

năm 2004 Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà nội,

Nxb Công an nhân dân, năm 2003 Các tác phẩm trên nhấn mạnh và khẳng định giá trị nổi bật trong bộ luật Hồng Đức nói chung và tư tưởng nhà nước pháp luật trong bộ luật Hồng Đức nói riêng, đó chính là quyền tối thiểu của con người được thừa nhận, được tôn trọng và được bảo vệ bằng pháp luật, được thực tiễn hóa trong một xã hội, một chế độ có trật tự và kỷ cương pháp luật Mặc dù đứng ở một góc độ của nhà triết học, nhà luật học cho rằng văn bản qui phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đó là nhà vua Vua là người có quyền lực tối thượng cao nhất cả về

Trang 12

quyền hành pháp, tư pháp, quyền lập pháp trong đó Bộ luật Hồng Đức được xây dựng dưới hình thức là văn bản luật, nó có phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh trong mối quan hệ xã hội thuộc nhiều lỉnh vực khác nhau theo một trình tự thủ tục và hình thức nhất định có chứa đựng những văn bản luật như: Lệnh, chỉ, lệ, dụ, sắc, được trình bày một cách chặt chẽ, cụ thể trong bộ Luật Hồng Đức bao giờ cũng kèm theo các biện pháp linh động chế tài để răn đe và giáo dục

Hướng thứ hai đó là, nghiên cứu những nôi dung tư tưởng, những đặc điểm, những giá trị, hạn chế trong Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông

Tiêu biêu cho hướng nghiên cứu này cần phải kể đến các công trình nghiên

cứu như: Tìm hiểu tư tưởng chính trị nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông

đến Minh Mệnh, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, Lê Thánh Tông vị vua anh minh nhà cách tân xuất sắc, của Lê Đức Tiết, Nxb Quân đội nhân dân,

Hà Hội, năm 1997 Lê Thánh Tông vị vua anh minh nhà cách tân vĩ đại, của

Lê Đức Tiết, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2007 Đặc biệt liên quan đến đề tài

cần phải kể đến cuốn sách Bộ luật Hồng Đức di sản văn hóa pháp lý đặc sắc

của Việt Nam, của Lê Đức Tiết, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2010 Tác phẩm Văn hóa pháp lý Việt Nam, của Lê Đức Tiết, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm

2005; và công trình Tư tưởng chính trị đạo đức trong bộ luật Hồng Đức của

Lê Thánh Tông, Luận văn thạc sĩ triết học của Đinh Văn Chiến, bảo vệ tại

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm

2011; hay công trình Tư tưởng triết học Lê Thánh Tông, Luận văn thạc sĩ triết

học của Nguyễn Thị Chuẩn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 Qua những công trình ấy các tác giả đã tập trung trình bày, phân tích khá phong phú, sâu sắc trên nhiều khía cạnh khác nhau trong nội dung Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông,

Trang 13

như: điều kiện khách quan, chủ quan, những tiền đề hình thành, đến những tư tường chính trị, đạo đức, Nho giáo, pháp luật, và những đặc điểm, giá trị, han chế trong Bộ luật này Nhưng nhìn chung qua các công trình đã khái quát

ơ trên chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nhà nước, pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức Tuy nhiên đó vẫn là những công trình có giá trị, mà tác giả có thể kế thừa khi thực hiện luận văn thạc sĩ triết học của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Về mục đích, luận văn nhằm nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống

nội dung tư tưởng của nhà nước và pháp luật trong Bộ Luật Hồng Đức, từ đó rút ra những, đặc điểm, giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong việc xây dựng nhà nước và pháp luật Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên nhiệm vụ của luận văn cần thực hiện là: Một là, trình bày, phân tích và làm rõ các điều kiện lịch sử xã hội và

những tiền đề hình thành tư tưởng về nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam thời kỳ Lê sơ trong Bộ luật Hồng Đức

Hai là, trình bày, phân tích và làm rõ những nội dung và đặc điểm tư

tưởng về nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức

Ba là, rút ra các giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị

và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức

Về phạm vi nghiên cứu, Luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu tư

tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra, luận văn sẽ dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Đồng thời

Trang 14

luận văn còn sử dụng các phương pháp như: lịch sử - logich, phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, so sánh - đối chiếu, nhằm làm rõ nội dung cơ bản

tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức

5 Ý nghĩa khoa học và Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về ý nghĩa khoa học, luận văn góp phần hệ thống hóa nội dung và

những đặc điểm cơ bản trong tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông, thông qua vấn đề: Tư tường chính trị của nhà nước và tư tưởng pháp luật qua con đường dung hợp cải cách bằng lối trị nước trong Bộ Luật Hồng của Lê Thánh Tông, từ đó giúp cho người đọc hiểu thêm một cách sâu sắc về hệ thống tư tưởng nhà nước - pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức

Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua việc trình bày hệ thống tư tưởng triết

học và đánh giá những đặc điểm, giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức, đề tài rút ra những bài học lịch sử bổ ích đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó góp phần vào giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam trong công cuộc từng ngày đổi mới và hoàn thiện pháp luật để hội nhập quốc tế hiện nay, ngoài ra góp phần làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong lĩnh vực về nhà nước và pháp luật

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, phụ lục, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết, 8 tiểu tiết

Trang 15

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA

BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM THẾ KỶ XV – CƠ SỞ XÃ HỘI TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TRONG BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

Tất cả các thành tựu mà con người đạt được luôn gắn liền với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, với những điều kiện lịch sử xã hội nhất định, cho nên những tư tưởng lý luận của một thời đại là biểu trưng cho sự tinh hoa, tinh thần dân tộc của thời đại đó Tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông cũng vậy, đây không chỉ là sản phẩm của một giai đoạn của lịch sử xã hội có nhiều biến động tạo dựng nên những cột mốc đầy ý nghĩa trọng đại trong lịch sử Việt Nam, nó còn là những chuẩn mực, những triết lý tư tưởng tinh thần của ông cha ta để lại Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng tác động tồn tại qua lại với nhau Là một hình thái ý thức tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức, cũng chịu sự chi phối điều kiện lịch sử xã hội nhất định Chính vì vậy, để nghiên cứu tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông không thể không tìm hiểu về đặc điểm, điều kiện lịch sử xã hội thời kỳ Lê sơ với những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng nhà nước và pháp luật trong Bộ Luật Hồng Đức của ông

Trang 16

1.1.1 Khái quát đặc điểm lịch sử - xã hội thời kỳ Lê sơ

Như chúng ta đã biết, ở thời kỳ nhà Trần tiếp nối nhà Lý mở ra một trang sử mới về nền chính trị thống nhất và nền văn hóa độc lập thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai Lịch sử nhà Trần đã sản sinh ra bao nhiêu vị tướng tài cho dân tộc như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão , một triều đại huy hoàng khi ba lần đánh bại quân Nguyên Mông , kẻ thù mạnh nhất thời kỳ phong kiến, khẳng định sự lãnh đạo tài lược của ông vua nhà Trần và sự đoàn kết của người dân Đại Việt Sau thời kỳ thịnh trị của nhà Trần xã hội Đại Việt lại rơi vào khủng hoảng nền kinh tế, chính trị sa sút , nền quân sự kém cỏi và yếu ớt, các điền trang thái ấp không còn phù hợp dẫn đến nhà Trần thất bại, thay thế vào đó là nhà Hồ Sau khi thành lập nhà Hồ, lấy niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu, Hồ Qúy Ly đã tiến hành một loạt các biện pháp cải cách chính trị, kinh tế, tài chính và xã hội Trong đó nổi bật nhất là cải cách tiền tệ, ban hành tiền giấy, thu hồi tiền đồng Đây là một hình thức cải cách về tài chính mới trong xã hội nhà nước Đại Việt Năm 1396, khi ông còn giữ cương vị Phụ chính Thái sư của triều Trần, thì Hồ Qúy Ly đã táo bạo cho lưu hành tiền giấy thay cho tiền đồng kim loại vừa nặng, vừa làm khan hiếm nguyên liệu để chế tạo công cụ lao động trong sản xuất và dùng kim loại tiền đồng để đút chế súng dùng cho quân sự Đến năm 1400 chính sách sử dụng tiền giấy mới được thực hiện một cách rộng rãi và triệt để lưu hành trong cả nước Tiền giấy gồm có nhiều loại: 20 đồng, 10 đồng, 5 tiền, 3 tiền, 2 tiền đều có những hình in khác nhau Tuy nhiên Hồ Qúy Ly là nhân vật có tầm cỡ trong lịch sử, thể hiện trên nhiều lĩnh vực, ông là người dám nhìn vào sự thật, dám thay đổi cải tạo cải mới và đương đầu những khó khăn để biến nó thành công cụ động lực vượt qua mọi trở ngại làm thay đổi bộ mặt xã hội Những quan điểm chủ trương, chính sách

Trang 17

của Hồ Qúy Ly ban hành và thực thi, nhìn tổng thể ta thấy có sự nhất quán và kiên định Ông muốn đưa đất nước phát triển lên một đỉnh cao mới về mọi mặt đó là những đóng góp của Hồ Qúy Ly Tuy nhiên ở đây do Hồ Quý Ly quá đề cao cái tôi của mình nên dẫn đến những sai lầm chủ quan, duy ý chí, thiếu đi sự tinh tế xem xét, mất đi lòng tin từ nhân dân và dẫn đến một xã hội rơi vào trạng thái tâm lý bất an, hoang mang, lo lắng ; và từ tình hình thực tế của một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, ở một góc nhìn theo phương pháp biện chứng, tiếp cận lịch sử một cách khách quan, khoa học thì trong đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo công cuộc cải cách của Hồ Quý

Ly, ông đã quá chú trọng đến thuyết pháp trị nên đã thể hiện tính chất cực đoan, tàn bạo

Nhưng dù sao chúng ta phải công nhận rằng Hồ Qúy Ly là nhà tư tưởng mới có nhiều cải cách táo bạo, quyết liệt, có tinh thần yêu nước và chống giặc ngoại xâm; nhưng vì tư tưởng của ông xa rời thực tế không phù hợp thời đại ông đang sống, nên dẫn đến con đường sự nghiệp cải cách của ông không thành công Ở một góc độ nào tư tưởng cải cách của ông tuy còn ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, thực dụng, giáo điều cứng nhắc, tư tưởng cải cách của

Hồ Qúy Ly cũng có ý nghĩa lịch sử nhất định trong thời kỳ trung đại; mở đầu cho bước phát triển mới của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Việt Nam

Năm 1428 – 1460, sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi đất nước trở lại thanh bình, ngày 15 tháng 04 năm Mậu thân Lê Lợi chính thức lên làm hoàng đế ở đông kinh thành Thăng Long, lấy niên hiệu Thuận thiên ( phù hợp với ý trời và hợp với lòng dân), khôi phục tên nước là Đại Việt mở ra một trang sử mới cho triều đại Lê sơ ( 1428 – 1527), đồng thời mở

ra thời kỳ phát triển của lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam Lê Lợi lên

Trang 18

ngôi được bảy năm thì ông mất Lê Thái Tông lên kế vị, lúc đó ông mới 11 tuổi tỏ rõ là vị vua anh minh, ông rất trọng dụng các đại thần chính trực và can trường như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đình Liệt, đồng thời ông cũng giáng chức những kẻ xu nịnh, quyền thần trong bộ máy nhà nước, Lê Thái Tông trị vì cũng không lâu, cái chết của ông quá đột ngột và bất ngờ với vụ án

“Lệ Chi viên” đây là vụ án oan lớn trong lịch sử phong kiến Việt Nam dẫn đến cái chết toàn bộ gia quyến của Nguyễn Trãi Từ khoảng thời gian năm 1441- 1459 chính sự trong bộ máy nhà nước có nhiều biến động, lòng dân oán than đất nước không yên Sau đó các quan đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng v.v lại một lần nữa truất phế vua Nghi Dân rồi lập người em út của ông

là hoàng tử Lê Tư Thành lên làm vua, tức là vua Lê Thánh Tông sau này Giai đoạn đầu (từ năm 1460 – 1469), khi lên ngôi Lê Thánh Tông lấy niên hiệu Quang Thuận, đến năm 1470 – 1497, ông lại đổi niên hiệu là Hồng Đức, ông chỉ định Nguyễn Xí và Đinh Liệt vào các chức quan cao nhất của triều đình và nắm giữ binh quyền, đây là giai đoạn thịnh trị nhất, phát triển nhất của quốc gia Đại Việt Lê Thánh Tông là người sáng lập và đặt nền móng, làm thay đổi và kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền đạt tới đỉnh cao và trở thành nhà nước toàn trị, cực quyền; đây là một bước ngoặc lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình chế độ xã hội từ nền quân chủ quý tộc thời Lý – Trần mang đậm tính Phật giáo màu sắc Đông Nam Á sang nền quân chủ quan liêu Đông Á Lê Thánh Tông không chỉ bắt tay từng bước xây dựng lại cơ cấu hành chính nhà nước để đáp ứng yêu cầu độc lập tự chủ, xây dựng nhà nước đi từ trung ương đến địa phương đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật nhằm cũng cố, tăng cường kiểm tra giám sát mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, đảm bảo một xã hội, một chế độ có trật tự,

kỷ cương và sự ổn định phù hợp của giai cấp phong kiến

Trang 19

Trước hết Lê Thánh Tông xây dựng lại cơ cấu tổ chức hành chính nhà

nước để đáp ứng yêu cầu độc lập, tự chủ, chủ quyền, xây dựng đất nước theo

bốn cấp hành chính: triều đình trung ương - thừa tuyên - phủ, huyện, châu -

hương, phường, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường; Bản đồ toàn quốc

của nước Đại Việt năm Hồng Đức thứ 20 (1489) xác định nước ta có 13 xứ

thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương (cư dân nông nghiệp), 36

phường (cư dân làm thủ công), 6851 xã, 322 thôn (cư dân nông nghiệp), 637

trang ấp, 40 sách, 40 động (ở vùng miền núi), và 30 nguồn, 30 trường do ngư

dân đánh bắt cá sinh sống tại đây Việc hoạch định biên giới và xác định

mốc giới địa lý thể hiện chủ quyền quốc gia của nước Đại Việt Lê Thánh

Tông cho vẽ bản đồ chi tiết và đầy đủ về lãnh thổ Đại Việt và bộ bản đồ các

vương quốc trong vùng (gọi là Thiên hạ bản đồ) Bộ bàn đồ Đại Việt được

hoàn thành năm 1490, gồm 13 thừa tuyên sau đó đổi thành xứ như sau: Nam sách gồm (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện;

Thiên Trường (Sơn Nam) gồm (Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên ngày nay),

quản lĩnh 11 phủ, 42 huyện; Quốc Oai (Sơn Tây) gồm (Hà Tây, Sơn Tây,

Vĩnh Phúc ngày nay), quản lĩnh 6 phủ, 24 huyện; Bắc Giang (Kinh Bắc) gồm

(Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện; An Bang là

(Quảng Ninh ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu; Tuyên Quang gồm

(Tuyên Quang , Hà Giang ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu; Hưng

Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;

Hưng Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17

châu; Lạng Sơn gồm (Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 7

châu; Thái Nguyên ( Ninh Sóc) gồm (Thái Nguyên, Bắc Kạn ngày nay), quản

lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu; Thanh Hóa gồm (Thanh Hóa, Ninh Bình ngày

nay), quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu; Nghệ An gồm (Nghệ An, Hà Tĩnh

Trang 20

ngày nay), quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu; Thuận Hóa gồm (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu; Quảng Nam gồm (Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam ngày nay) Đạo thừa tuyên Quảng Nam được bổ sung sau cùng sau khi Đại Việt chiếm được miền bắc của Chiêm Thành (1471) Lại đổi Trung đô phủ làm Phụng Thiên, quản lĩnh 2 huyện

Bản đồ Hoàng Thành Thăng Long năm 1490 niên hiệu Hồng Đức

Ở cấp trung ương, cơ quan thực thị quyền lực nhà nước giúp việc cho

vua đó là cơ quan với chức danh tướng quốc (nhà Lý - Trần - Hồ gợi là tể tướng) gồm có Tả tướng quốc và Hữu tướng quốc đứng đầu quan võ có nhiệm

vụ quản lý, kiểm tra, giám sát quân đội, và quan lại trong nước, còn Đại hành

Trang 21

khiển là cơ quan đứng đầu quan văn chịu trách nhiệm tư vấn tham mưu cho nhà vua về việc soạn thảo ban hành các quy định điều, sắc, chỉ, dụ , sửa đổi

bổ sung các khoản, điều trong bộ luật cho phù hợp với xã hội phong kiến Việt Nam Các cơ quan này đều có quyền lực ngang nhau và có trách nhiệm làm tham mưu tư vấn can gián khuyên răng vua Đến thời Lê Thánh Tông thì ông bãi bỏ các chức quan dễ bị lợi dụng lộng quyền như: Tể tướng là Tam tư (Tư

đồ, Tư mã, Tư không), Tả tướng quốc, Hữu tướng quốc, đến Đại hành khiển; bãi bỏ các cơ quan trung gian như Nội mật viện, Chính sự viện, Thượng thu sảnh, Môn hạ sảnh, Tông nhân phủ, đồng thời ông đặt ra 5 phủ quân sự đó là phủ: Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ, Nam quân phủ, Bắc quân phủ, bên cạnh đó đặt ra các chức quan khác như Thái sư, Thái úy, Thiếu

sư, Thiếu úy và Đại học sĩ, là cơ quan tư vấn giúp việc, giành quyền quyết đoán mọi việc cho vua Lê Thánh Tông cải cách cơ quan hành chính trung ương gồm 6 bộ như sau:

Lại Bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước;

Lễ Bộ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cữ, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo;

Hộ Bộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng;

Binh Bộ: Trông coi việc binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên giới, chịu trách nhiệm việc giữ gìn các nơi hiểm yếu, đồng thời ứng phó các việc khẩn cấp;

Hình Bộ: Là cơ quan tư pháp đại diện cho tòa án và viện kiểm sát thực thi pháp luật, thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét xử lại các vụ án tù đày, kiện cáo, khiếu nại oan sai cho dân

Công Bộ: Trông coi việc xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện

Trang 22

thành trì và quản đốc thợ thuyền phát triển kinh tế

Đây là những cơ quan đều ngang quyền lực với nhau và có trách nhiệm trông coi mọi việc chính trong triều, với ông còn quy định độ tuổi làm việc cho các quan lại tối đa 65 tuổi, đồng thời còn bãi bỏ luật lệ cha truyền con nối cho các gia đình có công là công thần Ông rất chú trọng việc chọn quan phải

có tài và đức để làm giường cột cho nước nhà, việc xây dựng đội ngũ quan lại trẻ hóa có chất lượng tốt trong bộ máy nhà nước là yếu tố quyết định trong việc cải cách hành chính, mặt khác ông lại bổ sung đội ngũ quan lại qua thi cử

và tiến cử được thực hiện bằng nhiều hình thức khuyến học, khuyến tài; đối với việc định chế tiến cử và tuyển chọn nhân tài, nhà vua từng phê: “Lục bộ, Lục khoa và Ngự sử đài nếu tiến cử người bất tài vô dụng thì phải chịu tội giáng và bãi chức còn nếu tuyển chọn người tài giỏi thì sẽ được thưởng và thăng quan tiến chức ” [24, tr 433] Đặc biệt quy định văn bản Lệ khảo khóa 3 năm tổ chức một kỳ thi để nhằm kiểm tra rà soát đánh giá công tích hay sai phạm của quan lại để thăng thưởng, hay giáng chức, đồng thời xem xét công việc của các quan từng bộ phân có phù họp với khả năng không để kịp thời thay đổi sang nhiệm sở cho phù hợp sẽ mang lại hiệu quả quản lý rất cao và tiết kiệm được ngân khố của nhà nước Dụ của Lê Thánh Tông nói: “Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước Nay nha môn trong ngoài nào nhận chức đã đủ ba năm phải thực hiện khảo khóa, không được chậm trễ ”; “các quan viên nhận chức ở vùng đất độc hại đã

đủ hai lần khảo khóa trở lên mà xứng đáng với chức vụ, không có tội lỗi thì Lại bộ xét thực, rồi điều về chỗ đất lành” [ 24, tr 458 – 482]

Đối với các cơ quan cấp tỉnh bao gồm có Thượng thư tỉnh, Trung thư

là thượng thư lệnh có vai trò nhiệm vụ liên lạc với các bộ, Trung thư tỉnh có chức năng tham mưu cho ý kiến, lời khuyên liên quan đến những việc trọng

Trang 23

đại, môn hạ tỉnh có nhiệm vụ giữ ấn tín là cơ quan ban hành các văn bản pháp lệnh đến các đơn vị đi từ trung ương đến địa phương

Ở cấp địa phương, bãi bỏ chế độ An phủ sứ (đứng đầu các lộ), thành lập ở mỗi Thừa tuyên 3 ti (Đô đông binh sứ ti - Tán trị thừa tuyên sứ ti - Thanh hình hiến sát sứ ti ) cùng quan lý văn võ trong Thừa tuyên Các phủ, châu, huyện cũng được thống nhất ngạch quan lại Đối với phủ ( bây giờ gọi

là quận) thì có Tri phủ đứng đầu của một phủ chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát mọi hoạt động của các huyện Huyện có Tri huyện, châu có Tri châu cùng phụ trách chung và quản lý các xã, chức xã quan được đổi là xã trưởng Ở các miền thượng du, các bản giao cho tù trưởng, lang đạo cai quản như cũ Riêng mạn biên giới phía Bắc, nhà Lê thường xuyên cử những tướng tài giỏi ở kinh thành lên trấn trị và biến thành “phiên thần”, đời đời nối nhau cai quản, quản

lý vùng biên giới vì nó vùng trong tâm của nước Đại Việt Chủ trương của Lê Thánh Tông là bảo đảm sự thống nhất trong chính quyền từ trên xuống dưới,

từ trung ương đến địa phương và làng xã, “các chức quan lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng gìn giữ nhau, lẽ phải của nước không bị chuyên riêng ảnh hưởng, việc lớn của nước không bị lung lay, khiến có thói tốt làm

họp đạo, đúng phép” (Hiệu đính quan chế) Mặt khác vua Lê Thánh Tông

khuyến khích cac quan lại canh giữ biên phòng thường xuyên đề cao cảnh giác với âm mưu đen tối của triều đình nhà Minh, đồng thời phải chặt chẽ, cận thận khéo léo xử lý mọi tình huống trong tình hữu nghị với các nước láng giềng, bên cạnh đó ông còn cải tổ quân đội về mặt tổ chức chia quân đội từ năm đạo thành năm phủ đô đốc mỗi phủ có vệ, sở và hai đạo nội ngoại gồm nhiều ti, vệ trấn thủ; ngoài tổ chức các quân thường trực, Lê ThánhTông còn chú trọng đến lực lượng quân dự bị ở các cấp địa phương và cơ sở phòng bị,

kỷ luật quân kỳ khảo thí về võ nghệ và sự mưu trí trong chiến thuật và có sức

Trang 24

dẻo dai chịu đựng, có ý chí kiên định và sức chiến đấu cao trong mọi tình huống

Năm 1483, Lê Thánh Tông quyết định triệu tập các quan đại thần biên soạn một bộ luật chính thức của triều đại mình nhằm điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau, thường được gọi là Bộ nhiều các văn bản luật và được ban hành với cái tên Quốc triều hình luật (hay còn được gọi là Bộ luật Hồng Đức) Bộ luật này đánh dấu một trình độ phát triển cao của tư tưởng pháp lý của dân tộc Đại Việt, khá hoàn chỉnh, do đó được sử dụng suốt trong bốn thế kỷ thời Lê (thế kỷ XV - XVIII), để đi sâu vào nghiên cứu và hiểu thêm về tư tưởng nhà nước – pháp luật của Bộ luật Hồng Đức chúng ta không thể không tìm hiểu đến đặc điểm, điều kiện kinh tế, chính trị -

xã hội để hình thành nên tư tưởng của Bộ luật Hồng Đức của ông

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ Lê sơ với sự hình thành tư tưởng nhà nước và pháp luật trong bộ luật Hồng Đức

Về điều kiện kinh tế, thế kỷ XV, phương thức sản xuất phong kiến về

cơ bản đã được xác lập và tương ứng với nó là nhà nước phong kiến Việt Nam được tổ chức như trên Nhà nước phong kiến thời Lê sơ đã tiến hành những hoạt động nhằm phát triển các quan hệ sản xuất phong kiến, đẩy nhanh hóa quá trình cơ cấu hóa xã hội Đại Việt và cũng cố vững chắc quyền lực nhà nước trung ương tập quyền

Cũng chính vì vậy, từ đầu thế kỷ XV trở về trước chưa có triều đại nào đưa ra chính sách toàn diện có hệ thống và thực hiện công cuộc cải cách kiên quyết và táo bạo như Hồ Qúy Ly và nhà Hồ, cũng đồng nghĩa với lịch sử dân tộc mấy ngàn năm, thì triều đại nhà Hồ phải chịu sự thất bại nặng nề thảm hại, dẫn đến mất nước một cách nhanh chóng, cùng với những cuộc cải cách của ông còn đang dang dở cũng phải kết thúc theo, nguyên nhân dẫn đến thất bại

Trang 25

chủ yếu bắt nguồn từ những hạn chế của biện pháp cải cách và cách thức tiến hành cải cách quá nhanh không phù hợp, song nếu xét quá trình lâu dài, thì lịch sử không thể phủ nhận vị trí nổi bật của Hồ Qúy Ly trong dòng lịch sử dân tộc, chính vì những cuộc cải cách đó đã tích tụ bao nhiêu kinh nghiêm trị nước trọng đại cho triều đại sau kế thừa Mở ra một bước phát triển mới trong lịch sử nhà nước Việt Nam, là tiền đề cho công cuộc kháng chiến và cải cách thành công của Bình Định Vương Lê Lợi và nhà Lê thế kỷ XV Nhà Lê tiến hành xóa bỏ chế độ ban cấp ruộng đất qui mô lớn thời Lý – Trần, thủ tiêu nền kinh tế điền trang thái ấp, chú trọng đến việc phát triển nền kinh tế tiểu nông với chế độ sở hữu nhỏ và vừa, để thực hiện chủ trương này, nhà nước Lê sơ tiến hành chế độ lộc điền Trong ba triều đại vua nhà Lê: vua Thái Tổ, Thái Tông và Nhân Tông thì việc cấp lộc điền chưa có qui chế rõ rệt Đến đời vua

Lê Thánh Tông dưới niên hiệu Hồng Đức thì chế độ cấp lộc điền được qui định chặt chẽ hơn Lộc điền là đặc quyền của tầng lớp cao nhất trong giai cấp thống trị, diện được cấp là những thân vương quí tộc, những người gần gũi Vua những nữ quan thân cận ở triều và quan lại từ hàng tứ phẩm trở lên Chế

độ lộc điền gồm có hai phần, một phần nhỏ được nhà nước cấp vĩnh viễn gọi

là ruộng và đất thế nghiệp, phần lớn lộc điền còn lại thuộc loại ban cấp tạm thời, người được cấp có quyền chiếm hữu, sử dụng nó, nếu sau ba năm người được cấp đất không sử dụng hoặc chết thì nhà nước thu hồi lại Chế độ lộc điền chỉ cấp cho người được hưởng, chứ không cấp cho cả hộ sống trên đất

đó, người được cấp đất có quyền thu tô, thu thuế để làm lộc, còn nông dân vẫn là tá điền cày ruộng của nhà vua Do đó chế độ lộc điền không đưa tới việc thành lập những điền trang lớn, nó tạo ra cơ sở kinh tế của nạn cát cứ phân quyền, làm cho địa chủ tăng nhanh, tạo điều kiện phát triển chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất Vì vậy, trước tình hình thực tiễn mà nhà Lê phải

Trang 26

đương đầu về ruộng đất công bị thu hẹp, đồng thời một số ruộng đất thế nghiệp cũng có xu hướng trở thành ruộng tư, do đó trước những vấn nạn về ruộng công nhà Lê tiến hành thực hiện các biện pháp bảo vệ và mở rộng diện tích ruộng đất công làng xã, mặt khác nhà nước dùng biện pháp cưỡng chế nghiêm cấm mọi hành vi cầm cố hoặc bán ruộng đất công, nhờ vào những biện pháp chế tài của luật pháp mới ngăn chặn và giải quyết được vấn đề kinh

tế - xã hội và ổn định tình hình đất nước

Song song với tình hình thực tế ruộng đất công dần dần bị thu hẹp mà đối tượng có nhu cầu cấp ruộng trong xã hội quá nhiều, vì thế chính sách ruộng đất thứ hai của nhà Lê là chế độ quân điền ra đời năm 1429 quy định diện được cấp như sau: quan lại từ ngũ phẩm trở xuống và tất cả mọi người trong xã, từ quan viên tới những người cô quả , tàn tật hay vợ con của người đang chấp hành hình phạt tội đồ đều được chế độ quân điền chia theo quy định của nhà nước cứ sáu năm cấp phát một lần, người được cấp phải có nghĩa vụ nộp tô thuế, lao dịch hay binh dịch cho nhà nước Để thi hành chế độ quân điền, nhà Lê sơ đã thực hiện về quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất, biến làng xã thành người quản lý đất đai cho nhà nước, đồng thời biến những người nông dân chỉ biết bám vào đất thành tá điền làm việc cho nhà nước, mặt khác nhà nước Lê khuyến khích hoạt động sản xuất và tạo điều kiện cho chế

độ ruộng đất tư phát triển như cho phép chuyển quyền chiếm hữu và sử dụng ruộng đất lâu năm thành quyền sở hữu tư; không đánh thuế ruộng đất tư; đồng thời trừng trị những kẽ có hành vi xâm hại quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất

Với chính sách ruộng đất, nhà Lê là một nhà nước trọng nông, đã nhiều lần đề ra các biện pháp để khuyến khích phát triển nông nghiệp; vận động nhân dân khai phá hết ruộng đất bỏ hoá, giúp đỡ nhân dân diệt sâu cắn

Trang 27

hại mùa màng nếu có Lê Thánh Tông đã từng ra sắc dụ, các quan Thừa ty, Hiến ty, phủ huyện rằng: “Từ nay về sau, trong việc làm ruộng, phải khuyến khích quân dân đầu chăm nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không được

bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán, làm trò du thử du thực Người nào có ruộng mà không chăm cấy cầy, thì quan cai trị bắt trình trị tội” [24, tr.393], “về các việc dân sự tầm thường như đại hạn mà không đảo, nước lụt,

mà không khơi, việc lợi mà không làm, việc hại mà không trừ, có tai dị mà không cầu đảo thì phải xử tội lưu” (theo Thiên Nam dư hạ tập). Một chủ trương quan trọng được nhà nước và nhân dân hưởng ứng đó là chính sách khai khẩn đất hoang, mở rông diện tích canh tác Đến năm 1481, theo đề nghị của các quan, Lê Thánh Tông quyết định cho thành lập 43 sở đồn điền với mục đich cho khai thác hết sức nông nghiệp, mở rông nguồn súc tích cho nước Các đồn điền này được đặt ở vùng phía Bắc như: Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa và Quảng Nam, các quan viên chánh, phó đồn điền có nhiệm vụ

mộ dân nghèo không ruộng phiêu tán về quê cày ruộng, đặt ra luật điền chia đều ruộng đất cho mọi người cày cấy, thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, qua đó tạo dần sự ổn định cho xã hội

Đồng thời nhà nước Lê cũng quan tâm đến vấn đề thủy lợi, đê điều, sông ngòi, vì đó là huyết mạch, cửa khẩu giao thông đường biển Ở các Thừa tuyên đều có chức quan hà đê chuyên phối hợp các quan phủ, huyện trông nom, sửa đắp đê điều, cho đến năm 1498, nhà Lê đặt mỗi xã phải cử một xã trưởng chuyên trách về việc đê điều, hoặc quan khuyến nông để trông coi việc nạo vét sông ngòi và các kênh tưới tiêu nước Khi có sự cố xảy ra đê bị vỡ, lập tức điều quan đi khám xét, huy động lực lượng nhân dân, quân lính, công trường, học sinh trường Quốc Tử Giám đi sữa đắp cứu hộ, khơi thông những chổ úng thủy, đề phòng hạn hán, khắc phục khó khăn đảm bảo cho hoạt động

Trang 28

sản xuất không bị trì trệ cho nên việc đào kênh, khơi ngòi rất được nhà nước chú trọng quan tâm Năm 1435, Lê Thái Tông cho nạo vét sông Đông Ngà Năm 1438, nhà nước tiến hành cho dân khơi lại các kênh ở Trường Yên,Thanh Hóa và Nghệ An Năm 1449, khai sông Bình Lỗ (Kim Anh – Vĩnh Phúc) việc đào kênh, khơi ngòi được tổ chức ở nhiều nơi vừa có lợi cho việc lưu thông đường thủy và giao nhận hàng hóa bằng đường biển giữa các vùng lảnh thổ lân cận, vừa tạo ra nguồn thủy lợi dồi dào để phát triển nông nghiệp trong nước, mặt khác các Vua nhà Lê còn cho thi hành chính sách “ngụ binh ư nông” được thực hiện một cách triệt để hơn nhằm đảm bảo sức lao động cho quân lính, cho quân đội thay phiên nhau về làm ruộng, theo tinh thần “tĩnh vi nông, động vi binh” đồng thời luật pháp nghiêm cấm việc giết trâu, bò để bảo vệ sức kéo, ngoài ra nhà nước còn quy định mọi công trình xây dựng cần huy động dân phu, quân lính đều phải tiến hành ngoài thời

vụ cày cấy, gặt mùa “hễ công việc gì mà có hại đến nghề nông thì không được khinh động sức dân” Pháp luật nhà Lê bảo vệ chặt chẽ sức kéo nông nghiệp

và lệnh cấm ăn trộm trâu, bò hoặc giết mổ trâu bò vào ban đêm đều bị trừng phạt nặng, vì nó chính nguồn lực lượng sản xuất trong xã hội Lễ cày tịch điền vẫn được duy trì và phát triển

Đối với việc quản lý đất đai và dân cư, dưới thời Lê Thánh Tông thì nhà nước đã xây dựng một quy chế pháp lý chặt chẽ về chế độ sở hữu ruộng đất Bộ Quốc triều hình luật đã đưa ra nhiều quy định, điều luật để bảo vệ sở hữu nhà nước về ruộng đất như sau: ở điều 342, 372 quy định rằng cấm mọi hành vi lấn chiếm hoặc chuyển nhượng ruộng dất công hoặc ruộng đất được cấp, đều bị chế tài hình sự trừng trị nghiêm khắc Để thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với ruộng đất và cũng đảm bảo nguồn thu lợi tức, nhà nước đặt

ra chế độ thu tô thuế cho từng loại hạng mức đất được Quốc triều hình luật

Trang 29

quy định cụ thể ở các điều như sau: điều 345, 346, 351, 368, 373 quy định về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước và hành vi trốn thuế, ẩn lậu thuế, nộp không đúng ngạch thuế đều bị nghiêm trị phép nước rỏ rệt, chia ruộng đất cho dân cày mà nộp thuế, điều lệ phân minh, định phẩm trật cho ruộng có thứ bậc, ngầm chiếm ruộng đất công phải khép vào tội đồ vì vậy mà quyền sở hữu nhà nước đối với ruộng đất đã được ghi nhận trong các luật lệ đơn hành và trong những quy định của quốc triều hình luật Bằng những quy định, cũng cố bảo

vệ quyền lợi của nhà nước về kinh tế, pháp luật được nhà Lê rất chú trọng vì

nó là phương tiện không thể thiếu được để bảo vệ tăng cường quyền lực của nhà nước, của giai cấp thống trị chúng chính là tiền đề cơ sở của chính trị là chổ dựa quan trọng của nhà nước; ở điều 344 của Bộ luật quy định: “Nhận bậy ruộng đất của người khác từ một mẫu trở xuống thì bị biếm một tư , năm mẫu trở xuống biếm hai tư, mười mẫu trở xuống thì biếm ba tư lấn giới hạn thì biếm một tư và phải bồi thường gấp đôi tiền hoa màu” Ngoài ra còn một

số quy đinh khác về hành vi lấm chiếm ruộng đất thuê ở điều 365, hoặc hành

vi xâm chiếm bờ cõi, mốc giới được quy định điều 357 như sau: “nếu xâm chiếm bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ mốc giới của người khác, hay tự mình lại lập

ra mốc giới, thì bị xử tội biếm hai tư”

Những quy định của pháp luật triều Lê về chế độ sở hữu ruộng đất đã đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thủ tiêu hoàn toàn chế độ điền trang thái ấp sử dụng gia nô, nô tì vào sản xuất đã không còn phù họp với yêu cầu phát triển trong điều kiện của nền kinh tế mới cùa nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, để bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị và giai cấp địa chủ về tư liệu sản xuất, pháp luật đã góp phần giải phóng chế độ nô tì, tăng cường lực lượng sản xuất lao động cho nhà nước, tận dụng tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, đầy

Trang 30

mạnh tiến độ phát triển nền kinh tế xã hội

Ngoài ra, trong Quốc triều hình luật quy định 722 điều luật, có 27 điều luật mang tính hệ thống do nhà nước can thiệp nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh tế như :

Bốn điều quy định đến việc sử dụng, bảo vệ đồng tiền đồng thể hiện ở các điều: điều 175, 198, 522, và 523 Trong đó điều 522 quy định cụ thể như:

“Những kẽ đúc trộm tiền đồng thì không kể tòng phạm hay thủ phạm đều xử tội chém Nếu là chủ chứa những kẻ phạm tội cùng xử cùng tội, láng giềng hoặc người thân biết mà không báo thì xử nhẹ hơn một bậc, quan lộ, quan huyện vô tình không biết thì bị xử tội biếm hay phạt, xã quan phạt tội đồ, thưởng cho người tố giác hay bắt được kẻ phạm tội thì được thưởng hai tư ” Hai điều quy định chống gian lận, bảo đảm tính chính xác trong cân đo đong đếm, được thể hiện ở các điều 187 và 190 Trong đó được quy định cụ thể như sau: điều 187 viết: “Trong các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người mua bán không theo đúng cân, thước, thăng, dấu của nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc tội đồ”

Tiếp theo hai điều 191, 192 quy định về việc hành vi sản xuất hàng hóa, buôn bán hàng giả kém chất lượng

Hai điều quy định về cấm quan lại lợi dụng buôn bán, trục lợi ở điều

Năm điều trừng trị trong các tội buôn lậu được quy định tại điều: 612,

613, 614, 615 và ở điều 616 có ghi: “Thuyền bè ngoại quốc đến trang trại vân

Trang 31

đồn buôn bán, mà quan sát hải sứ đi riêng ra ngoài cửa bể kiểm soát trước, thì

xử biếm một tư Thuyền buôn ấy muốn đậu lại lâu, thì trang chủ phải làm giấy trình An phủ ty làm bằng, mới được ở lại; nếu trang chủ không trình mà ý cho

ở lại, thì xử biếm hai tư và phạt tiền 200 quan; thưởng cho người tố cáo một phần ba Nếu chứa những người ngoại quốc chưa đủ tuổi theo luật đã định, thì

xử biếm một tư, và phạt tiền 50 quan; thưởng cho người tố cáo cũng một phần ba” Mặc dù, đất nước Đại Việt còn gặp nhiều khó khăn, song cùng với ý chí kiên định của nhân dân và những chính sách cải cách, các biện pháp khuyến nông tích cực, dần dần nhà Lê đã từng bước khôi phục lại nền sản xuất nông nghiệp vốn đã tiêu tàn sau những năm chiến tranh, mà giờ đầy đã đi vào quỹ đạo ổn định phát triển cho cuộc sống người dân Bên cạnh những quy định của pháp luật thể hiện rõ quyền lực của nhà nước trên lĩnh vực kinh tế, chính những quy định này góp phần tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tạo cơ sở pháp lý để nhà nước giải quyết đúng đắn mối quan hệ phát triển kinh tế và tăng cường quyền lực chính trị để phát triển ổn định bền vững về mọi mặt

Cùng với sự phát triển nông nghiệp thì nhà Lê cùng tiến hành song song với nền thủ công nghiệp từng bước biến chuyển như xây dựng lại các nhà xưởng thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống lần lượt được phục hồi như sản xuất gốm sứ Bát Tràng phát triển đến đỉnh cao về độ tinh xảo và hoa văn đẹp, Chu Đậu là những ngành nghề tiếp thu khẳng định danh tiếng phát triển, nghề dệt cũng được nhà nước chú trọng và phát triển mạnh ở Nghi Tâm, Hải Dương, Tuyên Quang, Bên cạnh đó nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt ở một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ và số lượng sách in ở thời này khá đồ sộ, đặc biệt nhất là những thành tựu phát triển công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế Các ngành nghề truyền thống thiết yếu về thủ

Trang 32

công nghiệp của người dân Đại việt như nghề: nghề kéo tơ, nghề dệt lụa, đan lát, rèn sắt, dệt chiếu, làm nón, nghề khảm xà cừ, nghề làm tranh, nghề đúc đồng, nghề mộc, nghề xây dựng, đóng cói xay, khai khoáng ngày càng phát triển ở các làng Những làng nghề chuyên nghiệp về thủ công nghiệp lại nổi lên như Bát Tràng, Nghĩa Đô, Huê Cầu, Hương Canh, Mao Điền, Bất Bế v.v Đại đô thành Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công của cả

nước, bấy giờ được chia thành ba mươi sáu phường theo Dư địa chí của

Nguyễn Trãi có viết “phường Tàng kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài mâm, võng, gấm trừu, dù lọng; phường Yên thái chủ yếu làm nghề làm giấy; phường Thụy chương và phường nghi tâm chủ yếu nghề dệt vải và lụa; phường Hà tâm nghề nung đá vôi là chủ yếu; phường Hàng đào nhuộm điều; phường Tà nhất làm quạt ; và phường Nhân là nơi bán áo diệp y” [131, tr.217], góp phần vào sự phát triển các nhà xưởng có tên gọi là cục Bách tác, nó có nhiệm vụ chuyên đúc tiền đồng, đóng thuyền, chế tạo vũ khí quân dụng các thợ thủ công là những thợ có tay nghề cao, am hiểu biết và nhiều kinh nghiệm đều được tuyển dụng theo chế độ khá nghiêm ngặt của nhà nước Trên cơ sở phục hồi và phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, thì việc lưu thông buôn bán với các nước lân bang phát triển rất mạnh, cùng với mạng lưới thương mại phát triển do mạng lưới thương nghiệp thành thị phát triển mạnh mê dân đến sự thúc đẩy phát triển các ngành nghề địa phương và làng xã, cũng từ đó mọc lên các chợ liên làng hợp thành phiên từ chợ này đến chợ khác cứ thế mà phát triển theo Hàng hóa chủ yếu là các nông sản và các ngành nghề thủ công mỹ nghệ từ các địa phương Năm 1477, nhà nước định

lệ lập chợ mới: “Các huyện, các châu, xã ở các xứ trong nước, nhân dân ngày một nhiều nơi nào muốn chia hoặc mở chợ mới để tiện mua bán thì quan phủ, huyện , châu kiểm tra xem xét coi phải quả thực là tiện lợi cho dân thì bản sớ

Trang 33

tâu lên, cho phép tiện lợi mà họp chợ ” [25, tr.259] Để tạo điều kiện cho việc kinh doanh buôn bán được thuận lợi về giao dịch, nhà nước tiến hành cải cách xóa bỏ sử dụng tiền giấy của nhà Hồ bằng tiền đồng và quy định rõ về thể thức đổi: một quan bằng 10 tiền, một tiền bằng 60 đồng, các đơn vị đo lường được nhà nước thống nhất, đồng thời nhà Lê sơ rất quan tâm đến vấn đề hệ thống giao thông thủy bộ vì nó là con đường huyết mạch giao thương giữa các nước lân bang khác, bên canh đó còn xây dựng hệ thống đường biển tạo thuận lợi cho thuyền bè đi lại và giao dịch buôn bán, ngoai giao với các nước láng giềng phát triển mạnh về kinh tế, mặt khác hệ thống đường thủy là cửa khẩu quan trọng phục vụ cho quân sự, tuy nhiên để giữ vững an ninh về kinh tế và giao thương trên biển nhà nước Lê đặt các trạm kiểm soát ở các cảng khẩu, và các chức quan hải tuần thường xuyên kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của thuyền buôn và những thương nhân nước ngoài đến buôn bán hay có ý đồ nhòm ngó xâm chiếm Đại việt thì bị trừng phạt nặng, nghiêm cấm những ai

tự ý đến mà không có giấy phép nhập cảnh lưu hành của nhà nước; mặt khác, nhà nước cũng quy định đối với những người dân chài sống dọc biên giới và các bờ biển rằng; không được tự ý mua bán, trao đổi hàng hóa, hoặc đón tiếp thương nhân buôn bán, ai trái lệnh bị nghiêm trị và phạt tiền rất nặng, thi hành chính sách bế quan tỏa cảng dẫn đến ngành thương nghiệp gặp nhiều khó khăn, bế tắc và nhà nước mất đi khoản lợi nhuận từ việc thu thuế nhập khẩu Nhìn chung, vào những năm đầu nền kinh tế Đại Việt có sự chuyển biến nhưng chưa thực sự tạo ra nhiều động lực thúc đẩy phát triển kinh tế

hàng hóa, do các chính sách “trọng nông ức thương” và sự phân chia xã hội thành “tứ dân”: sĩ, nông, công, thương, trong đó thương nghiệp là “mạt

nghệ”, hay còn gọi là “con buôn” làm cản trở sự giao thương hàng hóa, kiềm

hãm sự phát triển kinh tế làm cho sức sản xuất không thể giải phóng, đó chính

Trang 34

là nguyên nhân làm cho kinh tế hàng hóa sa sút và lạc hậu Song chúng ta không thể phủ nhận những thành quả cải cách mà nhà Lê đã và đang làm đạt được, đưa đời sống người dân đi vào quỹ đạo ổn định về mọi mặt Chính sách cải cách khai hoang cũng là một thành tựu có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội của nhà Lê Tuy nhiên đối với chính sách ruộng đất cũng còn nhiều bất cập chưa được rõ ràng minh bạch vì còn một số nông dân tá điến mất đất để sản xuất, canh tác vẫn còn diễn ra, nền kinh tế thương nghiệp nhà nước Đại Việt chủ yếu diễn ra trong mạng lưới nông thôn thành thị, vẫn còn hạn chế sự lưu thông bên ngoài, và chính sách sử dụng tiền tệ, đo lường do đó nhà nước cần phải ban hành pháp luật, vì pháp luật là phương tiện, công cụ, hữu hiệu giúp nhà nước quản lý xã hội, và làm nền tảng cũng cố

sự thống trị của giai cấp phong kiến về quyền lực chính trị và tư tưởng pháp luật hiện đại

Theo V.I Lênin “chính trị là tham gia công việc nhà nước, là chỉ đạo nhà nước, xác định những hình thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của nhà nước” [ 119, tr158]. Vì vậy tư tưởng chính trị là hệ thống các quan điểm của giai cấp, các nhóm xã hội về thực tiễn chính trị, là một vòng tròn trục xoay quanh vấn đề về quyền lực, đó là xây dựng, giành giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực của nhà nước

Về điều kiện chính trị - xã hội: Chúng ta cũng biết nhà Lê được thành

lập trong bối cảnh phức tạp như thế nào, vừa phải ổn định tình hình trong cung vừa phải cũng cố lòng dân, và đề phòng những tàn dư còn tồn tại làm nguy hại đất nước, mặt khác Lê Thánh Tông tiến hành cuộc cải cách bộ máy nhà nước mặc dù tình hình Đại Việt nước ta trong giai đoạn trước có nhiều hạn chế bất cập

Thứ nhất, triều đại nhà Lý – Trần là một trong những triều đại có thời

Trang 35

gian tồn tại lâu đời trong lich sử nước ta, cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước và hành chính của hai nhà nước này mang tính đặc thù riêng và được xây dựng dựa trên lực lượng chính là tầng lớp quý tộc bên cạnh những điểm mạnh đó đã giúp cho bộ máy nhà nước đứng vững gần 200 năm và phát triển thịnh trị, dù vậy nó cũng có những hạn chế ở cuối thế kỷ XIV dần dần lâm vào khủng hoảng sa sút trầm trọng rối ren trong chính trị, chính vì lẽ đó mà Hồ Qúy Ly nhanh chóng thúc đẩy thực hiện cuộc cải cách dầy táo bạo và lên nắm chính quyền thay thế nhà Trần lập nên nhà nước Hồ, do nhiều lý do khách quan cũng như chủ quan quá nóng vội của ông là không phát huy được khối đoàn kết vững chắc giữa triều đình với quân đội hoặc với lực lượng nhân dân lao động không đồng nhất nên cuộc cải đó nhanh chóng đi đến thất bại; một lần

nữa đất nước lại rơi vào tay ngoại bang Nhà Minh với khẩu hiệu “phù Trần

diệt Hồ” đưa quân vào xâm chiếm và nhanh chóng thủ tiêu nền độc lập của

nước Đại Việt, và tiến hành đặt nước Đại Việt thành quận Giao Chỉ thuộc sự quản lý của nhà Minh Nhà Minh cai trị nước ta bằng một chế độ hết sức tàn bạo và hà khắc, chúng ra sức vơ vét của cải, tài sản, hoặc những sản phẩm quý hiếm ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai, vàng bạc đem về Trung Quốc, mặt khác còn thủ tiêu nền văn hóa dân tộc Việt, theo' đúng tinh thần mệnh lệnh nhà vua Minh “một mảnh giấy, một nửa chữ cũng không được để lại ”, chúng

muốn biến nước ta thành những dân đen không tri thức, trong Bình Ngô đại

cáo có viết: “Nướng dân đen ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ dưới hầm tai

Trang 36

ngầm nghiền chiến lược, sách lược giành lại độc lập, cuộc đấu tranh chính trị không ngừng tiếp diễn, các cuộc khởi nghĩa Trần Qúy Khoáng,Trần Ngỗi, hoặc ở miền núi thì có phong trào nghĩa quân áo đỏ bằng nhiều hình thức và phong trào đấu tranh của quần chúng,đông đảo ở khắp nơi cùng nhau phối hợp và dọn đường cho nghĩa quân lam sơn do Lê Lợi lãnh đạo, sau 10 năm gian khổ (1418 -1428) khởi nghĩa Lam sơn hoàn toàn thắng lợi giành lại độc lập dân tộc, mở ra một thế kỷ phát triển rực rỡ của lịch sử nhà nước và pháp

luật Việt Nam

Về xã hội, thời Lê sơ là một xã hội tương đối ổn định và phát triển, thời

là một xã hội phân hóa đẳng cấp đã thật sự chín muồi, trong xã hội có hai đẳng cấp hoặc tầng lớp đối lập nhau đó là: tầng lớp quan liêu (vua, quan, những kẻ thống trị) và thứ dân gồm có (người bị cai trị, sĩ, nông, công, thương), mối quan hệ của giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân áo vải có

sự hình thành đan xen vào các quan hệ đẳng cấp

Bộ máy thống trị cầm quyền trong xã hội phong kiến gồm có vua và giai cấp địa chủ, vua là người có quyền lực tối thượng tuyệt đối trong xã hội, đối với quan là người đại diện vua thừa hành quản lý dẫn dắt, chăm lo, giáo hóa dân chúng, đồng thời đội ngũ quan chức là tầng lớp ưu tú trong xã hội, họ được tuyển dụng rất kỹ lưỡng (qua thi cử), được rèn luyện và kiểm soát rất gắt gao bị trói buộc bởi các quy chế, bộ lại và chế độ khảo khóa nghiêm ngặt, đẳng cấp này có nhiều đặc quyền, đặc lợi trong xã hội và được pháp bảo vệ, trở thành giai cấp có lực lượng đông đảo, có quyền thế trong triều và uy quyền ở địa phương làng xã Bên cạnh đó chúng ta không thể bỏ qua đó là tầng lớp hiện diện dự bị trong xã hội, có vai trò tích cực quan trong nhất, là cơ

sở chủ đạo, nòng cốt lực lượng tinh thần cho bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền bị chi phối từ hệ tư tưởng của Nho giáo Họ

Trang 37

là những người có uy tín trong nhân dân, là tầng lớp được đào tạo, học tập theo thánh hiền và am hiểu về chữ Hán, chính họ là cầu nối trung gian giữa nhà vua và người dân xích lại gần nhau và hiểu nhau Tầng lớp của Nho giáo trở thành trụ cột của xã hội phong kiến và được hưởng nhiều đặc ân, ưu đãi của vua về miễn trừ sai dịch và cấp học bổng Còn đối với thứ dân là tầng lớp

xã hội đông đảo nhất, đã được phân hóa thành nhiều bộ phận như: địa chủ bình dân, nông dân tự canh, tá điền, trong đó địa chủ bình dân cùng với địa chủ quan liêu đã hợp thành giai cấp phong kiến, cường hào áp bá xuất hiện

trong làng xã, cùng với nó là chính sách “trọng nông, ức thương”, nên tầng lớp thương nhân bị xã hội coi rẻ hơn cả, bị gán cho những tính cách “phi

nghĩa” và “bất nhân” Cùng với nó là chế độ công trượng và thương nhân

trong xã hội phong kiến Đại Việt lúc bấy giờ không có chỗ đứng, do ảnh hưởng chính sách của nhà Lê, các thợ thủ công chủ yếu phát triển mạnh ở làng xã, còn với những người có tay nghề bậc cao thì họ được tuyển vào làm

ở công xưởng, nhưng phần lớn họ không mấy mặn mà trổ hết tài nghệ của mình, đối với thương nhân, thương gia bị cản trở và hạn chế giao dịch buôn bán do ảnh hưởng một số chính sách trọng nông, quan điểm trọng nông là một chính sách truyền thống của các vương triều phong kiến Việt Nam, nó xuất

phát từ nguyên lý “trọng nông, ức thương” của hệ tư tưởng Nho gia Chính vì

vậy nhà nước Lê nhất là Lê Thánh Tông, ông rất quan tâm đến vấn đề kinh tế nông nghiệp Năm 1461 nhà nước ban hành văn bản lệnh cho các quan phủ, huyện, xã như sau: “khuyến khích quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai,

để đủ ăn, đủ mặc, không được bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán,

làm trò du thủ du thực” [ 24, tr.393]

Ở đầu thời Lê, các công thần chủ yếu là quan võ tham gia từ đầu cuộc khởi nghĩa, sau dần dần chuyển sang các quan văn (những người đỗ đại

Trang 38

khoa), với với việc mở rộng các tri thức nho sĩ bình dân có điều kiện tham gia

ứng thí vào chính quyền nhà nước phong kiến, tạo nên môi trường bình đẳng

tiến thân, so với thời Lý và Trần thì xã hội nhà nước Lê có nhiều thông thoáng rộng hơn, tuy nhiên đối với các quan lại nhà Lê bị ràng buộc trong vòng kiểm soát nghiêm ngặt về các hình thức lễ nghi, các quy phạm nho giáo mang tính chuyên quyền

Trong xã hội Đại Việt, tầng lớp nô tỳ vẫn còn là một tầng một lớp đáng

kể do số nông nô, nô tỳ vẫn còn tồn tại ở một số trang trại tư nhân hoặc đồn điền nhà nước, tầng lớp này được xem là tầng lớp kém, mạt hạng trong xã hội,

họ bị bóc lột sức lao động và bị đối xử rất tàn nhẫn, phần lớn họ là những người bị tội nhân, hay phạm nhân của một chế độ giao dịch mua bán người hoặc là những tù binh bị bắt trong cuộc chiến Chămpa Họ là người không có quyền tự do, không được xem trọng, không là con dân của vua, tước cả quyền

hộ tịch trong sổ hộ khẩu, những quyền lợi và nghĩa vụ khác của một thần dân trong xã hội không có Từ những sự bất công có một số nô tỳ bỏ trốn trở thành nông dân tự do Pháp luật nhà Lê quy định rất nghiêm ngặt về vấn nạn

mua bán nô tỳ hoặc bức bách các dân đinh tự do làm nô tỳ, ở điều 168 của Lê

triều hình luật quy định như sau: “các vương công, thế gia tự tiện thích chữ

vào dân đinh làm gia nô (sung công, thu danh tịch cũng vậy), nếu một người thì xử biếm ba tư, nếu là quan nhất, nhị phẩm trở lên thì phạt tiền 100 quan,

cứ ba người trở lên thì tăng một bậc, tội chỉ đến năm tư thì phạt tiền 500 quan”, nhờ vào sự nỗ lực của nhân dân và nhà nước cùng làm dần dần xã hội xóa bỏ các chế độ mua bán nô tỳ và vấn nạn tham quan ô lại, cường hào không còn tồn tại trong xã hội, đồng thời nền kinh tế - chính trị trong xã hội nhanh chóng phục hồi và phát triển, cuốc sống của người dân dần dần ổn định, thanh bình, nền độc lập thống nhất của nước Đại Việt được thịnh trị và

Trang 39

có tiếng nói riêng trên cả khu vực Đông nam Á lúc bấy giờ

Tưởng chừng khi giành được độc lập, chủ quyền của đất nước có thể sống trong cảnh hòa bình hạnh phúc an lành, không còn kẻ thù hung bạo và những mối nguy hại ở bên ngoài dòm ngó, không ngờ rằng mối nguy hại đó lại bắt nguồn từ những nguyên nhân sự yếu kém của thiết chế chính trị - xã hội phong kiến quý tộc Phật giáo của nhà Lý –Trần được thay bằng một nhà nước chính trị phong kiến quan liêu Khổng Tử của đạo nho giáo trở thành hệ

tư tưởng chính trị, pháp lý chính thống của giai cấp phong kiến và lấy nho giáo làm mẫu mực cho việc dựng nước, trị dân làm khuôn vàng thước ngọc để xây dựng một thiết chế chính trị và luật pháp, đó chính là mục tiêu cơ bản của nho giáo về bảo vệ chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến , điều mà Hồ Qúy Ly muốn thực hiện “cấm người tôn thất, cung nhân không được xưng quý hiệu, người vi phạm sẽ bị trị tội việc” [ 24, tr.205] nhưng chưa làm được; mặt khác cũng do trong nội bộ cung đình có nhiều mâu thuẫn rối ren vào những năm trị vị của vua Lê Lợi, là ông vua đầu tiên của triều đại Lê Chính

vì những nguyên nhân xảy ra trong nội bộ, xã hội đã nảy sinh mần móng của cuộc khủng hoảng trên mọi mặt của đời sống xã hội, dẫn đến những cải cách của các ông vua Lê Lợi, Lê Thái Tổ, Lê Nhân Tông ở một góc độ nhất định nào đó nhằm khắc phục những yếu kém làm cho nền chính trị chưa đạt được hiệu quả như ý Trong đó cuộc khủng hoảng cung đình có những biểu hiện sai lầm nghiêm trọng của Lê Thái Tổ đó là: Nghi kỵ nhau và tranh giành quyền

lực, ngôi báu mà ra tay sát hại lẫn nhau trong giòng tộc Đối với Thái Tổ, Đại

Việt sử ký toàn thư đã có lời bàn: “ Thái Tổ từ khi lên ngôi đến nay, thi hành

chính trị rất khả quan cũng có thể là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp, do tính đa nghi và hiếu sát, đó là chỗ kém ” [ 24, tr.307] trong sách lược chính trị Khi Lê Lợi mất, thì vua Lê Thái Tông nối ngôi năm (1434-

Trang 40

1442) càng làm cho tình hình chính trị, xã hội càng trở nên phức tạp và mâu thuẩn Lê Thái Tông là ông vua có tính quyết đoán và độc tài chỉ tin vào chính bản thân mình, thích xu nịnh, nên bên cạnh ông toàn là những quan lại bất tài

vô dụng, đầy mưu mô xảo nguyệt, chúng ra tay tàn ác và ra sức vơ vét của cải của nhân dân, cuộc sống nhân dân lầm than cơ cực, nạn hối lộ hoành hành nên việc chấp pháp hình phạt có nhiều án oan, bóc lột sức lao động cùng cực của nhân dân, đời sống nhân dân túng thiếu, lầm than, ái oán, việc tô thuế nặng nề Lê Thái Tông tự vấn cho rằng đất nước bị như thế này là do: “ Mấy năm nay, hạn hán kéo dài, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn xuất hiện nhiều lần sét đánh vào vừa cây trước cửa Thái miếu ở Lam kinh, nghiệm xét thấy rằng việc xảy ra tai họa, nhất định là có cơ duyên trách phạt trong đó Có phải do trẫm không lo sửa đức để mọi việc bê trễ không” [ 24, tr.347]. Tính

ưa được người nịnh nọt và gia trưởng độc tài chuyên quyền không nghe sự can gián của quan trung thành, đã đẩy các công thần, lão tướng không còn ai dám đứng ra ngăn cản việc làm của vua; ai can ngăn làm trái đều bị giết chết hoặc mất chức, bị đi đày nơi xa, hoặc nghiêm trọng hơn nữa là tru di cữu tộc

cả họ Cũng chính vì sự chuyên quyền độc đoán nên đã dẫn nền chính trị trong xã hội ngày một xáo trộn và rối ren phức tạp, lòng dân than oán

Khi Lê Thái Tông mất năm 1442, thì Bang cơ ( Lê Nhân Tông) lên ngôi (1442-1459) khi mới hai tuổi, lúc đó tuổi đời còn quá non nót chưa hiểu biết hết, những nguy cơ đối với xã tắc, do vua cha gây dựng Mọi công việc triều chính do thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính, bên cạnh bà cùng các quan bất tài vô dụng nắm giữ Chính sự đất nước càng rối rem phức

tạp nay lại càng phức tạp hơn Năm Quang Thuận đã viết bài “Trung hưng

ký” nói về tình hình chính trị của giai đoạn như sau: Nhân Tông hai tuổi đã

nối ngôi vua, mẹ là thái hậu Nguyễn Thị Anh làm nhiếp chính quản lý điều

Ngày đăng: 29/04/2021, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w