1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tác phẩm phạm thị hoài dưới góc nhìn nữ quyền luận

249 104 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 9,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đi vào các tác phẩm khác đã được xuất bản của Phạm Thị Hoài như: Thiên sứ, Mê lộ, Từ Man nương đến AK và những tiểu luận, Marie Sến, Chuyện lão tượng Phật D

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-HỒ THỊ DƯƠNG LIỄU

TÌM HIỂU TÁC PHẨM PHẠM THỊ HOÀI

DƯỚI GÓC NHÌN

NỮ QUYỀN LUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-HỒ THỊ DƯƠNG LIỄU

TÌM HIỂU TÁC PHẨM PHẠM THỊ HOÀI

Trang 3

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trính nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Võ Văn Nhơn

Những luận điểm nghiên cứu được trính bày trong luận văn này trung thực

Trang 4

DẪN NHẬP

1 Lì do chọn đề tài và mục đìch nghiên cứu 1

2 Phạm vi nghiên cứu 1

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Những đóng góp mới của luận văn 7

6 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NỮ QUYỀN LUẬN VÀ PHẠM THỊ HOÀI 1 KHÁI QUÁT VỀ NỮ QUYỀN LUẬN 9

1.1 Nguyên nhân hình thành 9

1.2 Mục đích 13

1.3 Các khái niệm 15

1.3.1 Đàn bà (woman) 15

1.3.2 Nữ tình (femininity) 15

1.3.3 Nữ quyền (feminism) 16

1.3.4 Phụ quyền (Patriarchy) 17

1.3.5 Bính đẳng giới (gender equality): 17

1.3.6 Phê bính văn chương nữ quyền 17

1.4 Quá trình phát triển 18

1.4.1 Nữ quyền sơ khai 18

1.4.2 Nữ quyền thế kỉ 18: Thời đại Khai sáng 19

1.4.3 Nữ quyền thế kỉ 19: Đàn bà cải cách 21

1.4.4 Nữ quyền thế kỉ 20 và 21 23

1.4.4.1 Đợt sóng thứ 1 23

1.4.4.2 Đợt sóng thứ 2 24

1.4.4.3 Đợt sóng thứ 3 27

1.4.4 4 Đợt sóng thứ 4 28

1.5 Văn hoá nữ quyền (Feminist culture) 29

1.5.1 Nữ quyền và ngôn ngữ 33

Trang 5

2 NỮ QUYỀN LUẬN Ở VIỆT NAM 39

3 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ - TÁC PHẨM 41

3.1 Đôi nét khái quát về nhà văn Phạm Thị Hoài 41

3.2 Tác phẩm và dịch phẩm 42

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG NỮ QUYỀN TRONG TÁC PHẨM CỦA PHẠM THỊ HOÀI 2.1 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG TÁC PHẨM CỦA PHẠM THỊ HOÀI 45

2.1.1 Bối cảnh xã hội 45

2.1.2 Hoàn cảnh gia đính và ý thức cá nhân 46

2.2 HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA PHẠM THỊ HOÀI 49

2.2.1 Bé gái trong gia đính 50

2.2.2 Đàn bà nơi công sở, làng xã 55

2.2.3 Bà mẹ Việt nam 59

2.3 VẤN ĐỀ “SỰ THỐNG TRỊ CỦA NAM GIỚI” 60

2.3.1 Hính ảnh những người đàn ông trụ cột gia đính, xã hội 60

2.3.2 Biểu tượng “thống trị” của nam giới 62

2.3.3 Lên án sự bất bính đẳng giới 66

2.4 THẾ GIỚI TÍNH DỤC TRONG TÁC PHẨM CỦA PHẠM THỊ HOÀI 72

2.4.1 Đề tài tính yêu 72

2.4.2 Văn học tình dục được phát triển thành văn học mĩ học 76

2.5 TIẾNG NÓI ĐỐI KHÁNG ĐÒI NỮ QUYỀN 82

Trang 6

3.1 Cách xây dựng kết cấu truyện 89

3.1.1 Cách xây dựng kết cấu truyện phân mảnh 89

3.1.2 Cách xây dựng kết cấu truyện bằng hệ thống biểu tượng 93

3.2 Cách xây dựng nhân vật 98

3.3 Không gian và thời gian nghệ thuật 103

3.4 Văn phong của Phạm Thị Hoài 105

3.5 Cách kể chuyện 110

3.6 Chất nhiễu nhại trong văn Phạm Thị Hoài 117

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC

Bài dịch 1: In ấn và quyền lực: Những tranh luận Việt Nam về địa vị của đàn

bà trong xã hội, 1918 – 1934 (Shawn McHale)

Bài dịch 2: Gái nước Nam (Hồ Tài Huệ Tâm)

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Trong vài chục năm qua, tiếng nói đối kháng đòi nữ quyền khắp nơi trên thế giới đã có nhiều tiếng vang và đem lại nhiều thay đổi tìch cực cho đời sống vẫn còn nhiều khuyết lầm của nhân loại Riêng trong văn học Việt Nam, những tiếng nói như thế vẫn còn lẻ loi nhưng đã có những khởi đầu Đến với những trang văn của Phạm Thị Hoài, chúng ta bắt gặp những trang viết bằng tiếng Việt đầy ắp tinh thần

nữ quyền đề cập tới những vấn đề quan trọng bức thiết của con người xưa nay vẫn còn bị tránh né, từ thân xác đến những sự thật trong gia đính, xã hội; từ những vấn

đề chung của nữ giới tới những vấn đề riêng của nhà văn nữ

Việc áp dụng lì thuyết nữ quyền vào thực tiễn nghiên cứu, phê bính văn học

đã đem lại nhiều thành tựu mới mẻ, có giá trị khoa học, đặc biệt gặt hái nhiều thành tựu rõ nét trong những năm gần đây Như vậy, việc soi rọi dòng các tác phẩm của

nữ tác giả Phạm Thị Hoài dưới cái nhín nữ quyền luận là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu Từ suy nghĩ về một khuynh hướng nghiên cứu mới mẻ và áp dụng vào một sáng tác mang tình nữ đặc thù của thời hiện đại này đã thôi thúc chúng tôi đến

với đề tài: “Tác phẩm Phạm Thị Hoài dưới góc nhìn nữ quyền luận”

2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát của công trính Tác phẩm Phạm Thị Hoài dưới góc nhìn

nữ quyền luận được xác định như sau:

- Tím hiểu chung về lì thuyết nữ quyền và phê bính nữ quyền trong nghiên cứu văn học và khảo sát đối tượng bằng quan niệm phương pháp của hệ thống lì thuyết này

- Khảo sát các tác phẩm ra đời mang dấu ấn nữ quyền của các nữ tác giả trước 1900 như Hồ Xuân Hương, cho đến giai đoạn 1900-1975 với các nữ sĩ trong phong trào Thơ mới và các cây bút nữ đặc sắc giai đoạn này như Linh Bảo, Thuỵ An, Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng,

Trang 8

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng, Trần Thị Ng.H.,… và kéo dài cho đến giai đoạn hiện nay thông qua các tác phẩm của các cây viết nữ như: Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Lì Lan, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu…

- Tiếp cận sáng tác văn xuôi của nữ tác giả Phạm Thị Hoài: chúng tôi

tập trung nghiên cứu Truyện ngắn Phạm Thị Hoài in năm 1995 là chủ yếu Bên

cạnh đó, chúng tôi cũng đi vào các tác phẩm khác đã được xuất bản của Phạm Thị

Hoài như: Thiên sứ, Mê lộ, Từ Man nương đến AK và những tiểu luận, Marie Sến,

Chuyện lão tượng Phật Di-lặc và nàng Nậm mây, một số truyện ngắn, tiểu luận trên

các mạng… để có cái nhín toàn diện về sự nghiệp và lối viết nữ của nhà văn này

- Hiện nay, trong xã hội Việt Nam, quan niệm về phụ nữ có nhiều thay đổi, đời sống xã hội cũng biến chuyển rõ rệt với những thăng trầm của lịch sử, vai trò và địa vị của phụ nữ được cải thiện rõ rệt Đặc biệt, cùng với xu thế hiện đại hoá, dân chủ hoá của nền văn học đã tác động đến sự phát triển mạnh mẽ, ồ ạt của văn học nữ từ năm 1900 cho tới nay Ngoài ra, đến thời kí này, thời kí của thế kỉ 21, nền văn học nữ cũng hính thành một quan niệm nghệ thuật, một phương hướng sáng tác mới mẻ, hiện đại và giàu cá tình Tình đến nay, đội ngũ sáng tác nữ khá đông đảo, mang lại một lượng tác phẩm tương đối dồi dào, song chúng tôi chỉ lựa chọn tác phẩm của nữ văn sĩ Phạm Thị Hoài – một người đã kiên trí trung thành với ngòi bút theo khuynh hướng nữ quyền của mính và luôn luôn tím cách đổi mới chình mính Bên cạnh những tác phẩm nêu trên, chúng tôi còn tham khảo thêm một số tác phẩm

của nữ tác giả này được đăng trên các trang web: vantuyen.net, dactrung.com,

damau.org, hopluu.net… Tuy nhiên, mọi sự lựa chọn chỉ có tình tương đối Trong

khả năng hạn hẹp của mính, chúng tôi chỉ có thể nghiên cứu một cách tổng quan và

sơ lược nhất về sáng tác của nữ văn sĩ này và xin dành lại việc triển khai đi sâu hơn cho những công trính có quy mô lớn trong tương lai

Trang 9

định Các tác phẩm của bà đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, từ văn phong, ngôn ngữ, nghệ thuật… Tuy nhiên, văn

bà có những đặc sắc tương ứng trong lì thuyết về nữ quyền, mà vẫn chưa được chú

ý và quan tâm nhiều Do vậy, dựa trên nền tảng lì thuyết nữ quyền thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, chúng tôi bước đầu khảo sát về nữ văn sĩ này dưới góc độ nữ quyền luận

Tư tưởng nữ quyền trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài là đối tượng trọng tâm mà luận văn hướng đến, được thể hiện ngay từ tựa đề của luận văn Xin điểm qua một số bài viết, công trính nghiên cứu có liên quan tới tác phẩm của Phạm Thị Hoài cũng như về bản thân tác giả mà chúng tôi đã thu thập được:

Thân phận Thiên sứ trong tác phẩm cùng tên của Phạm Thị Hoài, Thế

Thị Thuỳ Dương, Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Huế

Thiên sứ của Phạm Thị Hoài: Tiếp nhận từ lì thuyết trò chơi, Lê

Hương Thuỷ, Văn hoá Nghệ An, 2012

Tình yêu trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Đoàn Cẩm Thi, Tạp chì

Diễn đàn số 27, 1994

Những đặc điểm của tiểu thuyết Thiên sứ, Lại Nguyên Ân, 1989, đăng

lại năm 2012 trên phebinhvanhoc.com

Vấn đề phân tâm học trong tác phẩm “Năm ngày” của Phạm Thị

Hoài, Hà Thị Hằng, Đại học Sư Phạm Huế, 2010

“Phạm Thị Hoài trên sinh lộ mới của văn học”, Thuỵ Khuê, Sóng từ trường, Văn Nghệ, 1998

Tuy nhiên, có thể thấy rõ rằng mặc dù có nhiều công trính nghiên cứu hoặc các tiểu luận chuyên đề về tác giả và tác phẩm của Nguyễn Thị Hoài, song hầu hết chỉ đi vào những khìa cạnh như vấn đề phân tâm học, vấn đề tính yêu,… và những cách tân trong phương pháp nghệ thuật của nữ tác giả này; hầu như chưa có một công trính nghiên cứu rõ ràng nào về việc áp dụng lì thuyết nữ quyền luận cũng như những tư tưởng nữ quyền, bính quyền trong tác phẩm của bà Chình điều này khiến cho chúng tôi quyết định khai thác tác phẩm của Phạm Thị Hoài dưới góc nhín nữ quyền luận để đưa ra những tư tưởng cấp tiến và sự tiếp nhận lì thuyết nữ quyền cũng như sự vận dụng lì thuyết này trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài Chúng tôi

Trang 10

mong rằng sẽ đưa đến cho người đọc một khìa cạnh khác, một khìa cạnh rất chủ chốt và xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của nhà văn này, đặc biệt là trong các tác phẩm truyện ngắn

Để làm rõ vấn đề này, trước hết chúng tôi đi từ những lì thuyết mang tình tổng quát như nguyên nhân hính thành và mục đìch của nữ quyền; các khác niệm xoay quanh các vấn đề của nữ quyền như đàn bà, nữ tình, nữ quyền, phụ quyền, bính đẳng giới và phê bính văn chương nữ quyền; quá trính phát triển của nữ quyền;

và nữ quyền ở Việt Nam.Ví vấn đề nữ quyền là một vấn đề rộng lớn, nên việc đưa

ra các khái niệm này chỉ mang tình khái quát, sơ lược và dẫn nhập để người đọc dễ dàng tiếp nhận vấn đề nữ quyền trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài mà chúng tôi đưa ra

Ở các nước phương Tây, phê bính nữ quyền đã hính thành một hệ thống lì thuyết hoàn chỉnh, bao gồm nhiều nhánh nghiên cứu theo các khuynh hướng khác nhau từ những năm 1970 ở các nước đi tiên phong như Mĩ, Pháp, Anh, Đức…

Qua việc sử dụng những tài liệu tiếng Anh hoặc dịch thuật từ Anh ngữ và các

ngôn ngữ khác như Introducing Feminism của Susan Alice Walkins, Marisa Rueda

và Marta Rodriguez biên soạn (Icon Books UK xuất bản tại Australia) hay

Feminism: A very short Introduction của Margaret Walters (Ấn quán Đại học

Oxford xuất bản, 2005), A reader’s guide to: Contemporary Literary Theory của Raman Selden (The University Press of Kentuky xuất bản), Gender Inequality –

Feminist Theories and Politics của Judith Lorber (Ấn quán Đại học Oxford), và Feminist Theory – A reader do Wendy K.Kolmar và Frances Bartkowski biên soạn

(Higher Education xuất bản) chúng tôi muốn giúp người đọc hiểu rõ hơn thế nào là

nữ quyền, sự phát triển của nữa quyền và vai trò to lớn của nữ quyền trong tất cả mọi lãnh vực từ khoa học đời sống đến nghệ thuật, đặc biệt là trong văn học Qua

đó, chúng ta hiểu rõ hơn ví sao nhà văn Phạm Thị Hoài lại chịu ảnh hưởng lớn lao

từ trào lưu này đến như vậy và những dấu ấn nữ quyền đậm nét trên những trang văn của bà

Bên cạnh những tài liệu Anh ngữ, chúng tôi cũng có tham chiếu những tài liệu tiếng Việt do tác giả trong nước viết hoặc một số ấn phẩm dịch để việc soi rọi tổng quát và trọn vẹn hơn Mặt khác, ví trong giới hạn cho phép, luận văn của

Trang 11

chúng tôi chưa đi sâu vào nữ quyền ở Việt Nam một cách chi tiết, cụ thể và rõ nét nên ở phần phụ lục của luận văn này, chúng tôi xin đình kèm thêm hai văn bản dịch

về các vấn đề của phụ nữ Việt Nam được sử dụng như tài liệu giảng dạy ở các trường đại học ở Úc và Mĩ Chúng tôi hi vọng rằng thông qua hai bài dịch này phần nào giúp bổ sung sự thiếu sót về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam để đưa tới cái nhín tổng quát và toàn vẹn hơn về quá trính phát triển những tư tưởng nữ quyền trong đời sống xã hội cũng như văn hoá, văn học của Việt Nam

Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo các tư liệu thêm trên các trang mạng như talawas.org do chình nhà văn Phạm Thị Hoài quản lì, hoặc các trang mạng khác như

phongviet.net, tienve.org, khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, lyluanvanhoc.com… và các

tạp chì trong và ngoài nước như Tạp chì Time, Tạp chì Sông Hương, tạp chì Văn, tạp chì Thời tập, Tạp chì Newsweek…

Nhín lại những công trính, những bài viết về tác phẩm của Phạm Thị Hoài nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng tác phẩm của Phạm Thị Hoài dù xuất hiện từ những năm 1988 nhưng cho tới nay vẫn được quan tâm và được tiếp cận bằng nhiều phương pháp phê bính khác nhau Tuy nhiên, việc tiếp cận các tác phẩm của nữ nhà văn này dưới cái nhín của lì thuyết phê bính nữ quyền thí hầu như chưa có một công trính nghiên cứu cụ thể nào thực hiện Ví vậy, chúng tôi chọn đề tài này, với mong muốn được góp một phần công sức nhỏ bé, ìt ỏi của mính vào tiến trính phát triển chung của nghiên cứu, lì luận và phê bính văn học Việt Nam hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp phổ thông

4.1.1 Phương pháp lịch sử: Nhín nhận lì thuyết nữ quyền trong sáng tác của Phạm

Thị Hoài trong bối cảnh lịch sử – văn hoá – xã hội cụ thể Từ đó, phân tìch các yếu

tố tác động đến sự hính thành những đặc trưng trong tác phẩm Truyện ngắn Phạm

Thị Hoài và các tập truyện, tiểu thuyết khác của nhà văn nữ này Qua đó, thấy được

Trang 12

những đóng góp mà nữ tác giả này đã mang lại so với thời kí trước cũng như những hạn chế trong khung thời đại của chình bà

4.1.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trước hết, chúng tôi dùng phương pháp

phân tìch để tiếp nhận các sáng tác của nữ tác giả này trên các phương diện nội dung, nghệ thuật Sau đó, bằng sự sắp xếp, xâu chuỗi và khái quát hoá các luận chứng, luận điểm thành những luận đề lớn, chúng tôi tổng hợp những suy nghĩ, phát hiện của mính theo một hệ thống logic và khoa học

4.1.3 Phương pháp so sánh: Đặt đối tượng nghiên cứu vào mối quan hệ đa chiều,

đa dạng để làm nổi bật lên những điểm tương đồng và khác biệt với các đối tượng khác Trong đề tài này, chúng tôi thực hiện ba quá trính so sánh chủ yếu sau:

+ So sánh tư tưởng nữ quyền và các khuynh hướng phát triển ở các nước phương Tây với phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Đồng thời, so sánh các khuynh hướng phê bính khác nhau thuộc phê bính nữ quyền

+ So sánh đặc trưng sáng tác giữa giữa Phạm Thị Hoài với các tác giả nữ theo cái nhín lịch đại và đồng đại Từ đó, tím ra tư tưởng cấp tiến của Phạm Thị Hoài so với các tác giả nữ trước đó và các tác giả nữ cùng thời

+ So sánh đặc trưng tình dục trong các tác phẩm của Phạm Thị Hoài với Trần Thị Ng.H để tím ra các nét tương đồng và các nét dị biệt

4.2.1 Phương pháp phê bình nữ quyền: Sau khi tím tòi, nghiên cứu bằng nguồn tư

liệu hiện có và xác lập được một hệ thống lì thuyết tương đối hoàn chỉnh về nữ quyền và phê bính nữ quyền, chúng tôi sẽ ứng dụng những quan điểm, phương pháp nghiên cứu của lì thuyết này vào việc tiếp cận lì thuyết văn xuôi của nữ tác giả Phạm Thị Hoài Bằng sự vận dụng những kiến thức về giới, về phụ nữ và lì thuyết

nữ quyền trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mính, chúng tôi đưa sự phối hợp liên ngành như là một công cụ để phát hiện và kiến

Trang 13

giải những vấn đề về văn học nữ giới nói chung và trong tác phẩm của Phạm Thị

Hoài nói riêng

4.2.2 Phương pháp chuyên ngành văn học: Kết hợp với những phương pháp lì luận

phê bính văn học nền tảng: lì thuyết văn học so sánh, lì thuyết giới, lì thuyết tiếp nhận, phân tâm học, xã hội học văn học, phê bính Marxist… cũng được ứng dụng đôi phần nhằm khám phá thế giới văn bản dưới nhiều góc độ khác nhau

5 Những đóng góp mới của luận văn

Với luận văn này, chúng tôi hi vọng mang lại một số đóng góp mới mẻ, thiết thực, có giá trị văn học:

- Bước đầu giới thiệu lì thuyết nữ quyền và phê bính nữ quyền, một khuynh hướng đã, đang được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ trên nhiều nước khác nhau từ những năm 1970

- Làm sáng tỏ chất nữ quyền luận trong các tác phẩm của nhà văn nữ Phạm Thị Hoài từ những năm 1983 cho tới nay bằng hệ thống lì thuyết phê bính nữ quyền trên các phương diện

+ Đặc trưng của chủ thể sáng tác

+ Đặc trưng của tác phẩm

- Làm nổi bật những điểm độc đáo, đặc sắc về phương thức tư duy nghệ thuật, bút pháp sáng tác, quan niệm về thế giới và con người… trong các sáng tác của nhà văn nữ Phạm Thị Hoài trên lăng kình nữ quyền luận

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn “Tìm hiểu tác phẩm Phạm Thị Hoài dưới góc nhìn Nữ quyền

luận” gồm 136 trang Ngoài phần Dẫn nhập (6 trang) và Kết luận (2 trang), luận

văn của chúng tôi được chia thành ba chương chình:

Chương 1: “Giới thiệu khái quát về nữ quyền luận thế giới cũng như ở Việt Nam” (40 trang) Chương này đưa ra những nét khái quát về tác giả và tác phẩm của Phạm Thị Hoài

Trang 14

Chương 2: “Bước đầu tím hiểu về sự ảnh hưởng của nữ quyền luận trong các tác phẩm của Phạm Thị Hoài” (46 trang) Ở đây chúng tôi tập trung vào các truyện ngắn, tiểu luận và một số tiểu thuyết của nữ tác giả này để làm nổi bật tư tưởng nữ quyền trong các tác phẩm của bà

Chương 3: “Lối viết nữ trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài” (37 trang) Chương này tập trung vào các phương pháp nghệ thuật đặc sắc, mới mẻ được nhà văn sử dụng trong tác phẩm của mính

Trang 15

CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ NỮ QUYỀN LUẬN VÀ PHẠM THỊ HOÀI

1 KHÁI QUÁT VỀ NỮ QUYỀN LUẬN

1.1 Nguyên nhân hình thành:

Trong xã hội loài người, từ thời nguyên thuỷ với đời sống hái lượm, săn bắt, người phụ nữ với việc hái lượm trái cây đóng vai trò cung cấp thực phẩm chình cho gia đính và hính thành một nền văn minh mẫu hệ Bắt đầu từ định chế nông nghiệp: định canh, định cư; con người dần hính thành khái niệm về tài sản và bảo vệ tài sản

Và những cuộc chiến tranh tư sản đầu tiên của con người bắt đầu hính thành là để bảo vệ tài sản đầu tiên: đàn bà, giữa các bộ lạc Có thể thấy đàn bà là tài sản sở hữu đầu tiên của loài người nói chung và đàn ông nói riêng

Qua thời gian, cùng với sự hưng thịnh lên xuống của nhiều thể chế, loài người đã có rất nhiều cuộc chiến tranh Càng có chiến tranh thí vai trò của người đàn bà càng bị hạ thấp không bằng đàn ông Trong lịch sử loài người, có thể kể đến những cuộcc chiến như cách mạng tư sản Pháp 1789: giai cấp bị trị tranh đấu để thoát khỏi giai cấp thống trị, chế độ nô lệ và toàn trị; cuộc cách mạng vô sản Nga

1917 của giai cấp công nông chống lại chế độ tư bản Tất cả các cuộc cách mạng trước đó nói chung vẫn chưa giải phóng hoàn toàn được đàn bà khỏi những công việc lao động nặng nhọc và vị thế thấp hơn trong xã hội so với đàn ông Chỉ đến năm 1970, cuộc cách mạng nữ quyền diễn ra đã giải phóng hơn nửa nhân loại trên tất cả mọi lĩnh vực: đời sống xã hội, thơ ca hội hoạ, ngôn ngữ, nghệ thuật kiến trúc, chình trị…

Và cho đến nay, cuộc cách mạng nữ quyền vẫn tồn tại và ngày càng phát triển bởi đàn bà vẫn chưa có được một vị thế đúng của mính, như Catharine A MacKinnon đã viết:

Trang 16

“Nếu đàn bà là người, thí làm sao chúng tôi lại là một vụ mùa hái ra tiền từ Thái Lan trong những kiện hàng nhập vào những ổ điếm của New York?”1 “Thí làm sao chúng tôi lại là nô lệ cho tình dục và sinh sản? Thí làm sao chúng tôi bị chăn nuôi, làm việc không lương suốt đời, bị thiêu khi tiền hồi môn của chúng tôi không

đủ hoặc khi đàn ông đã chán chúng tôi, bị bỏ đói như những bà goá khi chồng chết (nếu chúng tôi sống sót qua lễ hoả thiêu của chồng mính), bị bán cho tình dục ví chúng tôi không có giá trị cho bất cứ gí khác? Thí làm sao chúng tôi lại bị gả bán vào hôn nhân với các giáo sĩ để chuộc cho những tội lỗi hoặc để cải thiện những triển vọng trần thế của gia đính? Thí làm sao chúng tôi, khi được cho phép làm việc

có lương, lại bị ép phải làm trong những công việc hèn hạ nhất và bị bóc lột chỉ ở mức khỏi chết đói? Thí làm sao bộ phận sinh dục của chúng tôi lại bị xẻ để “thanh tẩy” chúng tôi (những phần cơ thể chúng tôi nhơ nhớp ư?), để điều khiển chúng tôi,

để đánh dấu chúng tôi và định nghĩa những văn hoá của chúng tôi? Thí làm sao chúng tôi lại bị buôn bán như những đồ vật cho sử dụng tình dục và giải trì khắp thế giới trong bất cứ dạng thức nào mà kĩ thuật hiện hành khiến khả dĩ?” 2 “Thí làm sao chúng tôi bị ngăn cản học đọc và viết?”3

“Nếu đàn bà là người, thí làm sao chúng tôi lại có tiếng nói nhỏ nhoi trong những suy tình cộng đồng và trong chình phủ ở những quốc gia chúng tôi sống?”4

“Thí làm sao chúng tôi lại bị che giấu sau những tấm mạng và bị nhốt trong nhà và

bị ném đá và bị bắn ví từ chối? Thí làm sao chúng tôi lại bị đánh gần chết, và cho tới chết, bởi những người đàn ông thân thiết với chúng tôi? Thí làm sao chúng tôi

1 Để có dữ liệu hỗ trợ cho tất cả phát biểu về bạo động chống đàn bà trong bản phân tìch này, xin xem

Radhika Coomaraswamy, Tường trình nạp cho báo cáo viên đặc biệt về bạo động chống đàn bà, những nguyên nhân và hậu quả, Uỷ ban Nhân quyền Liên hiệp quốc/ Commission on Human Rights, 50th Sess.,

Agenda Item 11 (a), U N Doc E/CN.4/1996/53 (1996); Radhika Coomaraswamy, Tường trình của báo cáo viên đặc biệt về bạo động chống đàn bà, những nguyên nhân và hậu quả, U N ESCOR Hum Rts Comm‟n, 52d Sess., Prov Agenda Item 9(a), U N Doc E/CN.4/1996/53 (1996); Radhika Coomaraswamy, Tường trình, U N ESCOR Hum Rts Comm‟n, 53d Sess., Prov Agenda Item 9(a), U N Doc E/CN.4/1997/47

3 Đa số người mù chữ trên thế giới là đàn bà Xin xem UNESCO, Niên giám thống kê 1997, trang 2 – 6, bảng

2 – 2 (ước tình 28,8 % đàn bà trên thế giới và 16,3% đàn ông trên thế giới bị mù chữ)

4

Xin xem “Liên hiệp Liên quốc hội”, Đàn bà trong các Quốc hội, từ năm 1945 – 1995: Một nghiên cứu thống kê thế giới

Trang 17

lại bị quấy rối tình dục trong chình gia đính mính? Thí làm sao chúng tôi bị cưỡng hiếp trong vụ diệt chủng tới khủng bố và loại trừ và huỷ diệt cộng đồng sắc tộc của chúng tôi, và lại bị cưỡng hiếp trong chiến tranh không tuyên chiến diễn ra hàng ngày ở mọi quốc gia trên thế giới trong cái gọi là thời bính?”5 “Nếu đàn bà là người,

thí làm sao những kẻ cưỡng bức chúng tôi lại hứng thú về sự cưỡng bức chúng tôi?

Và, nếu chúng tôi là người, khi những điều này xảy ra, sao chẳng ai nhúc nhìch gí cả?”6

Đàn bà thường nhận được tiền lương thấp hơn cho công việc giống hoặc tương đương với đàn ông, và họ thường xuyên bị ngăn chặn trong những cơ may thăng tiến, đặc biệt là tới những địa vị cao nhất Trên một nền tảng tổng thể, bất bính đẳng giới có nghĩa rằng công việc thường được đàn bà làm nhất, như là dạy con trẻ và nuôi dưỡng chúng, được trả lương ìt hơn các công việc đàn ông thường làm nhất, như là xây dựng và khai mỏ

Bất bính đẳng giới cũng có thể là sự khác biệt trong việc được giáo dục giữa nam và nữ Chúng ta có thể thấy, gần hai phần ba người mù chữ của thế giới là đàn

bà Ngoài ra, ở nhiều nước, đàn ông còn được ưu tiên hơn đàn bà trong việc phân phối những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Việc sử dụng biện pháp ngừa thai lên cao trong những xứ sở công nghiệp, nhưng trong những xứ sở đang phát triển, rắc rối trong việc sinh con vẫn là một nguyên nhân hàng đầu của cái chết cho những phụ

nữ trẻ Bệnh AIDS thậm chì còn làm tử vong đàn bà kinh khủng hơn so với đàn ông trên toàn cầu, ví nguy cơ của đàn bà về việc lây nhiễm với HIV trong tình dục không được bảo vệ thí cao hơn từ hai tới bốn lần so với đàn ông Trong tháng Năm năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới của Liên hiệp quốc (World Health Organization, viết tắt là WHO) đã báo cáo rằng cho đến cuối năm 2003 khoảng bốn mươi triệu người đang sống với HIV/ AIDS, và trong đó hơn một nửa là đàn bà Chình trị tình dục ảnh hưởng việc lan truyền của HIV/ AIDS Nhiều phụ nữ mắc HIV/ AIDS bị

5

Xin xem “Ngày Mười một tháng Chìn của đàn bà: Nghĩ lại luật Quốc tế về tranh chấp.”

6

Trìch Chương 4 (từ trang 41-43) cuốn sách "Đàn bà có phải là người? và những cuộc đối thoại quốc tế

khác" của Catharine A MacKinnon, Ấn quán Belknap thuộc Ấn quán Đại học Harvard, 2006

Trang 18

lây bệnh qua sự khai thác tình dục, hoặc qua những người chồng có lắm bạn chơi tình dục nhưng lại từ chối sử dụng bao cao su

Sự khai thác và bạo hành tình dục đối với đàn bà cũng là một phần của bất bính đẳng giới Trong chiến tranh và các cuộc khởi nghĩa dân tộc, đàn bà thuộc một nhóm chủng tộc sắc tộc thường bị đàn ông của nhóm chủng tộc sắc tộc đối lập cưỡng hiếp như một vũ khì chủ ý của việc làm xấu hổ và làm nhục Trong nhà, đàn nhà dễ bị đánh đập, cưỡng hiếp, và giết chết – thường bởi chồng hoặc bạn trai họ,

và đặc biệt là khi họ cố rời bỏ một mối quan hệ bị lạm dụng Thân thể của các cô gái và đàn bà bị sử dụng trong công việc tình dục – dâm thư và mại dâm Trong một

số văn hoá châu Phi và Trung Đông những bộ phận sinh dục của họ bị cắt xẻo theo nghi lễ và thân thể họ bị phủ kìn từ đầu tới ngón chân nhân danh sự trinh khiết Họ

có thể bị cưỡng bức để sinh con mà họ không muốn hoặc phải phá thai hoặc bị triệt sản ngược với ý chì của họ Trong một số nước còn có nạn nhân mãn, những bé gái

sơ sinh thí thường bị bỏ rơi trong các cô nhi viện nhiều hơn so với các bé trai sơ sinh Và trong một số nước khác thí lại có nạn: nếu giới tình của bào thai có thể được xác định, hễ bé gái là bị nạo phá

Khoảng cách giới tình trong công việc được trả lương đang được thu hẹp dần, nhưng đàn bà vẫn làm hầu hết công việc trong nhà và chăm sóc trẻ, và cùng lúc làm lao động nông nghiệp, điều hành kinh doanh nhỏ, và làm số lớn công việc được trả lương đặt cơ sở tại nhà, tất cả những việc đó đều là lao động lương thấp Theo bản báo cáo của Liên hiệp Quốc trong năm 1980 ước tình rằng, đàn bà làm hai phần

ba công việc của thế giới, nhận 10% thu nhập của thế giới, và sở hữu 1% tài sản của thế giới

Tại sao sự bất bính đẳng giới như nên trên lại tồn tại một cách phổ biến như vậy? Phải chăng là bởi những thiết chế chủ yếu về xã hội và văn hoá đều chống đỡ cho hệ thống về bất bính đẳng giới này Hay chình những tông giáo hợp thức hoá những sự sắp xếp xã hội sản sinh ra sự bất bính đẳng, biện minh rằng chúng là đúng

và phải lẽ Và luật pháp cũng đỡ tính trạng hiện hành và cũng thường khiến không thể chấn chỉnh những hậu quả – truy tố những ông chồng ví đánh đập vợ, hoặc bạn trai ví cưỡng hiếp bạn gái mính Trong các ngành nghệ thuật, những sản phẩm của đàn bà thí quá thường bị làm ngơ đến nỗi chúng gần như vô hính, điều này dẫn tới

Trang 19

việc Virginia Woolf kết luận rằng “Vô danh thị (Anonymous) hẳn phải là một phụ

nữ” Những khoa học bị kết tội là đặt những câu hỏi thiên vị và làm ngơ những điều

tím thấy mà không hỗ trợ những niềm tin theo quy ước về những khác biệt giới tình

Với tất cả những nguyên nhân trên, phong trào nữ quyền ra đời như một sự tất yếu và sẽ còn tiếp diễn trong tương lai để tranh đấu cho một xã hội bính đẳng và công bằng hơn

Việc tranh đấu cho nữ quyền trước hết có mục đìch khẳng định vị trì và vai trò của người phụ nữ như một chủ thể tồn tại độc lập chứ không phải bị xem như một “tài sản” thuộc sở hữu của đàn ông Bên cạnh đó, phong trào này còn giúp cho phụ nữ được hưởng các quyền lợi xứng đáng và bính đẳng với nam giới như được nhận sự giáo dục đầy đủ, được tham gia trong các hoạt động chình trị, được hưởng thu nhập ngang bằng trong như vị trì tương đương và được tham gia tất cả mọi hoạt động chình trị, xã hội, văn hoá… Bên cạnh đó, phong trào nữ quyền còn là tiếng nói giải phóng phụ nữ về mặt tình dục nói riêng và sự bính đẳng cho mọi giới nói chung: từ dị tình, đồng tình, vô tình, trung tình tới lưỡng tình

Ở những thời điểm khác nhau thí phong trào nữ quyền cũng có những mục đìch khác nhau rõ rệt Chẳng hạn ở giai đoạn đầu: thời kí manh nha của tư tưởng nữ quyền hay nói đúng hơn là tư tưởng về những quyền cho phụ nữ chỉ đơn thuần là đòi hỏi quyền không lệ thuộc vào cha, chồng, con trai của người đàn bà và quyền được hưởng tài sản thừa kế, được cắp sách tới trường Cho đến những năm 1920, thí mục đìch của phong trào nữ quyền giai đoạn này là quyền đầu phiếu cho đàn bà Và

đến năm 1949, với sự ra đời của cuốn sách Giới tính thứ hai (Le Deuxième

Sexe), Simone de Beauvoir đã thiết lập rất minh bạch những câu hỏi căn bản của

chủ nghĩa nữ quyền hiện đại Bà đưa ra những lập luận uyên bác và rõ ràng về vấn

Trang 20

đề bính đẳng giới: “Đàn bà bị siết chặt vào một mối quan hệ với đàn ông Đàn ông

là kẻ Một, đàn bà là kẻ Khác Sự thống trị của đàn ông củng cố một ý thức hệ về sự phục tùng… Đàn bà bị tạo thành những kẻ dưới và sự áp bức được phức hợp bởi niềm tin của đàn ông rằng đàn bà là những kẻ-dưới-bởi-bản-tính.”7 Chình cuốn sách này đặt nền móng cho sự phát triển rầm rộ của phong nào nữ quyền thập niên

60 và 70

Với sự ra đời của thuốc tránh thai và bao cao su, người phụ nữ được giải thoát khỏi trách nhiệm và hậu quả nặng nề vốn phải gánh chịu từ ngàn xưa Trước đây, khi chưa có sự ra đời của hai sản phẩm này, đàn bà luôn bị đe doạ bởi việc có thai ngoài ý muốn và phải chịu sự đối xử bất công nặng nề từ xã hội Sự ra đời của thuốc tránh thai và bao cao su, đặc biệt là thuốc tránh thai với giải pháp an toàn 100% đưa phụ nữ đến với một bước tiến mới Cuộc cách mạng nữ quyền giai đoạn này thực sự là một bước tiến mạnh, với mục đìch giải phóng vấn đề tình dục cho phụ nữ

Càng về sau phong trào nữ quyền càng phát triển sâu và rộng trong nhiều lĩnh vực, từ ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, chình trị tới tông giáo… để đưa phụ nữ thoát hoàn toàn khỏi quan niệm “đàn bà là thiểu số, đàn bà là một sản phẩm của lịch

sử hay đàn bà là kẻ dưới” Xét cho cùng, phong trào nữ quyền vận động, phát triển nhằm mục đìch đưa phụ nữ thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào những nề nếp cũ trong cái thế giới đã do các bậc cha chú dựng lên, cái thế giới có rất nhiều thiếu sót, bị bóp méo, đầy những tư tưởng trọng nam khinh nữ mà trong đó người nữ đã bị bắt buộc phải suy tư và hành động theo những truyền thống về giá trị và chuẩn mực văn hoá đều được đặt ra để phục vụ cho phái nam đồng thời để kím kẹp phái nữ Và mục đìch căn bản của nữ quyền còn là sự bính đẳng giữa đàn ông và đàn bà, chống nam quyền, phụ quyền Ngoài ra, nữ quyền giúp đàn bà có khả năng độc lập, đứng một mính và tồn tại không lệ thuộc vào bất cứ ai khác Nói cách khách, phong trào nữ quyền sẽ giúp người phụ nữ đạt được sự chìn chắn, có bản ngã và toàn vẹn tánh

7 Trìch chương 6: “Phê bính nữ quyền”, Độc bản hướng dẫn lí thuyết văn học đương đại (A Reader‟s Guide

to Contemporary Literary Theory [1989]), Raman Seldem, Hồ Liễu dịch, Tạp chì Sông hương, số 277, tháng

3/2012

Trang 21

1.3 Các khái niệm

1.3.1 Đàn bà (woman): là một con người phái nữ Từ đàn bà thường được dành

riêng cho người lớn, từ cô gái là từ thường được dùng cho một bé gái hoặc thiếu nữ Tuy nhiên, từ đàn bà thỉnh thoảng cũng được sử dụng để nhận biết một người thuộc

giới nữ, bất chấp tuổi tác, chẳng hạn như trong cụm từ “những quyền của đàn bà”

1.3.2 Nữ tính (femininity): (cũng được gọi là tình nữ, đàn bà tình hoặc chất nữ) là

một khuynh hướng của những thuộc tình, hành vi, và vai trò nói chung được liên tưởng tới đàn bà con gái Nữ tình là quan niệm luân lì được xây dựng chung cho gia đính và xã hội trong quan hệ nam nữ ở thời phong kiến với chế độ phụ quyền, nam quyền, gia trưởng, nhưng cấu thành cả nhân tố được định rõ thành những giá trị gọi

là thuần phong mĩ tục, nhưng thực chất là bất bính đẳng về giới tình trên phương diện xã hội lẫn phương diện sinh học Điều này khiến nó khác biệt với sự định nghĩa về giới tình nữ về mặt sinh học như nhỏ nhắn, dịu dàng, nhường nhịn…, như

cả đàn ông và đàn bà có thể đưa ra những nét nữ tình

 Giới tình (gender): một vị thế xã hội, một chỉ danh pháp lì, và một căn cước nhân thân Qua những tiến trính xã hội của sự phân định giới tình, những sự phân chia giới tình và những quy củ đi kèm của chúng

và những mong đợi về vai trò gắn liền trong những thiết chế xã hội chình yếu của xã hội, như là kinh tế, gia đính, nhà nước, văn hoá, tông giáo (thừa tự, nối dõi tông đường), và luật pháp (chia tài sản) – trật tự

xã hội theo giới tình, thì dụ như “trọng nam khinh nữ”, “nam tôn nữ tin”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, con trưởng, đìch tôn, con gái là thuộc bên ngoại… Những từ đàn bà (woman) và đàn ông (man) được sử dụng khi quy chiếu về giới tình.8

 Tình dục (sex): một sự giao thoa đa phức của những chủng tử, môi trường, và hành vi, với những hiệu quả hồi dưỡng (feedback) giữa

Trang 22

những thân thể và xã hội Những từ nam/đực (male), nữ/cái (female),

và trung tình (intersex) được sử dụng khi quy chiếu về tình dục.9

 Dục tình (sexuality): dục vọng tham luyến, dình lìu cảm xúc, và giả tưởng, như đã diễn ra trong một sự đa dạng của những quan hệ thân thiết dài hạn và ngắn hạn Những từ đồng tình (homosexuality), dị tình (heterosexuality) và lưỡng tình (bisexuality) được sử dụng khi quy chiếu về dục tình.10

1.3.3 Nữ quyền (feminism):

 “Có thể được định nghĩa như là một phong trào tím kiếm sự tổ chức lại về thế giới trên một cơ sở về bính đẳng giới tình trong tất cả những mối quan hệ con người; một phong trào nhằm loại bỏ mọi sự phân biệt giữa những cá nhân trên nền tảng giới tình, sẽ huỷ bỏ tất cả đặc quyền giới tình và gánh nặng giới tình, và sẽ nỗ lực dựng lên sự thừa nhận về nhân tình chung của đàn bà và đàn ông như nền tảng về luật lệ và tập tục.” (Teresa Billington-Greig 1911, 694, 703)11

 “Một phong trào với một lịch sử lâu dài Ba lập trường căn bản về nữ quyền trong suốt những năm 1400 – 1789: (1) một chỗ đứng có ý thức đối lập với

sự thoá mạ và ngược đãi nam giới đối với phụ nữ; một lập trường mang tình biện chứng đối với sự ghét bỏ đàn bà (2) một niềm tin rằng những giới tình bằng văn hoá, chứ không chỉ về sinh học, dạng thức; một niềm tin rằng đàn

bà là một nhóm xã hội được khuôn đúc để phù hợp với khái niệm của đàn ông về một giới tình khiếm khuyết (3) một cái nhín vượt qua hệ thống giá trị được chấp nhận về thời đại bằng cách phô ra và chống đối thành kiến và sự hẹp hòi; một mong muốn cho một quan niệm giới tình thực sự về loài người.” (Joan Kelly 1982, 6 – 7)12

 "Nữ quyền là một tập hợp những phong trào và những hệ tư tưởng nhằm định nghĩa một tính trạng bính đẳng về chình trị, kinh tế và xã hội cho những

10 Như trên

11 Trìch trong cuốn “Feminist theory – A Reader” [1989]/ “Lì thuyết nữ quyền – độc bản”, Biên tập lần 3,

Wendy K Kolmar/ Frances Bartkowski, trang 7, Higher Education xuất bản, 2010

12 Xem chú thìch 1

Trang 23

quyền của phụ nữ Điều này bao gồm việc kiếm tím để thiết lập những cơ hội bính đẳng cho phụ nữ trong giáo dục và nghề nghiệp."13

1.3.4 Phụ quyền (patriarchy): là một hệ thống xã hội trong đó đàn ông là những

hính tượng uy quyền bậc nhất ở trung tâm tổ chức xã hội, chiếm giữ nhưng vai trò

về lãnh đạo chình trị, uy quyền đạo đức và kiểm soát về tài sản, và nơi những người cha cầm giữ uy quyền trên đàn bà và con trẻ Nó bao hàm những thể chế về luật lệ

và đặc quyền nam giới, và bắt đàn bà phải lệ thuộc Nhiều xã hội phụ quyền thí cũng theo dòng nội, nghĩa là tài sản và danh tước thí được dòng dõi phái nam thừa hưởng

1.3.5 Bình đẳng giới (gender equality): Bính đẳng giới, cũng được biết tới như

bính đẳng tình dục, bính đẳng dục tình hoặc bính đẳng giữa các giới, quy chiếu về quan điểm rằng đàn ông và đàn bà phải nên nhận được sự đối xử bính đẳng, và không bị phân biệt đối xử dựa trên giới, nếu không có một lì do sinh học hợp lì ví

sự đối xử khác biệt

1.3.6 Phê bình văn chương nữ quyền (feminist literary criticism)

Phê bính nữ quyền có vai trò đưa ra ánh sáng tất cả những văn bản của các nhà văn nữ bị lãng quên hay bị nền văn học nam tình xô đẩy vào bóng tối, đồng thời tím cách nâng đỡ các nhà văn nữ đương thời biểu hiện nữ tình, ghi nhận lại những kinh nghiệm và cảm quan của nữ giới mà từ trước tới nay chưa được nói tới Phê bính văn chương nữ quyền phải dựa trên sự chình xác và phải phát hiện được sự chân thực của bản chất nữ giới

Phê bính văn chương nữ quyền phải tím cho ra các kinh nghiệm khác biệt được sử dụng bởi các nhà văn nữ để thấy được sự thực ẩn tàng trong các nhân vật

hư cấu đó

Phê bính văn chương nữ quyền cũng cần thiết để thừa nhận những thành tựu của người nữ như là tác giả (woman as author) cũng như để giải mã một cách tận tính người nữ như là kì hiệu (woman as sign)

13 Theo Wikipedia: “Feminism is a collection of movements and ideologies aimed at defining a state of equal political, economic, cultural, and social rights for women This includes seeking to establish equal opportunities for women in education and employment.”

Trang 24

Phê bính văn chương nữ quyền đặt định các nhà văn nữ vào trong dòng chình của các giáo trính đại học một cách không thiên vị, không thành kiến về phái tình, trong việc phán đoán các giá trị tác phẩm của họ

1.4 Quá trình phát triển

Những từ “nữ quyền”/ feminism hay “nhà nữ quyền”/ feminist xuất hiện đầu

tiên ở Pháp và Hà Lan vào năm 1872, Vương quốc Anh vào thập niên 1890, và Hoa

Kí vào năm 1904 Theo từ điển Oxford English Dictionary [2012], vào năm 1894 xuất hiện từ nhà nữ quyền/feminist và năm 1895, từ nữ quyền/ feminism Tạp chì

Tin tức Hàng ngày/ Daily News của Vương quốc Anh đã giới thiệu từ “nhà nữ

quyền” tới ngôn ngữ tiếng Anh trong một bản báo cáo từ Pháp Trước thời điểm này, từ “Những quyền của đàn bà”/ Woman‟s rights nói chung được sử dụng rộng

rãi hơn Một giáo sư thuộc chình phủ đã sử dụng từ nữ quyền để gán cho tình phe phái những quyền của đàn bà trước khi từ nữ quyền thực sự trở thành thịnh hành

vào năm 1913

1.4.1 Nữ quyền sơ khai

Người dân và các nhà hoạt động đã thảo luận và đưa ra sự bính đẳng cho đàn

bà trước khi tồn tại phong trào nữ quyền mà thường được dán nhãn là nữ quyền tối

sơ/ protofeminist Tuy nhiên, một số học giả phê bính việc sử dụng thuật ngữ này

Một số biện luận rằng điều này làm giảm bớt tầm quan trọng của những thành tựu trước đó, trong khi một số khác cho rằng quan niệm nam nữ bính quyền không có

một lịch sử tuyến tình duy nhất như ngụ ý của các thuật ngữ nữ quyền tối sơ/

protofeminist hoặc hậu nữ quyền/ postfeminist

Theo Elaine Hoffman Baruch, khoảng 24 thế kỉ trước, Plato “[đã biện luận] cho sự bính đẳng toàn diện về chình trị và tình dục của đàn bà, ủng hộ những quyền này là những thành viên giai cấp cao nhất,… những người cai trị và chiến đấu”

Nhà văn Pháp Christine de Pizan (1364 - 1430), tác giả của các tác phẩm

Thành phố của Các quý bà/ The City of Ladies và Thư gửi Chúa của tình yêu/ Epítre au Dieu d‟Amour là một trong những nhà văn đầu tiên phê bính các cuốn

sách bác học đã gieo rắc “quá nhiều sự lăng nhục ác độc về đàn bà và hành vi của

Trang 25

họ” Bà biện luận rằng: “Bất kể đàn ông hoặc đàn bà ai đức hạnh lớn hơn thí cao thượng hơn, chẳng có sự cao cả lẫn sự thấp hèn của một người nào nằm trong thân thể dựa theo giới tình, mà trong sự hoàn thiện của cách hành xử và những đức hạnh.”14

Những nhà văn nữ quyền sơ khai khác bao gồm Heinrich Cornelius Agrippa

và Modesta di Pozzo di Forzi, người đã làm việc trong thế kỷ 16, và những nhà văn thế kỷ 17 Hannah Woolley ở Anh, Juana Inés de la Cruz ở Mexico, Marie Le Jars

de Gournay, Anne Bradstreet, và François Poullai de la Barre

Một trong những nhà văn nữ quyền quan trọng nhất ở thế kỉ 17 trong ngôn ngữ tiếng Anh là Margaret Cavendish, nữ công tước xứ Newcastle Bà là một nhà văn thông minh lanh lợi đã lên tiếng một cách hùng hồn chống lại mối hiềm khìch hướng tới bất cứ người đàn bà nào bị xem là cả tiếng và nhiều tham vọng Bà biện

luận trong lời tựa cho cuốn Giới đầu sỏ của thế giới (The World‟s Olio) rằng:

“Chúng tôi có một sự hiểu biết trọn vẹn như đàn ông, nếu chúng tôi được nuôi dạy

trong trường để làm cho đầu óc và hiểu biết của chúng tôi trưởng thành.” Ngoài ra,

trong cuốn “Những ý kiến về triết học và vật lí” (Philosophical and Physical

lố lăng mà đàn ông tự phụ và qua sự khinh miệt chúng tôi.” 15

1.4.2 Nữ quyền thế kỉ 18: Thời đại Khai sáng

Thời đại Khai sáng được đặc trưng bởi lập luận trì tuệ muôn thuở và một sự

nở rộ về văn viết mang tình triết học Nhiều nhà triết học Khai sang đã bảo vệ những quyền của đàn bà, bao gồm Jeremy Bentham (1781), Hầu tước de Condorcet

14 Trìch Chương 1: Những cội rễ tông giáo của nữ quyền, Nữ quyền-dẫn nhập ngắn/ Feminism-A Very Short Introduction, trang 9, Margaret Walters, Hồ Liễu dịch, Ấn quán Đại học Oxford, 2005

15

Trìch Chương 2: Sự khởi đầu của nữ quyền thế tục, Nữ quyền-dẫn nhập ngắn/ Feminism-A Very Short Introduction, trang 21, Margaret Walters, Hồ Liễu dịch, Ấn quán Đại học Oxford, 2005

Trang 26

(1790), và có lẽ đáng chú ý nhất là bà Mary Wollstonecraft (1972) Những nhà văn quan trọng khác của thời đại này đã bày tỏ quan điểm nữ quyền bao gồm Catherine Macaulay và Hedvig Charlotta Nordenflycht

Jeremy Bentham: nhà triết học tự do cổ điển và theo thuyết vị lợi người

Anh này cho rằng việc đặt địa vị của đàn bà ở một vị trì pháp lì thấp kém hơn đã khiến ông chọn lựa nghề nghiệp của một nhà cải cách ở tuổi mười một Bentham cho rằng phải có sự bính đẳng giới tình hoàn toàn bao gồm những quyền như bỏ phiếu và tham gia vào chình phủ Ông phản đối các tiêu chuẩn đạo đức về tình dục không tương xứng giữa đàn ông và đàn bà

Trong cuốn sách Dẫn nhập về Những nguyên tắc của Đạo đức và Pháp luật/

Introduction to the Principles of Morals and Legislation của mính (1781), ông lên

án mạnh mẽ thực tế phổ biến của nhiều quốc gia về việc chối bỏ những quyền của đàn bà do tâm trì bị cáo buộc kém hơn Bentham cũng đưa ra nhiều vì dụ về những quan nhiếp chình có thể là nữ

Hầu tước de Condorcet: Nicolas de Condorcet là một nhà toán học, chình

trị gia tự do theo trường phái cổ điển, lãnh đạo cuộc cách mạng Pháp, người thuộc trường phái cộng hoà và là người chống thuyết giáo quyền kiểu Voltaire Ông cũng

là một luật sư tranh đấu mạnh mẽ cho nhân quyền, bao gồm sự bính đẳng cho đàn

bà và việc bãi bỏ chế độ nô lệ, bất thường đối với thập niên 1780 Ông chủ trương cho quyền bỏ phiếu của phụ nữ trong chình phủ mới vào năm 1790 với tác phẩm

Cho việc xét tuyển những quyền của công dân với đàn bà/ De l‟admission des femmes au droit de cite và một bài báo cho Tạp chì de la Société de vào năm 1789

Wollstonecraft và cuốn sách Một sự tranh thủ những quyền của đàn bà/

A Vindication of the Rights of Woman:

Mary Wollstonecraft là một trong những người phụ nữ Anh đầu tiên đã viết một cách hùng hồn, và đồng thời một cách giận dữ, về những quyền của đàn bà – và những sai lầm họ thường trải qua Văn viết của bà luôn hợp thời, cho tới tận ngày nay chúng vẫn được rất nhiều phụ nữ biết đến và chịu ảnh hưởng sâu sắc

Cuốn bút chiến nữ quyền vĩ đại của bà Một sự tranh thủ những quyền của

đàn bà/ A Vindication of the Rights of Woman ra đời năm 1792, là sự lên tiếng “ví

giới tình của tôi, không phải ví bản thân” Bà đưa ra những vấn đề then chốt về việc

Trang 27

mở rộng những quyền của đàn ông tới đàn bà, vốn được xác quyết trong suốt cuộc Cách mạng Pháp:

“Nếu những quyền trừu tượng của đàn ông chịu được sự thảo luận và giải thích, thì những quyền của đàn bà, bằng một sự tương xứng về lí luận, sẽ không co thắt với cùng trắc nghiệm như vậy… Ai đã cho đàn ông làm quan toà chuyên quyền, nếu đàn bà san sẻ với hắn về sự phú bẩm của lí trí?” 16 Wollstonecraft nhấn mạnh, trong thời đại bà sống, đàn bà thì thấp kém hơn;

bị áp chế từ lúc sinh ra, không được giáo dục, và bị cách li với thế giới thực, hầu hết đàn bà, không thể tránh được, lớn lên ngu dốt và lười biếng Bà cũng tin rằng cả hai giới đều đóng góp cho sự bất bính đẳng Đối với nhiều nhà bính luận, Wollstonecraft đại diện cho việc hệ thống hoá bính đẳng nữ quyền đầu tiên, hoặc từ chối vai trò phụ nữ vốn bị ắp đặt với định kiến trong xã hội

Nữ quyền trong hư cấu: Cũng như Jane Austen viết về đời sống bị hạn chế

của những người đàn bà trong những năm đầu của thế kỷ này, thí Charlotte Brontë, Anne Brontë, Elizabeth Gaskell, và George Eliot mô tả đau khổ và thất vọng của

đàn bà Trong cuốn tự truyện Ruth Hall của mính (1854), nhà báo Hoa Kí là Fanny

Fern mô tả cuộc đấu tranh của chình cô để hỗ trợ con cái cũng như một chuyên mục báo sau cái chết đột ngột của người chồng Louisa May Alcott đã viết một

cuốn tiểu thuyết nữ quyền mạnh mẽ có nhan đề Một sự theo đuổi tình yêu tiền định

lâu dài/ A Long Fatal Love Chase kể về những nỗ lực của một thiếu nữ để chạy trốn

khỏi người chồng có hai vợ và trở nên độc lập Những tác giả nam cũng thừa nhận

16 Trìch Chương 3: Thế kỉ 18 – Những nữ chiến binh của ngòi bút, Nữ quyền-dẫn nhập ngắn/ / Feminism-A Very Short Introduction, trang 33, Margaret Walters, Ấn quán Đại học Oxford, 2005

Trang 28

sự bất công đối với phụ nữ Các tiểu thuyết của George Meredith, George Gissing, Thomas Hardy, và các vở kịch của Henrik Ibsen nêu lên những cảnh ngộ hiện thời của đàn bà

Ngay từ đầu thế kỷ 19, những tiếng nói nữ quyền bất đồng ý kiến không mấy

có ảnh hưởng xã hội Có rất ìt dấu hiệu về sự thay đổi trong trật tự chình trị hoặc xã hội, cũng không có bất cứ bằng chứng nào về một phong trào của phụ nữ nhận được công nhận Những mối quan tâm tập thể bắt đầu kết hợp lại vào cuối thế kỷ này, song song với sự xuất hiện của một mô hính xã hội và quy tắc ứng xử cứng nhắc hơn mà Marion Reid đã mô tả như việc giới hạn và đàn áp phụ nữ Trong khi nhấn mạnh sự gia tăng tăng về đức hạnh nữ tình phần nào khuấy động sự kêu gọi cho một phong trào của đàn bà, những căng thẳng mà vai trò này gây ra cho phụ nữ gây khó khăn nhiều cho nữ quyền đầu thế kỷ 19 với những hoài nghi, lo lắng, và thúc đẩy những quan điểm đối lập

Lì thuyết về sự bính đẳng mà những nhà nữ quyền của thế kỉ mười chìn đã

sử dụng trong cuộc tranh đấu của họ cho những quyền của đàn bà đã xuất phát từ triết học chình trị tự do, vốn cho rằng tất cả đàn ông phải bính đẳng trước luật pháp, rằng không ai nên có những đặc quyền hoặc những quyền đặc biệt Dĩ nhiên, khi Hoa Kí của châu Mĩ được thành lập, quan niệm về sự bính đẳng đó loại trừ những đàn ông trong vòng nô lệ và những đầy tớ nam theo khế ước, bởi ví họ không phải

là những công dân tự do, cũng như tất cả đàn bà, bất kể vị thế xã hội của họ ra sao, bởi ví họ cũng không tự do thực sự Vị thế pháp lì của họ giống như vị thế pháp lì của trẻ em – lệ thuộc kinh tế và vay mượn vị thế xã hội từ cha hoặc chồng

Có một nhánh khác của nữ quyền thế kỉ mười chìn không tập trung vào những quyền bính đẳng mà vào quyền “sở hữu” thân thể của một đàn bà và quyền đặt kế hoạch cho những lần thai nghén của chị

Trang 29

1.4.4 Nữ quyền thế kỉ 20 và 21

1.4.4.1 Đợt sóng thứ 1

Mục đìch của nữ quyền đợt sóng thứ nhất là đạt được quyền bính đẳng về pháp lì cho đàn bà, đặc biệt quyền bỏ phiếu, hay đầu phiếu (Những nhà nữ quyền

thường được gọi là những người tranh đấu đầu phiếu/ suffragists) Ở Hoa Kí, đàn

bà không được quyền bỏ phiếu mãi tới năm 1919 Nhiều quốc gia ở châu Âu cũng chỉ cho đàn bà quyền bỏ phiếu sau Thế chiến I, để đền đáp cho những nỗ lực của họ trong chiến tranh Tuy nhiên, đàn bà Pháp không được quyền đầu phiếu mãi tới sau Thế chiến II, khi tướng Charles de Gaulle biết ơn đã cho họ quyền bỏ phiếu ví công sức của họ trong cuộc chiến đấu ngầm chống lại Quốc xã và chình phủ hợp tác của nước Pháp bị chiếm đóng

Cách mạng Nga trong đầu thế kỉ hai mươi [1917] đã cho đàn bà những quyền bính đẳng, mặc dù những người Bolshevik phê phán chủ nghĩa cá nhân của “nữ quyền tư sản” Họ nhấn mạnh về công cuộc trong kinh tế tập thể, với việc chăm sóc

bà mẹ trước khi sanh và việc chăm sóc trẻ em được nhà nước cung cấp để cho đàn

bà có thể vừa làm công nhân vừa làm mẹ

Quyền đầu phiếu là mục đìch chình của sự giải phóng đàn bà trong đợt sóng thứ nhất của nữ quyền ở những xứ sở phương Tây, nhưng những quyền liên quan tới tài sản, thu nhập, giáo dục cao đẳng – tới cuối thế kỉ mười chìn, nhiều quyền trong số đó đã được trao – cho đàn bà một cơ may độc lập kinh tế Những quyền này thiết yếu cho việc nâng cao vị thế của đàn bà đã kết hôn khỏi sự lệ thuộc giống như trẻ con vào ông chồng, và cho những quả phụ và phụ nữ độc thân cách sống tự lực nào đó thay ví như một người bà con nghèo nàn trong căn hộ của cha hoặc anh

em hoặc con trai họ Đàn bà được giải phóng trong nửa đầu thế kỉ hai mươi bao gồm những cô gái đi làm ở xưởng máy độc lập đã làm việc cả ngày và đi khiêu vũ ban đêm, và đàn bà có học thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu đã có “những hôn nhân kiểu Boston” (là những đồng cư cả đời nhưng không làm hôn thú)

Cuộc tranh đấu của những nhà nữ quyền thế kỉ hai mươi cũng gay go tranh đấu trong những xứ sở phương Tây như cuộc tranh đấu cho quyền đầu phiếu, cho những phương tiện hợp pháp để ngừa thai mà đàn bà có thể kiểm soát Đàn bà không thể tự do để làm mẹ và vợ tốt, đặc biệt là khi họ nghèo, khi họ có đứa con

Trang 30

này đến đứa con khác Nhưng những bác sĩ bị cấm đặt cho đàn bà màng tránh thai hoặc mũ ở xương chậu (những thứ đi trước của vòng tránh thai và thuốc ngừa thai [tới những năm 1960 mới có]) Ở Hoa Kí, thậm chì gửi thông tin về những hiểu biết này qua đường ranh tiểu bang là bất hợp pháp Việc đàn bà đã kết hôn sử dụng phổ biến biện pháp ngừa thai đã gây lo sợ cho những người theo truyền thống, ví họ thấy trong đó sự suy sụp của gia đính Những nhà nữ quyền lo sợ rằng đàn ông sẽ khai thác tình dục những người đàn bà không kết hôn nếu họ được bảo vệ không mang thai Còn đối với chình đàn bà, hậu quả tìch cực của trận chiến dài lâu này cho việc tránh thai do đàn bà kiểm soát được hợp pháp hoá đã là sự tự do tình dục lớn hơn trước hôn nhân và việc làm cha mẹ có kế hoạch sau hôn nhân

Như hiển nhiên ta thấy qua việc nhín bao quát ngắn gọn này, phong trào nữ quyền đợt sóng thứ nhất có nhiều dị biệt về lì thuyết và chình trị với phong trào nữ quyền kế tục nó Câu hỏi về những dị biệt giữa đàn ông với đàn bà, và vậy là họ có

nên được đối xử bình đẳng (equally) ví họ là sự giống nhau hoặc công bằng

(equitably) một cách thiết yếu ví họ dị biệt một cách thiết yếu, hiện vẫn còn được

tranh luận Câu hỏi về nơi nào chình trị nữ quyền nên đặt sự nỗ lực nhất – bầu khì quyển công cộng (công việc và chình phủ) hoặc bầu khì quyển riêng tư (gia đính và tình dục) – vẫn còn đặt ra với chúng ta

1.4.4.2 Đợt sóng thứ 2

Phong trào nữ quyền hiện hành được gọi là đợt sóng thứ hai Là một phong trào hậu Thế chiến II, nó bắt đầu với sự xuất bản ở Pháp trong năm 1949 cuốn Giới

tính thứ hai (Le Deuxième sexe/ The Second Sex) của Simone de Beauvoir Kết toán

bao trùm này về vị thế lịch sử và hiện hành của đàn bà trong Thế giới phương Tây lập luận rằng đàn ông thiết lập những tiêu chuẩn và giá trị và rằng đàn bà là Kẻ Khác (Tha Nhân/ the Other), là những người thiếu những phẩm chất mà những kẻ thống trị phô bày Đàn ông là những kẻ hành động, đàn bà là những kẻ phản ứng Ví vậy đàn ông là giới tình thứ nhất, đàn bà luôn là giới tình thứ hai De Beauvoir kiên quyết rằng sự thống trị của đàn ông và sự tuân phục của đàn bà không phải là một hiện tượng sinh học mà là sự sáng tạo của xã hội:

Trang 31

"Người ta không sinh ra làm đàn bà mà đúng hơn trở thành đàn bà ; chính toàn thể nền văn minh đã sản sinh ra tạo vật này cái được mô tả như nữ tính" (theo bản Anh ngữ năm 1953, trang 267)

["One is not born, but rather becomes, a woman ; it is civilization as a whole that produces this creature which is described as feminine" (1953, 267)]

Mặc dù cuốn Giới tính thứ hai được đọc một cách rộng rãi, đợt sóng nữ

quyền thứ hai không thành hính như một phong trào chình trị có tổ chức mãi cho đến thập niên 1960, khi những người trẻ tuổi công khai phê phán nhiều phương diện của xã hội phương Tây Trong những năm từ đó, chủ nghĩa nữ quyền đã đóng góp nhiều vào sự thay đổi xã hội bằng cách tập trung chú ý vào những cách tiếp tục trong đó đàn bà vẫn bị thất thế về mặt xã hội hơn là đàn ông, bằng cách phân tìch những áp chế tình dục mà đàn bà phải gánh chịu, và bằng cách đề nghị những giải pháp liên cá nhân cũng như về chình trị và pháp lì Tuy nhiên, quan điểm nữ quyền

về điều khiến đàn bà và đàn ông bất bính đẳng ngày nay ìt thống nhất so với trong

nữ quyền đợt sóng thứ nhất, và có vô vàn giải pháp nữ quyền cho bất bính đẳng giới Nếu những tiếng nói nữ quyền dường như mang tình phân mảnh nhiều hơn ở thế kỉ mười chìn, nó là kết quả của một sự hiểu biết sâu hơn về nguồn gốc của bất bính đẳng giới Nó cũng là hiệu ứng mâu thuẫn của sự thành công không đều Những nhà nữ quyền ngày nay là thành viên của các tập đoàn, giới đại học, hoặc chình phủ, là những luật sư hoặc bác sĩ hoặc nghệ sĩ và giới cầm bút được tôn kình, nhận thức tốt về những hạn chế do những địa vị của họ, vốn có những trần nhà bằng kiếng (glass ceilings) và sự quấy rối tình dục Nhưng quan điểm của họ thí khác với quan điểm của những phê bính nữ quyền chống cơ chế cấp tiến hơn, là những người

tố giác sự áp chế tình dục được định chế hoá và sự hạ giá bao trùm về đàn bà

Tuy phần lớn phong trào nữ quyền của thế kỉ hai mươi đã xảy ra trong những

xứ sở công nghiệp hoá, nhưng vẫn có những cuộc tranh đấu thiết yếu và quan trọng

về tài nguyên cho những cô gái và đàn bà ở những xứ sở châu Phi và Nam và Trung

Mĩ Khi những xứ sở ở châu Phi, châu Á, và Trung và Nam Mĩ thoát ra khỏi sự kiềm chế thực dân sau Thế chiến II và thiết lập những chình phủ độc lập, họ cũng cho những công dân đàn bà của mính quyền bỏ phiếu Nhờ các phong trào đàn bà mạnh mẽ, nhiều trong những quốc gia mới đã viết ra sự bính quyền cho đàn bà vào

Trang 32

trong những hiến pháp của họ, và một số nơi thậm chì còn đặt định sự đại diện chình trị có bảo đảm Rwanda, một nền dân chủ mới, trong năm 2004 có 48,8% đàn

bà trong hạ viện và 30% trong thượng viện Tương phản lại, Hoa Kí có 60 người đàn bà (14,5%) trong Viện Dân biểu và 14 người đàn bà (trong số 100 người) trong Thượng nghị viện

Ở mút kia của cán cân chình trị, trong những xứ sở Hồi giáo, đàn bà tới nay vẫn không thể bỏ phiếu, vẫn không được rời bỏ xứ sở nếu không có sự cho phép của chồng, hoặc không được lái xe hơi Ở Trung Đông, đàn bà và đàn ông đã tranh đấu

để hoà giải những quyền của đàn bà với những giáo luật truyền thống của Hồi giáo

và Do thái giáo Ở châu Á, những vấn đề nghèo khó và quá đông dân, mặc dù chúng tác động hơn một cách trái ngược lên đàn bà và những cô gái, cần những phương thuốc chữa trị tác động lên mọi người Những phong trào chình trị của đàn bà trong những xứ sở này hẳn không được gọi là “mang tình nữ quyền”, tuy vậy chúng vẫn dựa trên cơ sở giới tình

Xa hơn dòng chủ lưu là những chủ nghĩa nữ quyền thách thức “điều mọi người đều biết” về tình dục (sex), dục tình (sexuality), và giới tình (gender) – sự song hành và đối nghịch của nữ và nam, đồng tình và dị tình, đàn bà và đàn ông Chúng lập luận rằng có rất nhiều tình dục, dục tình và giới tình, và nhiều cách để biểu lộ nam tình và nữ tình Một số trong những lì thuyết nữ quyền này bây giờ

đang được gọi là đợt sóng thứ ba của nữ quyền Nếu những ý tưởng này dường như

xa lắc hoặc lạ lẫm, hãy nhớ rằng vào lúc khởi đầu của đợt sóng thứ hai, khi những nhà nữ quyền sử dụng “anh hoặc chị” (he or she) cho từ “anh” chủng loại (the generic “he”), “Ms.” (cô hoặc bà) thay thế cho “Miss” (Cô) hoặc “Mrs.” (Bà), và

“những người làm việc toàn thời gian ở nhà” thay cho “nội trợ”, họ bị gọi là những

kẻ gây rối Thay đổi xã hội sẽ không diễn ra nếu không có sự chạm trán, và điều quan trọng là biết điều những nhà nữ quyền đang lên tiếng mà không được nghe thấy trong những phương tiện truyền thông đại chúng họ đang nói về bất bính đẳng giới và nó có thể bị bài trừ như thế nào

Trang 33

1.4.4.3 Đợt sóng thứ 3

Nữ quyền đợt sóng ba là một phong trào của các nhà nữ quyền trẻ bắt đầu trong đầu thập niên 1990 Đối với các nhà nữ quyền da Đen, bắt đầu phong trào này, đó là một sự tím kiếm để định hính một nữ quyền vượt qua “những khu vườn của mẹ chúng ta” Những nhà nữ quyền đợt sóng ba da Đen muốn đem nữ quyền ra khỏi giới hàn lâm đại học và lía khỏi một hệ tư tưởng về đàn bà như nạn nhân và đàn ông như kẻ áp bức Trong khi chẳng phải không biết tới sự phân biệt giới tình của đàn ông da Đen, các nhà nữ quyền đợt sóng ba da Đen đưa đàn ông da Đen đi cùng trong cuộc đấu chống lại kí thị chủng tộc, AIDS, và nghèo khó Họ tự thấy mính như tiếp tục truyền thống của các tổ mẫu mạnh mẽ và đề kháng, vốn là những hiện thân của các cuộc tranh đấu của đàn bà để sống sót và nuôi dạy con trẻ trong những điều kiện bất lợi về kinh tế và chủng tộc sắc tộc Những tổ mẫu này không tự gọi mính là những nhà nữ quyền, nhưng đối với đám con gái thực sự và tinh thần, thí họ là những nhà nữ quyền chân chình Đàn bà da Đen trẻ tuyên xưng các tổ mẫu này và đặt tên trận chiến tiếp tục của chình họ cho sự bính đẳng kinh tế, chủng tộc sắc tộc, và giới tình là nữ quyền đợt sóng ba Thẳng tiến, họ du nhập văn hoá hip-hop và rock của người da Đen cho các cô gái như một cách nhập cuộc chúng vào nữ quyền

Các nhà nữ quyền đợt sóng ba da Trắng tự định vị chống lại và vượt qua nữ quyền đợt sóng hai Họ phê phán các bà mẹ và tổ mẫu nữ quyền thực sự, cho rằng các thế hệ ấy thí thanh giáo về dục tình, vứt bỏ các mối quan hệ dị tình, và ngại ngần phế bỏ việc mô tả đàn bà như nạn nhân của đàn ông và phụ quyền Họ lớn lên với “bầu không khì” nữ quyền và biết những văn bản nữ quyền quy điển nhờ các giảng khoá phụ nữ học Chình nhãn hiệu nữ quyền của họ mang tình xác quyết về mặt tình dục, lưỡng tình, và xuyên giới tình về những căn cước và các mối quan hệ Điều dễ xảy ra là họ tự gọi mính là “bóng” hơn là người hậu hiện đại Giống như các nhà nữ quyền đợt sóng ba da Đen, họ ôm lấy văn hoá đại chúng đối đầu, làm nó trở thành “văn hoá gái” Âm nhạc, nghệ thuật, trang phục, và mĩ phẩm tất cả được chuyển thành các thành tố của “quyền lực gái” (girl power)

Nhiều nhà nữ quyền đợt sóng ba da Trắng và da Đen diễu hành cùng các bà

mẹ ( và các ông bố và các anh em) ví những quyền sinh sản, hoà bính, và bính đẳng

Trang 34

kinh tế toàn cầu, nhưng phong cách sống và quan điểm chình trị của họ là các phức hợp về những căn cước chủng tộc sắc tộc, tình dục, và giới tình

Nữ quyền đợt sóng thứ ba (third-wave feminism) vừa là một viễn cảnh lì thuyết đang hiện xuất vừa là một tiếp nối về và một đứt đoạn với nữ quyền đợt sóng thứ hai (second-wave feminism) Nữ quyền đợt sóng ba chơi đùa với tình dục (sex), dục tình (sexuality), và giới tình (gender): Theo nghĩa đó, nó tương tự như nữ quyền hậu hiện đại Nó gồm cả những văn hoá đa phức và đàn ông, và vậy là tiếp tục nữ quyền đa văn hoá/ đa chủng tộc và những nghiên cứu nữ quyền về đàn ông Nhưng đợt sóng này nổi loạn khi đến với nữ quyền cấp tiến Nó bác bỏ cảm thức về đàn bà như nạn nhân bị áp bức và về tình dục dị tình như là nguy hiểm Nó không đề cao các bà mẹ hoặc những phẩm chất đàn bà về nuôi dưỡng, thấu cảm và chăm sóc Thay ví thế, nữ quyền đợt sóng ba đề cao tác năng (agency) của đàn bà và dục tình

nữ như những dạng thức của quyền lực

1.4.4 4 Đợt sóng thứ 4

Một làn sóng thứ tư của nữ quyền hiện chưa được công nhận như một làn sóng lịch sử của phong trào nữ quyền, nhưng các học giả đã ủng hộ cho sự tồn tại của nó bởi sự thiếu sót hoạt động trong những đợt sóng khác của nữ quyền liên quan đến các vấn đề văn hoá hiện tại của chúng ta

Các đợt sóng nữ quyền thường được tạo ra như một phản ứng với sự thất bại của những đợt sóng trước đó Cũng giống như đợt sóng 3 tồn tại bên ngoài những lì thuyết của đợt sóng thứ 2 (với những kết quả đôi khi đáng ngạc nhiên), đợt sóng thứ

tư ban hành những khái niệm mà những nhà nữ quyền đợt sóng thứ ba đã từng đưa

Trang 35

Vào năm 2005, Pythia Peay17

lần đầu tiên biện luận cho sự tồn tại của đợt sóng nữ quyền thứ tư, kết hợp công lì với tinh thần tông giáo Theo Jennifer Baumgardner18 vào năm 2011, một đợt sóng thứ tư có lẽ tồn tại, bắt đầu vào năm

2008 Đợt sóng nữ quyền thứ tư đi vào những vấn đề như chuyển giới, nữ quyền của phái nam, hoạt động mại dâm… Đợt sóng thứ tư tập trung vào sự bất bính đẳng thể hiện trong “quấy rối đường phố”, “quấy rối tình dục”, “phân biệt đối xử tại nơi làm việc”, “thành kiến giới”… Đợt sóng thứ tư có ý nghĩa rất nhiều bởi nó mở ra nhiều cánh cửa cho thế hệ trẻ tham gia các cuộc trò truyện về vấn đề nữ quyền

1.5 Văn hoá nữ quyền (Feminist culture)

Văn hoá là con người sống chung, sống trong, và sống thìch ứng cũng như cải tạo tự nhiên cho thìch hợp với những nhu cầu của mính trong một giai đoạn rất lâu của thời tiền sử kéo dài từ thời đại Đá cũ đến thời đại Đá mới tức là khoảng chừng nửa triệu năm cho tới khoảng 12.000 năm trước đây Cái gọi là văn hoá của những tộc người phần lớn sống bằng phương thức săn bắt và hái lượm trong đó săn bắt là công việc chủ chốt của đàn ông và hái lượm là công việc chủ chốt của đàn bà Khoa khảo cổ học và khoa nhân loại học khi khảo sát những di chỉ của nền văn hoá xưa và nghiên cứu những tộc người còn sinh hoạt ngang tầm kinh tế săn bắt hái lượm ngày nay như ở châu Phi, sa mạc Calahari, hay thổ dân nội địa châu Úc, người bản thổ khám phá rằng chìn phần mười nhu cầu kinh tế tự túc là do đàn bà phụ trách, việc săn bắt để có những con mồi lớn chỉ là thứ xa hoa, nhọc nhằn và hiếm hoi Chúng ta cũng đừng lầm tưởng rằng cuộc sống cuộc sống của những người tiền

sử xa xôi đó là man rợ và thấp kém bởi ví để có một nơi trú ẩn che mưa nắng trung bính họ chỉ tốn nửa tháng lao động là đủ so với con người hiện đại phải lao động trung bính từ 15 đến 20 năm mới đủ chi trả cho một căn nhà sở hữu độc lập Ngay

cả việc kiếm sống hàng ngày trung bính một người ở thời đại đồ đá mới cũng chỉ mất có 2 giờ lao động mỗi ngày so với trung bính một công nhân ngày nay phải lao

17 Pythia Peay là một tác giả và nhà báo xuất sắc mà tác phẩm xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạp chì lớn như

tờ Người Washington, Religion News Service, The Washington Post, và The Huffington Post

18 Jennifer Baumgardner (1970) là một nhà văn, nhà hoạt động, nhà làm phim, và giảng viên với công việc là khảo sát việc phá thai, giới tình, tình dục lưỡng tình, hãm hiếp, cha mẹ đơn thân, và sức mạnh của đàn bà Cô

là Giám đốc Điều hành / Nhà xuất bản tại Ấn nữ quyền ở CUNY/ City University of New York

Trang 36

động là tám giờ, chưa kể thời gian di chuyển đi và về từ nhà đến chỗ làm Ví vậy cuộc sống tuy ìt sở hữu nhưng cũng ìt nhu cầu được giành rất nhiều cho thời gian tự

do để vui chơi, hưởng thụ Cũng giống như cư dân của những tộc ìt người con người thời tiền sử chưa có phân công lao động một cách triệt để nên ngoài những cá nhân có phú bẩm năng khiếu riêng hoặc sở thìch đặc biệt có thể nói toàn bộ tộc ai ai cũng đều biết mưu sinh, làm việc và tự biên tự diễn về nghệ thuật Khi không có giới nghệ sĩ chuyên biệt thí hầu như mọi người ìt nhiều đều là nghệ sĩ ví đều có thể múa hát, kể chuyện, tạo hính trên cát, trên gỗ đá, hoặc làm những tác phẩm để tống tiễn người chết như những tượng gỗ trong tục bỏ mả nhà mồ Tây nguyên, hay tạo những hoa văn đủ loại màu sắt và đường nét như các tấm thổ cẩm của gần khắp các dân tộc ìt người, kèn lá, đàn bầu, ốc thổi tù và, các nhạc cụ gõ từ đàn đá đến trống,

mõ, song lan,

Mấy ngàn năm nay, đặc biệt với đời sống định cư, sự thiết lập cuộc cách mạng nông nghiệp và việc xây dựng những thành thị đầu tiên tập trung đông đảo dân cư cùng với sự thiết định những thể chế như là sự tàng trữ lương thực, đào hào đắp luỹ xây thành, định chế chiến tranh, sự thiết lập quyền lãnh đạo thế tộc, văn minh thành thị bắt đầu từ khoảng 12.000 năm nay Đây là một cuộc cách mạng lớn lao từ những con người tự do phiêu du như gió trên mặt trái đất, bây giờ con người sống bám chắc vào một nơi cố định Những khái niệm lãnh thổ, tài sản, luật pháp, gia đính ra đời Và trong quan hệ giữa người và người, quan hệ chủ nhân và nô lệ được thiết lập Dựa trên những nghiên cứu của nhà nhân loại học Lewis Henry

Morgan (1818–1887) tác giả của cuốn Xã hội cổ đại (xuất bản năm 1877) khảo sát

về các tộc người da đỏ tại Bắc Mĩ đã khám phá rằng thời cổ đại con người sống quần cư hỗn tạp và một đứa trẻ thường chỉ biết mẹ mà không biết cha ví mẹ con là một quan hệ sinh học tự nhiên chung cho con người và nhiều loại động vật khác, còn cha con là một quan niệm pháp lì phải được phong tục của tập thể hoặc luật

pháp của xã hội nhín nhận Năm 1884 Friedrich Engels cho xuất bản cuốn Nguồn

gốc của gia đình, tư hữu và nhà nước đã chứng minh rằng tài sản đầu tiên của con

người chình là quyền sở hữu của người đàn ông trên người đàn bà và đó là nguồn gốc của gia đính ví người đàn ông muốn bảo đảm rằng tài sản mính tìch luỹ được sẽ truyền lại cho chình đứa con bằng máu mủ di truyền của mính Ngay cả sự đề cao

Trang 37

trinh tiết hoặc ngăn ngừa việc ngoại tính của người đàn bà cũng chình là để kiểm soát sự kế thừa chình thống này Quan niệm gia trưởng, trọng nam khinh nữ, bên nội bên ngoại, quyền thừa kế ưu tiên của trưởng nam, tục đa thê, việc bán dâm mua dâm với một loại phụ nữ được phân biệt riêng cho việc giải trì của đàn ông đều được hính thành kể từ sự phân công phân nhiệm giữa hai giới tình Và điều này có ảnh hưởng trầm trọng và sâu rộng trên khắp thế giới vượt xa những phân biệt về giai cấp Phải đến một thế kỉ sau các nhà tranh đấu nữ quyền mới đi tiếp công cuộc nghiên cứu của Engels và phê phán những bất công đã kéo dài cả chục ngàn năm nay Cho nên có thể nói cuộc cách mạng nữ quyền là cuộc cách mạng lớn nhất của loài người kể từ thời đại đồ đá mới tức là kể từ khi loài người bắt đầu có sự định cư cuộc đại cách mạng về nông nghiệp và một lịch sử văn minh rực rỡ nhưng vô cùng

bi thảm ví xây dựng trên chiến tranh, trên tư hữu, trên ranh giới quốc gia và trên sự tôn sùng bạo lực Theo Christa Wolf nhà văn nữ của Đông Đức trong tác phẩm

Cassondra (1983) không phải tính cờ vô cớ mà cách đây 2700 năm hai bộ sử thi

đầu tiên của Hi lạp Cổ đại mang tên Hôme là Iliat và Ôđixê đều là những tác phẩm

vinh danh đàn ông Iliat thí ca tụng cuộc cất công đánh phá thành Troy do nguyên nhân là nàng Helen bỏ chồng theo trai Bộ sử thi thứ nhí là Ôđixê kế tiếp kể về hai mươi năm phiêu lưu của Uylixơ sau khi chiến thắng thành Troie đã lang thang khắp hải hồ qua đủ mọi cuộc tính và người vợ là Pênêlôp vẫn chung thuỷ chờ đợi nơi quê nhà trong khi có bảy vị vương tước đến cầu hôn, nàng hứa sẽ nhận nhận lời khi dệt xong tấm vải Thế nhưng ban ngày dệt được bao nhiêu ban đêm nàng lại tháo gỡ

Chình ví đề cao vai trò của người đàn ông trong sự sáng tạo mà khoa học và lịch sử đã bị xuyên tạc suốt từ khởi nguồn của văn minh từ mấy ngàn năm nay Người đàn ông được cho là đóng giữ vai trò chủ chốt trong mọi công cuộc sáng tạo

kể cả sáng tạo nền tảng nhất là sáng tạo sinh học nên đời sống kế tiếp Đứa bé trong bào thai được coi là kết quả do tinh trùng của người đàn ông, còn người đàn bà chỉ

là cái bính chứa Đó là khái niệm “cha sinh mẹ dưỡng” hoặc “tinh cha huyết mẹ” Ngày nay chúng ta biết rằng thai nhi hính thành là do hai chuỗi nhiễm sắc thể của cả đàn ông và đàn bà phối hợp để tạo thành sinh vật mới Trước cuộc cách mạng phụ

hệ vai trò sáng tạo được nhín nhận chủ yếu là của người đàn bà ví đứa trẻ được người mẹ nuôi dưỡng ngay bằng chình thân thể mính 280 ngày trước khi ra đời và

Trang 38

vài ba năm sau khi đã sinh ra đời Ngay cả những cơ sở nền tảng nhất của văn hoá văn minh là ngôn ngữ, trồng tỉa, nấu nướng, làm đồ gốm, đan dệt, chăn nuôi, tạo dựng, nhảy múa, ca hát, kể chuyện, thuốc thang, là những sinh hoạt gần gũi và mang nặng dấu ấn của người đàn bà nhiều hơn đàn ông Hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều gọi là tiếng mẹ, quê mẹ Nhà thơ Mêhicô là Octavio Paz (1914–1998)

trong tác phẩm Cung và đàn/ El arco y la lira (1956) đã nêu ra một nhận xét rất lì

thú là tất cả các nhạc khì của loài người đều có nguồn gốc nguyên thuỷ là những vũ khì Cây cung từ vũ khì sát thương đã trở thành cần kéo làm bằng lông đuôi ngựa của những nhạc khì như cây violon Ngay cả đàn và viên đạn bắn đi cũng chỉ là một như ta còn thấy trong tình đàn hồi hoặc đàn chỉ thần công tức là ngón tay búng đi viên đạn Nếu chiến tranh là chức năng chình của đàn ông thí việc biến những vũ khì sát thương thành dụng cụ nghệ thuật là công của phụ nữ Không phải vô tính ngẫu nhiên mà chìn nữ thần nghệ thuật (Muses) trong thần thoại Hi lạp đều là đàn

bà chứ không có một người nào là đàn ông Thậm chì nhà hiền triết Socrates của Hi lạp cổ đại năm thế kỉ trước công nguyên cũng thú nhận với môn đệ là Plato rằng khi còn trẻ bản thân Socrates đã được nữ sư phụ là Diotima giảng dạy cho đạo lì về tính yêu Trong quan niệm của Diotima tính yêu (Eros) là đứa con trai của nguồn năng

và nhu cầu Tính yêu là phương tiện thăng tiến từ sự thương yêu con người xinh đẹp duyên dáng khác gây cảm hứng cho tâm trì và linh hồn tới sự nhín nhận và thưởng thức qua vẻ đẹp của người khác đến cái đẹp tách lía khỏi bất cứ cá nhân nào tới cội nguồn của cái đẹp là cõi tâm linh cao thượng

Người ta thường hay nhận xét rằng đàn bà thiếu tình sáng tạo ví trong lịch sử hành văn năm ngàn năm trở lại đây số phụ nữ đóng góp trong hội hoạ, kiến trúc, toán học khoa học, âm nhạc, nghệ thuật, điện ảnh, và mọi ngành triết học tư tưởng đều quá ìt ỏi so với sự đóng góp của nam giới Đây là một điều xác thực về thống kê nhưng không có giá trị tiên quyết về khả năng trì tuệ của phái nữ và phái nam Bởi

ví trong suốt thời gian đó phái nữ đã bị phân biệt đối xử ngay từ khi mới chào đời

và chịu những chế độ dinh dưỡng, cũng như giáo dục hoàn toàn khác biệt Nếu chúng ta nhớ lại rằng ngay ở một đất nước được coi là rực rỡ của văn minh Tây phương là Vương quốc Anh đàn bà vẫn không được chấp nhận vào cơ quan cao

nhất về trì tuệ trong nước là hội Hoàng gia The Royal Society mãi cho đến thế kỉ 20

Trang 39

Ba chị em gái của gia đính Brontë vào nửa đầu thế kỉ 19 vẫn không dám dùng tên thực mà phải đóng vai nam giới mới có thể xuất bản những cuốn tiểu thuyết của mính Vậy thí những trở ngại về mặt đào tạo cũng như tiếp nhận đã là một rào cản

vô cùng khó khăn cho phái nữ Với sự phổ thông giáo dục và với sự bính đẳng trước pháp luật và trong gia đính chỉ trong vòng chưa đến một thế kỉ phụ nữ khắp nơi trên thế giới thuộc đủ mọi chủng tộc và văn hoá đã chứng tỏ thành công trong tất cả mọi địa hạt mà trước đây là độc quyền của nam giới kể cả những địa hạt như chình trị quân sự thể thao, và mọi ngành hoạt động từ thám hiểm cho tới tư duy trừu tượng của triết học toán học

1.5.1 Nữ quyền và ngôn ngữ

Các nhà ngôn ngữ học phương Tây từ lâu đã nghiên cứu hiện tượng bất bính đẳng trong ngôn ngữ Anh ngữ cũng như một số ngôn ngữ khác Dựa vào những kết quả nghiên cứu này, các nhà nữ quyền đã tranh đấu mạnh mẽ để chỉ trìch sự bất bính đẳng về phái tình Bởi lẽ ngôn ngữ không chỉ phản ánh sự khác biệt trong cách nói năng giữa đàn ông và đàn bà mà còn cho thấy sự khác nhau trong văn hoá và xã hội Thông qua ngôn ngữ, phần nào thể hiện tính trạng nữ quyền có được tôn trọng hay không

Chẳng hạn, trong những danh từ cơ bản và quan trọng nhất, giới tình nam được dùng thay thế và chuyên biệt cho cả nam và nữ Thì dụ như man (tiếng Anh)

hay homme (tiếng Pháp) được dùng trong một số danh từ như chairman (chủ tịch),

spokesman (phát ngôn viên), businessman (thương gia), salesman (người bán hàng), clergy-man (giáo sĩ), postman (người đưa thư), fireman (lình cứu hoả), policeman

(cảnh sát), handyman (thuỷ thủ), human (con người), man-kind (nhân loại) đều có

từ tố “man”/ đàn ông Về ngữ nghĩa, các từ trên đều có cả nữ bên trong nhưng chỉ

dùng mỗi từ tố “man”, thể hiện một sự bất bính đẳng trong ngôn ngữ Qua đó thấy rằng ngôn ngữ được tạo ra đều dựa trên đặc quyền của đàn ông và phục vụ cho đàn ông

Các nhà nữ quyền đã tranh đấu để đưa ra một văn hoá truyền thống mới Đó là

truyền thống nữ giới (female tradition) – Một truyền thống văn hoá không chỉ có

chairman, superman, mà còn có chairwoman, superwoman , không phải chỉ có

Trang 40

“hero”/anh hùng mà còn có “shero”/ nữ anh hùng, một truyền thống văn chương trong đó không chỉ toàn “chuyện của chàng”/ history mà người nữ cũng có quyền viết ra và nói về những “chuyện của nàng”/ herstory nữa

Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có sự bất bính đẳng và phân biệt rõ rệt trong

việc xưng hô Chẳng hạn từ Mr để chỉ người đàn ông nói chung, bao gồm cả độc

thân hay đã lập gia đính Ngược lại, nếu một người phụ nữ còn độc thân thí được

gọi là Miss, còn phụ nữ đã kết hôn thí gọi là Mrs Điều này cho thấy một sự bất

bính đẳng rõ rệt, người đàn ông có thể giấu đi vấn đề hôn nhân của mính, còn người phụ nữ thí hoàn toàn không thể Chình ví vậy, tới năm 1980, sau cuộc cách mạng nữ quyền rầm rộ và đạt được nhiều thành tựu, trong ngôn ngữ tiếng Anh lần đầu tiên có

từ Ms phát âm là /miz/ trong từ điển để làm danh xưng chung cho phụ nữ kể cả phụ

nữ dù đã lấy chồng hay chưa Có thể thấy “Ngôn ngữ do đàn ông tạo ra”

(Man-Made Language) thể hiện rất rõ và đậm nét sự kiểm soát ngôn ngữ của đàn ông lên đàn bà Người phụ nữ đã bị đàn áp một cách nền tảng bởi một ngôn ngữ bị nam giới thống trị

Tất cả những vấn đề trong ngôn ngữ nêu trên không đơn thuần chỉ là vấn đề ngữ pháp hay tu từ mà có tầm ảnh hưởng cực kí quan trọng tới xã học, văn học, triết học… Chẳng hạn, năm 1789 khi cuộc Đại Cách mạng Pháp xảy ra, do ảnh hưởng

của các triết gia thời Khai sáng (thế kỉ 18) thí bản Tuyên ngôn các quyền của con

người (la Déclaration des droits de l'homme) được công bố Tuy nhiên, ví chữ

homme chỉ ra người đàn ông nên các quyền này không được áp dụng cho phụ nữ

Và những quyền thiết yếu như đầu phiếu, ứng cử, làm việc, giáo dục, thừa kế, tài sản… không được chia sẻ bính đẳng cho mọi công dân Các phong trào tranh đấu cho những quyền này bị chế giễu, đàn áp, làm ngơ suốt từ thế kỉ 18 cho tới thế kỉ

20

Nhờ sự tranh đấu kiên trí và dũng cảm, trong đó có sự hỗ trợ của rất nhiều nhà

nữ quyền thuộc phái nam, bảng từ ngữ và ngay cả ngữ pháp của các nước đó phải thay đổi chủ yếu từ nửa sau thế kỉ 20

Ngày đăng: 29/04/2021, 00:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Tỉnh (2010), Phụ nữ và giới, Nxb Chình trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và giới
Tác giả: Bùi Thị Tỉnh
Nhà XB: Nxb Chình trị Quốc gia
Năm: 2010
2. Carl Gustav Jung (2007), Essai d‟exploration de l‟inconscient [1912]/ Thăm dò tiềm thức, Vũ Đính Lưu dịch, Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essai d‟exploration de l‟inconscient [1912]/ "Thăm dò tiềm thức
Tác giả: Carl Gustav Jung
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
3. Đặng Thị Vân Chi (2008), Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước 1945, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước 1945
Tác giả: Đặng Thị Vân Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
4. Đỗ Lai Thuý (2010), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực
Tác giả: Đỗ Lai Thuý
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
5. Đỗ Long Vân (1966), Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương, Nxb Trính Bày, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương
Tác giả: Đỗ Long Vân
Nhà XB: Nxb Trính Bày
Năm: 1966
6. Henry Miller (2008), The Word of Sex[1941] - Thế giới tính dục, Hoài Khanh dịch, Nxb Văn hoá Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Word of Sex[1941] - Thế giới tính dục
Tác giả: Henry Miller
Nhà XB: Nxb Văn hoá Sài Gòn
Năm: 2008
7. Hoàng Bá Thịnh (2008), Giáo trình xã hội học về giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học về giới
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
8. I.L.An-đrê-ép (1988), Về tác phẩm của Ph.Ăng-ghen “Nguồn gốc của gia đính, chế độ tư hữu và của nhà nước [1885]”, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đính, chế độ tư hữu và của nhà nước [1885]
Tác giả: I.L.An-đrê-ép
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1988
9. Jared Diamond (2010), Why Sex Is Fun - Tại sao tình dục lại thú vị?, Nguyễn Chung Thủy dịch, Nxb. Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why Sex Is Fun - Tại sao tình dục lại thú vị
Tác giả: Jared Diamond
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2010
10. Laurennt Chavernac (1993), La Froideur Sexuelle Chez la Femme[1951]- Khám phá nguồn cảm xúc bản thân, Trần Thị Phƣợng dịch, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Froideur Sexuelle Chez la Femme[1951]-Khám phá nguồn cảm xúc bản thân
Tác giả: Laurennt Chavernac
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1993
11. Lê Thị Quý (2009), Giáo trình xã hội học về giới, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học về giới
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
12. Nguyễn Thị Thuỵ Vũ (1972), Như thiên đường lạnh, Nxb Kẻ sĩ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Như thiên đường lạnh
Tác giả: Nguyễn Thị Thuỵ Vũ
Nhà XB: Nxb Kẻ sĩ
Năm: 1972
13. Nguyễn Thị Thuỵ Vũ (1990), Chiều xuống êm đềm, Nxb Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiều xuống êm đềm
Tác giả: Nguyễn Thị Thuỵ Vũ
Nhà XB: Nxb Cửu Long
Năm: 1990
14. Nhƣ Hùng (2008), Hỏi đáp giới tính-tình yêu-tình dục, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp giới tính-tình yêu-tình dục
Tác giả: Nhƣ Hùng
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2008
15. Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ, Nxb Tổng hợp Phú Khánh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mê lộ
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Phú Khánh
Năm: 1989
16. Phạm Thị Hoài (1989), Thiên sứ, Nxb Trẻ, Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên sứ
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1989
17. Phạm Thị Hoài (1993), Từ Man nương đến AK và những tiểu luận, Nxb Hợp lưu, Hoa Kí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Man nương đến AK và những tiểu luận
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Hợp lưu
Năm: 1993
18. Phạm Thị Hoài (1995), Truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Phạm Thị Hoài
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1995
19. Phạm Thị Hoài (1996), Marie sến, Nxb Thanh Văn, California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marie sến
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Thanh Văn
Năm: 1996
20. Phạm Thị Hoài (1999), Chuyện tượng lão tượng Phật Di Lặc và nàng Nậm Mây, Nxb Văn Nghệ, Mĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện tượng lão tượng Phật Di Lặc và nàng Nậm Mây
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Nxb Văn Nghệ
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w