1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đối với lối sống của thế hệ trẻ việt nam hiện nay

127 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu như trong tất cả các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa thực dụng và triết học phương Tây hiện đại nói chung đều khẳng định: Hạt nhân nền tảng của chủ nghĩa thực dụng là hiệu quả, là

Trang 1

TRIỆU NGUYỄN KIỀU TRINH

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA THẾ HỆ TRẺ

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYỄN THẾ NGHĨA

TP.HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

TRIỆU NGUYỄN KIỀU TRINH

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA THẾ HỆ TRẺ

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Công trình này chưa từng được ai công bố Nếu

có điều gì sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng….năm 2014

Tác giả luận văn

Triệu Nguyễn Kiều Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 10

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu của luận văn 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 11

7 Kết cấu của luận văn 11

Chương 1.CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG VÀ NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA LỐI SỐNG 12

1.1 Chủ nghĩa thực dụng 12

1.1.1 Điều kiện hình thành và quá trình phát triển của chủ nghĩa thực dụng 12

1.1.2 Nội dung và đặc điểm của chủ nghĩa thực dụng 27

1.1.3 Vai trò của chủ nghĩa thực dụng trong xã hội 41

1.2 Nội dung và đặc điểm của lối sống 46

1.2.1 Khái niệm lối sống 46

1.2.2.Nội dung và đặc điểm của lối sống 51

1.2.3 Vai trò của lối sống đối với hoạt động của con người 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 62

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LỐI SỐNG CỦA THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 64

2.1 Khái quát về lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 64

Trang 5

2.2 Tác động của Chủ nghĩa Thực dụng đến lối sống của thế hệ trẻ

Việt Nam hiện nay 72

2.2.1 Những tác động tích cực của Chủ nghĩa thực dụng 73

2.2.2 Những tác động tiêu cực của Chủ nghĩa thực dụng 78

2.3 Một số giải pháp hoàn thiện lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 93

2.3.1 Giải pháp kinh tế 95

2.3.2 Giải pháp giáo dục – đào tạo 103

2.3.3 Giải pháp tạo lập môi trường hoạt động lành mạnh 109

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 113

KẾT LUẬN CHUNG 115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bản Di chúc bất hủ, trong đó, khi nói về thanh niên, Người đã tha thiết căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa ‘hồng” vừa “chuyên’ Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.”[41,498]

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn luôn dành cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và rèn luyện thế

hệ trẻ những sự quan tâm mạnh mẽ theo nhiều cách khác nhau Đặc biệt, trong thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành một Nghị quyết của Bộ Chính trị(1991) và hai Nghịquyết của Ban Chấp hành Trung ương (1993 và 2008) chuyên về thanh niên và công tác thanh niên Đồng thời, năm 2003 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược Phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 Hai năm sau, Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI đã thông qua và được Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành vào tháng 11 năm 2005 Bên cạnh đó, vấn đềthanh niên còn được Đảng và Nhà nước ta đề cập trong một số nghị quyết, pháp luật và chính sách khác, như các nghị quyết của Đảng về giáo dục và khoa học công nghệ, về xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Luật về bình đẳng giới và phòng chống bạo hành gia đình, các chính sách về lao động, việc làm vv Rõ ràng, ngày nay thanh niên và vấn đề thanh niên đã trở thành vấn đề trọng yếu, gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội văn hóa và con người Việt Nam của Đảng và Nhà nước và là một trong những vấn đề nóng bỏng được quan tâm ở tầm quốc gia

Trang 7

Chính trong bối cảnh đó nổi lên vấn đề lựa chọn sống hay lối sống của thanh niên Lối sống là tảng nền văn hóa khiến cho thanh niên có thể phát huy vai trò chủ thể tích cực của mình trong cuộc sống hay không, đồng thời đây cũng là cái chi phối, điều khiển hoạt động và hành vi sống hằng ngày của họ Nếu họ hướng tới những xu hướng lối sống tích cực, lành mạnh, hiện đại thì các nguy cơ tệ nạn xã hội và tội phạm xã hội sẽ bị đẩy lùi, sự chuẩn bị hành trang cuộc đời của họ, trong đó có học tập, đào tạo, rèn luyện sức khỏe sẽtốt hơn và do đó, cơ hội công ăn việc làm của họ được đảm bảo hơn Ngược lại, nếu họ chấp nhận những lựa chọn sống tiêu cực và hướng tới những xu hướng lối sống tiêu cực thì họ sẽ bị ảnh hưởng hoặc sa vào các tệnạn xã hội và phạm tội, tự hủy hoại tương lai của mình và của toàn dân tộc

Ngày nay, Việt Nam đã và đang bước vào thời kỳ hội nhập vô cùng sôi động Quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa, Việt Nam đang vươn mình với những thành tựu đáng kể về mặt vật chất và tinh thần Đi liền với nó là việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, những luồng tư tưởng cấp tiến Đặc biệt, nổi lên là sự du nhập và tiếp nhận những trào lưu tư tưởng phương Tây hiện đại, trong đó lối sống thực dụng được biết đến như một lối sống hiện đại và thời thượng Lối sống này bắt đầu bám rễ, len lỏi vào từng ngõ ngách nhỏ trong đời sống con người hiện đại Nhất là thanh niên, tầng lớp rất dễ đón nhận và tiếp thu nhanh chóng những cái mới và lạ

Đất nước dân tộc ta trong tương lai có phồn thịnh hay không, cần phải nhắc đến thế hệ trẻ, thanh niên ngày hôm nay Thanh niên hiện đại không những cần khỏe về thể chất mà còn cần khỏe về tinh thần, về trí lực Điều không thể phủ nhận là bên cạnh những tấm gương thanh niên làm rạng danh Tổ quốc, lại

có một bộ phận không nhỏ thanh niên sống vất vưởng với lối sống xa hoa, đồi trụy Trong thời đại ngày nay, các quốc gia đã nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển đất nước Đảng ta cũng đã

Trang 8

khẳng định nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với

sự phát triển bền vững của xã hội

Lối sống là nền tảng văn hóa để thanh niên có thể phát huy được vai trò chủ thể tích cực của mình trong cuộc sống Song thế giới đang diễn ra những biến động to lớn, những tác động nhiều chiều của xu thế toàn cầu hóa Quá trình giao lưu văn hóa thời kỳ hiện đại đang đặt thanh niên trước những đòi hỏi, thách thức mới Đặc biệt, do tác động mặt trái của kinh tế thị trường, lối sống của thanh niên có nhiều biểu hiện tiêu cực Vì vậy, việc xây dựng lối sống văn hóa lành mạnh trong thanh niên chính là góp phần chăm lo tới tiềm lực phát triển lâu bền của cả dân tộc Tuy nhiên, khi đất nước bước vào thời

kỳ hội nhập, bên cạnh những tác động tích cực to lớn cũng đã bộc lộ mặt trái của nó, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của thanh niên Chẳng hạn, lối sống gấp, kích động bạo lực, sống thử trước hôn nhân, quay lưng với văn hóa truyền thống của dân tộc…đang là vấn đề nổi cộm trong lối sống của thanh niên hiện nay Do đó, định hướng giá trị và xây dựng lối sống văn hóa cho thanh niên đặc biệt quan trọng và cần thiết, không chỉ giúp cho thế hệ này phát triển toàn diện, xứng đáng là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu mà còn giúp cho họ không lãng quên quá khứ của dân tộc, kính trọng những thế hệ đã hy sinh xương máu vì nền độc lập, tự do của tổ quốc

Trong tình hình đó, nghiên cứu về thanh niên nói chung và về lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay nói riêng, nhất là vềcác xu hướng biến đổi chủ yếu của lối sống thanh niên là một việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách, xét trên cả phương diện khoa học và thực tiễn Chính vì lẽ đó, tác giả đã mạnh dạn

chọn đề tài “Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Thực dụng đối với lối sống của thế

hệ trẻ Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình

Trang 9

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chủ nghĩa thực dụng là trào lưu triết học phương Tây hiện đại (phổ biến

ở Mỹ), đánh dấu bước ngoặt trong hệ tư tưởng tư sản trong thời đại chủ nghĩa

đế quốc

Nghiên cứu về chủ nghĩa thực dụng từ trước đến nay có rất nhiều tác phẩm, nhiều tác giả Hầu như trong tất cả các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa thực dụng và triết học phương Tây hiện đại nói chung đều khẳng định: Hạt nhân nền tảng của chủ nghĩa thực dụng là hiệu quả, là mục tiêu hữu dụng,

Những nghiên cứu đánh giá về chủ nghĩa thực dụng:

Morris Cornforth trong “Để bảo vệ triết học”, nhà xuất bản Ngoại văn Matxcova (1951) cho rằng: “Chủ nghĩa thực dụng là một trong những trào

lưu tư tưởng thực chứng đặc biệt của Mỹ, là triết học điển hình của Mỹ”

Sidney Hook– một trong những đại diện của phái thực dụng thừa nhận

sự giống nhau giữa chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hiện sinh đã đề xuất

nhiều vấn đề về chủ nghĩa thực dụng như sau: “Đó không phải là chủ nghĩa

sinh tồn lãng mạn, mà là triết học của đời sống có căn cứ khoa học” (Journal

of Philosophy – 1953)

Giáo trình lịch sử triết học về chủ nghĩa thực dụng, xuất bản năm 1950 ở

Mỹ nói rằng: “Nhiệm vụ chung của chủ nghĩa thực dụng là cải tạo triết học

Trang 10

và những phương pháp của triết học để phục vụ tất cả những cái gì có ích cho cuộc sống của chúng ta” “Chủ nghĩa thực dụng thực tiễn, dân chủ cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chan chứa hi vọng thật là thích hợp với tình hình của người

Mỹ hạng trung… không lấy làm lạ rằng: Mặc dù rất nhiều nhà triết học đáng

sợ chửi bới và trách móc rất nhiều, chủ nghĩa thực dụng vẫn đạt tới chỗ trở thành triết học chính thức của châu Mỹ” (Commager H S, The American Mind, 1950)

Tất cả những tư tưởng đề cao chủ nghĩa thực dụng như trên có phần đúng nhưng cũng có sự thái quá

Trong cuốn “Phê phán chủ nghĩa thực dụng” của K Manvin, NXB Sự

thật, 1959, tác giả đã cho rằng: Chủ nghĩa thực dụng là triết học của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Chủ nghĩa thực dụng là một hình thức của chủ nghĩa duy tâm phản động nhất trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và thịnh hành ở Mỹ Khoác một bộ áo khoa học giả tạo mập mờ đưa ra những luận điểm mị dân,

nó là vũ khí đấu tranh tư tưởng quan trọng nhất mà giai cấp tư sản đế quốc

Mỹ để chống chủ nghĩa duy vật, chống lí luận khoa học về xã hội Là thứ triết học mà các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản dùng để đầu độc ý thức giai cấp vô sản, gieo rắc tinh thần thỏa hiệp và hợp tác giai cấp của giai cấp vô sản Đồng thời nó dùng để bào chữa che chở cho những hành động bạo lực, những âm mưu xâm lược của bọn đế quốc hiếu chiến, che giấu sự độc tài của chúng với quần chúng nhân dân…

Lênin trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

phán” (1908) đã vạch rõ đặc điểm của chủ nghĩa thực dụng là nhấn mạnh và

đề cao quá mức kinh nghiệm cá nhân… Xét theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì sự khác nhau giữa chủ nghĩa Makhơ và chủ nghĩa thực dụng cũng không đáng kể và thứ yếu chẳng khác gì sự khác nhau giữa chủ nghĩa kinh

Trang 11

nghiệm phê phán và chủ nghĩa kinh nghiệm nhất ngôn luận” (V.I Lênin toàn

Trong tác phẩm “Triết học Mỹ” của Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến

Dũng, tác giả đã trình bày lịch sử hình thành các tư tưởng, trường phái triết học Mỹ gắn liền với hoàn cảnh lịch sử hình thành, phát triển của đất nước, con người, xã hội Mỹ, không phân tích sâu nhưng cơ bản của mỗi trường phái, nhấn mạnh sự sôi động của giới học thuật Mỹ từ khi tư tưởng thực dụng

ra đời những năm 70 của thế kỉ XIX với ba bộ óc bách khoa của nó là C Peirce, W Jame, J Dewey

Nhìn chung tất cả những quan niệm, quan điểm của các tác giả trên chưa nhìn nhận chủ nghĩa thực dụng một cách biện chứng, thậm chí còn phiến diện- hoặc đề cao quá mức chủ nghĩa thực dụng hoặc chỉ nhìn thấy mặt hạn chế, không thấy ý nghĩa tích cực của nó, phủ định sạch trơn những giá trị tư tưởng của nó Việc đánh giá chủ nghĩa thực dụng như vậy là thiếu quan điểm khách quan, quan điểm lịch sử cụ thể

Trong bài viết:“ Chủ nghĩa thực dụng Mỹ qua một số đại biểu của nó”

của Nguyễn Hào Hải – nghiên cứu viên Viện Triết học (Tạp chí triết học số 4, 1997) đã đề cập tới một số nhà triết học thực dụng ở nước Mỹ như: C.Pierce với lí thuyết về lòng tin; James với học thuyết về chân lí; John Deway với thuyết công cụ Tác giả Nguyễn Hào Hải chỉ ra rằng: chủ nghĩa thực dụng chiếm vị trí quan trọng nhất trong 7 trào lưu triết học của nước Mỹ tính đến sau đại chiến thế giới lần thứ hai Chủ nghĩa thực dụng ảnh hưởng mạnh mẽ

Trang 12

sâu rộng trong mọi tầng lớp xã hội Mỹ, không chỉ được coi trọng ở Mỹ nó

còn được tiếp nhận một cách nồng nhiệt ở châu Âu hiện đại

Tác giả đưa ra nguồn gốc ý tưởng về lí thuyết thực dụng là do Charles Pierce và Wiliam James và một số nhà triết học khoa học khác khởi xướng Dựa trên lợi ích để bàn về chân lí là một trong những nội dung quan trọng

nhất của thuyết thực dụng mà các triết gia Mỹ hiện đại chủ trương

Trong bài viết: “Về thuyết xây dựng lại của giáo dục học thực dụng mới

và âm mưu xâm nhập văn hóa của Hoa Kì” của Trần Quốc Dương (Nghiên

cứu giáo dục số 6/1981) đã đề cập đến sự phát sinh phát triển của triết học giáo dục thực dụng mới, sự cải biên học thuyết của Dewey và những mục

đích của triết học giáo dục thực dụng mới

Đỗ Thị Bình với: “Giáo dục học thực dụng” đăng trên tạp chí luận khoa

học giáo dục- nghiên cứu giáo dục số 122,( 1985) đã đưa ra cái nhìn tích cực

về giáo dục học thực dụng của John Dewey Tư tưởng giáo dục của Dewey có ảnh hưởng lớn đến các trường học ở Italia, Anh, Nhật, Thụy Điển và các nước

tư bản khác…

Nhìn chung, những bài viết của các tác giả trên mới chỉ đi vào một khía cạnh của chủ nghĩa thực dụng ở một nước cá biệt, chưa làm nổi bật toàn diện các khía cạnh của chủ nghĩa thực dụng một cách tổng thể có hệ thống

Chủ nghĩa thực dụng cũng có những mặt tích cực và tiêu cực, nhìn nhận vấn đề này, chúng ta phải có cái nhìn biện chứng, xét xét những ưu điểm và hạn chế của trào lưu tư tưởng này Đặc biệt, khi nó xâm nhập vào Việt Nam,

có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của con người mà nhất là thế hệ trẻ Chủ nghĩa thực dụng tác động đến cách suy nghĩ, đến hành động, đến lối sống, đến tình yêu của giới trẻ Những tác động của tư tưởng thực dụng là tốt hay xấu, đặc biệt là tư tưởng đạo đức

Trang 13

Mai Phú Hợp, luận văn thạc sĩ “Chủ nghĩa Thực dụng và ảnh hưởng của

nó đến đời sống xã hội”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Thành phố Hồ Chí Minh, 2007

Trong đề tài này, tác giả đã đi sâu vào phân tích những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đối với xã hội Mỹ

Phạm Thị Kiên, luận văn thạc sĩ “ Tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa

Thực dụng”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ

Chí Minh, 2011 Ở đề tài này tác giả chỉ chuyên tâm phân tích tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa thực dụng và những ảnh hưởng của nó đền nền giáo dục ở Việt nam Từ đó đưa ra những đánh giá và giải pháp cho vấn đề trên

Mai Thị Thùy Chang, luận văn thạc sĩ “Triết học thực dụng của William

Jame”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí

Minh, 2012 Tác giả đưa ra những luận chứng, phân tích những nội dung và đặc điểm của triết học thực dụng của W Jame, bám sát vào những tác phẩm nguyên bản của ông Trong luận văn này sử dụng rất nhiều tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh, đưa ra những đánh giá mới về triết học thực dụng của W Jame

Hầu hết những công trình nghiên cứu đã nêu trên thường trình bày các tư tưởng, trường phái triết học thực dụng một cách khái quát, không đi sâu vào phân tích hoặc đi sâu vào phân tích một tác giả hay một tư tưởng nổi bật của chủ nghĩa thực dụng

Những nghiên cứu đến nội dung, đặc điểm của lối sống và những giải pháp xây dựng lối sống cho thanh niên trong giai đoạn đổi mới đất nước

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước làm nảy sinh nhiều vấn đề trong

xã hội mới, vấn đề đạo đức vì thế cũng phải được nghiên cứu trong điều kiện kinh tế thị trường với những tác động đa chiều, đan xen của nó Đáp ứng yêu cầu này, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu, đề

Trang 14

cập tới sự tác động của nền kinh tế thị trường với đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc:

GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn và PGS,TS Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ

biên) công trình: “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu

hóa”, gồm các bài viết đề cập đến giá trị truyền thống Việt Nam và những

vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa Trong đó, các tác giả nêu lên thực trạng các giá trị truyền thống nói chung và giá trị truyền thống Việt Nam nói riêng trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, và những giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức toàn cầu hóa Cùng với những vấn đề này còn có những công trình như “Giá trị truyền thống Việt

Nam trước tháchthức của toàn cầu hóa” của GS,TS Đỗ Huy Và bài viết “Hội

nhập quốc tế:Cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay”của GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn

Các nhà khoa học đã nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình có giá

trị lý luận và thực tiễn cao Nguyễn Khắc Vinh với bài viết “Xây dựng đạo

đức lối sống và chuẩn giá trị xã hội để phát triển toàn diện con người” Đó là

luận án tiến sỹ triết học của Trần Sỹ Phán với đề tài: “Giáo dục đạo đức với

sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”;“Lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”của Đoàn Văn Khiêm. Tác giả Võ Văn Thắng

có đưa ra một số giải pháp trong xây dựng lối sống hiện nay, thông qua việc nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò của giá trị văn hóa truyền thống

với bài viết “Nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò của giátrị văn hóa

truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống hiện nay”

Tác giả với những tìm hiểu và nghiên cứu của mình cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô với mong muốn sẽ khái quát được những tư

Trang 15

tưởng chủ đạo của chủ nghĩa thực dụng, chủ yếu là chủ nghĩa thực dụng của

Mỹ qua các đại diện tiêu biểu Qua đó, đi sâu vào phân tích những tác động của chủ nghĩa thực dụng đối với lối sống của thế hệ trẻ Việt nam, những người chủ tương lai của đất nước nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện lối sống của giới trẻ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn

Làm rõ những nội dung cơ bản của chủ nghĩa thực dụng và ảnh hưởng của nó đến việc lựa chọn các giá trị sống của thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay.Từ đó đưa ra những giải pháp để định hướng cho thế hệ trẻ trong việc xây dựng, hoàn thiện lối sống lành mạnh

Nhiệm vụ của luận văn

Một là, phân tích quá trình hình thành và phát triển và nội dung cơ bản của chủ nghĩa thực dụng

Hai là, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của tư tưởng thực dụng trong lối sống của giới trẻ Việt Nam trong bối cảnh đổi mới đất nước hiện nay

Ba là, đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam trong điều kiện hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng:luận văn nghiên cứu những nội dung cơ bản chủ nghĩa thực

dụng và ảnh hưởng của nó đến lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

Phạm vi: nghiên cứu chủ yếu là thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống thế giới quan , phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối cũng như những chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đạo đức trong thời kỳ đổi mới

Trang 16

Luận văn chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so sánh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, đề tài có giá trị trong việc nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại.Qua lý luận của chủ nghĩa thực dụng và tác động của nó, đề tài rút ra phương pháp luận đúng đắn để xây dựng giá trị chuẩn đạo đức, hành động cho thế hệ trẻ Việt nam nói chung

Về mặt thực tiễn, góp phần định hướng cho thế hệ trẻ trong việc lựa chọn lý tưởng, mục đích sống, giúp các bạn có hướng đi đúng đắn nhất phù hợp hoàn cảnh của đất nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 17

Chương 1 CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG VÀ NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM

CỦA LỐI SỐNG

1.1 CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG

1.1.1 Điều kiện hình thành và quá trình phát triển chủ nghĩa thực dụng

Những điều kiện hình thành chủ nghĩa thực dụng

Nước Mỹ chiếm phần trung tâm của lục địa Bắc Mỹ, phía Bắc tiếp giáp với Canada chủ yếu dọc theo vĩ tuyến 490 Bắc, và phía Nam với Mê hi cô, chủ yếu dọc theo vĩ tuyến 320 Bắc Biên giới giữa Mỹ với hai nước này vì vậy

có một phần lớn theo quy ước: Mỹ và Canada chung nhau sử dụng 4 hồ lớn

Ở phía Nam, sông Ri ô ran đê phân biệt lãnh thổ Mỹ với lãnh thổ của Mê hi

cô Hai phía Tây và Đông của Mỹ là hai đại dương lớn nhất trên trái đất: Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nối liền nhau bởi kênh đào Panama

Hai đại dương đã góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế

Mỹ Đường vượt biển Thái Bình Dương nối Mỹ với viễn đông, dài trung bình 8.500km; và Đại Tây Dương với 6.500km, ngăn cách Mỹ với Châu Âu Và chúng rất thuận lợi để xây dựng các hải cảng tốt Cho tới cuối nửa đầu thế kỉ

XX, phương tiện giao thông chỉ dựa hoàn toàn vào động cơ nổ, Châu mỹ cách biệt với cựu thế giới, các nước tư bản lớn ở Châu Âu và Châu Á, thế nên bên ngoài không dễ để tấn công Mỹ và cũng khó để cạnh tranh với Mỹ Do đó, công việc của Châu Mỹ phần nhiều do Mỹ làm trọng tài, và lợi dụng sự kế cận với Mỹ latinh và cả với Canada, Mỹ đã đánh bại các địch thủ lợi hại nhất trên thị trường châu Mỹ như Anh, Pháp, Đức…

Về diện tích, Mỹ là một vùng đất rộng lớn (gấp khoảng 20 lần diện tích đất tự nhiên của Việt Nam) Với 9.629.091 km2 , Mỹ trở thành quốc gia có

Trang 18

diện tích lớn thứ ba trên thế giới sau Nga và Canada Hiệu quả khai thác đất của Mỹ gần như đứng đầu thế giới, chỉ sau Trung Quốc, vì nếu như Nga và Canada có tới 2/3 diện tích nước đóng băng thì Mỹ chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều

Với vị trí địa lý như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế Mỹ hình thành và phát triển nhanh chóng, trở thành một cường quốc thế giới sau thế chiến thứ hai Nửa sau thế kỉ XIX, Mỹ có sẵn ngay một thị trường tiêu thị lớn, một thế giới lớn cung cấp rất nhiều tài nguyên cần thiết để mở mang nền kinh tế

Những năm 1865 – 1913, kinh tế Mỹ bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt Cách mạng công nghiệp Mỹ phát triển cực nhanh so với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước khác, kể từ sau cuộc nội chiến (1861 – 1865) với sự gia tăng đáng chú ý về số lượng, chất lượng Tăng trưởng tốc độ bình quân 7%/năm, sản xuất công nông nghiệp tăng 13 lần, công nghiệp luyện kim tăng 20 lần, nông nghiệp xóa bỏ chế độ đồn điền chiếm hữu nô lệ thành nền nông nghiệp trang trại qui mô lớn, thành kiểu mẫu trên thế giới Tốc độ kim ngạch ngoại thương tăng 24 lần, xuất khẩu tư bản tăng hơn 5 lần, chủ yếu ở thị trường Mỹ latinh

Hệ thống đường sắt mở rộng chưa từng có, bình quân vài chục nghìn km mỗi năm, từ một nước phụ thuộc Châu Âu, Mỹ nhanh chóng trở thành quốc gia công nông nghiệp hàng đầu thế giới Sự bùng nổ các phát minh và sáng chế gây ra những biến đổi sâu sắc Dầu mỏ được khám phá ở phía Tây Pennsylvania Máy chữ được phát triển Toa xe lửa có máy lạnh được sử dụng Điện thoại, máy hát và đèn điện được phát minh Tới đầu thế kỉ XX, ô

tô thay thế cho xe kéo và con người có thể bay bằng máy bay Mỹ tiếp tục thu hút nguốn vốn sức lao động và kỹ thuật từ Châu Âu chuyển sang

Trang 19

Nguyên nhân của những thành công này xuất phát từ cuộc nội chiến Mỹ với việc thủ tiêu chế độ đồn điền miền Nam được xem là nhân tố quyết định cho sự phát triển cuộc nội chiến thực chất giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất phong kiến đang tồn tại, kết thúc bằng sự thắng lợi của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Nó mở đường cho trang trại kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa phát triển Quyền lực chính trị tập trung trong tay giai cấp tư sản và chính sách kinh tế giúp nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển

Nói chung, sau nội chiến, Mỹ đã tạo được cơ sở kinh tế vững chắc toàn liên bang Trong khoảng thời gian đó, Mỹ đã có những bước tiến vượt bậc về khoa học kĩ thuật; hàng loạt các phát minh khoa học xã hội và tự nhiên, thành tựu của cách mạng công nghiệp được áp dụng tạo nên những đột phá lớn trong học thuật và sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, người Mỹ càng củng cố nền tảng xã hội của mình bằng cách chú tâm vào lĩnh vực đào tạo nghiên cứu

Có thể nói điều kiện tự nhiên rộng lớn, nhiều tài nguyên và khắc nghiệt trong giai đoạn đầu đã hun đúc nên tính tự lập, hòa đồng, cầu tiến của cư dân Mỹ khi mới nhập cư, cũng như che chở cho nước Mỹ khỏi các cuộc tấn công từ bên ngoài Cuộc nội chiến đưa đến thống nhất đất nước thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh chóng, những cuộc đấu tranh công nhân để khẳng định quyền tự chủ… tất cả điều đó đã tạo tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của các nhà thực dụng Mỹ như C Peire, W Jame, J.Dewey…

Thực chất của những cuộc di dân đến nước Mỹ “được thúc đẩy bởi những ước mơ gồm hai mặt: Cuộc săn đuổi, đi tìm vàng và ý muốn truyền đạo cho những “kẻ man rợ” và tìm nơi ẩn náu cho tự do tôn giáo”[5,8-9] Thành phần di dân đến nước Mỹ vô cùng đa dạng và phong phú Sự có mặt của họ đã làm trù phú dân số nước Mỹ

Trang 20

Nước Mỹ rộng lớn, dân cư ồ ạt nhưng không phải là sự tồn tại ô hợp Ngay từ đầu, những người nhập cư quy tụ với nhau thành những khu vực riêng Họ sống với nhau theo từng dân tộc, hoặc theo một sự tương đồng nào đó: Vì lý do tôn giáo, người Anh theo đạo Thiên chúa quân quần xung quanh linh mục để làm thánh lễ; vì lý do tiện lợi, người Mexico ở phía Nam Califonia; ví lý do nghề nghiêp, người Đức ở miền Trung – Tây, người Hà Lan ở Michigan…Vài tộc người chuyên làm nghề: người Đức và Hà lan trồng hoa, người Bắc Âu sản xuất sữa, người Pháp và Italia làm thờ giày…

Lịch sử phát triển nước Mỹ là lịch sử của một đất nước có tính đặc thù Chỉ mất mấy trăm năm để nó vượt qua quá trình mấy ngàn năm mà các nước Châu Âu đã đi qua Những người khai hoang từ các nước Châu Âu đã mang theo chế độ xã hội và quan hệ sản xuất tiên tiến đến nước Mỹ, làm cho nước

Mỹ từ xã hội dân tộc nguyên thủy, không trải qua xã hội nô lệ và xã hội phong kiến, chỉ trải qua một thời khắc thuộc địa ngắn ngủi để tiến lên xã hội

Ở Mỹ có một khái niệm văn hóa đã thành văn: “Nồi hầm nhừ”(Melting pot) là người Mỹ ai cũng hiểu điều này Đó là, tất cả mọi thứ đều được cho

Trang 21

vào “nồi” để nấu cho nhuần nhuyễn, hoặc có thể hiểu nó “là một nơi, một tình hình trong đó những con người, những nền văn hóa và tư tưởng các loại trà trộn với nhau” Ai xứng danh là người Mỹ thì người đó phải hấp thu một cách tất yếu những giá trị văn hóa khác nhau, và sự hấp thụ của họ góp phần hình thành nên phong cách kiểu Mỹ

“Nồi hầm nhừ” đối với người Mỹ là một huyền thoại Nó khảm sâu vào tâm trí người Mỹ một ước mơ, một hoài vọng được rũ bỏ sự “rác rưởi” để rồi khoác lên mình ánh hào quang của sự giàu có Tuy nhiên, đây cũng chỉ là ước vọng mang tính lý tưởng hóa đôi khi dùng để cổ vũ hoặc tuyên truyền, vì thực

tế người Mỹ sống đối diện với nhau hơn là kề vai sát cánh Ở Mỹ, tinh thần dân chủ, công bằng của người da trắng ưu trội (người Anglo sacxon) chỉ như một tấm màn che mỏng manh mà nhìn từ xa người ta tưởng là trong trắng và tinh khiết, nhưng sau động thái “vén màn” người ta ngỡ ngàng vì biết người

da đỏ bị diệt chủng, người da đen bị nô lệ hóa, và từ đó “Nồi hầm nhừ” chỉ còn như “một cái bẫy giương giương để đánh lừa chú chim non” (theo cách nói của Fichou) Điều đó khiến “Nồi hầm nhừ” ngày nay ở Mỹ luôn âm ỉ nhiệt độ nóng bỏng và gây ra nhiều vết rạn nứt, làm cho tinh thần gắn kết truyền thống của người Mỹ ngày càng loãng ra

Thiết chế của một nền dân chủ, tự do là chất xúc tác để hình thành nên

cá tính dân tộc Mỹ, được biểu trưng bằng những cá nhân con người Mỗi người Mỹ đều tự khẳng định rằng: Dù trong xã hội tôi làm nghề gì, giàu hay nghèo, đã có những hành động gì,… thì chính tôi tự tạo ra bản sắc của tôi Và

vì vậy, mỗi người Mỹ không chịu nhờ vả ai, họ đi lên bằng chính đôi chân của mình bởi họ quan niệm rằng: “Vận mệnh không ai trao cho mình bằng chính mình tạo ra” Nghĩ như vậy, họ chấp nhận hứng trải cuộc sống trong niềm tin, sự lạc quan về một kết cục tốt đẹp

Trang 22

Một phương châm bất thành văn của người Mỹ là phải tự mình làm nên chính mình, “thân lập thân” (self made man) Chính tư tưởng này là tiền đề hình thành chủ nghĩa vị kỷ cá nhân của giai cấp tư sản Người Mỹ không quan tâm đến các thiết chế của nhà nước quân chủ, hay những giáo lý của Giáo hội vượt lên trên cá nhân, kiểm soát tự do của cá nhân Người Mỹ rất “dị ứng” với những rào cản ý chí Tất nhiên “không tồn tại một miễn dịch hoàn toàn”,

vì vậy người Mỹ lao vào vòng xoáy và đấu tranh, theo đuổi lợi ích, chạy theo hiệu quả và lợi ích cho chính mình Với tôn chỉ rõ ràng, người Mỹ coi giao tiếp là phương tiện đưa con người đạt tới lợi ích thiết thân của mỗi cá nhân Quan hệ của con người với con người và kể cả sự tương giao của con người với Thiên Chúa chỉ là một sự “giao kèo” mang tính lợi ích

Ngay từ đầu, những cư dân xây dựng nước Mỹ đã xác định được phương hướng sinh tồn cho mình Trước mắt để có thể “tồn tại” họ phải “ rũ bỏ” lại đằng sau ý thức hệ phong kiến Châu Âu Đối với họ đó là truyền thống không còn phù hợp với không gian sinh sống mới Những luân lý trong quan hệ mà phong kiến Châu Âu tạo ra đã trở thành một món ăn tinh thần tẻ nhạt, cần phải được thay thế Ý thức hệ được xây dựng một cách hào hứng, cả cộng đồng người Mỹ mới đồng tình xây dựng một phong thái tinh thần mà trong

đó, họ cảm nhận được sức sống mạnh mẽ, đủ lực để làm biến mất trạng thái sống cầu kì, cũ kỹ của văn hóa truyền thống Châu Âu

Cũng ngay từ đầu, những cơ sở để tồn tại và phát triển đã đưa người Mỹ đến tư duy hiệu quả Mọi hành động đều ra một hiệu quả nào đó, và đối với những con người đã khai sông mở núi của nước Mỹ thì đó chính là hiệu quả

có thê giúp ích cho sự tồn tại của họ Thực tại đã chỉ dẫn người Mỹ tìm đến hiệu quả Với người Mỹ, cái gì có tác dụng thì cái đó là chân lý, chân lý là hiệu quả, là hữu dụng, hiệu quả là đáp ứng được một nhu cầu nào đó của cá nhân Vì vậy, càng nhiều chân lý càng tốt, chân lý không chỉ có một mà có

Trang 23

nhiều Để đạt được hiệu quả, mỗi người Mỹ phải lao phóng mình vào thực tiễn một cách dũng cảm, quyết đoán, dám đối diện với thách thức để vượt qua Mọi hành động của họ phải luôn xác định rõ mục tiêu, và mục đích cuối cùng là hiệu quả Hiệu quả chính là thước đo giá trị hành động

Trong văn hóa Mỹ, yếu tố tôn giáo chiếm giữ một vị trí quan trọng, vì vậy, “Chúa” có vai trò hết sức to lớn trong đời sống tinh thần của một bộ phận không nhỏ người Mỹ

Trong đời sống thường nhật, người Mỹ không thích “rào trước đón sau”,

họ thích nói thẳng, nói thật Thẳng thắn tranh luận về bất đồng, khinh chê sự hèn nhát

Trong giao tiếp, người Mỹ không chấp nhận dung hòa, không chấp nhận hòa hợp một cách “gượng ép” Đây không phải là thô lỗ mà là một sự cẩn trọng có suy tính, vì người Mỹ không thích bị hiểu lầm trong những giao tiếp

về sau

Ở Mỹ, yếu tố cá nhân luôn được đề cao hơn cả, người Mỹ luôn chống lại quan điểm “tất cả mọi người đều giống nhau” Họ nêu khẩu hiệu: “Hãy là chính mình” và “không có lý do gì phải thay đổi cách ứng xử để hợp với số đông”, “Nếu muốn một việc gì đó được thực hiện tốt, phải tự tay mình làm lấy” hoặc “về lâu về dài, người duy nhất mà bạn có thể tin cậy, đó là chính mình”

Nước Mỹ với những yếu tố tự nhiên cùng sự chuyển biến xã hội từ khi hình thành cho đến khi nó đi vào quỹ đạo phát triển là cơ sở hình thành nên chủ nghĩa thực dụng Chủ nghĩa thực dụng từ khi ra đời đã cùng “vào sinh ra tử” với vận mệnh của nước Mỹ Nhờ nó mà người Mỹ xác định được hướng nhân sinh phù hợp để hành động có hiệu quả Hiệu quả đó làm cho nước Mỹ trở thành một cường quốc

Trang 24

Quá trình phát triển của Chủ nghĩa thực dụng

Xu hướng nổi trội của người Mỹ (kể cả phương Tây) là thực chứng.Vì thế, những lý thuyết được tin dùng nhất phải là những lý thuyết được kiểm nghiệm bằng chính sự cảm nhận của mỗi cá nhân Giá trị cá nhân với người

Mỹ được xếp hàng đầu trong dòng nhân sinh - xã hội Chủ nghĩa thực dụng

là một loại thực chứng vì chủ trương ban đầu phải là miêu tả cho được sự thật kinh nghiệm, có mục tiêu giành lấy hiệu quả thực tế Và như vậy, chủ nghĩa thực dụng kế thừa gần trọn vẹn chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa hiện tượng của D Hume, coi căn cứ khoa học tự nhiên thực nghiệm là cơ sở

lý luận của triết học, lãng tránh vấn đề cơ bản của triết học, mang tham vọng cải tạo lại triết học truyền thống

Nếu triết học là tinh thần của thời đại thì chủ nghĩa thực dụng chính là sự thể hiện tập trung tinh thần của nước Mỹ Đối với nước Mỹ, chủ nghĩa thực dụng là một loại “đặc sản tinh thần” Vì vậy, “nếu nói có một loại triết học nào trên thế giới bắt nhịp chặt chẽ nhất với mạch đập của thời đại, trước hết cần nêu lên triết học chủ nghĩa thực dụng của nước Mỹ Chủ nghĩa thực dụng

Mỹ là linh hồn của tinh thần Mỹ được nẩy sinh theo tiếng gọi của thời đại

Mỹ, có chung số phận với sự phát triển của xã hội Mỹ, trở thành triết học nhân sinh của người Mỹ”1

Chủ nghĩa thực dụng là biến thể của một nền triết học mới Đây là một thực tế có căn cứ khách quan, khoa học bởi vì chính sự phát triển vượt bậc để trở thành cường quốc kinh tế của nước Mỹ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa thực dụng và chính học thuyết này đã tạo nên sức mạnh tiềm ẩn ẩn chứa trong xã hội, làm

cơ sở cho đời sống tinh thần, dung hợp được với ý chí “vươn vượt” của người Mỹ

Trang 25

Chủ nghĩa thực dụng xuất hiện ở quốc gia mà ở đó, tự do được xem

là biểu tượng William James đã ví chủ nghĩa thực dụng như ánh hào quang mới trong triết học: “thật giống như tia chớp trong đêm tối mù mịt vậy Nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa thực dụng là từ "câu lạc bộ siêu hình" của trường Đại học Harvard (1871) Theo C.S Pierce, câu lạc bộ này

có tên gọi như vậy là “để tránh xa mọi người mà nó cần tránh xa”, nhưng thực chất nó nhằm diễn tả hai vấn trọng tâm và có tính thời sự:

Thứ nhất, ông khẳng định, thành luỹ chủ nghĩa duy tâm khách quan của Heghen một thời thống trị trong triết học thì nay đã hết vai trò lịch sử và đã đến lúc phải lui vào hậu trường, nhường lại sân khấu cho “sự diễn xuất hợp thời thượng”

Thứ hai, thuật ngữ có tên gọi “siêu hình học” trước đây có lúc bị khinh miệt và phỉ báng nhưng nay người ta phải thoả hiệp và chấp nhận nó Vì vậy, danh từ “siêu hình học” vào thời khắc đó được người ta cắt nghĩa làm hai rằng: “một nửa trào lộng và một nửa xấc xược”

Những thành viên đầu tiên xây dựng “câu lạc bộ siêu hình” gồm có nhà

sử học J Fiske, Luật sư O W Holmes, thẩm phán J Warrner, nhà luật học N.J Green, mục sư Aponte, nhà tâm lý học Wright cùng C.S Pierce và W James Những người này nhóm họp lại với nhau một tháng hai lần và tranh luận về tất cả những vấn đề mà họ thích, đặc biệt là những vấn đề sát thực cuộc sống

Chủ nghĩa thực dụng chính thức trở thành học thuyết khi C.S.Pierce đưa

ra tiểu luận: “Làm thế nào để tư tưởng của ta sáng sủa” và một bài viết “Sự xác định của tín người” đăng trên Nguyệt san khoa học ph ổ thông - 1878 Đây chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho tư tưởng thực dụng

Mỹ Có thể dễ dàng nhận thấy W Jameslà người đầu tiên quan niệm chủ nghĩa thực dụng như là một hệ thống triết học mới phù hợp với lối sống và

Trang 26

tình cảm của người Mỹ Trong bài “Khái niệm triết học và hiệu quả thực tế” ông đã trình bày về chủ nghĩa thực dụng, và thừa nhận, chính C.S Pierce là người phát minh ra chủ nghĩa thực dụng, còn ông chỉ là người làm sáng tỏ công lao củaC.S.Pierce Tên gọi như thế, theo C.S Pierce không phù hợp và ông đổi thành “chủ nghĩa thực hiệu” để phân biệt với “chủ nghĩa thực dụng” của W Jame

Không chỉ C.S Pierce và W James bất đồng với nhau mà bản thân các nhà thực dụng trong quá trình xây dựng triết thuyết không thống nhất được với nhau về tên gọi Vì thế, W.J ames thì gọi là “chủ nghĩa đa nguyên”, Schiller thì gọi là “chủ nghĩa nhân đạo”, Seamen thì gọi là “chủ nghĩa triển vọng”, còn J Dewey thì gọi là “chủ nghĩa công cụ” Nhưng dù thế nào thì đó cũng chỉ là cách thuật lại của từng người mà thôi, bởi vì C.S.Pierce được xác định là người khởi sự cho một sự phát triển Chính ông đã sáng lập ra chủ nghĩa thực dụng Công lao lớn nhất của C.S.Pierce là hệ thống hoá các phương pháp và khái quá hoá về lý luận được nêu lên trong “câu lạc bộ siêu hình” Chủ nghĩa thực dụng, về thực chất chịu ảnh hưởng của các tư tưởng triết học trước đó như: Socrat, J.Locker, Bercly, D.Hume, Kant, Holbach và

kể cả Nietzsche, trong đó có cả những tư tưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ duy danh, chủ nghĩa vị lợi, chủ nghĩa thực chứng

Về mặt thuật ngữ: chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) có căn cứ trong từ “Pragma” (Hy Lạp) mang hàm nghĩa “thực tiễn”, “hành động” Trong khi đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, và hành động là nguyên nhân dẫn tới hậu quả Chủ nghĩa thực dụng đã nhạy bén nắm lấy căn cứ này làm mục tiêu Vì vậy, một số triết gia thực dụng đã lớn tiếng tuyên bố triết học của mình là “triết học thực tiễn”, “triết học hành động” hay là “triết học đời sống” Tuy nhiên, “hiện thực” mà chủ nghĩa thực dụng nói đến chỉ là hiện thực mà con người (chủ thể) đã trải qua, đã xử lý, đã cải tạo, và hoàn toàn

Trang 27

mang tính chủ quan Với chủ nghĩa thực dụng thì “niềm tin” được xác lập là nguyện vọng tha thiết của cá nhân, vì đó là điểm xuất phát của mọi diễn biến cuộc sống

“Hành động” hay “thực tiễn” là ý chí chủ quan thuần tuý của chủ thể Còn “hiệu quả” là một sự phù hợp của thực tế khách quan đối với lợi ích mà chủ thể hướng tới J.Dewey cho rằng, “ý nghĩa thực sự của vấn đề hành động của con người đó là hành động như thế nào cho có lợi cho cuộc sống của tôi, đạt được sự thành công do tôi đề ra” 2 Người đặt nền móng cho chủ nghĩa thực dụng chính là C.S.Pierce, người bảo tồn và phát huy, đưa nó lên tầm cao

là W.James, còn J.Dewey là “một hậu duệ làm xứng danh gia phong thực dụng”, làm cho cả thế giới biết đến chủ nghĩa thực dụng như là một học thuyết làm nền tảng cho đời sống tinh thần của nước Mỹ C.S.Pierce, W.James và J.Dewey được ví như Socrat, Plato và Arixtote trong triết học

Hy Lạp cổ đại Sự phát triển về sau của chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ đã được G.H Mead và C.I Lewis G.H Mead phát triển Với tư cách là người đứng đầu trường phái Chicago ở Mỹ, với lý thuyết về hành vi xã hội, G.H Mead đã

có đóng góp rất lớn về mặt lý luận cho chủ nghĩa thực dụng Còn C.I Lewis

là người có ý tưởng kết hợp chủ nghĩa thực dụng với chủ nghĩa thực chứng lôgíc

Ý tưởng xây dựng một triết học không quá suy lý xa vời như những triết học kinh viện để giúp con người dùng được một cách hữu hiệu trong đời sống hiện thực đã được bàn luận rất sôi nổi trong các cuộc hội thảo ở Câu lạc bộ

“Métaphysique Club” (Câu lạc bộ siêu hình học) của Trường Đại học Cambridge năm 1870 Nhưng chỉ mãi sau này với sự công bố học thuyết Về lòng tin của C.X Pierce thì những ý tưởng đó về triết học mới được đặt tên chính thức: “Pragmatisme” - chủ nghĩa thực dụng Sự ra đời của chủ nghĩa thực dụng đã như diều gặp gió ở nước Mỹ, phát triển nhanh chóng và mạnh

Trang 28

mẽ Ngay từ năm 1908 người ta đã tính được có tới 13 thuyết về chủ nghĩa thực dụng của các triết gia khác nhau Cho tới nay chủ nghĩa thực dụng đã được giới triết học thế giới đánh giá là một đóng góp rất độc đáo và thật sự quan trọng của triết học Mỹ vào kho tàng triết học của nhân loại và khi nói đến chủ nghĩa thực dụng người ta chỉ nói đến ba khuôn mặt tiêu biểu nhất là: C.X Pierce, W.James và J.Dewey

C.X Pierce với học thuyết về lòng tin: Theo C.X Pierce muốn có lòng tin phải xây dựng được một phương pháp tư duy sáng suốt, chính xác để nhận biết những tư tưởng, lý thuyết nào đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực trong việc tác động đến những hành động của chúng ta Theo ông tư tưởng nào thì tạo ra hành động ấy Nhưng tư tưởng giống nhau thì sẽ cho những kết quả giống nhau và ngược lại Và nội dung của bất cứ tư tưởng nào cũng là tổng số của những hậu quả thực tiễn Cho nên muốn đánh giá, muốn biết giá trị của một tư tưởng nào, một lý luận, học thuyết thì phải căn cứ vào những kết quả, những hậu quả đã được thể hiện kiểm nghiệm trong thực tiễn Chỉ có như vậy mới xác định được tư tưởng nào, lý luận, học thuyết nào ta sẽ đặt lòng tin vào

để dùng nó làm cơ sở, làm phương hướng cho hành động Có thể hiểu chủ nghĩa thực dụng mà C.X Pierce nêu lên cũng là một thứ chủ nghĩa thực tiễn Đây chính là một tư tưởng có tính chất phản kháng lại những chân lý mang tính chất suy lý, lý thuyết trường ốc, kinh viện từ châu Âu mang sang không thiết thực, đắc dụng với phần lớn người Mỹ, những người trong lịch sử đã rời

bỏ tổ quốc, đất mẹ vượt Đại Tây Dương đến lục địa trẻ này để lập nghiệp, để tìm sự thành công để đổi đời nên chỉ nhìn cuộc sống với những con mắt hiện thực, thực tiễn để hành động Những lý thuyết nêu trong chủ nghĩa thực dụng của C.X Pierce đã mang tính đột phá, mở đường

Có thể nói, chỉ đến khi W.James xuất hiện với Học thuyết về chân lý mới thực sự đưa chủ nghĩa thực dụng lên địa vị đỉnh cao, sự ưu thắng đối với

Trang 29

các trường phái triết học khác trong những thập niên đầu thế kỷ XX trong xã hội Mỹ Nếu như C.X Pierce lấy hậu quả thực tiễn làm cơ sở xác định ý nghĩa của một tư tưởng thì W.James lại lấy hậu quả “có ích” để xác định sự đúng, sai của những tư tưởng – tức là xác định giá trị của chúng W.James đã so sánh tư tưởng với việc phát hành giấy bạc Tư tưởng chừng nào còn có ích, thì còn lưu hành được, tư tưởng nào không còn giá trị ích lợi nữa sẽ cũng giống như giấy bạc khi bị xuống giá, mất giá, phá giá khó có thể tiếp tục trao đổi, lưu hành được thì phải thay giấy bạc khác, đổi đồng tiền khác Và ông đã đưa

ra một định nghĩa nổi tiếng về chân lý: “Chân lý là cái gì đem lại những hậu quả có ích”

Quan điểm này rất phù hợp với tinh thần, tính cách người Mỹ Người

Mỹ ghét tính bảo thủ và không thích chủ nghĩa sùng bái với mọi điều Rời bỏ châu Âu và các vùng đất khác đến Mỹ - được coi là “miền đất hứa”, mọi người đều hiểu rằng: ai ai cũng có cơ hội như nhau, nên mọi người chỉ có thể sống bằng những nghị lực, phẩm chất, năng lực của chính mình Muốn thành công ngoài nghị lực, sự lạc quan, lòng dũng cảm còn phải biết thích nghi, linh hoạt, uyển chuyển, nhanh nhạy, căn cứ vào hoàn cảnh, tình hình thực tế để hành động và mục tiêu tối hậu của hành động là tính hiệu quả, là đạt được những lợi ích hằng mong muốn

Khi đưa ra định nghĩa: chân lý là cái có ích, W.James nói rõ quan điểm của ông: Chân lý là những điều không phải trừu tượng, chung chung mà rất cụ thể: Chân lý cho ai? Vì vậy sẽ có chân lý của những cá nhân, những nhóm người, những tập đoàn, những giai cấp, những nhà nước, những tôn giáo… và chân lý sẽ được phân hạng tùy thuộc vào tính chất của lợi ích Tính chất lợi ích hạn hẹp cục bộ (chân lý thuộc hạng thấp) Tính chất lợi ích rộng rãi, bền vững, lâu dài (chân lý thuộc hạng cao) Tất cả những loại chân lý này đều hiện diện trong cuộc sống và chúng sẽ cọ sát, đấu tranh với nhau để khẳng

Trang 30

định mình Những chân lý nào thể hiện được tính thuyết phục, tính chắc chắn, đứng vững được sẽ là những chân lý được tin cậy Và cũng theo W.James, chân lý dựa vào tính lợi ích sẽ không bao giờ có những loại chân lý vĩnh cửu, chân lý đúng mãi mãi với hiện thực

Theo ông tất cả mọi nhiệm vụ triết lý của ta, nói cách khác phương pháp

tư duy của ta là làm thế nào tìm ra được sự khác biệt của hiện thực ở từng thời đại, thời điểm, hoàn cảnh, điều kiện khác nhau để đưa ra những lối nhìn, những cách đánh giá khác nhau về những lợi ích Vì vậy những chân lý không còn hợp thời, hợp thức thì phải loại bỏ hay chỉnh sửa để thay đổi phù hợp với hiện thực, với cách mạng, với tiến bộ và văn minh

J.Dewey là nhà triết học, xã hội học và nghệ thuật học Mỹ nổi tiếng của trường phái Chicago Tên tuổi ông gắn liền với bước phát triển của chủ nghĩa thực dụng ở giai đoạn cuối, nổi bật nhất là thuyết công cụ (L’Instrumentalisme) Theo J.Dewey bước vào thời đại ngày nay nhận thức phải được nhìn nhận khác trước Những thời đại trước, các nhà triết học, các nhà khoa học coi việc nhận biết, tìm hiểu thế giới là quan trọng nhất (nhận thức về những tính chất, bản chất, bản thể, các quy luật… của giới tự nhiên,

xã hội, con người là gì? ) điều này là rất cần thiết

Nhưng đã qua rồi thời kỳ con người mô tả thế giới, vẽ chân dung về thế giới, rồi ngắm nhìn, chiêm ngưỡng thế giới Giờ đây nhiệm vụ nhận thức của con người là cải tạo thế giới Tức thế giới không còn là đối tượng để quan sát nữa, mà là đối tượng để cải tạo vì lợi ích của con người Thế giới không còn

là đối tượng của trực quan nữa mà là đối tượng của thực tiễn Vì vậy nhận thức phải trở thành những công cụ để cải tạo thế giới đem lại những hiệu quả

có ích Những công cụ nhận thức này (hiểu là sản phẩm trí tuệ, kiến thức gồm: những lý luận, những lý thuyết, những học thuyết, những tư tưởng của mọi lĩnh vực) phải được sáng tạo được “chế” ra trên cơ sở bám sát vào những

Trang 31

hoàn cảnh, những điều kiện, những thời điểm, những yêu cầu của thực tiễn

Có gì khác khi Chủ nghĩa Marx coi thực tiễn là mục đích của nhận thức, còn J.Dewey thì coi nhận thức phải có nhiệm vụ cải tạo thực tiễn? Nhận thức là nhận thức về mọi điều Marx nói: “Thực tiễn là mục đích của nhận thức” là để nói về nhiệm vụ của nhận thức (hiểu là nhiệm vụ quan trọng nhất) Còn J.Dewey lại nói về tính chất của nhận thức: Nhận thức phải được coi như những công cụ (giống như những công cụ mang tính chất vật thể khác) tác động vào thế giới, cải tạo thế giới Những công cụ nhận thức là những công

cụ phi vật thể - là những công cụ tinh thần và trí tuệ có những khả năng và công hiệu rất lớn

Vào thời J.Dewey khoa học kỹ thuật chưa phát triển rực rỡ như sau này

để đưa ra khái niệm về “nền kinh tế trí thức” nhưng tư tưởng này đã đánh hơi

về những khả năng siêu mạnh của “công cụ nhận thức”, “công cụ trí tuệ” sẽ

có thể làm được mọi điều Chủ nghĩa thực dụng phát triển mạnh ở nửa đầu thế

kỷ XX, giai đoạn sau đó phân tán Một bộ phận đi đến với chủ nghĩa Thomas mới, một bộ phận đi đến với chủ nghĩa chứng thực logic, chủ nghĩa hậu cấu trúc, chú ý nhiều đến việc nghiên cứu ngôn ngữ

Riêng J.Dewey còn nghiên cứu thêm về nghệ thuật (trên cơ sở nghiên cứu ngôn ngữ) Ông cho rằng, tất cả các môn nghệ thuật đều được thể hiện, biểu lộ bằng “ngôn ngữ tín hiệu”, và quan trọng hơn, không có những quy luật chung để hiểu ý nghĩa cho ngay cả riêng một loạt ngôn ngữ nghệ thuật

Do vậy, để hiểu thì cần phải căn cứ vào thời đại, thời điểm, điều kiện, hoàn cảnh, cũng như cần được trải nghiệm trong một cộng đồng cụ thể nào đó - tức trong những “văn cảnh” diễn ra nghệ thuật

Trong các trào lưu triết học hiện đại ở Mỹ thì chủ nghĩa thực dụng là trường phái tiêu biểu nhất Chủ nghĩa thực dụng ra đời cùng với tiến trình phát triển của nước Mỹ hiện đại, và có tác động không nhỏ đến sự hùng

Trang 32

cường của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Người Mỹ coi chủ nghĩa thực dụng là một công cụ hữu hiệu bậc nhất để khẳng định bản sắc và phát huy nội lực cho phát triển Qua thời gian, chủ nghĩa thực dụng trở thành linh hồn của dân tộc

Mỹ vì rằng, chính chủ nghĩa thực dụng đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa nổi trội trong một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc

1.1.2 Nội dung và đặc điểm của chủ nghĩa thực dụng

Nội dung cơ bản của Chủ nghĩa thực dụng

Chủ nghĩa thực dụng đã hình thành hệ thống lý luận của mình dựa trên những cơ sở:

Nội dung đầu tiên là những nguyên lý triết học của chủ nghĩa thực dụng dựa trên cơ sở các khái niệm về “kinh nghiệm” và “thực tiễn” Chủ nghĩa thực dụng muốn khắc phục tính đối lập giữa kinh nghiệm và tự nhiên của chủ nghĩa nhị nguyên khi xem đó là hai lĩnh vực khác nhau Để khẳng định sự hình thành và phát triển của mình, mỗi nhà triết học của chủ nghĩa thực dụng đưa ra một quan điểm của mình về sự tồn tại của triết học Với C.Peire, bằng cách phê phán triết học phương Tây từ Descartes trở đi, đồng thời ông lấy khái niệm thực tiễn làm hạt nhân để xây dựng triêt học thực dụng của mình Triết học của C.Peire kế thừa truyền thống của chủ nghĩa kinh nghiệm hiện đại từ Hume và các tư tưởng triết học sau đó, song ông lại muốn vượt qua khuynh hướng duy danh luận và chủ nghĩa nguyên tử của Hume C.Peire cũng tiếp thu một số tư tưởng trong thuyết tiên nghiệm của Kant, bên cạnh đó lại không đồng tình với tính không triệt để của thuyết này Charles S.Peirce xây dựng tư tưởng thực dụng chủ nghĩa của mình dưới ảnh hưởng của triết học Kant Ông đã dựa vào quan niệm của I Kant – quan niệm coi “niềm tin ngẫu nhiên” tạo nên phương thức thực hiện trong thực tế có tính xác định là

“niềm tin thực dụng”, và những luận điểm mà I Kant đưa ra khi giải thích sự khác nhau giữa hai khái niệm “thực dụng và “thực tiễn”, để trình bày và luận

Trang 33

giải quan niệm của mình về chủ nghĩa thực dụng Tuy nhiên, giữa Charles S.Peirce và I.Kant vẫn có sự phân biệt về nguyên tắc I.Kant đưa ra quan niệm

về “niềm tin thực dụng” nhưng lại không phải là người thực dụng chủ nghĩa I.Kant hạn chế tri thức nhân loại ở phạm vi hiện tượng, nhưng ông không phủ nhận khả năng có thể nhận được tri thức có tính phổ biến và tất yếu của nhân loại Còn chủ nghĩa thực dụng của Charles S.Peirce thì lại coi mọi tri thức của nhân loại đều là “niềm tin thực dụng”; rằng tri thức chẳng qua chỉ là phương tiện để nhân loại xác định niềm tin và biến niềm tin này thành phương thức hành động Charles S Peirce cũng mong muốn xây dựng một hệ thống triết học hoàn chỉnh như hệ thống triết học của I.Kant nhưng lại không phải là hệ thống của I.Kant Mặc dù mong muốn như vậy, song ông đã không thực hiện được mong muốn này Chủ nghĩa thực dụng của ông không phải là một hệ thống triết học hoàn chỉnh, mà cũng như các nhà thực dụng chủ nghĩa khác, trong hệ thống đó không có chỗ cho bản thể luận Bản thân Charles S Peirce cũng thừa nhận rằng, chủ nghĩa thực dụng của ông “tự nó không phải là học thuyết siêu hình, không có ý định xác định bất kỳ tính chân lý nào của sự vật

Nó chỉ là phương pháp phát hiện từ hiện thực và ý nghĩa của khái niệm trừu tượng” Ông còn nhiều lần khẳng định rằng, cái quan tâm chủ yếu của ông là làm cho tư tưởng và khái niệm mà con người đưa ra có được kỹ xảo và phương pháp rõ ràng Chính vì vậy mà ông muốn xây dựng chủ nghĩa thực dụng của mình thành một loại lôgíc khoa học hay phương pháp luận khoa học

để phân tích ý nghĩa của từ, của khái niệm, tư tưởng hay ý nghĩa của ký hiệu

và biến chúng thành phương tiện xác định niềm tin, phương thức sử dụng hành động để đạt đến mục đích Do vậy, phương thức để xác định niềm tin và vấn đề xác định niềm tin trên cơ sở “làm sạch” khái niệm, tư tưởng đã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu trong chủ nghĩa thực dụng của Charles S.Peirce

Trang 34

C.Peire lấy việc phê phán triết học truyền thống Descartes làm xuất phát điểm cho việc nghiên cứu triết học của mình Ông phê phán Descartes chủ yếu trên hai phương diện Một là, sự hoài nghi phổ biến – xuất phát điểm của triết học Descartes trên thực tế là không thể có Hai là, C.Peire phủ nhận “cái tôi tư duy” được Descartes coi là cái duy nhất không thể hoài nghi Theo C.Peire, tri thức không thể tuyệt đối, xác định, đáng tin cậy như vậy được Vì C.Peire phản đối tư tưởng của Descartes về tính trực quan và tính tuyệt đối của nhận thức luận, đặc biệt ông phản đối việc coi tri thức là sự xác định bản ngã cá nhân của chủ thể; mà theo ông thì phải coi đó là quá trình không ngừng trao đổi trong “thể cộng đồng”, tức là quá trình tìm hiểu thực tiễn có tính hiện thực và tính xã hội Bên cạnh việc lấy sự phê phán triết học truyền thống của Descartes làm cơ sở hình thành chủ nghĩa thực dụng C.Peire đã tổng kết và khái quát phương pháp nhận thức mà khoa học đương đại vận dụng Ông cho rằng lí luận của Descartes chứa nhiều nhân tố hợp lý quan trọng tuy vậy vẫn còn phiến diện C.Peire tổng kết rằng: “Ý nghĩa chủ yếu trong triết học Descartes là ở chỗ dưới ngọn cờ chủ nghĩa lý tính nó thúc đẩy

sự chuyển hướng của nhận thức luận trong triết học phương Tây Nó dùng biện pháp hoài nghi phổ biến thách thức uy quyền của tín ngưỡng, yêu cầu mọi người dựa vào năng lực lý tính bẩm sinh của mình, sử dụng phương pháp suy luận lý tính mà xây dựng một hệ thống tri thức tuyệt đối, xác định, đáng tin cậy, bao trùm hết thảy Ở luận điểm này, C.Peire là triết gia phương Tây sớm phát hiện ý nghĩa đó trong triết học Descartes Do vậy, C.Peire coi Descartes là cha đẻ của triết học cận đại Do đó, C.Peire cho rằng niềm tin được xác định trên cơ sở của thực tiễn, của kinh nghiệm Nhưng niềm tin chân lý của chủ nghĩa thực dụng bao giờ cũng là tương đối, cho nên trong hoạt động thực tiễn, kể cả hoạt động khoa học, cần phải chấp nhận sai lầm

Trang 35

Cũng lấy “kinh nghiệm” và “thực tiễn” làm xuất phát điểm nhưng điểm khác biệt của W.Jame ở chỗ, W.Jame cho rằng triết học của mình đã vượt qua

sự phân lập nhị nguyên duy tâm, duy vật, là nhận thức luận nhưng thoát khỏi tính phiến diện của bản thể luận triết học truyền thống W.Jame cố làm cho lập trường chống siêu hình học của mình khác với các nhà triết học của chủ nghĩa thực dụng, qua đó ông muốn cung cấp cho chủ nghĩa thực dụng một cơ

sở siêu hình học mới Tuy nhiên, ông không phủ nhận sạch trơn siêu hình học

mà chỉ loại bỏ siêu hình học trước đó – thoát ly kinh nghiệm và khoa học, dùng khái niệm tư biện lý tính để cải tạo thế giới, đồng thời ông tiếp thu siêu hình học mới – không đối lập với khoa học mà có vai trò khái quát khoa học Như vậy, W.Jame đã thấy phần nào những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm lý tính khi cho rằng triết học đứng trên khoa học W.Jame cho rằng, chủ nghĩa duy vật cũng phạm sai lầm tương tự Nhưng ông muốn thông qua phản đối phương pháp siêu hình để loại trừ chủ nghĩa duy vật Ở phương diện nào đó, ông đã nhận ra lập trường phiến diện chống siêu hình học của các nhà triết học của chủ nghĩa thực chứng Qua đó, W.Jame muốn xây dựng một thứ siêu hình học mới và loại trừ chủ nghĩa duy vật nhưng trên thực tế ông lại chưa vượt qua được giới hạn của chủ nghĩa thực chứng Chủ nghĩa thực dụng được W.Jame trình bày với ba luận điểm

Một là, chủ nghĩa thực dụng giống như chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để

của Hume và những người kế tục khi đem toàn bộ nhận thức luận của triết học, khoa học và con người giới hạn trong phạm vi kinh nghiệm và hiện tượng W.Jame cho rằng, triết học chỉ nghiên cứu bản thân kinh nghiệm, ông

đề xuất nghiên cứu chủ nghĩa thực dụng với tư cách là chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để, song lại coi nhẹ phương diện cơ sở vật chất tâm lý Do vậy, triết học của W.Jame gần với chủ nghĩa hiện tượng

Trang 36

Hai là, chủ nghĩa thực dụng với tư cách là chủ nghĩa kinh nghiệm triệt

để đã khắc phục tính phiến diện của chủ nghĩa duy tâm lý tính của Hegel, chủ nghĩa kinh nghiệm của Hume và Mill, khắc phục sự hạn chế sự phân lập nhị nguyên chủ quan Như vậy, chủ nghĩa kinh nghiệm của W.Jame lấy quan hệ giữa các sự vật làm đối tượng, liên kết các kinh nghiệm phân tán rời rạc thành một chỉnh thể thống nhất, làm cho thế giới đối tượng trở thành thế giới kinh nghiệm thuần túy thống nhất Điều này khác hẳn với chủ nghĩa kinh nghiệm của Hume và Mill bị chỉ trích là thiếu tính liên tục và thống nhất

Ba là, chủ nghĩa thực dụng của W Jame gắn liền với lý luận dòng ý thức

của ông là kinh nghiệm thuần túy hoặc kinh nghiệm trực tiếp Theo W Jame kinh nghiệm không chỉ là cảm giác mà còn bao gồm mọi hoạt động tâm lý, thậm chí bao gồm cả hoạt động bản năng tâm lý như tiềm thức

Nội dung phương pháp của chủ nghĩa thực dụng theo W.Jame “chỉ là một thái độ xác định phương hướng Thái độ đó không coi sự vật trước tiên nguyên tắc, phạm trù và giả định là những cái tất yếu, mà coi sự vật sau cùng, hiệu quả và những gì thu hoạch được”[31,342] Từ đó, W.Jame chứng minh, dưới sự chỉ đạo của phương pháp chủ nghĩa thực dụng, có thể xóa bỏ mọi mâu thuẫn và đối lập Ngược lại, những người theo các lý luận đối lập hoặc

có lập trường quan điểm đối lập nhau, đều có thể tìm được tiếng nói chung trong phương pháp chủ nghĩa thực dụng Quan điểm này của W.Jame thể hiện tinh thần cởi mở, bao dung của người Mỹ đối với tất cả những gì hữu dụng, có lợi; còn về mặt phương pháp luận thì mang đậm tính chất chiết trung, ngụy biện Về cơ bản, quan điểm trên của W.Jame nhất trí với C.Peire, nhưng góc độ lý luận thì hai người lại khác nhau C.Peire thì chú trọng tác dụng của hiệu quả thực tế để xác định ý nghĩa của khái niệm, chú trọng tác dụng của hiệu quả thực tế đối với một cá nhân cụ thể Khi xác định và nhấn

Trang 37

mạnh đúng tính cụ thể của chân lý thì W.Jame lại tuyệt đối hóa nó và ngả sang chủ nghĩa chủ quan

Với J.Dewey thì ông dùng triệt để khái niệm “kinh nghiệm” và “thực tiễn” làm cơ sở để xác lập hệ thống triết học của chủ nghĩa thực dụng, nhưng ông còn gọi học thuyết của mình là chủ nghĩa công cụ Nội dung tư tưởng của học thuyết này đã được ông phát triển từ kinh nghiệm thông thường và có thể kiểm chứng được bằng kinh nghiệm, “kinh nghiệm” cũng là khái niệm trung tâm trong triết học của J.Dewey khi ông đưa vào nó tất cả mọi hình thức và biểu hiện của đời sống con người, “kinh nghiệm” được J.Dewey xem xét:

“Một mặt trong một tương lai tự nhiên chủ nghĩa hơn, tương lai hơn bao gồm những mối quan hệ đa dạng của con người với tư nhiên; mặt khác, với tư cách kinh nghiệm xã hội mà chủ yếu là về phương diện chính trị - đạo đức của nó Bởi lẽ, triết học theo J.Dewey, xuất hiện không phải từ sự ngạc nhiên trước thế giới như các nhà triết học cổ đại đã nghĩ, mà từ những trạng thái căng thẳng trong đời sống xã hội, do đó, đối với ông, chính sự phân tích, tái tạo và hoàn thiện kinh nghiệm xã hội mới là cái tạo ra mục đích cơ bản của triết học” [48,156]

Cũng từ khái niệm kinh nghiệm, J.Dewey đã đẩy khái niệm này lên một nấc thang mới, chủ nghĩa tự nhiên kinh nghiệm Với mục đích là vượt qua sự đối lập của duy tâm, duy vật, nhất nguyên và nhị nguyên luận, J.Dewey đã lấy cải tạo triết học làm nhiệm vụ

Tóm lại, kinh nghiệm và thực tiễn của chủ nghĩa thực dụng là hành động, là hành vi của con người với tư cách là vật hữu cơ chịu đựng sự kích thích của hoàn cảnh và phản ứng lại hoàn cảnh Kích thích – phản ứng chính

là nội dung cơ bản của chủ nghĩa kinh nghiệm Sự phản ứng của thực tiễn của con người không chỉ bằng bản năng mà tư duy, suy luận cũng là một phản ứng của một kích thích đặc thù

Trang 38

Nội dung thứ hai là những lý luận về chân lý của chủ nghĩa thực dụng

Chủ nghĩa thực dụng phê phán lý luận về chân lý của chủ nghĩa duy lý, vì chủ nghĩa duy lý chỉ đưa ra được những chân lý trừu tượng, chết cứng, với những phạm trù có sẵn, đã được xác lập Chân lý của chủ nghĩa thực dụng là cụ thể

và căn cứ vào những hậu quả thực tiễn, hậu quả cảm tính của mỗi con người,

nó có giá trị ở ngay trong mỗi con người

Đối với chủ nghĩa thực dụng, chân lý là cụ thể cho nên cũng đa nguyên, nhưng vẫn nhất nguyên ở hiệu quả thực tiễn của nó Để khẳng định chân lý của mình, các nhà thực dụng đã đưa ra những cách lý giải khác nhau Đối với C.Peire, quan điểm về chân lý của ông khác với quan điểm chân lý của chủ nghĩa duy tâm chủ quan khi cho rằng: ý nghĩa của quan niệm, mệnh đề, phán đoán đều thông qua phán đoán tương ứng mà biểu hiện Nó có thể chia ra làm hai loại : ý nghĩa chung và ý nghĩa riêng Ý nghĩa chung chỉ một thể gồm ba yếu tố, một là phù hiệu, hai là đối tượng của kí hiệu va ba là tư duy, ba cái này đều không thể thiếu nhưng quan hệ giữa ba yếu tố đó người giải thích giữ vai trò quyết định Ý nghĩa riêng chỉ có ý nghĩa hoặc giải thích logic của kí hiệu Khi C.Peire giải thích ý nghĩa riêng này rất mơ hồ Tuy vậy, C.Peire cho rằng tổng hòa các hiệu quả này sẽ tạo nên toàn bộ ý nghĩa của khái niệm đó Nhìn chung, C.Peire lẫn lộn khi giải thích hiệu quả của thực tế nên có lúc lại ngả sang chủ nghĩa chủ quan Có những lúc ông đồng nhất chân lý với niềm tin mà không nhận thấy niềm tin chỉ là một trạng thái ý thức làm tiêu chuẩn

để phân biệt đúng và sai Như vậy, trong quan điểm về chân lý ông muốn vượt qua sự đối lập giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, nhưng trên thực tế ông vẫn chưa vượt qua chủ nghĩa duy tâm

Còn theo W.Jame, chủ nghĩa thực dụng vừa là phương pháp luận, vừa là chân lý luận Ông nói: “ Phạm vi của chủ nghĩa thực dụng là như sau: trước

Trang 39

tiên là một phương pháp, thứ nữa là lý luận về vấn đề chân lý phát sinh như thế nào” [31,342]

Cũng đưa ra quan điểm của mình về chân lý, nhưng khác với C.Peire và W.Jame, J.Dewey lại xuất phát từ góc độ phương pháp luận, ông phê phán lý luận xuất phát từ khái niệm của triết học lý tính từ thời Platon trở đi, nhất là thuyết tiên thiên của Decartes; ông còn phê phán tính hẹp hòi trong chủ nghĩa kinh nghiệm Dựa theo xuất phát mà W.Jame đã từng nhấn mạnh là cần phải thực sự coi trọng tác dụng tư duy suy lý Trên cơ sở đó, ông đưa ra quan điểm

về chân lý theo chủ nghĩa công cụ mà mình xây dựng Ông giải thích: chủ nghĩa công cụ, nói theo nghĩa rộng là tên gọi khác của chủ nghĩa thự dụng; còn theo nghĩa hẹp thì đó là lý luận về nhận thức và chân lý Quan điểm cơ bản của nó cho rằng tư tưởng, quan niệm, lý luận là công cụ hành động của con người, tiêu chuẩn chân lý là nó có thể đưa hành động của người ta đạt được thành công hay không J.Dewey phản đối quan điểm của triết học lý tính khi cho rằng chân lý là khái niệm lý tính tiên thiên hoặc thuộc tính của quan niệm tuyệt đối; nhưng đồng thời ông cũng phản đối thuyết phản ánh của chủ nghĩa duy vật J.Dewey cho rằng mọi tư tưởng, khái niệm không thể tồn tại độc lập, cũng không thể là sự mô tả thực tại khách quan, chỉ có thể là giả thiết ứng dụng, mà giả thiết là do con người đề xuất căn cứ vào ý muốn của mình, giống như công cụ được sử dụng là do con người ta cảm thấy như thế nào tiện lợi thì thiết kế như vậy

Nội dung thứ ba trong tư tưởng triết học của chủ nghĩa thực dụng là quan

điểm về đạo đức, tôn giáo, chính trị, xã hội Từ tiền đề nhận thức về thực tiễn,

về kinh nghiệm, chủ nghĩa thực dụng đã đề xuất những kiến giải về đạo đức, tôn giáo, chính trị, xã hội

Quan điểm về đạo đức, được W.Jame lấy từ tâm lý học và nhận thức luận làm tiền đề, làm ứng dụng W.Jame cho rằng: “Phần lớn tình cảm đạo

Trang 40

đức của con người bắt nguồn từ hoạt động tâm lý thuần túy bên trong con người, cho nên nguồn gốc của quan niệm đạo đức là tâm lý học Việc xét các giá trị đạo đức như thiện, ác hoàn toàn phụ thuộc vào ý định của con người Cái thiện về mặt đạo đức cũng giống như chân lý, là công cụ đáp ứng nhu cầu của con người, không có chân lý tuyệt đối và phổ biến, cũng như không có quy tắc đạo đức tuyệt đối và phổ biến Mỗi nguyên tắc đạo đức đều đặc biệt, không có tiền lệ, tồn tại tương đối với con người trong một hoàn cảnh đặc biệt”

Quan điểm về tôn giáo của W.Jame liên quan trực tiếp với quan điểm đạo đức W.Jame cho rằng, quan niệm tôn giáo là hình thái ý thức không nằm ngoài ý thức đạo đức và chế ước ý thức đạo đức; ngược lại, nó phải căn cứ vào yêu cầu của đạo đức mà hình thành Cho nên, cũng giống như đạo đức, tôn giáo cũng cần lấy việc đáp ứng nhu cầu của con người, giúp cho con người thành công, đạt được mục đích Ông không tán thành quan niệm của chủ nghĩa hữu thần coi Chúa như một sức mạnh tinh thần tuyệt đối Theo W.Jame “ Chúa là một loại hy vọng, một giả thuyết có ích, cũng được kiểm chứng bằng hiệu quả thực tiên của con người”[31,348]

Như vậy, khi bàn về đạo đức và tôn giáo, W.Jame cho rằng, cả đạo đức

và tôn giáo đều cần lấy việc đáp ứng nhu cầu của con người, giúp con người thành công làm mục đích Với tư tưởng thực dụng của các triết gia đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần người dân Mỹ lúc bấy giờ

Quan niệm về chính trị, xã hội được J.Dewey đề cập nhiều trong hệ thống triết học của mình Ông đề xuất chủ nghĩa đa nguyên xã hội vì ông cho rằng, đối với lịch sử xã hội, không thể giống như chủ nghĩa duy vật xuất phát

từ tồn tại xã hội để giải thích, cũng không thể giống như chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ tư tưởng, quan niệm tuyệt đối để giải thích Đối với các hiện

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng văn hóa TW (2004), Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập phát triển của nước ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập phát triển của nước ta
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa TW
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Vương Ngọc Bình (2004), Uyliam Giêm xơ, Nxb. Thuận Hóa, Tp. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Uyliam Giêm xơ
Tác giả: Vương Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 2004
4. Howard Cencontta (2000), Khái quát về lịch sử nước Mỹ, (Nguyễn Chiến dịch), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử nước Mỹ
Tác giả: Howard Cencontta
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
5. Vương Kính Chi (2000), Lược sử nước Mỹ, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử nước Mỹ
Tác giả: Vương Kính Chi
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
6. Jonh Dewey – Phạm Anh Tuấn dịch (1997), Dân chủ và Giáo dục, Nxb. Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và Giáo dục
Tác giả: Jonh Dewey – Phạm Anh Tuấn dịch
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 1997
7. Trương Minh Dục, Lê Văn Định (2010), Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam – một cách tiếp cận, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam – một cách tiếp cận
Tác giả: Trương Minh Dục, Lê Văn Định
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
8. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
9. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Triết học Mỹ, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mỹ
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
10. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng, 2006, Triết học Mỹ, Nxb.Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mỹ
Nhà XB: Nxb.Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
11. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
12. Lưu Phóng Đồng (2004), Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI, Triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI, Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Lưu Phóng Đồng (2004), Triết học phương Tây hiện đại, giá trị hướng tới thế kỉ 21, Lê Khánh Tường dịch, Nxb.Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại, giá trị hướng tới thế kỉ 21
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb.Lý luận chính trị
Năm: 2004
21. Lưu Phóng Đồng (1994), Triết học phương Tây hiện đại, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w