ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN DƯƠNG VĂN THANH VẤN ĐỀ CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CỔ TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN VĂN HỌC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG VĂN THANH
VẤN ĐỀ CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CỔ TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ NAM BỘ CUỐI TK XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG VĂN THANH
VẤN ĐỀ CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CỔ TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ NAM BỘ CUỐI TK XIX
Trang 3Xin chân thành cảm ơn cô Đỗ Thị Bích Lài, người đã không những tạo được sự đam mê học tập bộ môn ngay từ những ngày đầu tôi bắt đầu học mà còn là người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này
Xin tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô giảng viên của Trường đã cung cấp kiến thức quý giá cũng như phương pháp nghiên cứu cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chia sẻ kiến thức, động viên tinh thần để tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học tập và làm luận văn của mình
Xin chúc cô Lài, quý thầy cô, gia đình và bạn bè luôn may mắn, mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống
Tp Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2014
Tác giả
Dương Văn Thanh
Trang 4DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
8 Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1.1 Khái niệm về từ 11
1.2 Khái niệm về cấu tạo từ 13
1.2.1 Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt 13
1.2.2 Phương thức cấu tạo từ 14
1.3 Sự phân chia lớp từ 15
1.3.1 Xét từ góc độ cấu tạo 15
1.3.1.1 Từ đơn 15
1.3.1.2 Từ ghép 15
1.3.1.3 Từ láy 16
1.3.1.4 Từ ngẫu hợp 16
1.3.2 Xét từ góc độ tích cực và tiêu cực 18
1.3.2.1 Từ cổ 19
1.3.2.2 Từ lịch sử 26
1.3.2.3 Từ mới 27
1.4 Các loại nghĩa 28
1.4.1 Nghĩa ngữ pháp 30
1.4.2 Nghĩa từ vựng 32
Trang 51.5 Vấn đề trường từ vựng – ngữ nghĩa 32
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 CẤU TẠO CỦA TỪ CỔ TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX 2.1 Đặc điểm cấu tạo từ đơn trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX 37
2.2 Đặc điểm cấu tạo từ ghép trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX 43
2.2.1 Từ cổ là những từ ghép đẳng lập 47
2.2.1.1 Từ cổ là từ ghép đẳng lập đẳng nghĩa 47
2.2.1.2 Từ cổ là từ ghép đẳng lập đơn nghĩa 47
2.2.1.3 Từ cổ là từ ghép đẳng lập hợp nghĩa 48
2.2.1.4 Từ cổ là từ ghép đẳng lập trái nghĩa 48
2.3 Đặc điểm cấu tạo từ láy trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX 49
2.3.1 Từ cổ là từ láy thuần Việt 52
2.3.2 Từ cổ là từ láy Hán Việt 52
2.4 Đặc điểm cấu tạo từ ngẫu hợp trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX 52
2.5 Từ cổ cuối thế kỷ XIX chỉ cấp bậc, quan chế 53
Tiểu kết chương 2 54
CHƯƠNG 3 NGỮ NGHĨA TỪ CỔ CỦA TIẾNG VIỆT TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN VĂN HỌC VÀ BÁO CHÍ NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX 3.1 Ngữ nghĩa của từ cổ là hư từ 55
3.1.1 Nghĩa ngữ pháp của các hư từ cổ trong các tác phẩm cuối thế kỷ XIX 57
3.1.2 Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh của hư từ cổ trong các tác phẩm cuối thế kỷ XIX 62
Trang 63.1.3 Từ thay thế các hư từ cổ trong văn bản hiện đại 62
3.2 Ngữ nghĩa của từ cổ là thực từ 63
3.2.1 Nghĩa từ vựng của từ cổ là thực từ trong các tác phẩm cuối thế kỷ XIX 64
3.2.2 Nghĩa gốc thực từ cổ trong các tác phẩm cuối thế kỷ XIX 64
3.2.3 Nghĩa phái sinh của thực từ cổ trong các tác phẩm cuối thế kỷ XIX 65
3.3 Nghĩa của một số từ có vỏ ngữ âm lạ 67
3.4 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của từ cổ 71
3.5 Bàn thêm về ngữ nghĩa của các từ cũ (không phải từ cổ) chỉ quốc gia, vùng miền 72
Tiểu kết chương 3 73
Kết luận 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC TỪ CỔ 85
Trang 7CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CTKQ: Chúa Tàu Kim qui
ĐNQÂTV: Đại Nam quốc âm tự vị
HĐ: Hồng Đức quốc âm thi tập
HTBPHTN: Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn
KLTN: Khóa luận tốt nghiệp
LTTM: Lời thề trước miễu
LNNH: Lòng người nham hiểm
NHKD: Nghĩa hiệp kỳ duyên
PT: Phật thuyết đạo báo phụ mẫu ân trọng kinh
QÂTT: Quốc âm thi tập
TĐTV: Từ điển tiếng Việt
TNNL: Thiên Nam ngữ lục
TGCH: Thập giới cô hồn quốc ngữ văn
TKML: Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giảm âm tập chú
TMTĐ: Tài mạng tương đố
Trang 9DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Ở địa hạt từ vựng – ngữ nghĩa học, nghiên cứu từ là gì, từ được cấu tạo bởi cái gì và như thế nào; nghĩa của từ và phân tích nghĩa của từ như thế nào, nghiên cứu từ trong quá trình phát triển của nó là các nhiệm vụ và mục đích
cơ bản
Từ vựng là một tập hợp từ không chỉ của một giai đoạn, một thời kỳ,
mà nó là sản phẩm hay kết quả của ngôn ngữ có tính lịch sử Các từ của ngôn ngữ được sinh ra, được hoạt động – hành chức, và có thể mất đi theo sự phát triển và nhu cầu giao tiếp – phản ánh của một cộng đồng – xã hội
Trong quá trình học tập ở bậc cao học, chuyên ngành ngôn ngữ học, chúng tôi đã có nhiều quan tâm đến địa hạt từ vựng – ngữ nghĩa học, đặc biệt là lớp từ cổ thể hiện trong các tác phẩm văn học Nam Bộ cuối TK XIX – vùng đất mang nhiều đặc trưng văn hóa, xã hội độc đáo, riêng biệt, trong
đó một phần có ngôn ngữ Là một người con của Bến Tre, quê hương của những truyền thống cách mạng chống ngoại xâm TK XIX, tôi rất muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc tìm tòi, nghiên cứu
di sản văn hóa – văn học – ngôn ngữ của cha ông để lại, đồng thời với nguyện vọng cá nhân là muốn không ngừng nâng cao trình độ tri thức trên con đường học vấn của mình về lĩnh vực ngôn ngữ; mặt khác khi xem xét nghiên cứu đối tượng này, tôi nhận thấy chưa có một công trình chuyên biệt nào khảo cứu về vấn đề này một cách có hệ thống, chuyên sâu trên tư liệu các văn bản văn học Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ cổ trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX (Khảo cứu trên một số văn bản văn học Nam Bộ giai đoạn này)” làm đề tài luận văn Cao học của mình
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Năm 1975, Đào Duy Anh, trong tác phẩm “Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu
tạo, diễn biến” đã đưa ra khái niệm từ xưa và xem từ xưa là những từ “hiện nay không dùng nữa” Theo ông, từ xưa gồm hai loại từ đơn và từ kép Trong
khi đó ông lại dùng khái niệm từ cổ dành cho các từ Hán đơn âm trong các văn bản cổ và theo ông “trong số những từ xưa còn nên kể những từ đơn mượn ở chữ Hán (âm Hán Việt) để biểu hiện những khái niệm mà đời sau người ta chỉ dùng những từ Việt để biểu hiện thôi.” Ông đưa ra một số ví dụ
như dụng (dùng), địch (cái sáo), huyền (cây đàn), hoặc (sai), ma (mài), đố (ghét), sương (rương)… (tr.28, 33)
Đối với học giả Hoàng Xuân Hãn thì “từ ngữ cổ là những từ ngày nay không dùng nữa, hoặc còn dùng trong một địa phương, hoặc còn sót lại trong một thành ngữ nào đó, hoặc còn dùng với nghĩa khác nhưng có liên can” Vương Lộc đưa ra bốn tiêu chí để xác định từ cổ, theo đó: “Từ ngữ cổ
là những từ ngữ: (1) Chỉ còn gặp trong các tác phẩm cổ chứ không tồn tại
trong tiếng Việt hiện đại, như bợ là “vay”, khứng là “chịu”, mắng là “nghe”,
v.v ; (2) Gặp trong tiếng Việt hiện đại những đã thay đổi ít nhiều về mặt ngữ
âm, như khách thứa là khách khứa, bàn nàn thành phàn nàn, đam thành đem,
v.v… ; (3) Còn gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ do
chúng không còn dùng độc lập nữa, như han trong hỏi han, tác trong tuổi
tác, le trong song le, v.v hoặc đã thay đổi hoàn toàn về ý nghĩa như đăm chiêu không phải là “bên phải, bên trái, các phía”, lịch sự không phải là “từng
trải”, vốn là nghĩa cổ của các từ này; (4) Còn gặp trong tiếng Việt hiện đại
nhưng khả năng kết hợp có khác so với ngày trước như ban trong các tổ hợp ban già, ban muộn, ban nghèo, ban tà, v.v ; cái trong cái rắn, cái ve, cái
vẹt, v.v ; con trong con gậy, con lều, con sách, v.v ”
Nguyễn Thanh Tùng chia từ cổ làm sáu loại: (1) Những từ xưa được dùng độc lập, nay chỉ tồn tại như là yếu tố mất nghĩa, mờ nghĩa trong các tổ
Trang 11hợp từ như dể, ghẽ, rệt; (2) Những từ đã biến mất hoàn toàn trong kho từ
vựng hiện đại, không còn được sử dụng nữa, chỉ tồn tại trong các văn bản cổ,
như: mựa, bui, cày cạy; (3) Những từ chỉ còn dùng hạn chế trong các phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, thuật ngữ, như rồi trong ăn không ngồi rồi; (4) Những từ xưa là song tiết, nay đã rụng mất tiền tố, chỉ còn đơn tiết, như: la
đá, bà cóc; (5) Những từ Hán xưa dùng độc lập nay không dùng độc lập nữa
mà chỉ là những yếu tố Hán Việt dùng để cấu tạo từ; (6) Những từ còn xuất hiện nguyên dạng, nhưng nghĩa cũ đã mất, nay dùng theo nghĩa mới khác với
nghĩa cũ, như: cặn kẽ (ân cần chu đáo/ sát sao, tỉ mỉ)
Nguyễn Ngọc San cho rằng từ cổ “Là những từ đã được lưu lại trong các văn bản viết cổ hay văn bản miệng cổ (ca dao, tục ngữ) mà hiện nay không còn được sử dụng nữa…”, chúng bao gồm các từ cổ đã hoàn toàn biến mất trong kho từ vựng hiện đại; hay là từ vốn là “Những yếu tố mất nghĩa khi chúng nằm trong các tổ hợp song tiết đẳng lập và được xác định giá trị trong
mối tương quan với yếu tố kia" Trong cuốn Từ điển từ Việt cổ, tác giả coi từ
Việt cổ là những từ ngữ thuần Việt
Trong luận văn này, sau khi đã xem xét, tham khảo một số định nghĩa
về từ cổ của các tác giả đi trước, chúng tôi chọn và thống nhất quan điểm về
từ cổ với tác giả Nguyễn Thiện Giáp đó là: “Từ ngữ cổ là những từ ngữ biểu thị những đối tượng trong tiếng Việt hiện nay có các từ đồng nghĩa tương ứng Chính sự xuất hiện của những từ đồng nghĩa tương ứng này làm cho chúng trở nên lỗi thời.” Từ cổ gồm hai loại: những từ ngữ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại; những từ ngữ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ vì chúng không được dùng độc lập nữa
Chúng tôi nêu ra một số nhìn nhận về từ cổ của các học giả có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu từ cổ để thấy rằng, dù có thể có quan điểm khác nhau, tất cả những gì mà họ nghiên cứu, diễn giải đã giúp chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của tiếng mẹ đẻ và tạo một nền tảng cơ sở để
Trang 12chúng ta nghiên cứu sâu rộng hơn các lĩnh vực ngôn ngữ liên quan Trong đề tài của mình, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo cứu từ Việt cổ trên một số văn bản trong thời điểm cụ thể là cuối thế kỷ XIX, việc xác định lại tiêu chí rõ ràng về từ cổ là điều phải làm nhưng chắc chắn sẽ kế thừa những kiến thức đã được nghiệm chứng xác đáng từ những học giả trên
Cũng cần nói thêm rằng về vấn đề nghiên cứu lịch sử từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt giai đoạn cuối thế kỷ XIX, trong thư mục, chúng ta có công trình có tính tổng quát của Lê Quang Thiêm: “Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời
kỳ 1858 – 1945” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003) Trong công trình này, tác giả đã khảo cứu các giai đoạn phát triển của từ vựng tiếng Việt từ
1858 – 1945 từ các góc độ cấu tạo, nguồn gốc, v.v…một cách tổng thể, trên
cứ liệu của nhiều loại văn bản khác nhau
Đến năm 2011, một công trình nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia trọng điểm do Tác giả Đỗ Thị Bích Lài làm chủ nhiệm đã được công bố: “Tiếng Việt Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX – 1945: Những vấn đề về từ vựng” (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2011)
Trong công trình này, nhóm tác giả khảo cứu vấn đề từ vựng tiếng Việt Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX – 1945 trên bốn phương diện: (1) Lịch sử - nguồn gốc của từ; (2) Cấu tạo – ngữ nghĩa của từ; (3) Vai trò phương tiện giao tiếp trong xã hội của tiếng Việt Nam Bộ (thể hiện qua từ vựng) và (4) Vấn đề phong cách – văn hoá.Và như vậy, đây cũng là một công trình có tính vĩ mô
về từ vựng tiếng Việt trong một giai đoạn lịch sử cụ thể là cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Liên quan đến đề tài của chúng tôi còn có các công trình khác ở những mức độ ít nhiều khác nhau như các luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp đại học Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nổi bật như sau:
Trang 13Bùi Quang Thục Anh (2011), Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt cuối thế
kỷ XIX (Khảo sát qua “Gia Định báo”), KLTN, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh
Phạm Văn Đức (2006), Lớp từ cổ trong tiếng Việt, LV Thạc sĩ khoa học Ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Lê Thuỳ Linh (2011), Khảo sát từ ngữ trong tác phẩm “Chuyến đi Bắc
kỳ năm Ất Hợi - 1876” của Trương Vĩnh Ký, KLTN Khoa ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Lưu Thị Hồng Mai (2010), Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt (Qua khảo sát một số tác phẩm của nguyễn Chánh Sắt, KLTN Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh) Trịnh Thị Thơ (2011), Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt đầu thế kỷ XX (Qua khảo sát báo “Nông cổ mín đàm”), KLTN Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Kim Chinh (2011), Các lớp từ xét từ gó độ nguồn gốc và phạm vi sử dụng trong các tác phẩm văn học của một số nhà văn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – 1930, LV Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Huỳnh Ngọc Thuỳ (2008), Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt, LV Thạc
sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Hoàng Thị Phi Yến (2011), Vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XX qua “Việt Nam tự điển”, LV Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Khúc Thuỷ Liên (2011), Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt trong một
số tác phẩm Văn học Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX, LV Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Trang 14Nguyễn Kiên Trường (2006), Tổng hợp và đánh giá tình hình nghiên cứu ngôn ngữ thời kỳ 1996 – 2006, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Tp Hồ Chí Minh
Trương Thị Thanh Trúc (2012), Từ địa phương trong các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, KLTN Khoa văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Dương Thị My Sa (2009), Từ địa phương trong một số tác phẩm văn học Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX – Đầu thế kỷ XX, KLTN chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Lê phương Thảo (2013), Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX (Khảo sát qua một số văn bản văn học Nam Bộ), KLTN chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Phượng Uyên (2013), Về cách giải nghĩa từ tiếng Việt cuối thế
kỷ XIX (Qua quyển tự điển Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Paulus Của ), LV Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Tuy nhiên, như đã nói, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu
về từ cổ trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX trên cứ liệu văn bản văn học Nam
Bộ giai đoạn này một cách có hệ thống, chuyên biệt
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề cấu tạo, ngữ nghĩa của từ cổ tiếng Việt cuối thế kỷ XIX trên cứ liệu văn bản văn học và báo chí Nam Bộ nhằm mục đích góp phần vào việc nghiên cứu từ vựng tiếng Việt nói chung trong tiến trình phát triển của nó, đồng thời đưa ra được những chứng cứ xác thực về sự phát triển này qua các nghiên cứu cụ thể mà đề tài của chúng tôi sẽ được thực hiện
Trang 154 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các từ cổ trong từ vựng tiếng Việt cuối thế kỷ XIX (Khảo cứu trên một số văn bản văn học Nam Bộ giai đoạn này như tác phẩm của các tác giả Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Chánh Sắt và các báo như “Gia Định báo”,
“Nông Cổ Mín Đàm”…)
Việc xác định một từ có phải là từ cổ hay không là một công việc thực
sự không dễ dàng đòi hỏi chúng ta phải có những tiêu chí xác đáng, thuyết phục nếu không sẽ tạo thành vấn đề gây tranh cãi
Xưa nay hễ nói đến “cổ” người ta nghĩ ngay đến tuổi thọ của vật gì đó hay nói cách khác là thời gian tồn tại của nó Một cái gì đó được xem là cổ thì phải có thời gian tồn tại rất lâu, tối thiểu cũng phải hơn trăm năm
Nếu chỉ hiểu đơn thuần như vậy thì không ổn vì đối với ngôn ngữ có những từ đã có thời gian tồn tại rất lâu, ngay từ khi có ngôn ngữ đó nhưng
chúng vẫn không được xem là từ cỗ ví dụ như cha, mẹ, anh, em, chị,
nhà…Nếu chúng ta chỉ lấy tiêu chí thời gian để xác định thì cả kho từ vựng
mà ta đang sử dụng trong ngôn ngữ của mình trở thành từ cổ hết
Khi chúng tôi xin phép chọn đề tài này thì cũng vướng phải khái niệm
“từ cũ” trong ngôn ngữ Một số học giả cho rằng có sự tồn tại của từ cũ và từ
cổ trong ngôn ngữ và thậm chí có những cảnh báo về việc nhầm lẫn từ địa phương thành từ cổ (Nghĩa là có những từ tuy không xuất hiện trên các phương tiện truyền thông nhưng ở một địa phương nào đó người ta vẫn hay dùng) Chúng ta khẳng định một từ nào đó là từ cổ thì đòi hỏi chúng ta phải có bằng chứng chứng minh nó là từ cổ, tiêu chí nào để xác định nó là từ cổ Trong công trình của mình chúng tôi sẽ nêu khái niệm, các tiêu chí để xác định từ cổ cũng như xóa đi những nhầm lẫn giữa từ cổ và từ hiện tại, từ cổ và
từ cũ hay từ cổ và từ địa phương
Trang 16Ngữ liệu của đề tài nghiên cứu này, như đã nêu trên, là các văn bản văn học và báo chí Nam Bộ được xuất bản vào cuối thế kỷ XIX, ví dụ như các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Chánh Sắt và các báo như “Gia Định báo”, “Nông Cổ Mín Đàm”, vv
Các từ cổ được lấy từ các văn bản văn học, báo chí Nam Bộ xuất bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX cụ thể trên 150 số báo Nông Cổ Mín Đàm, 66
số Gia Định báo, các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh như Con nhà nghèo, Ngọn
cỏ gió đùa, Vợ già chồng trẻ, Nặng gánh cang thường, Lòng dạ đàn bà, Một chữ tình, Chúa Tàu Kim qui, Lời thề trước miễu, tác phẩm Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đình Chiểu, các tác phẩm Nghĩa hiệp kỳ duyên, Lòng người nham
hiểm, Tài mạng tương đố, Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn của Nguyễn
Chánh Sắt và Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký
6 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện công trình nghiên cứu này, luận văn chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 17- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được dùng để thống kê các
từ cổ trên hai bình diện là cấu tạo và ngữ nghĩa, từ đó đưa ra các phân tích, nhận định định chất về vấn đề khảo cứu của luận văn
- Phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa: Phương pháp này được dùng để miêu tả, phân tích ngữ liệu khảo cứu trên hai góc độ mà luận văn đã
đề cập ở trên
- Trong một chừng mực nào đó chúng tôi cũng sẽ sử dụng phương pháp
so sánh lịch sử để hỗ trợ cho việc thực hiện công trình nghiên cứu của mình đối với những trường hợp cần thiết
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Nghiên cứu từ cổ trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX (Trên tư liệu văn bản văn học và báo chí Nam Bộ) có ý nghĩa khoa học ở chỗ các kết quả nghiên cứu của nó góp phần bổ sung, hoàn thiện bức tranh lịch sử từ vựng tiếng Việt trong tiến trình phát triển của nó trong sự đa dạng và phong phú về ngữ liệu của các hiện thực ngôn ngữ - phương ngữ Việt Nam - mà đó cũng là một trong các nhiệm vụ của ngành từ vựng – ngữ nghĩa học tiếng Việt
- Ý nghĩa thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người nghiên cứu, học tập tiếng Việt từ góc độ lý luận cũng như hoạt động ứng dụng, thực tiễn
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết cơ sở
Trong chương này luận văn sẽ trình bày một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến các xử lí, phân tích, lí giải của đề tài luận văn như khái niệm từ
và cách phân chia từ (xét từ góc độ tính tích cực và tiêu cực) đối với từ cổ và từ
Trang 18lịch sử Trong quá trình khảo sát chúng tôi dựa vào cách phân biệt và xác định của các tác giả cuốn: “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000), Nxb Giáo dục (Bản tái bản), có bổ sung cách hiểu của cuốn “Từ vựng tiếng Việt” (Nguyễn Hữu Chương, Nguyễn Công Đức (1992), Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh) và cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp (2005), Nxb Giáo dục) Luận văn cũng sẽ cung cấp cái nhìn rõ nét về các loại từ xét từ góc độ cấu tạo cũng như nghĩa của từ, các loại nghĩa, vấn đề trường từ vựng - ngữ nghĩa
Chương 2: Cấu tạo của từ cổ trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX
Trong chương 2 luận văn tập trung làm rõ lại một số vấn đề như từ cổ
là từ thuần Việt (Trong đó có từ đơn, từ ghép và từ láy); từ cổ là từ vay mượn (Trong đó có từ cổ gốc Hán trên các mặt từ đơn, từ ghép, từ láy; từ cổ gốc Châu Âu đa tiết (ngẫu hợp))
Chương 3: Ngữ nghĩa của từ cổ trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX
Trong chương 3 của luận văn, các vấn đề được tập trung khảo luận sẽ bao gồm các trường từ vựng – ngữ nghĩa của từ cổ cụ thể đối với trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ một sự vật - đồ vật, trường từ vựng chỉ các hiện tượng thiên nhiên và trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ các tên gọi, phẩm tước, quan chế cũ Bên cạnh đó luận văn cũng bàn thêm về nghĩa gốc và vấn đề nghĩa –
từ mới tương ứng (So với từ cổ) trong tiếng Việt thế kỷ XIX
Trang 19CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ
nó lại được áp dụng, triển khai nghiên cứu rộng rãi, liên tục ở mọi ngôn ngữ
Do từ là đối tượng được đặc biệt quan tâm nên trong ngôn ngữ học có hẳn chuyên ngành gọi là Từ vựng học
Từ vựng học nghiên cứu về từ và các đơn vị ngôn ngữ tương đương với từ Trong khi nghiên cứu về từ cũng đã nảy sinh một số chuyên ngành nghiên cứu hẹp hơn như danh học, từ nguyên học, v.v…Danh học nghiên cứu
về quy tắc, phương thức đặt tên người như tên, bí danh, bút danh, hiệu hay tên các đơn vị hành chính như làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố, tên sông, tên núi, tên hồ, tên đồng ruộng Từ nguyên học nghiên cứu và giải thích hình thức và
ý nghĩa ban đầu của các từ và những đơn vị tương đương như từ Tuy các chuyên ngành nghiên cứu về từ rất phát triển và mang tính khoa học rất cao, nhưng trải qua một thời gian dài người ta vẫn xem việc đưa ra một khái niệm
về từ là hết sức khó khăn “Trong ngôn ngữ, đơn vị được gọi là từ có những đặc tính hết sức phức tạp Việc nhận diện nó một cách rõ ràng là điều hoàn toàn không đơn giản.” (Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Hàm Dương, Nguyễn Công Đức (2003), Dẫn luận ngôn ngữ học) Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure (1857 - 1913) từng nói trong bài giảng của mình: “…từ, mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của bản ngữ.” (F
Trang 20de Saussure – Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB Khoa học xã hội – H., 1973, tr 193) Sau Ferdinand de Saussure, nhà ngôn ngữ học người Pháp Antoine Meillet trong công trình “Ngôn ngữ học lịch sử và Ngôn ngữ học đại cương” (T1, 1921; T2, 1936) đã đưa ra khái niệm: “Từ là kết quả của sự kết hợp một ý nghĩa nhất định với toàn bộ những âm tố nhất định, có thể có một công dụng ngữ pháp nhất định.” Ngoài ra, có thể liệt kê một số các định nghĩa khác về từ:
- K.Buhler: “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường.”
- E.Sapir: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân có thể làm thành một câu tối giản”
- V.Brondal: “Từ bao giờ và ở đâu cũng phải là một yếu tố của thông báo”
- F.F.Fortunatov: “Từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ
có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm cũng là từ khác”
- W.Schmidt: “Từ không phải là tổng số có tính số học của vật chất âm thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính vật chất âm thanh và ý nghĩa”
Dù có rất nhiều khái niệm về từ và khái niệm của các nhà ngôn ngữ học được xem là tốt đến đâu cuối cùng cũng vẫn rơi vào tranh cãi vì không thỏa mãn được tính phổ quát của một định nghĩa hay khái niệm về từ
Một số lý do dẫn đến việc khó đưa ra một khái niệm hay định nghĩa về
từ có thể kể đến là:
+ Sự khác nhau về cấu tạo Ví dụ trong tiếng Việt của ta sách, vở, nhà,
cửa, bàn, ghế…được xem là những từ riêng biệt có ý nghĩa trong khi vẫn tồn
tại những kết cấu cũng được cho là từ như sách vở, bàn ghế, nhà cửa…vấn đề càng phức tạp hơn khi chúng ta gặp chợ, búa, bạn, bè và chợ búa, bạn bè
Trang 21+ Chức năng của từ: Có những từ biểu thị sự vật, hiện tượng trong thực tế (thực từ), có những từ chỉ biểu thị quan hệ ngữ pháp trong ngôn ngữ (hư từ), có những từ định danh (danh từ, đại từ), có những từ không định danh như số từ, thán từ, phụ từ
+ Ý nghĩa: Hiện tượng đồng âm đa nghĩa trong từ, nghĩa ngữ pháp, nghĩa từ vựng, nghĩa khái quát của một lớp từ, nghĩa cụ thể của từng từ
Trong luận văn này, để nêu ra một định nghĩa về từ có tính phổ quát cao cho ngôn ngữ mẹ đẻ, xin lấy định nghĩa gần đây nhất trong ngành ngôn ngữ học Việt Nam được rất nhiều người đánh giá cao và tán thành của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị nhỏ nhất
có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.” [62,142]
Định nghĩa trên tuy chưa gọi là hoàn hảo áp dụng cho mọi ngôn ngữ nhưng nó cũng đưa ra tiêu chí rất chặt chẽ để xác định cái gọi là từ Định nghĩa tốt khi áp dụng nghiên cứu tiếng Việt và làm nền tảng để xác định từ ở các ngôn ngữ khác Cần nói thêm rằng “đơn vị nhỏ nhất có nghĩa” nghĩa là ta không thể phá vỡ bằng cách tách rời hay chêm xen để chia tách nó ra được và khi nói thế cũng có nghĩa là đã bao hàm cả thục từ lẫn hư từ
1.2 Khái niệm về cấu tạo từ
Cấu tạo từ là cách tổ chức các đơn vị cấu tạo trong nội bộ của từ để tạo nên từ mới Các đơn vị cấu tạo từ được gọi bằng những tên gọi khác hau như
“tiếng”, “nguyên vị”, “từ tố” hay “hình vị” và thuật ngữ “hình vị” được rất nhiều nhà ngữ học hiện tại chọn dùng
1.2.1 Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt
Chúng tôi cũng xin thống nhất với cách gọi tên của đa số hiện nay đó
là đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt là hình vị Các hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định để tạo nên từ Hình vị có đặc điểm cơ bản là: (1) Là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa (nghĩa từ vựng hoặc nghĩa ngữ pháp); (2) Là
Trang 22đơn vị gốc cấu tạo nên từ tiếng Việt, không thể chia nhỏ ra được nữa; (3) Hình vị (trong tiếng Việt) có thể một mình đóng vai trò như một từ hoặc có thể là thành tố cấu tạo nên từ Ví dụ: “nhà” là một hình vị, tự bản thân nó cũng là một từ; “nhà thờ” là từ gồm hai hình vị “nhà” và “thờ” cấu tạo nên
1.2.2 Phương thức cấu tạo từ
Hình vị là chất liệu để tạo nên từ nhưng để tạo được từ thì các chất liệu này phải tuân theo những nguyên tắc nhất định của một ngôn ngữ, ở đây là tiếng Việt, để tạo từ mà người ta gọi đó là phương thức câu tạo từ Theo các nhà Việt ngữ học thì từ tiếng Việt được tạo ra theo ba phương thức đó là từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị
- Từ hóa hình vị: Là phương thức dùng một hình vị để tạo từ Ví dụ:
nhà, phòng, cửa, đi, ăn…
- Ghép hình vị: Là phương thức kết hợp các hình vị cùng tính chất với
nhau theo một trật tự nhất định để tạo ra từ mới Ví dụ: con ong, bến cảng,
sân bay, đường sắt, cây chổi…
- Láy hình vị: Là phương thức lặp lại một phần hay toàn phần hình vị
ban đầu để tạo từ Ví dụ: xanh xanh, xinh xắn, lúng túng, thoang thoảng, nhè
nhẹ, sạch sành sanh, sớn sơ sớn sát…
Từ phương thức cấu tạo tạo từ từ hình vị và căn cứ vào số lượng hình
vị mà người ta phân loại từ trong tiếng Việt Như đã nêu từ trong phần lý thuyết, theo góc độ cấu tạo từ, thì trong từ tiếng Việt gồm từ đơn, từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp Về định nghĩa các loại từ này chúng tôi đã nêu rất rõ trong chương một Ở đây chúng tôi tập trung nêu khái niệm cấu tạo từ, đơn vị cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ để làm cơ sở xác định cấu tạo của từ cổ trong tiếng Việt cuối thế kỷ XIX mà chúng tôi khảo cứu
Trang 23từ bao quát rất nhiều sự vật, hiện tượng thường thì đồng tính, nhưng cũng có khi không đồng tính; thứ hai, ở khả năng tương ứng với một số cấu trúc biểu niệm khác nhau, sự phức hóa sẽ có tác dụng cố định hóa từng cấu trúc biểu
niệm đó”, ví dụ: nhà, bàn, sách, đi, trèo, nhảy, xanh, đỏ, tím, và, hay, hoặc…
tương tự nhau, có thể gọi là đồng nghĩa với nhau, ví dụ: cấp bậc, binh lính,
Trang 24+ Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: mỗi thành tố trong từ có nghĩa đơn lẻ,
nghĩa của từ là do nghĩa các thành tố hợp lại, ví dụ: vợ chồng, bàn ghế, nhà
cửa, xăng dầu
+ Từ ghép đẳng lập trái nghĩa: các thành tố có nghĩa đối lập hay trái
ngược nhau (chúng là các từ trái nghĩa), ví dụ: to nhỏ, trắng đen, trước sau,
đầu đuôi, trai gái, già trẻ, xuôi ngược, vuông tròn, may rủi, đi đứng, ngắn dài…
- Từ ghép chính phụ: Là những từ mà thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hóa và
sắc thái hóa cho thành tố chính Ví dụ: tàu hỏa, đường sắt, nông sản, hàng
không, sân bay, cà chua, cá thu, dưa hấu, cỏ gà, máy cái (phân loại và chuyên
biệt hóa), xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thẳng tắp, sưng vù (sắc thái hóa)…
Trong từ ghép chính phụ, tiếng chính có nghĩa kết hợp với tiếng phụ
cũng có nghĩa Ví dụ ta có các từ gạch chỉ, gạch hoa, gạch men thì gạch mang
ý nghĩa tổng quát, bao hàm, thành tố còn lại có nghĩa nhưng phạm vi nhỏ hơn
và nhằm mục đích làm cho từ có nghĩa cụ thể hơn, mang sắc thái rõ hơn Nói cách khác ý nghĩa của các từ ghép chính phụ được tạo nên từ nghĩa của tiếng chính mang nghĩa tổng quát và tiếng phụ mang nghĩa giới hạn phạm
vi Chúng ta xem thêm các ví dụ sau đây:
Cấp cứu, cấp nước, cấp điện, cấp gạo, cấp lương…
Mát tay, mát lòng, mát dạ, mát mặt…
Từ ghép chính phụ tạo ra theo cơ chế gốc Hán thì trật tự các thành tố ngược với tiếng Việt thông thường Loại này có cấu tạo với thành tố phụ đứng
trước và thành tố chính đứng sau.Ví dụ: công nhân, nông dân, quân sự, đồng
bào, quốc ca, đoàn ca, thương nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp…Từ ghép
chính phụ có hai loại:
- Chính phụ dị biệt: hoa hồng, nhà ga, xe lửa…
Trang 25- Chính phụ sắc thái hóa: xanh lè, đỏ choét, vàng khè, cao nhòng…
- Từ láy hoàn toàn: Là từ láy thường có sự lặp lại hoàn toàn của âm tiết
+ Giống phần vần và thanh điệu: ầm ầm, ào ào, ù ù…
+ Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu: đùng đùng, lù lù, vàng
vàng, hiu hiu, xanh xanh, xinh xinh, hây hây…
+ Giống phần vần, phụ âm đầu, khác thanh điệu (láy hoàn toàn có biến
âm): đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tim tím, thoang thoảng, nhè nhẹ, phơi phới, sừng
sững, mơn mởn, vành vạnh…
+ Giống âm đầu, âm chính, khác thanh điệu và phụ âm cuối: đèm đẹp,
bang bạc, tôn tốt, sành sạch, phưng phức, chiêm chiếp, vằng vặc, nườm nượp, lòe loẹt, anh ách…
Những trường hợp nêu trên là từ láy đôi (gồm hai tiếng) Trong tiếng Việt còn có láy ba (gồm ba tiếng) và láy tư (gồm bốn tiếng)
+ Từ láy ba: cỏn còn con, sạch sành sanh, sát sàn sạt, khít khìn khịt, lơ
tơ mơ, lù tù mù…
+ Từ láy tư: hì hà hì hục, sớn sơ sớn sát, ríu ra ríu rít, tíu ta tíu tít, bổi
hổi bồi hồi, lơ thơ lẩn thẩn, hăm hăm hở hở, vội vội vàng vàng …
1.3.1.4 Từ ngẫu hợp
Từ ngẫu hợp là những từ có các tiếng tổ hợp với nhau một cách ngẫu nhiên Người Việt chúng ta không thấy các thành tố cấu tạo (các tiếng) của chúng có quan hệ gì về ngữ âm và ngữ nghĩa
Trang 26Từ ngẫu hợp là từ thuần Việt: bồ câu, bồ hòn, bồ nông, kì nhông, mồ
hôi, mồ hóng, cà nhắc, mặc cả…
Từ ngẫu hợp là những từ gốc Hán: mâu thuẫn, hi sinh, kinh tế, câu lạc
bộ, màn thầu, trường hợp, tài xế, vằn thắn, lục tàu xá…
Từ ngẫu hợp là những từ có nguồn gốc Ấn-Âu: a-xít, mít tinh, sơ mi,
mùi xoa, xà phòng, hắc ín, cà rốt, cao su, ca cao, sô-cô-la…
Loại từ này hiện nay đang có chiều hướng phát triển do mối quan hệ quốc tế được mở rộng tạo điều kiện cho sự tiếp xúc và vay mượn từ ngữ nhất
là trong thông tin và khoa học kỹ thuật
1.3.2 Xét từ góc độ tích cực và tiêu cực
Các nhà Việt ngữ học khi phân lớp từ trong từ vựng tiếng Việt đã xét đến yếu tố tích cực và tiêu cực, theo đó đã phân từ vựng tiếng Việt ra thành 3 lớp từ tiêu cực đó là từ cổ, từ lịch sử và từ mới
“Tích cực hay tiêu cực ở đây được hiểu là từ ngữ có đóng vai trò tích cực trong đời sống giao tiếp hay không, tức là chúng có thường xuyên được
sử dụng hay không.” (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục) [62, tr.226 – 228]
Như vậy những từ được xem là tích cực phải là những từ luôn được mọi người trong một cộng đồng dân tộc sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi trong giao tiếp bằng dạng viết, độc thoại hay đối thoại Lớp từ tích cực có số lượng từ khá lớn, là thành phần cơ bản, trụ cột của từ vựng, có tần số xuất hiện cao và
độ phân bố lớn (được sử dụng rộng rãi và thường xuyên trong nhiều hoàn
cảnh và loại hình giao tiếp) Ví dụ như tiền, nhà, học, đất, báo chí, yêu…
Những từ được xem là tiêu cực là những từ rất ít được sử dụng trong ngôn ngữ chung, không quen thuộc với đa số người trong xã hội Chúng là những từ thuật ngữ khoa học, kỹ thuật thuộc các lĩnh vực chuyên môn hẹp và sâu, những từ địa phương không có khả năng phổ biến, những từ cổ hoặc những từ mới nảy sinh chưa được xã hội biết đến và sử dụng
Trang 271.3.2.1 Từ cổ
Như đã nói ở phần giới thiệu của luận văn, việc đưa ra khái niệm từ cổ gặp rất nhiều tranh cãi do có nhiều ý kiến trái ngược nhau Đề tài mà luận văn này xác định từ đầu là nghiên cứu từ Việt cổ trên các văn bản tiếng Việt cuối thế kỷ XIX nên ở đây sẽ đi sâu vào khái niệm và các tiêu chí rõ ràng để xác định từ cổ
Quan niệm về từ cổ trước đây chỉ dựa vào thời gian:
Theo ngôn ngữ học tiếng Việt bao gồm các lớp từ gốc Mon-Khmer, Tày-Thái, Hán và Ấn Âu trong đó lớp từ được xem là có thời gian tồn tại lâu đời nhất và được xem là cổ nhất là lớp từ gốc Mon-Khmer
Vậy từ cổ theo khái niệm ở đây là những từ ra đời sớm nhất và tồn tại lâu nhất trong tiếng Việt Tuy chúng được xem là cổ nhưng lại là lớp từ cơ bản trong tiếng Việt hiện đại và là lớp từ ít biến động và theo thống kê thì những từ gốc Mon-Khmer chiếm số lượng nhiều hơn đến Tày-Thái và rồi đến lớp từ gốc Hán
Nguyễn Văn Tu, Vương Lộc, Nguyễn Thiện Giáp có những định nghĩa
về từ cổ đã nêu bật được một số đặc điểm như: (1) bị loại ra ngoài ngôn ngữ tiêu chuẩn, (2) hiện có các từ đồng nghĩa tương ứng thay thế Chúng tôi đã dựa vào những định nghĩa về từ cổ của các tác giả này kết hợp với khái niệm
về từ cổ của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến để nghiên cứu và khẳng định lại tiêu chí xác định từ cổ không đơn thuần chỉ là lớp từ xuất hiện và tồn tại lâu đời như vừa nêu trên, theo đó từ cổ
là những từ bị đẩy ra ngoài hệ thống từ vựng hiện tại, bởi trong quá trình phát triển, biến đổi đã xảy ra những xung đột về đồng nghĩa, đồng âm và bị từ khác thay thế Chính vì thế, các từ cổ đều có từ tương ứng, đồng nghĩa với chúng trong trạng thái từ vựng hiện tại
Vậy từ định nghĩa trên thì một từ được cho là từ cổ phải là:
Trang 28(1) Bị đẩy ra ngoài hệ thống từ vựng hiện tại hay mất hẳn trong hệ thống từ vựng hiện tại do có những từ hiện đại đồng nghĩa với chúng thay thế chúng và muốn tìm hiểu những từ này chúng ta phải sử dụng những tài liệu ghi chép trong quá khứ để khảo sát và phân tích Ví dụ chúng ta khảo sát từ tác phẩm Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi (TK XV) sẽ gặp một số từ như
bui (= chỉ), cốc (= biết), chăng (= không), khứng (= chịu), mảng (= nghe), mựa (= đừng, chớ), mấy (= với), tượng (= có lẽ/ hình như), thìn (= giữ gìn), chín (= chỉ/vẫn), lọn (= trọn), hoà (= và)…
(2) Những từ bị đẩy ra khỏi vị trí vốn có của nó nhưng vẫn còn để lại dấu vết trở thành thành tố cấu tạo trong một vài từ mà khi bắt gặp người hiện
tại không biết nghĩa của chúng Ví dụ như âu (trong âu lo), lác (trong lác
đác), rập (giúp rập), dấu (yêu dấu), giã (giã từ), han (hỏi han), lệ (e lệ), nàn
(phàn nàn), bỏng (bé bỏng), giã (giã từ)…
(3) Một số khác không trở thành thành tố cấu tạo từ như trên nhưng vẫn đứng trong một số lối nói hạn chế nào đó, nhưng người ta ít hiểu hoặc
không hiểu chúng nữa Ví dụ: khôn lường/khôn xiết (khôn được hiểu là
không), dái (= sợ, kính, nể trong câu nói “Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét”), dấu (= yêu, mến trong câu “Chúa dấu vua yêu một cái này” – Hồ Xuân Hương), đăm (= phải), chiêu (= trái) như câu “Gà kia mày gáy đăm chiêu”; “Chân đăm đá chân chiêu”; “Tay chiêu đập niêu không vỡ”, giái (= quả, trái trong câu “Già giái non hột”)
Như vậy chúng ta thấy theo định nghĩa và lối giải thích này thì yếu tố thời gian mờ nhạt đi vì từ cổ không phải cứ là từ có từ rất lâu đời mà yếu tố quan trọng là nó bị đẩy ra ngoài hệ thống từ vựng hiện tại nhưng rõ ràng chúng ta không thể phủ nhận rằng đa số các từ có khả năng trở thành từ cổ thì phải tồn tại một khoảng thời gian khá dài
Trang 29Trong luận văn này chúng tôi xin đưa ra định nghĩa của từ cổ: Từ cổ là
từ từng có thời gian xuất hiện và tồn tại cách hiện tại khá lâu, hiện tại không đƣợc dùng vì đã có từ hiện tại đồng nghĩa thay thế hoặc chỉ xuất hiện với tƣ cách thành tố cấu tạo nên một từ còn đang đƣợc sử dụng nhƣng thành tố ấy ít đƣợc hiểu hoặc không đƣợc hiểu
Nhân đây xin liệt kê một số từ được xem là từ cổ mà tác giả Nguyễn Ngọc San đã giới thiệu qua khảo sát các tác phẩm Quốc Âm Thi Tập (QATT - Nguyễn Trãi), Phật Thuyết Đạo Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh (PT), Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thiên Nam Ngữ Lục (TNNL), Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn (TGCH - Lê Thánh Tông), Truyền Kỳ Mạn Lục Tăng Bổ Giảm Âm Tập Chú (TKML), Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập (HĐ) [63, 190-195]
(anh) tam (anh) em Tin người ta xa làm anh tam (PT)
kích bác
Đi vào nơi đòng bác (TKML)
bâu vạt áo, túi áo (phương
(QATT)
(QATT)
Trang 30gây nên mộng họa (TGCH)
(PT)
cưu có mang No mẹ cưu con trong mười tháng
(PT)
chỉn chỉ Chỉn hay ấy là dòng loài con gái
(PT) chỉn sá khá hãy Mày chỉn sá xét nghe (PT)
chốc mòng mong nhớ Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng
(QATT)
(QATT) dặng ướm, hỏi Ai dặng túi thầy chăng đủ thuốc
(QATT)
diếc chê, chửi, diếc mắng Âu người cười diếc (PT)
(QATT) dưng ngừng, không Nước cả Hoàng Hà có thuở dưng
(TNNL)
Hệ con chẳng có làm thì như dưng
duồng bỏ, nay có từ ruồng và
duồng bỏ
Làm người đến dữ người duồng
(QATT) đam mải mê, nay có từ đam
Trang 31đòi theo Thi đỗ lòng hằng đòi (PT)
đeo đai đeo đẳng Thanh nhàn án sách hãy đeo đai
(QATT) đon vui vẻ, nay có từ đon đả Gặp nhau hớn hở đon chào (PT)
(QATT) han hỏi, có từ hỏi han Vội han di trú nơi nao (Kiều)
khá có thể, hãy Ngươi khá nghe lời chú thuyết (PT)
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng
đỗ mãnh dường, chừng Chẳng làm mãnh ấy là người trong
địa ngục (PT) mạnh miệng, phương ngữ
Trung bộ hiện cũng
dùng từ mạnh = miệng
Mạnh nói tay làm (PT)
ND)
mỗ giáp chúng tôi Ấy vậy mỗ giáp kính lễ (PT)
mộng hạt giống Mộng phúc vun trồng đừng ngại nẩy
(BVA)
Trang 32giỏi cốt, nhằm
Ngõ ấy là cả đời xưa ta (PT)
Một trang hiền ngõ Đất cày ngõ ải (QATT)
nhàn coi thường Trọng thời nên ngộ nhàn thời dại
sá hãy, nên Sá lánh thân nhàn thuở việc rồi
(QATT)
sở cái gì, nào Trong thế gian chẳng sở nào tày
(PT)
Trang 33tác tuổi Bạn tác rẽ roi đà phải chịu (QATT)
(PT)
(QATT) tua phải, nên Liêm cần tiết cả tua hằng nắm
(QATT)
thảnh rỗi rãi Thảnh thơi ngày tạnh cảnh Hồ Tây
(HĐQA)
(PT) thày lay vu vơ Huống chi những chuyện thày lay
(Phan Trần)
thênh rộng, trống vắng Năm hồ có khách thênh thuyền mọn
(BVA)
(QATT)
thơi hẹp và sâu Đem người đảy xuống giếng thơi
vạy vọ cong queo, không thẳng Lòng vào vạy vọ hơi hơi (QATT)
(PT) xuê tươi đẹp Đã tươi khí tượng lại xuê nhân tình
Trang 34(Lục Vân Tiên)
Rõ ràng rằng nếu những từ trên đây ta không dựa vào từ điển giải nghĩa
và văn cảnh cụ thể thì khó mà hiểu được nghĩa khi ta đọc gặp chúng
cử, thuế má…thời xưa trong tiếng việt, nay đã trở thành từ lịch sử Trong đời
sống giao tiếp chung, rất hiếm khi chúng được nhắc tới: thái thú, thái học
sinh, thượng thư, toàn quyền, công sứ, đốc đồng, tú kép, tú mền, cử nhân, hoàng giáp, thám giá, bảng nhãn, nghè, cống, khóa sinh, ống quyển, áp triện…” [62, tr.229 – 230]
Các nhà ngôn ngữ học cũng chú ý đến một số từ như hỏa tiễn, hỏa xa,
hỏa châu, hỏa pháo, hải đăng, hải phỉ, tiềm thủy đĩnh, điền chủ, điền trang, dân cày, khai hội, gác đờ bu, gác đờ xen, pooc ba ga…Họ cho rằng nếu lấy
tiêu chí bị từ đồng nghĩa hiện tại thay thế thì những từ này là từ cổ nhưng người ta vẫn còn có thể hiểu được thậm chí hiểu rất rõ nên xếp chúng thành nhóm từ gọi là từ cũ để phân biệt tính chất mức độ cổ so với các từ cổ thật sự,
xa xôi với ngôn ngữ hiện tại
Về phần mình chúng tôi nhận thấy những gì các học giả nêu trên vẫn
chưa được thỏa đáng Các từ toàn quyền, cử nhân, hỏa tiễn, hải đăng, hàng
không mẫu hạm (tuy có từ đồng nghĩa là tàu sân bay), khai hội, ghi đông vẫn
còn được sử dụng rất rộng rãi với tần xuất xuất hiện cũng khá cao trên các phương tiện thông tin cũng như giao tiếp bằng lời
Các từ chỉ chức tước, phẩm hàm, quan chế không được sử dụng rộng rãi
Trang 35nữa Chúng chỉ có mặt trong một số tác phẩm văn học, báo chí cũ và người hiện tại khi gặp sẽ không hiểu nếu như không có sự giải thích Vậy nên chăng, theo chúng tôi, hoàn toàn có thể coi chúng là từ cổ Do đặc điểm là có liên quan đến tên gọi chức tước, phẩm hàm, quan chế nên ta xếp chúng vào một trường
từ vựng hoặc chí ít cũng gọi là từ cổ lịch sử chứ không gọi là từ cũ do chúng thuộc vào tiêu chí từ cổ
1.3.2.3 Từ mới
Từ mới là những từ vừa mới xuất hiện, chưa được dùng rộng rãi trong
xã hội mà còn nằm ở phạm vi giao tiếp hẹp nào đó vì vậy chúng cũng thuộc lớp từ tiêu cực
Một từ được xem là từ mới nhất thiết phải thuộc các tiêu chí sau:
+ Được xét trong một thời gian cụ thể và một tình trạng từ vựng cụ thể + Chưa phổ biến trong phạm vi toàn xã hội có nghĩa là chưa thuộc lớp
từ tích cực
+ Có thể trở thành từ tích cực trong tương lai nếu được chấp nhận sử dụng rộng rãi
Ví dụ cách đây gần 20 năm những từ như tủ lạnh, bếp ga rồi đến phần
cứng, phần mềm, máy vi tính…là những từ mới trong tiếng Việt nhưng trong
thời điểm này chúng đã trở thành từ tích cực
Từ mới ra đời là kết quả của sự hình thành hay phát triển một lĩnh vực nào đó hay do sáng tạo của một cá nhân cố tạo phong cách nói cho riêng mình
Ví dụ trong tiếng Việt hiện nay xuất hiện hang loạt các từ mới như đinh
tặc, tin tặc, vàng tặc, lâm tặc, thiết tặc, cát tặc trên các phương tiện truyền
thông như báo tờ, báo mạng, ti vi
Trong lĩnh vực công nghệ có các từ như thẻ nhớ, điện thoại di động,
máy tính bảng, điện thoại cảm ứng, ti vi cảm ứng…
Trang 36Trong kinh doanh có bán hàng đa cấp và trong dược có thực phẩm
chức năng…
Như đã đề cập, những từ mới xuất hiện có thể trở thành từ tích cực nếu được sử dụng rộng rãi, toàn dân và ngược lại sẽ trở thành lớp từ tiêu cực, bị đẩy ra khỏi hệ thống từ vựng và dần dần trở thành từ cổ, lỗi thời, trở thành thành tố tạo từ mới hoặc không được sử dụng
ngoài ngôn ngữ Còn P.A Budagov lại viết: “…có thể gọi nghĩa của từ là mối
liên hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta và được biểu hiện trong bản thân từ” B.N Golovin cũng phát biểu
tương tự P.A Budagov: “… Sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật chất của
từ và sự vật tương ứng chúng tôi sẽ gọi là nghĩa.” Theo Ju.D Apresjan thì
“nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân Nó hoàn toàn bị
quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với các từ khác cùng thuộc trường ấy.”
Trên đây là một số định nghĩa về nghĩa của từ Nhìn vào những định nghĩa đó ta thấy hiện lên những vấn đề chính sau: định nghĩa của A.A Reformatskij nhấn mạnh vai trò của sự vật, hiện tượng trong việc quyết định
nghĩa của từ, bởi ngôn ngữ không phải là “một bảng tên gọi, nghĩa là một cái
bảng có bao nhiêu từ ngữ thì tương ứng với bấy nhiêu sự vật” (F.de
Saussure) Định nghĩa của Ju.D Apresjan lại gạt đi sự vật ra khỏi lĩnh vực ý nghĩa của từ
Trang 37Từ hiện thực của các định nghĩa về từ, C.K Ogden và I.A Richard đã
đi tới mối quan hệ giữa ba nhân tố: sự vật, khái niệm về sự vật và từ trong sự hình thành nên ý nghĩa Tiếp nhận quan điểm đó, Gustaf Stern đã vẽ ra tam giác nghĩa nổi tiếng, cho đến nay nó vẫn được nhắc lại khi thảo luận về ý nghĩa của từ, dưới đây là tam giác nghĩa đó đã được Ju.X Xtepanov dẫn lại:
Từ tam giác nghĩa này, có nhiều tác giả cho rằng ý nghĩa của từ được tạo thành từ ba nhân tố giống quan niệm của Ogden, Richard và Stern Tuy nhiên, sau đó nhiều thiếu sót của tam giác nghĩa này đã bị chỉ ra Cụ thể là ba nhân tố nghĩa tác giả đưa vào chưa thực sự cụ thể và đúng trong mọi trường
hợp Như ở nhân tố từ ngữ âm, chỉ đưa mỗi nemyx, trong khi ở một số ngôn
ngữ mỗi từ có thể có rất nhiều hình thức ngữ âm Thiếu sót thứ hai ở chỗ tác giả chỉ đưa từ - ngữ âm mà không đưa các hình thức khác cũng liên hệ trực tiếp đến nghĩa như từ - ngữ pháp, từ - cấu tạo Cuối cùng, tam giác nghĩa này không thể giải thích được tất cả các kiểu loại từ, nó chỉ có thể giải thích được thực từ mà không thể giải thích các tiểu từ, quan hệ từ Mặt khác, có thể nhận thấy Stern đã trình bày từ như là những sự kiện riêng rẽ Zveginshev đã chỉ ra thiếu sót này và sửa đổi tam giác nghĩa như sau:
Trang 38Nhưng sự thay đổi này cũng không đem lại nhiều kết quả, bởi dù thay đổi hay không thì tam giác nghĩa đó cũng tồn tại một nhược điểm nữa là không chỉ ra được quan hệ giữa những thực thể đặt ở mỗi đỉnh với nhau và quan hệ giữa mỗi thực thể đó với những nhân tố bên ngoài
Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ
1.4.1 Nghĩa ngữ pháp
Nghĩa ngữ pháp là loại nghĩa chung cho hàng loạt đơn vị ngôn ngữ, là nghĩa phản ánh các quan hệ có tính qui luật trong ngôn ngữ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nhất định
Từ khái niệm trên ta cần biết:
Nghĩa ngữ pháp là loại nghĩa chung cho hàng loạt đơn vị ngôn ngữ
Ví dụ:
(1) nhà, cửa, xe, đường, sông, núi, cây, cầu vồng
(2) ăn, nói, chạy, nhảy, đi, học,đánh, nghiên cứu
(3) xanh, vàng, đỏ, tròn, khỏe, mạnh, yếu, tốt, đẹp, khéo, thông minh (4) một, hai, ba, bốn, mười, trăm, ngàn, triệu, tỉ
Tất cả các từ trên đều có nghĩa từ vựng khác nhau, có một hình thức ngữ âm riêng nhưng mỗi loạt từ trên có một ý nghĩa chung bao trùm lên: (1)
có nghĩa chung là “sự vật”, (2) có nghĩa chung là “hoạt động”, (3) có nghĩa chung là “đặc trưng, tính chất”, (4) có nghĩa chung là “số lượng” Loại ý nghĩa chung, bao trùm lên một loạt đơn vị ngôn ngữ như vậy được gọi là nghĩa ngữ pháp
Trang 39Nghĩa ngữ pháp phản ánh các quan hệ có tính qui luật trong hệ thống ngôn ngữ
Xem 1 ví dụ tiếng Anh: “He reads book.”Ta có: Chủ ngữ là đại từ “he” (anh ấy/ông ấy), “reads” (vốn nguyên mẫu là read) là động từ nghĩa là đọc,
“book” là danh từ nghĩa là sách (làm bổ từ cho động từ) Động từ thể hiện
hiện tại đơn (tả thói quen, sự thường xuyên) Chủ từ thuộc ngôi thứ 3, số ít (chỉ một đối tượng không tham gia trực tiếp hội thoại)
Các từ trong câu trên kết hợp với nhau theo quan hệ có tính qui luật trong ngôn ngữ Anh Mối quan hệ ấy thể hiện qua nghĩa ngữ pháp của mỗi từ
Động từ read có thêm “s” thể hiện thời điểm hiện tại và là thói quen hay tính
lặp đi lặp lại của hành động Bên cạnh thể hiện thời gian nó còn thể hiện mối
quan hệ với chủ từ ở ngôi thứ ba số ít (he, she, David, Peter, Nam, My
father…) Đại từ “he” mang nghĩa ngữ pháp chủ thể, có quan hệ với động từ,
thể hiện là chủ thể thực hiện hành động Danh từ “book” có nghĩa ngữ pháp là đối tượng chịu tác động (bổ từ của hành động)
Tóm lại các từ trong một câu thể hiện mối quan hệ của nó với từ khác (từ
có thể thay đổi hình thái như trường hợp “read” trong câu tiếng Anh trên) nhờ phương tiện nghĩa ngữ pháp Nghĩa ngữ pháp thể hiện mối quan hệ ấy được khái quát thành các khái niệm ngữ pháp như giống, số, cách, ngôi, thì…
Nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nhất định
Cũng như các loại nghĩa khác, nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện ra bằng những hình thức nhất định Mỗi loại ý nghĩa tìm cho mình một hình thức biểu hiện riêng Nghĩa từ vựng có hình thức biểu hiện là từ - ngữ âm Nghĩa ngữ pháp được biểu hiện bằng hình thức ngữ pháp
Từ ví dụ trên ta thấy nghĩa ngữ pháp “ngôi 3, số ít” được thể hiện bằng
phụ tố -s trong từ reads Phụ tố -s khi phát âm, ta có thể cảm nhận được bằng
Trang 40thính giác Nó là hình thức ngữ pháp, là hình thức vật chất cụ thể biểu thị nghĩa ngữ pháp
Năm 1896, M.M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau”
Năm 1900, H.Osthoff viết: “Có những hệ thống nhất định ý nghĩa phụ thuộc lẫn nhau và vị trí ngữ nghĩa của từng yếu tố chỉ có thể được hiểu rõ nhờ vào cấu trúc của từng hệ thống đó”
Nhưng nguyên lý của F.de.Saussure mới là bước quyết định hình thành nên lý thuyết về các trường: “giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu
tố ở xung quanh quy định” và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng”
Lý thuyết trường chính thức được đưa ra là nhờ công lao của hai nhà ngôn ngữ người Đức J.Trier và L.Weisgerber
Trier cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ trong trường quyết định, rằng trường là những