1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình phát triển kinh tế sinh thái đảo hòn tre kiên giang

132 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[34, 36] Việc nhóm nghiên cứu lựa chọn điểm điểm để đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp để xây dựng mô hình kinh tế sinh thái trên xã đảo này, không chỉ giúp cho chính quy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG NĂM 2013 Tên đề tài:

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - SINH THÁI

ĐẢO HÒN TRE – KIÊN GIANG

Tham gia thực hiện

CN Ngô Hoàng Đại Long Chủ nhiệm 0984981604 dailong0606@yahoo.com

CN Nguyễn Thị Thu Thủy Thành viên 01267899190 ntthuthuy210@yahoo.com

ThS Nguyễn Thế Trung Thành viên 01662347122 trungbiendao@gmail.com

ThS Hoàng Trọng Tuân Thành viên 0984118255 tuantronghoang@gmail.co

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được Đề tài này nhóm nghiên cứu đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thành viên trong nhóm và các cơ qian, các cấp lãnh đạo, các cấp chính quyền địa phương tại xã đảo Hòn Tre và Rạch Giá, Kiên Giang Nhóm nghiên cứu xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ nhóm trong suốt quá trình thực hiện khảo sát và nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Khoa học

và Dự án, các thầy, cô giáo Khoa Địa lý và Trung tâm Nghiên cứu Biển & Đảo; Trường Đại học KHXH&NV TP HCM; xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang và xã đảo Hòn Tre đã giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong quá trình thực hiện Đề tài này

Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới toàn thể gia đình, bạn bè cùng toàn thể đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh, động viên, khích lệ, giúp đỡ nhóm trong quá trình học tập và nghiên cứu

Đại diện nhóm, tôi vô cùng biết ơn và xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới mọi sự giúp đỡ quý báu đó

TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 01 năm 2014

Chủ nhiệm Đề tài

Ngô Hoàng Đại Long

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

I PHẦN MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN 17

MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI TRÊN ĐẢO 17

1.1 CÁC LÝ THUYẾT VÀ Ý NIỆM VỀ KINH TẾ SINH THÁI 17

1.2 KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ SINH THÁI VÀ HỆ KINH TẾ SINH THÁI 21

1.3 KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ SINH THÁI 34

1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 46

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 48

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 48

2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 49

2.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 55

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG 61

2.5 THỂ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN KINHH TẾ - XÃ HỘI CỦA HÒN TRE 63

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI TẠI HÒN TRE 65

3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI HỆ THỐNG NLNKH TẠI HÒN TRE 65

3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC TRẠNG THÁI NLNKH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ 69

3.3 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỆ THỐNG NLNKH 73

3.4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỘT SỐ HỆ THỐNG NLNKH ĐIỂN HÌNH 78

3.5 ĐÁNH GIÁ NHỮNG KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI CHO PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NLNKH TẠI XÃ HÒN TRE 83

3.6 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI 90

3.7 Tiểu kết chương 3 93

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT CHO MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - SINH THÁI TRÊN ĐẢO HÒN TRE 95

4.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN 95

4.2 XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP ƯU TIÊN TRONG ĐỊNH HƯỚNG 104

4.3.ĐỀ XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH, GIẢI PHÁP NGẮN HẠN THEO GIAI ĐOẠN 113 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 5

TÓM TẮT

Trong số các hòn đảo, nhóm đảo quan trọng của Kiên Giang như: Hòn Tre, Hòn Rái, Hòn Nghệ, Nam Du, Phú Quốc, An Thới, Hải Tặc, Thổ Chu… thì Hòn Tre có một lợi thế đặc biệt về mặt địa lý để phát triển kinh tế - xã hội của vùng biển Tây Nam Bộ Đặc điểm địa hình, địa mạo… nơi đây không những mang tính độc đáo, mà còn thể hiện tính địa phương rất rõ nét

Các đặc điểm tự nhiên về các nguồn lợi tài nguyên như: đất, nước, tài nguyên biển, tài nguyên nhân văn phong phú mang bản sắc độc đáo, tạo ra những lợi thế to lớn trong việc phát triển kinh tế sinh thái

Đề tài đã tổng quan, khái quát được đảo Hòn Tre, có ý nghĩa đối với việc tổ chức phân vùng quy hoạch, sử dụng lãnh thổ để phát triển kinh tế - xã hội của xã đảo

Qua đó cũng phân tích, đánh giá những lợi thế và khó khăn của điều kiện tự nhiên sinh thái của đảo, đánh giá sức tải của đảo, xây dựng cơ sở luận chứng khoa học ban đầu cho việc đối với quy hoạch phát triển kinh tế biển của đảo một cách bền vững

Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp để tham khảo trong việc định hướng, lựa chọn các mô hình phát triển kinh tế - sinh thái phù hợp với những nơi có điều kiện địa lý, sinh thái tương tự như ở Hòn Tre - Kiên Giang cũng như ở nước ta nói chung

Trang 6

ABSTRACT

Among the important island groups of Kien Giang such as Hon Tre, Hon Rai, Hon Nghe, Nam Du, Phu Quoc, An Thoi, Hai Tac, Tho Chu…Hon Tre has geographical advantages for economic – social development of South-West sea area Its topography and geomorphology is not only considered to be unique, but also show a clearly localized

The characteristics of the natural resources such as land, water, marine resources, diversified human resource & unique cultural resources that creates great advantages in the development of ecological economics

Regarding overview aspect, the theme has generalized Hon Tre island as a place where having implications for the partitions of territory planning organization, for the usage of territory in developing economy – sociology of the island

The theme also analyze, evaluate the advantages and disadvantages of natural ecological conditions of the island, assess the island's carrying capacity and build the basis of scientific evidence for the initial development planning of sea economy for island's health in a sustainable way

The researchers have proposed a number of solutions for your reference in giving direction, choosing the suitable models of economic-ecological development planning to generally apply for other places in Vietnam that have similar geographical, ecological conditions as Hon Tre – Kien Giang

Trang 7

I PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam được xem là một “quốc gia biển” vì phần lục địa chỉ có diện tích khoảng 329.600 km2 mà đường bờ biển dài tới 3.260 km, tức cứ khoảng 100 km2 đã có 1km bờ biển Trong khi đó trên thế giới tỷ lệ này là 600km2/1km bờ biển, thậm chí nhiều nước không có bờ biển như: Lào, Mông Cổ, Kazakstan Đặc biệt, vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của nước ta có thể lên tới 1,3.106.000 km2 và so với thế giới, tỷ lệ này gấp khoảng 1,6 lần Ngoài ra, trong 63 tỉnh thành của nước ta, có 28 tỉnh thành ven biển

Với chiều dài bờ biển chạy dọc từ Bắc vào Nam, gồm rất nhiều đảo, quần đảo ven biển và đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội “tiến ra biển” Từ những năm

1990, Đảng và Nhà nước đã ban hành một số nghị quyết, chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo Đặc biệt trong nghị quyết tại Hội nghị lần IV (năm 2007) Ban chấp hành

TW Đảng Khóa X đã nhấn mạnh chiến lược biển Việt Nam đến 2020 với nhận định “biển

có ý nghĩa to lớn” và thế kỷ XXI là “thế kỷ của đại dương” Thiết nghĩ, việc thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường biển đảo và nhất là đảm bảo an ninh quốc phòng, hợp tác quốc tế là việc làm cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Trong 13 tỉnh thành ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có đến 7 tỉnh nằm ven biển với tổng chiều dài bờ biển là 726 km Đó là các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang Tuy chỉ chiếm chưa tới ¼ tổng chiều dài bờ biển nước ta, nhưng khu vực biển của ĐBSCL giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong vùng duyên hải nước ta, bởi nó trấn giữ cái cửa ngõ từ biển Đông trải sâu vào trong vịnh Thái Lan

Trên vùng biển rộng lớn ấy, Việt Nam có 2.773 hòn đảo (Lê Đức An, 1996), riêng vùng biển ven bờ Nam Bộ có khoảng 195 đảo (7,01%) với 693 km2 diện tích (40,3%) gồm 5 cụm đảo: cụm Côn Đảo, cụm hòn Khoai, cụm Kiên Hải (hòn Tre, hòn Rái, hòn Sơn ), cụm ven bờ Kiên Lương-Hà Tiên (hòn Nghệ, hòn Ngang, hòn Đốc ), cụm Phú

Trang 8

Quốc (Phú Quốc, An Thới, Thổ Chu) Các cụm đảo đều có tiềm năng triển vọng phát triển kinh tế biển và hải đảo, đặc biệt là về ngư nghiệp, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ biển Chỉ tính riêng ba tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, đã có vùng biển rộng đến 285.554 km2, so với diện tích đất liền của ba tỉnh này là 13.943 km2, nó đã lớn hơn hai mươi lần Trong tổng số 462.000 km2 của vịnh Thái Lan (bao gồm chủ quyền của bốn quốc gia: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia) phần lãnh hải Việt Nam đã chiếm gần một nửa, lớn gần gấp rưỡi diện tích vịnh Bắc Bộ

Một đặc điểm quan trọng trong vùng biển Tây Nam là sự có mặt của các hòn đảo

Có lẽ, còn chưa nhiều người, dù sinh trưởng tại ĐBSCL, biết được rằng, vùng biển này

có đến trên một trăm hòn đảo Trong đó có đảo Hòn Tre (Kiên Giang) là một đảo không lớn như: Phú Quốc (nhưng lớn hơn đảo Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Hòn Khoai chỉ hơn 4

km2), nhưng có vị trí rất quan trọng, nó là huyện lỵ của huyện Kiên Hải, một trong hai huyện đảo của tỉnh Kiên Giang (trừ Phú Quốc và quần đảo Bình An ra) huyện này bao gồm tất cả các đảo còn lại của Kiên Giang Hòn Tre cách thị xã Rạch Giá gần 30 km về phía nam Cấu tạo địa chất của đảo là đá hoa cương cứng rắn bị phong hóa, tạo thành lớp đất mặt khá dày, màu mỡ, trồng được nhiều loại cây ăn trái như dừa, xoài, mít, mãng cầu,… Cư dân phần lớn sống bằng nghề khai thác hải sản như: đan lưới, đóng thuyền,…

và nông nghiệp làm rẫy, lập vườn trồng cây ăn trái, vài năm gần đây phát triển nhanh số

hộ làm dịch vụ thương mại hàng hải và du lịch biển

Chính vì thế, trong những năm qua, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách mới, đặc biệt đối với khu vực miền núi, hải đảo xa xôi để tạo điều kiện thuận lợi cho các khu vực này đổi mới và phát triển Mục tiêu chính là phát huy những lợi thế so sánh của các vùng miền, giảm chênh lệch và khoảng cách để phát triển kinh tế nông thôn, đa dạng hóa sản xuất, tăng thu nhập cho người dân và góp phần xóa đói giảm nghèo Nhà nước đã ban hành một loạt chính sách lớn như: Nghị định số 13/CP của Chính phủ ngày 2/3/1993 Ban hành bản Quy định về công tác khuyến nông, Nghị quyết 09/CP ngày 15/6/2000 về

chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, Đề án “Vấn đề nông

Trang 9

nghiệp, nông dân, nông thôn” của Ban Bí thư TW Đảng; Quyết định số 176/QĐ-TTg

ngày 29/01/2010 của Chính phủ về việc phê duyệt đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tới năm 2020,

Nhận thấy xã đảo Hòn Tre – Kiên Giang có tiềm năng điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và thế mạnh từ biển đảo Mặc dù, là một trong những địa điểm quan trọng của Kiên Giang, xong cho đến nay giá trị kinh tế sinh thái của xã đảo chưa được đánh giá đúng mức [34, 36]

Việc nhóm nghiên cứu lựa chọn điểm điểm để đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp để xây dựng mô hình kinh tế sinh thái trên xã đảo này, không chỉ giúp cho chính quyền địa phương có những thông tin quan trọng mà còn làm cơ sở cho việc lập kế hoạch phát triển, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Kiên Giang, (vì trong thời gian sắp tới sẽ có nghiên cứu xây dựng đê biển vịnh Rạch Giá - Kiên Giang) cho nên việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên môi trường của vùng biển Rạch Giá – Kiên Giang để khai thác và phát triển một cách bền vững, nhất là phát triển kinh tế kết hợp sinh thái biển đảo việc làm cấp thiết

Hiện nay, xã đảo Hòn Tre có rất nhiều vấn đề đang đặt ra như: áp lực dân số, cải tạo đất để sử dụng nông nghiệp, cải tạo môi trường sinh thái, vấn đề định cư lâu dài trên đảo

và vùng hải đảo nước ta… Vì vậy, việc xác lập những cơ sở khoa học về lý thuyết của kinh tế sinh thái là cần thiết cho việc đầu tư bảo vệ và khai thác xứ đảo Hòn Tre còn nhiều khó khăn nhưng cũng ẩn chứa những tiềm năng kinh tế rất lớn Xuất phát từ thực tế

trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Hòn Tre-Kiên Giang”

1.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Phát triển kinh tế sinh thái trên xã đảo Hòn Tre có những mô hình nào? Mô hình kinh tế sinh thái nào là phù hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao?

Trang 10

- Giải pháp nào thúc đẩy phát triển kinh tế sinh thái trên xã đảo Hòn Tre, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang bền vững và đem lại hiệu quả cao?

1.3 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Để xây dựng và phát triển các mô hình kinh tế sinh thái, một số quốc gia đã thành công trong việc phát triển các hoạt động du lịch biển như: đảo Malta ở Địa Trung Hải – một đảo thiếu nước ngọt trần trọng, thực vật kém phát triển, mọi thứ đều phải vận chuyển

từ Pháp và Ý Tuy nhiên, ngày nay khi nhắc tới Malta đó là một nơi rất nổi tiếng về du lịch với mức thu nhập của người dân xếp vào loại cao ngất ngưỡng trên thế giới Không chỉ có Malta mà còn có Bali (Inđônêsia), Hải Nam (Trung Quốc)…

1.3.2 Ở nước ta

Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trải dài 3.260 km từ Bắc chí Nam Với hệ thống các đảo ven bờ chiếm một vị trí, vai trò rất quan trọng và là tiềm năng to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc gia (Lê Đức An, năm 1996) Theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, các hệ sinh thái nhiệt đới vùng ven biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học rất cao, là nguồn cung cấp sinh kế, cung cấp thực phẩm an tòan, là di sản

tự nhiên danh cho cộng đồng dân cư khu vực cho thế hệ hiện tại và tương lai

Trang 11

Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã quan tâm kinh tế - xã hội các đảo theo tinh thần Nghị quyết TW3, trở thành quốc gia mạnh về biển là chiến lược xuất phát từ điều kiện và thách thức của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, chúng ta chỉ mới bắt đầu công tác điều tra cơ bản biển đảo của các chương trình quốc gia từ năm 1991-2001 một cách có hệ thống, tạo tiền đề cho công tác nghiên cứu ứng dụng

Từ năm 2002 đến nay, có các đề tài khoa học cấp Nhà nước như đề tài mang mã

số KC-09-20: “Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội; thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo”1 Đề tài này đã có những nghiên cứu chi tiết về hai huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh) và Lý Sơn (Quảng Ngãi) với những mô hình phát triển kinh tế - sinh thái bền vững cho 2 địa bàn này Đề tài này đã có những mục tiêu xây dựng cơ sở lý luận và những định hướng cơ bản phát triển kinh tế xã hội chung cho tòan bộ các huyện đảo ven bờ Việt Nam

Trong các nghiên cứu về biển và hải đảo, không thể không nhắc đến tác giả Lê Đức Tố với các đề tài có giá trị khoa học và thực tiễn cao như: “Xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng hệ thống đảo ven bờ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ

an ninh quốc phòng vùng biển Việt Nam” (1997) “Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam” (2005), đề tài K.09.12, Hà Nội…[3], [4], [5]

Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu triển khai xây dựng một số mô hình kinh tế sinh thái, chủ yếu trên địa bàn vùng đất cát ven biển miền Trung đáng chú ý

là các mô hình sau:

Đề tài khoa học KH 03-06 về Xây dựng mô hình Làng lâm nghiệp - xã hội đã chọn thôn Vĩnh Hoà, xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong (Quảng Trị) do Viện Kinh tế - Sinh thái thực hiện, làm thí điểm xây dựng mô hình Làng kinh tế sinh thái vùng cát ven biển Với đặc điểm huyện Triệu Phong có 3 vùng sinh thái khác nhau: vùng gò đồi, đồng bằng và cát ven biển [3] Vùng sinh thái cát ven biển gồm 5 xã Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng, Triệu Thạch và

1 Thuộc Chương trình “Điều tra cơ bản và ứng dụng công nghệ Biển”, do TSKH Phạm Hoàng Hải làm chủ nhiệm

và Viện Địa lý – Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam làm cơ quan chủ trì (thực hiện từ 01/2004 đến 12/2005)

Trang 12

Triệu Sơn, với tổng diện tích tự nhiên 8.020 ha, trong đó cồn cát hoang hoá 4.665 ha chiếm

tỷ lệ 58,16%, diện tích cồn cát hoang hoá không chỉ là khoảng trống về kinh tế, mà còn là yếu tố gây hại cho sản xuất, môi trường sống Qua nghiên cứu đề tài này, tác giả nhận thấy khu vực nghiên cứu có những đặc điểm tương tự như những khu vực mà các đề tài khác đã thực hiện

Dự án đã giúp nhân dân nơi đây tìm hiểu cách giữ đất, cải tạo cát thành đất trồng trọt, giúp cây, con giống để cải thiện đời sống, từ chỗ năm nào cũng thiếu đói 3 tháng, đến nay đã đủ ăn và có tích luỹ Đặc biệt, môi trường sống ở đây dễ chịu hơn với những hàng cây tràm hoa vàng, cây keo tai tượng, phi lao làm bờ bao chắn cát quanh nhà

Qua mô hình này cho thấy, đối với cây trồng ở một số gia đình có hệ thống vành đai phòng hộ tốt, chế độ thâm canh thích hợp thì tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, năng suất cao hơn so với những nơi có cùng một chế độ thâm canh, nhưng không có hệ thống sinh thái vành đai phòng hộ Vì vậy, việc cải thiện môi trường sinh thái còn có tác dụng tạo ra một tiểu vùng khí hậu thích hợp với sự sống của cây trồng, vật nuôi cũng như đời sống sinh hoạt của cư dân, nhằm hạn chế những bất lợi do thiên tai mang lại

- Mô hình làng sinh thái Hải Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình là một trong những hoạt động của Chương trình Quản lý tài nguyên biển và vùng ven biển ở Việt Nam do cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida) tài trợ và IUCN, Ban biên giới Chính phủ hợp tác cùng Viện Kinh tế Sinh thái (Eco-Eco) thực hiện [3]

Tại đây, Giáo sư Nguyễn Văn Trương, nhà sinh thái học giàu kinh nghiệm đã đề xuất xây dựng làng sinh thái vùng cát Hải Thủy Phương án đề ra là: xây dựng hệ thống đai rừng phi lao chắn gió, chống cát bay để ổn định đất, ổn định độ ẩm; xây dựng vườn

“âm phủ” để khai thác nguồn ẩm của cát, trồng khoai, đậu, lạc và rau xanh; đào ao dự trữ nước để tưới cây và kết hợp nuôi cá, thả bèo phát triển chăn nuôi

Đặc biệt, mô hình “vườn âm phủ” (được kiến tạo ở những vùng có địa hình cao, diện tích

100 - 1.000m², đào sâu xuống đất để trồng cây, các loại cây trồng trong vườn hút được nước theo đường mao dẫn trong lòng cát) đã cho thu hoạch cao gấp 2-3 lần so với trồng trên cát thông thường Từ khi có dự án, diện tích rừng trồng mở rộng thêm 25% so với trước đó

Trang 13

Nguyên lý “vườn âm phủ”: lượng mưa hằng năm dồi dào rơi xuống được tích lũy dưới lớp cát sâu từ 1m trở lên GS Nguyễn Văn Trương hướng dẫn cho dân gạt lớp cát khô phía trên đến độ sâu từ 1 – 1,5 m gặp nước mạch từ cồn cát, tạo thành các vườn, ruộng sâu dưới cốt 1 – 1,5 m với diện tích từ 100 – 1000 m2 nên gọi là vườn âm phủ

Sau năm năm thực hiện, từ một vùng sinh thái khô hạn trên cồn cát đã trở thành một làng sinh thái được nguồn nước ngầm cồn cát nuôi dưỡng, cây cối phát triển Mỗi gia đình có vườn “âm phủ” từ 100 – 1000 m2, rau màu xanh tốt, lại có ao thả cá, đai rừng phi lao phát triển có tác dụng chắn cát, giữ cho đất ẩm

Đây là mô hình rất phù hợp, đáng để học tập cho các nơi khác có cùng điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như Hải Thủy Dự án đã góp phần cho việc bảo vệ và cải thiện môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo nông lâm nghiệp phát triển bền vững Mục tiêu của làng sinh thái Hải Thủy là phủ xanh, cải thiện môi trường, khống chế cát di động, cải tạo vùng cát nhằm sản xuất nông lâm nghiệp có hiệu quả

Có thể thấy, các nhà nghiên cứu hàng đầu như: Lê Đức Tố, Ngô Đức Tố, Nguyễn Văn Thương đã thử nghiệm thành công một số mô hình kinh tế sinh thái như: Bạch Long Vỹ,

Cù Lao Chàm, Hòn Mê … Các đề tài với nhóm cộng sự không hòan tòan nhằm thành lập một quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cho đảo, cụm đảo mà hướng tới xây dựng một mô hình phát triển kinh tế - sinh thái, lấy kinh tế nông lâm và du lịch sinh thái làm trọng điểm [3], [4], [5] Qua các đề tài trên, cũng cho thấy việc nghiên cứu biển đảo hiện nay rất manh mún chủ yếu tập trung là các đảo ở phía Bắc (như: các đảo vịnh Hạ Long, Cô Tô, Ngọc Vừng…) và duyên hải miền Trung (như: Cù lao Chàm, các đảo vịnh Nha Trang ), trong khi đó phía Nam nước ta thì gần như chưa được chú tâm lắm?!

Việc phát triển kinh tế xã hội trên đảo không giống như trên đất liền: các dự án xây dựng, cầu cảng, việc di dân ra đảo… của nước ta vẫn còn nhiều bất cập và khó khăn, hiệu quả kinh tế không cao, đời sống dân cư không ổn định Trong khi đó, các quốc gia trên thế giới như: Nhật, Hà Lan, Thụy Điển… biển đảo là các điểm kinh tế, du lịch vì thiên nhiên

ưu đãi, khí hậu trong lành, môi trường đa dạng, cảnh quan đẹp, ít có sự tương tác và can

Trang 14

thiệp của bàn tay con người Cho nên, việc đầu tư nghiên cứu cho biển đảo là sự đầu tư phát triển bền vững là xu thế của thời đại nhằm tiến ra biển và chinh phục đại dương của

cư dân người Việt trong thế kỷ thứ XXI này

Tuy nhiên, khi tìm hiểu thực tế và tiếp cận vấn đề thì tác giả vẫn chưa tìm thấy những nghiên cứu thực sự ở các đảo phía Nam nói chung cũng như trên đảo Hòn Tre nói riêng, trong khi ở địa bàn này có nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội so với các đảo ven bờ khu vực miền Trung như: Lý Sơn, Côn Đảo…

Thiết nghĩ, người dân địa phương ở trên đảo Hòn Tre sống lâu năm (có hộ sống gần

70 năm), họ là những cư dân đầu tiên ra đảo theo diện hộ “kinh tế mới”, với khoản trợ cấp ban đầu là một năm lương thực, một khoản tiền nhỏ nhoi 4-5 triệu Họ là một đội quân dân trí thấp, không có kỹ thuật, không có nhiều vốn liếng, sống trên đất lạ với nghề khai thác hải sản quanh năm… Sẽ như thế nào khi tiền trợ cấp hết, con em không được đến trường, đau ốm, bệnh tật… Sự kết hợp giữa vườn, rừng và biển sự đan xen các loại

hình kinh tế như thế nào để người dân nơi đây bớt nỗi âu lo, đề tài này sẽ có câu trả lời

1.4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.4.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết và thực tiễn về các mô hình kinh tế sinh thái trên đảo Hòn Tre, kinh nghiệm của một số địa phương có điều kiện tương đồng, đề tài đánh giá chung thực trạng các mô hình kinh tế sinh thái trên đảo và những tác động của các mô hình vào sự phát triển kinh tế, xã hội, môi trường từ đó nhận diện và đề xuất giải pháp phát triển các mô hình kinh tế sinh thái đảo Hòn Tre

1.4.2 Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát, đề tài tập trung thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

* Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển mô hình kinh tế sinh thái trên đảo Hòn Tre – Kiên Giang

Trang 15

* Phân tích các điều kiện và đánh giá thực trạng các mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên đảo Hòn Tre – Kiên Giang

* Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển mô hình kinh tế - sinh thái góp phần nâng cao mức sống cho cư dân trên trên đảo Hòn Tre nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

mô hình kinh tế nơi đây, hướng tới sự phát triển bền vững cho xã đảo

- Về mặt khái niệm: Mô hình kinh tế sinh thái (từ gọi chung) chỉ một hệ kinh tế - sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định (chỉ đảo Hòn Tre) Đề tài không đi sâu nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật về nông lâm ngư cũng như phân tích các chỉ tiêu đánh giá giữa kinh tế và sinh thái bằng mô hình hồi quy Đề tài chỉ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế sinh thái đã có, trên cơ sở đánh giá tổng quan hiện trạng đảo Hòn Tre, để đề xuất các giải pháp để hoàn thiện mô hình nhằm làm luận chứng khoa học cho các chính sách phát triển của địa phương trong quy hoạch và phát triển bền vững

- Phạm vi không gian: xã đảo Hòn Tre, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang

- Phạm vi thời gian: sử dụng số liệu phân tích trong 3 năm từ 2010 – 2012

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: nhận diện và miêu tả các thực trạng ở xã đảo

Trang 16

Hình Địa hình Hòn Tre phát họa lại

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.1 Phương pháp thu thập tổng hợp dữ liệu

1.6.1.1 Dữ liệu thứ cấp

Các thông tin thứ cấp được thu thập tổng hợp từ các Cơ quan ban ngành ở Kiên Giang, Kiên Hải và xã đảo Hòn Tre bao gồm: Ủy ban nhân dân các huyện, xã, Sở Tài nguyên và Môi trường Kiên Giang; Trung tâm Khuyến Nông Khuyến Ngư tỉnh Kiên Giang; Chi cục Thống kê của tỉnh Kiên Giang và các công trình nghiên cứu của các đơn vị có liên quan đến đề tài…

Bên cạnh đó, nhóm còn tiến hành thu thập các sách, báo, tạp chí và website chuyên ngành liên quan đến kinh tế - sinh thái, nông lâm ngư kết hợp…

Các thông tin thu thập bao gồm: các quyết định, nghị quyết, chỉ thị, thông tư của Chính Phủ liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế xã đảo Hòn Tre, các chương trình phát triển ở địa phương, các số liệu cơ bản về kinh tế, xã hội môi trường trên địa bàn nghiên cứu

Trang 17

Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát thành 02 đợt chính thức trên đảo

+ Đợt 01: ngày 23 đến 25 tháng 08 năm 2013

+ Đợt 02: ngày 08 đến 10 tháng 01 năm 2013

Chưa kể các đợt tiền trạm, khảo sát riêng để lấy tư liệu tại Rạch Giá, do điều kiện

đi lại rất xa khoảng cách đi và về 700km, thời gian và kinh phí cũng hạn chế

1.6.3 Công cụ phân tích bản đồ – bản biểu – sơ đồ

Sử dụng công cụ phân tích bản đồ được dùng để định vị, xác định các điểm khảo sát trên bản đồ Acrview nhằm phục vụ cho các nội dung có liên quan như: sơ đồ, vị trí điểm khảo sát, phân khu quy hoạch, phân khu chức năng của đảo Hòn Tre… làm cơ sở cho định hướng phát triển không gian của địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, đề đài còn sử dụng công

cụ phân tích:

- Công cụ ma trận SWOT: phân tích các thông thu thập nhằm hệ thống hóa các vấn

đề, xác định các nhân tố chính nhằm tìm ra giải pháp tối ưu

- Công cụ ma trận điểm: dựa trên sự tham khảo các ý kiến của các chuyên gia trong ngành để có những giải pháp tối ưu để lựa chọn mô hình kinh tế sinh thái phù hợp với thực tiễn trên đảo Hòn Tre

- Sơ đồ Venn được dùng để phân tích mối quan hệ giữa các đối tượng trên xã đảo trong việc phát triển mô hình kinh tế sinh thái

Trang 18

1.6.4 Phương pháp điều tra xã hội học bằng công cụ bảng hỏi, bảng phỏng vấn sâu

Mục đích sử dụng phương pháp phỏng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin mang tính đại diện, các thông tin chuyên sâu, các hiểu biết của cộng đồng về kinh tế sinh thái Các đối tượng phỏng vấn bao gồm:

1.6.4.1 Hộ nông dân

Bảng hỏi được thiết kế với 30 mẫu với các chỉ tiêu đưa ra nhằm thu thập thông tin về các

mô hình kinh tế tại địa bàn, đặc biệt là sáng kiến kinh nghiệm trong sinh kế trên đảo Cách thức chọn mẫu phỏng vấn như sau:

Tổng số hộ dân trên đảo là: 1.030 hộ, trong đó có gần 200 hộ làm vườn, rẫy và nuôi thủy sản kết hợp Sau đó, nhóm lựa chọn các hộ theo các tiêu chí cho phù hợp với nội dung nghiên cứu (chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống và phân cụm), số mẫu khảo sát còn lại: 30/100 hộ gia đình Địa điểm khảo sát: trải dài trên 3 ấp cả xã đảo Hòn Tre, mỗi ấp chọn

10 hộ ngẫu nhiên theo danh sách Tiêu chí chọn lựa các hộ tham gia phỏng vấn Người

được chọn tham gia phỏng vấn phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Độ tuổi: từ 30 tuổi trở lên

- Quan hệ trong hộ gia đình: chủ hộ, người tạo thu nhập chính cho cả gia đình Hơn 80% số mẫu chủ hộ là nam

- Thời gian định cư: ít nhất có 5 năm sinh sống tại xã đảo, địa bàn khảo sát Kết quả các hộ được chọn khảo sát như sau, xem thêm bảng 3.3, chương 3

Mô hình Hệ thống mô hình Ký hiệu Số hộ

tham gia

Cơ cấu (%)

Phân bố

ở đảo

Tổng số hộ

Nguồn: Nhóm nghiên cứu, 2012

Trang 19

1.6.4.2 Chính quyền địa phương

Phỏng vấn sâu cán bộ địa phương và Trung tâm Khuyến nông ở tỉnh Đối tượng chọn phỏng vấn bao gồm: Trưởng phòng Kinh tế huyện; Phó Chủ tịch xã; Bộ đội biên phòng, chủ tịch hội nông dân

Các thông tin thu thập đối với chính quyền địa phương bao gồm các chủ đề sau:

- Các chính sách hỗ trợ người dân trong phát triển kinh tế

- Thông tin chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội, các chính sách, thể chế,

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế nông nghiệp của đảo

- Các hạng mục đầu tư của Nhà nước trên địa bàn

- Các dự án, đề tài trong và ngoài nước được thực hiện trên địa bàn trong thời gian qua

- Các chương trình tập huấn nâng cao cho các cán bộ địa phương ở xã, huyện

- Hoạt động của các đoàn thể liên quan đến kinh tế đảo trong thời gian qua

- Những khó khăn, vướng mắc của chính quyền địa phương liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp trên đảo

- Định hướng phát triển cũng như các hiểu biết và sáng kiến kinh nghiệm địa phương với các hiện tượng thời tiết, khí hậu diễn ra trên đảo…

Các thông tin thu thập đối với chính quyền địa phương sau khi xử lý, nếu thiếu thông tin sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp qua điện thoại để bổ sung vào dữ liệu cũng như tiến trình phân tích của đề tài nhằm đạt được kết quả tốt nhất

1.7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài nghiên cứu về kinh tế phát triển nông thôn vùng biển và hải đảo nước ta góp phần khẳng định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế theo vùng lãnh thổ, thực hiện theo tinh thần Nghị quyết TW3, trở thành quốc gia mạnh về biển là chiến lược xuất phát từ điều kiện và thách thức của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc

Trang 20

- Đề tài giúp làm rõ tính hợp lý cũng như những bất cập trong phát triển nông nghiệp ở các xã đảo xa xôi của Tổ quốc, làm căn cứ quan trọng để hoàn thiện, bổ sung và góp phần xây dựng mới chính sách tại địa bàn này Đề tài đóng góp về mặt lý luận cho sự phát triển

mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững theo hướng kinh tế nông hộ tại xã đảo này

- Đề tài cung cấp được các thông tin tương đối đầy đủ, chứng minh được tính ưu việt về phát triển nông-lâm-ngư kết hợp (NNLKH), đồng thời, làm rõ xu hướng phát triển NNLKH theo hướng kinh tế hộ gia đình ở địa bàn nghiên cứu Và đề xuất những giải pháp hữu ích để thực hiện có hiệu quả mô hình phát triển trên theo hướng kinh tế sinh thái nhằm phát triển bền vững nông ngư ở xã đảo Hòn Tre, tỉnh Kiên Giang

- Đề tài nghiên cứu là tài liệu khoa học giúp nhà đầu tư, các nhà chuyên môn có quan tâm

và chuyên gia khuyến nông tại các địa phương ở một số vùng đảo và hải đảo có định hướng đúng đắn trong phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững theo hướng kinh tế sinh thái

1.8 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được chia làm 4 phần chính:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình kinh tế sinh thái trên đất đảo

- Tổng quan địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả các mô hình kinh tế sinh thái trên đất đảo

- Đề xuất các giải pháp phát triển mô hình kinh tế- sinh thái

Trang 21

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI TRÊN ĐẢO

1.1 CÁC LÝ THUYẾT VÀ Ý NIỆM VỀ KINH TẾ SINH THÁI

Kinh tế sinh thái xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng trên thực tế kinh tế sinh thái có nguồn gốc sâu xa trong kinh tế và trong sinh thái từ thế kỷ XVIII, do đó nó

có lịch sử phát triển hơn 200 năm Costanza (1997) đă mô tả kinh tế sinh thái là một lĩnh vực nghiên cứu xuyên ngành đề cập đến mối liên hệ giữa hệ sinh thái và hệ thống kinh tế theo nghĩa rộng nhất Chưa có môn kinh tế nào lại đặt tiền đề trí tuệ quan trọng như tính bền vững trong kinh tế sinh thái

Kinh tế sinh thái là một mô hình kinh tế hiện đại, khác với các mô hình kinh tế truyền thống khác (nền kinh tế tự nhiên, nền nông nghiệp hữu cơ - cơ chế tự cung tự cấp, nền kinh tế công nghiệp) Sự khác biệt cơ bản của nền kinh tế truyền thống và kinh tế sinh thái chính là sự nhận thức về vấn đề đó và tầm quan trọng gắn liền sự tương tác môi trường – kinh tế

Bảng 1.1 Sự so sánh giữa kinh tế truyền thống với kinh tế sinh thái

Năng động, hệ thống, tiến hóa

Sở thích của loài người, sự hiểu biết, công nghệ và các tổ chức văn hóa đồng thời phản ánh cơ hội rộng lớn và những giới hạn của sinh thái Loài người có trách nhiệm hiểu vai trò của sinh thái trong hệ thống lớn hơn và quản lý nó bền vững

Thời gian Ngắn (tối đa 50 năm, thông thường 1

– 4 năm)

Đa quy mô (ngày, niên kỷ, đa quy

mô, tổng hợp)

Trang 22

Khung

gian

Không gian không biến đổi trong sự tăng lên của quy mô thời gian, các đơn vị cơ sở biến đổi từ địa phương đến các quốc gia

Hệ thống các cấp quy mô từ địa phương tới toàn cầu

Dạng loài

Chỉ có loài người

Các loài động thực vật rất ít khi được tính đến

Toàn bộ hệ sinh thái bao gồm cả loài người

Nhận thức được mối liên hệ tương

hỗ giữa con người và tự nhiên

Lợi nhuận tối đa (các hăng)

Sử dụng tối đa (cá nhân)

Tất cả các cơ sở tuân thủ các mục tiêu vi mô dẫn đến các mục tiêu vĩ

mô được hoàn thành Các giá thành bên ngoài và lợi nhuận được đưa ra bởi các dịch vụ nhưng thường bị bỏ qua

Cần phải điều chỉnh để phản ánh được các mục tiêu của hệ thống Các tổ chức xă hội và các thể chế văn hóa tại các mức độ cao của thời gian/không gian phân chia cấp bậc

để cải thiện những xung đột sinh ra bởi các áp lực của những mục đích

Trang 23

Như vậy, khoa học sinh thái - kinh tế là khoa học trung gian giữa sinh thái học và kinh tế học, có quan hệ chặt chẽ với địa lý kinh tế, dân số học, sinh học và xã hội học Có thể điểm qua một số tác phẩm của các tác giả sau:

Tác phẩm Cơ sở sinh thái (Basic Ecology) của tác giả P Odue mặc dù thiên về sinh học song đã đề cập nhiều vấn đề về môi trường và kinh tế, đặc biệt là kinh tế trong hệ sinh thái nông nghiệp Tác phẩm Urban Ecoogy và Rurel Ecology của Yoshio Murste và Yoshi Kurata (1975) cũng đã đề cập đến vấn đề sinh thái nông thông và thành thị

Herman E Daly and Joshua Farley (2011) quan tâm đến việc mở rộng và tích hợp các nghiên cứu và quản lý của hộ gia đình tự nhiên (nature’s household) (sinh thái) và hộ gia đình nhân loại (humankind’s household) (kinh tế) Lĩnh vực nghiên cứu cụ thể bao gồm: xác định giá trị tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp và phát triển bền vững, tích hợp công nghệ sinh thái, các mô hình kinh tế - sinh thái từ địa phương, quốc gia đến toàn cầu, các động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và sinh thái

Bên cạnh đó, còn quản lý tài nguyên tái tạo và bảo tồn, đánh giá quan trọng các giả định

cơ bản nằm dưới mô hình kinh tế và sinh thái hiện tại và những tác động của các giả định thay thế, hậu quả kinh tế và sinh thái của sinh vật biến đổi gen bảo tồn và quản lý nguồn gen, nguyên tắc thay thế cho định giá tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên tích hợp và dịch vụ môi trường vào thu nhập quốc dân và các tài khoản tài sản, phương pháp thực hiện chính sách môi trường hiệu quả, nghiên cứu trường hợp của cuộc xung đột kinh tế-sinh thái hoặc sự hài hòa, … Các vấn đề mới trong lĩnh vực này đang nổi lên nhanh chóng và sẽ tìm thấy một diễn đàn sẵn sàng trong kinh tế sinh thái

Peter Bartelmus giới thiệu ngắn gọn một lĩnh vực mới xuất hiện trong kinh tế, bao gồm

cả khoa học môi trường, môi trường và kinh tế sinh thái và lý thuyết tăng trưởng tối ưu, bền vững Tác giả đặt ra hai mục tiêu: một, để mang lại một số thứ tự vào các biện pháp phát triển hạt nhân, các mô hình và quản lý bền vững; và hai, để tạo điều kiện tiếp cận với một vấn đề liên ngành phức tạp Cuốn sách chỉ ra cách thực tế của việc đánh giá và nâng cao tính bền vững về môi trường và kinh tế dài hạn của nền kinh tế Kết quả đạt được một nghiên cứu quốc tế đầy đủ thu hẹp khoảng cách giữa các ngành khoa học liên

Trang 24

quan và nghiên cứu đáp ứng cho bất cứ ai quan tâm đến những khái niệm quan trọng nhất trong các ngành khoa học xã hội

Bi kịch của mảnh đất công là một thuật ngữ kinh tế học chỉ hiện tượng các tài sản chung được phép sử dụng tự do dẫn tới việc khai thác kiệt quệ các tài nguyên này Thuật ngữ

này do Garrett Hardin đặt ra trong bài nghiên cứu có tiêu đề The Tragedy of the

Commonscủa ông đăng trên tạp chí Science năm 1968 [68] Cụm từ “mảnh đất công (tiếng Anh: commons)” trong thuật ngữ trên xuất phát từ những vùng đất tự quản chuyên dành để cho gia súc ăn ở xứ Wales và Anh Do là tự quản, nên thực chất là không có ai giám sát, điều tiết Nếu là đồng cỏ của riêng, nông dân sẽ có sự điều chỉnh để súc vật của mình khỏi ăn hết cỏ dẫn tới sau này không còn cỏ cho chúng ăn tiếp Song nếu là đồng cỏ của công, nông dân có thể tính rằng nếu mình không để gia súc của mình được ăn thoải mái trong khi người khác cho gia súc của họ ăn thoải mái thì mình bị thiệt Nông dân với hành vi tối đa hóa lợi ích bản thân đã đua nhau mang gia súc của mình tới đây cho ăn cỏ càng nhiều càng tốt mà không có ai quan tâm đến việc chừa chỗ cho đồng cỏ tái sinh Kết cục, những đồng cỏ của công này đã bị khai thác đến kiệt quệ và cằn cỗi Bản thân nông dân trở nên bị thiệt thòi khi gia súc của mình bị mất một chỗ ăn cỏ miễn phí Trong kinh tế học, người ta quan sát thấy nhiều hiện tượng “bi kịch của mảnh đất công” như thế mặc dù biểu hiện không hoàn toàn giống những gì đã xảy ra ở những cánh đồng của công

ở các xứ Wales và England

Chẳng hạn, để hấp dẫn các nhà đầu tư vào địa bàn của mình, các chính quyền địa phương

có thể đua nhau đưa ra các ưu đãi đầu tư dưới dạng miễn giảm thuế, cấp mặt bằng kinh doanh, chuẩn bị sẵn cơ sở hạ tầng sao cho địa phương mình hấp dẫn hơn địa phương khác Kết cục là lợi ích ròng hay chênh lệch giữa số thu được từ các khoản đầu tư mà các nhà đầu tư rót vào và các khoản chi tiêu công cộng mà chính quyền địa phương đã bỏ ra

có thể chỉ còn không đáng kể “Bi kịch của mảnh đất công” thường thấy trong việc quản

lý và sử dụng các hàng hóa công cộng Do không có cơ chế hiệu quả quản lý việc sử dụng hàng hóa công cộng, người ta có xu hướng sử dụng quá mức hoặc sử dụng lãng phí các hàng hóa này Môi trường có thể xem là một mảnh đất công nơi mà các nhà máy

Trang 25

tranh thủ xả ra các chất thải, nước thải và khí thải Sáng kiến sử dụng quota xả chất thải trong Nghị định thư Kyoto được xem là một giải pháp để khắc phục bi kịch của mảnh đất công trong lĩnh vực môi trường

Ở Việt Nam, giáo trình Cơ sở địa lý tự nhiên của giáo sư Lê Bá Thảo [28] là một trong ít những tác phẩm đầu tiên đề cập đến môi trường địa lý và phương pháp cân bằng trong địa lý học Công trình hệ sinh thái nông nghiệp của GS Viện sĩ Đào Thế Tuấn [31] đã tổng hợp các vấn đề liên quan đến sinh thái nông nghiệp của thế giới, trên cơ sở đó đã phân tích hệ thống sinh thái nông nghiệp ở nước ta Công trình Môi trường và Tài nguyên Việt Nam của Vụ Điều tra cơ bản thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước Việt Nam [38] đã khái quát tiềm năng và hiện trạng tài nguyên và môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Nguyễn Đắc Hy (1990) [7] đánh giá định lượng và khảo sát mối liên quan giữa các yếu tố trong hoạt động của hệ thống, nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên giữ cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết đạt được vận dụng để phân tích hệ thống sinh thái kinh tế Hà Nội về cấu trúc - chức năng trao đổi vật chất năng lượng giữa nội và ngoại thành Khảo sát thế vận động của hệ thống nhằm tìm kiếm các yếu tố điều khiển, các cơ chế kinh tế và cơ chế sinh học

Dựa trên các lý thuyết nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cho rằng, kinh tế sinh thái là một

mô hình kinh tế hiện đại dựa trên mô hình kinh tế truyền thống (lấy kinh tế nông lâm ngư làm trọng tâm để phát triển kinh tế đảm bảo được cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường)

1.2 KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ SINH THÁI VÀ HỆ KINH TẾ SINH THÁI 1.2.1 Khái niệm về kinh tế sinh thái

Kinh tế sinh thái là một ngành khoa học có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm năm để lại những hiểu biết, kiến thức chuyên môn mà thậm chí đến tận bây giờ chúng ta vẫn chưa thể hiểu tường tận, hoặc sự quản lý trong mối quan hệ tương tác giữa con người và các thành phần môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta

Trang 26

Trong một thế giới kết nối với nhau phát triển, khoa học giản lược đã thúc đẩy sự phát triển và hiểu biết của kiến thức trong nhiều hướng khác nhau, nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để xây dựng và giải quyết vấn đề mà xuất phát từ sự tương tác giữa con người và thế giới tự nhiên Làm thế nào để hành vi của con người kết nối với những thay đổi trong thủy văn, chất dinh dưỡng hoặc chu trình carbon? Các phản hồi giữa các hệ thống xã hội và tự nhiên là gì, ? Kinh tế sinh thái là ngành khoa học cố gắng trả lời câu hỏi như thế này

Tiền tố “eco” từ chữ “ecology” hay “economics” bắt nguồn từ “oikos” trong tiếng Hy Lạp,

có nghĩa là hộ gia đình Sinh thái học là khoa học nghiên cứu về việc quản lý hộ gia đình

về mặt tự nhiên và kinh tế học nghiên cứu việc quản lý hộ gia đình trong các cộng đồng dân cư Sinh thái học có thể được định nghĩa là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường hữu cơ và vô cơ Kinh tế học nghiên cứu phương thức sinh kế của con người, phương thức làm thoả mãn nhu cầu cơ bản và khát vọng của con người

Kinh tế sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản lý hộ gia đình về mặt tự nhiên và nhân văn Nói theo cách khác, nó nghiên cứu về mối tương tác giữa các

hệ thống kinh tế và các hệ thống sinh thái Theo định nghĩa này, con người là đối tượng nghiên cứu của cả kinh tế học và sinh thái học

Tuy nhiên, loài người được đặc trưng bằng quan hệ xã hội giữa các cá nhân Hoạt động lao động của con người là điểm hoàn toàn khác biệt so với các động vật khác Ta có thể thấy kinh tế học và sinh thái học là những chuyên ngành có chung một số lĩnh vực nghiên cứu và phần chung đó là kinh tế sinh thái

Kinh tế sinh thái là nền kinh tế được xây dựng, vận hành, phát triển dựa trên cơ cấu năng lượng tổng hợp sạch; hệ thống công nghệ sạch theo chu trình kín, trình độ tự động hóa cao; là hệ thống thân thiện với môi trường trong sự gắn bó hài hòa giữa tự nhiên, con người và xã hội Mục tiêu của nền kinh tế sinh thái hiện đại là đem sức khỏe, hạnh phúc được sống hòa hợp giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người Nền kinh

tế sinh thái có một cơ cấu năng lượng mới, năng lượng tổng hợp - một dạng năng lượng

Trang 27

sạch Nó được bắt đầu từ công nghiệp sinh thái với cơ cấu năng lượng sạch; vật liệu mới; công nghệ sạch, theo chu trình kín; sản xuất ở trình độ tự động hóa cao

Kinh tế sinh thái liên quan đến tính bền vững, đến hệ thống phân vị, đến sự phân bố và chức năng của các hệ sinh thái và hành vi con người

Nông nghiệp sinh thái không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm sạch cho xã hội mà còn

là một ngành bảo vệ môi trường sống, sản xuất O2, hấp thụ CO2, làm sạch bầu khí quyển, giảm hiệu ứng nhà kính, tăng độ đa dạng sinh học và tính bền vững cân bằng sinh thái Nền nông nghiệp sinh thái được tổ chức liên hoàn với nhà ở sinh thái, tạo thành một hệ sinh thái thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên Nông nghiệp sinh thái khác với nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ), vì nông nghiệp sạch là một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm không khí, đất và nước, tối ưu về sức khỏe và hiệu quả của các cộng đồng sống phụ thuộc lẫn nhau giữa cây trồng, vật nuôi và con người (định nghĩa của Codex Alimentarius, cơ quan Liên hợp quốc giám sát các tiêu chuẩn về lương thực trên toàn thế giới)

Giao thông sinh thái giảm tối đa tiếng ồn, bụi, chất thải độc hại khác; giảm tối đa tai nạn giao thông; một hệ thống liên hoàn giữa đường bộ, đường thủy và đường không; phương tiện đi liên thông không kể địa hình (có thể bay, đi dưới nước, và đi trên bộ; khi cần có thể biến thành nhà ở)

Kiến trúc sinh thái, nhà ở sinh thái, kiến trúc cảnh quan; kiến trúc động thay cho kiến trúc tĩnh; hài hòa với thiên nhiên trở thành một tiêu chuẩn của cái đẹp kiến trúc Dịch vụ sinh thái, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Khoa học - công nghệ ngày nay có nhiệm vụ chủ yếu là tìm giải pháp tối ưu cho sự phát triển

Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào các giá trị thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững Có thể nói du lịch sinh thái là loại hình du lịch mà lợi ích của nó gắn chặt với trách nhiệm bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương

Trang 28

Tóm lại, kinh tế sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản lý hộ gia đình về mặt tự nhiên và nhân văn Còn hệ kinh tế sinh thái là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định Trong đó, lấy con người

là đối tượng nghiên cứu chính trong để đạt sự phát triển bền vững

1.2.2 Khái niệm về làng sinh thái

“Làng sinh thái là một hệ sinh thái có không gian sống của một cộng đồng người nhất định Hệ sinh thái này có chức năng sản xuất ra những thứ cần thiết cho nhu cầu của cộng đồng mà không phá vỡ cân bằng sinh thái Trong đó, con người có vai trò trung tâm

để điều hòa các mối quan hệ nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng ổn định, bền vững cả về khía cạnh tự nhiên lẫn xã hội” (Nguyễn Văn Trương, 2003) [32] Xét góc độ địa văn hoá thì xã đảo Hòn Tre giống như một làng vì tình cấu kết cộng đồng rất cao, lại biệt lập cách xa đất liền gần 30 km, các cư dân cùng sinh sống chan hoà trên một xã đảo

Những đặc trưng cơ bản của làng sinh thái:

- Sử dụng tối ưu nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng tại chỗ Kể cả nguồn lực con người

- Quan hệ giữa các yếu tố vô sinh (đất, nước, khí hậu) và các yếu tố hữu sinh (sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy và kể cả con người) luôn cân bằng ổn định theo quy luật phát triển của một hệ sinh thái tự nhiên

- Là không gian sống của nhiều loài sinh vật trong đó đặc biệt là con người với nhiều cảnh quan nhân tạo đan xen với cảnh quan tự nhiên Tạo sự đa dạng về kiến trúc không gian thích nghi cho nhiều loài sinh vật cư trú

- Làng sinh thái được xây dựng trên cơ sở tuân thủ các quy luật phát triển của hệ sinh thái tự nhiên vốn có, sử dụng kiến thức bản địa và kiến thức khoa học hiện đại trong sản xuất, tổ chức không gian sống

- Làng sinh thái là một hệ sinh thái điển hình, trong đó con người đóng vai trò quan trọng nhất trong chu trình tuần hoàn vật chất và dùng năng lượng của hệ

Trang 29

Mô hình “làng kinh tế sinh thái” hay “đảo kinh tế sinh thái” xây dựng và phát triển là sự kết hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa tự nhiên trồng rừng, cây ăn trái phủ xanh xã đảo, tạo ra

hệ thống vành đai cây xanh bền vững, để cải tạo môi trường kết hợp khai hoang phục hoá, cải tạo đưa đất vào sản xuất nông nghiệp Đồng thời tổ chức di dời, dãn dân tại chỗ hình thành khu dân cư mới, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện sản xuất và hệ sinh thái trong vùng

Mô hình kinh tế-sinh thái đề ra các biện pháp sử dụng đất gồm các thành phần: + Đai rừng phòng hộ, đóng vai trò lá chắn, chống nóng, chống sạt lở, chống gió và nhằm giảm tốc độ gió, bão, áp thấp giúp chống rửa trôi ở những khe suối trong vùng, chống sạt lở

+ Vườn ao cạn: vườn này được đào ở địa hình cao và trồng các loại cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả

+ Vườn sinh thái hộ gia đình: trên đất thổ canh thổ cư, đai rừng phòng hộ được trồng với độ dày cao thấp đan xen tạo thành vành đai phòng hộ khép kín, cát lấp bảo vệ vườn nhà bên trong Vườn ao cạn được đào bên trong vành đai, trồng các loại cây lương thực, thực phẩm như: khoai, mì, chuối, mận

+ Vườn - trang trại: đây là mô hình nông - lâm kết hợp để chuyển hướng từ vùng cát

di động kém bền vững tạo thành vùng sinh thái bền vững

+ Bè lồng nuôi và thả cá: phục vụ gia tăng sản xuất cải thiện kinh tế nông hộ

1.2.3 Hệ kinh tế sinh thái

1.2.3.1 Khái niệm về hệ kinh tế sinh thái

Theo Phạm Quang Anh (2005): “Hệ kinh tế sinh thái là một hệ thống cấu trúc, chức năng có quan hệ biện chứng và nhất quán giữa tự nhiên, kinh tế - xã hội trên một đơn vị lãnh thổ nhất định đang diễn ra mối tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người trên

cả ba mặt: khai thác, sử dụng và bảo vệ tiềm năng tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ đó, tạo nên chu trình vận hành và bù hoàn vật chất - năng lượng - tiền tệ để biến nó thành một bậc thực lực về kinh tế (giàu có, trung bình, nghèo đói) và môi trường (ô nhiễm, bình

Trang 30

thường, trong sạch và dễ chịu) nhằm thỏa mãn cho bản thân mình về mặt vật chất và nơi sống”

Theo Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999): “Hệ kinh tế sinh thái là một hệ thống chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật và môi trường, chịu sự điều khiển của con người để đạt mục đích lâu bền, là hệ thống vừa đảm bảo chức năng cung cấp (kinh tế), vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (sinh thái) và bố trí hợp lý trên lãnh thổ” Khi tiến hành phân tích hệ KTST cần phải đảm bảo 2 nguyên tắc chính: cấu trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái cùng nguyên tắc hỗ trợ: phân cực chức năng

Các mô hình hệ KTST được xây dựng trên cơ sở:

(1) Kiểm kê, đánh giá hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học; (2) Phân tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; (3) Hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình sinh - địa - hoá)

1.2.3.2 Cấu trúc, chức năng và hoạt động của mô hình kinh tế sinh thái

a Thành phần, cấu trúc mô hình hệ kinh tế sinh thái

Một mô hình hệ kinh tế sinh thái bao gồm các thành phần cấu trúc (đầu vào, đầu ra), chức năng và các quá trình sản xuất quan hệ với nhau thông qua dòng vật chất năng lượng

Cấu trúc chức năng của một hệ kinh tế sinh thái:

- Đầu vào (Input): là các nhân tố tự nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội tạo nên nguồn lực của mô hình

Các yếu tố tự nhiên bao gồm các nhân tố của lớp vỏ địa lý đưa vào mô hình dưới dạng nhiệt ẩm, các vật chất vô cơ, hữu cơ và các thông tin di truyền

Các yếu tố kinh tế - xã hội: đất đai, nguồn lực lao động, phương thức sản xuất, chính sách xã hội…

Trang 31

Các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội có quan hệ qua lại với nhau, trong đó điều kiện tự nhiên là nền tảng của yếu tố kinh tế - xã hội đồng thời chịu chi phối của yếu tố kinh tế - xã hội

- Đầu ra (Output): là các sản phẩm về kinh tế - xã hội, môi trường Đáp ứng nhu cầu cho gia đình và xã hội, nhưng đồng thời cũng thải ra môi trường một lượng lớn chất thải

b Chức năng của mô hình hệ kinh tế sinh thái

Bao gồm hai chức năng: chức năng kinh tế và chức năng sinh thái

- Chức năng kinh tế: đóng vai trò nền tảng và không thể tách rời khỏi môi trường sản xuất, trong cùng một điều kiện môi trường sản xuất các mô hình hệ kinh tế sinh thái

có khả năng tổ chức thực hiện các chức năng kinh tế khác nhau, đem lại hiệu quả kinh tế khác nhau

- Chức năng sinh thái: đảm bảo cho mô hình phát triển bền vững Trong quá trình hoạt động mô hình kinh tế sinh thái tác động vào môi trường và làm biến đổi môi trường

Do đó để đảm bảo môi trường sinh thái sạch phải phát triển bền vững mô hình kinh tế sinh thái

c Hoạt động của mô hình hệ kinh tế sinh thái:

Hoạt động của mô hình hệ kinh tế sinh thái là quá trình tổ chức sản xuất kết hợp giữa các nguồn lực một cách có hiệu quả cao nhất, tạo ra sản phẩm kinh tế - xã hội, môi trường trên cơ sở phân tích các thông tin về thị trường

Ngày nay, kinh tế sinh thái hiện đại là nền kinh tế được xây dựng, vận hành, phát triển dựa trên cơ cấu năng lượng tổng hợp sạch; hệ thống công nghệ sạch theo chu trình kín, trình độ tự động hóa cao; là hệ thống thân thiện với môi trường trong sự gắn bó hài

hòa giữa tự nhiên, con người và xã hội (TS Nguyễn Văn Thanh, “Xây dựng mô hình sinh

thái hiện đại trong chiến lược phát triển đất nước”, tạp chí Cộng sản tháng 8/2009)

Tóm lại, nền kinh tế sinh thái hiện đại là một nền kinh tế hài hòa giữa con người với tự nhiên và xã hội Nền kinh tế này dường như trở lại với nền kinh tế tự nhiên, nhưng được hiện đại hóa trên cơ sở trí tuệ phát triển cao của con người Do vậy, mô hình kinh tế sinh thái hiện đại có bản chất là nền kinh tế tri thức, bảo đảm sự phát triển bền vững

Trang 32

Dựa trên cơ sở tổng hợp các ý niệm từ các lý thuyết của các tác giả khác nhau Nhóm nghiên cứu cho rằng, hệ kinh tế sinh thái là một hệ thống chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật và môi trường chịu sự điều khiển của con người để đạt mục đích phát triển bền vững, là hệ thống vừa đảm bảo chức năng cung cấp kinh tế vừa đảm bảo chức năng bảo vệ sinh thái, môi trường bố trí hợp lý trên một đơn vị lãnh thổ

Vì vậy, hệ thống kinh tế sinh thái thực chất nằm trong hệ thống kinh tế môi trường Tính tất yếu của hệ kinh tế sinh thái nằm trong yêu cầu giải quyết tính cân đối và hợp lý của hoạt động giữa hai hệ thành phần: hệ kinh tế xã hội và hệ môi trường Hệ kinh tế sinh thái được đặt dưới sự điều khiển của con người theo các quy luật sinh học và kinh tế nhằm đạt hiệu quả tổng hợp: đảm bảo sự phát triển về kinh tế, xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Do đó, hệ thống kinh tế sinh thái phải xuất phát từ nền kinh tế truyền thống lấy kinh tế NLNKH làm chủ đảo, vì đó là cơ cấu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thành phần kinh tế ở các vùng chưa phát triển

1.2.4 Khái niệm về phát triển nông lâm ngư kết hợp

1.2.4.1 Khái niệm về nông lâm ngư kết hợp

Định nghĩa về nông lâm ngư kết hợp (NLNKH) hiện nay đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, định nghĩa đó như sau: NLNKH bao gồm các hệ canh tác sử dụng đất khác nhau; trong đó, các loài cây thân gỗ sống lâu năm (bao gồm cả cây bụi thân gỗ, các loài cây trong họ dừa và họ tre, nứa) được trồng kết hợp với các loài cây nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác, đã được quy hoạch trong sản xuất

NN, LN, NN (ngư nghiệp, thuỷ sản) Chúng được kết hợp với nhau hợp lý trong không gian, hoặc theo trình tự về thời gian Giữa chúng luôn có tác động qua lại lẫn nhau cả về phương diện sinh thái, kinh tế theo hướng có lợi (Phạm Đức Tuấn, 2005) [31]

Như vậy, NLNKH là một lĩnh vực khoa học độc lập Nó được hình thành và xây dựng trên cơ sở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, có liên quan đến các phương thức sử dụng đất đai như nghề làm ruộng, nghề chăn nuôi, nghề làm rừng, nghề làm vườn, nghề nuôi trồng thuỷ sản

Trang 33

1.2.4.2 Khái niệm về phát triển nông lâm ngư kết hợp

Phát triển NLNKH là quá trình phát triển sản xuất trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, đó

là sự gia tăng về số lượng nông lâm, thuỷ sản, đồng thời, hoàn thiện về cơ cấu: chất lượng sản phẩm tốt hơn; quy mô diện tích lớn hơn phù hợp với yêu cầu của sự phát triển; chủng loại cây, con và sản phẩm đa dạng hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người; tạo

ra nhiều ngành nghề bổ trợ kết hợp thành một quy trình sản xuất khép kín (như sản xuất – thu mua – sơ chế và chế biến); khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đồng thời, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống

Phát triển NLNKH có các hướng phát triển như sau:

- Phát triển NLNKH theo hướng kinh tế hộ (hộ canh tác NLNKH đơn thuần);

- Phát triển NLNKH theo hướng kinh tế trang trại (tổ chức sản xuất NLNKH theo kiểu trang trại);

- Phát triển NLNKH theo các hình thức khác

a) Phát triển NLNKH theo hướng kinh tế hộ (hộ canh tác NLNKH đơn thuần)

Hộ canh tác NLNKH đơn thuần là các nông hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông

Về quy mô sản xuất: Các nông hộ sản xuất NLN có quy mô diện tích hoặc giá trị sản xuất chưa đủ lớn để được công nhận là kinh tế trang trại (theo các tiêu chuẩn của thông tư liên Bộ NN & PTNT và Tổng cục Thống kê)

Trong sản xuất NLN, các nông hộ thường áp dụng các phương thức sản xuất NLNKH lấy ngắn nuôi dài: Trồng cây nông nghiệp xen với cây lâm nghiệp, hoặc áp dụng các mô hình vườn - ao - chuồng, để có thu nhập nhanh lấy cây nông nghiệp nuôi cây lâm nghiệp Mục tiêu của họ là đảm bảo sinh kế trong gia đình Vì quy mô (diện tích, vốn đầu tư và lao động) nhỏ nên các nông hộ ít chú ý đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng Do đó, nông lâm sản mà họ sản xuất ra còn nhỏ lẻ và đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Họ thường bán các nông, lâm sản hàng hoá ở dạng thô, vì vậy, lợi nhuận thu về

Trang 34

chưa cao, đời sống của họ còn gặp khó khăn

b) Phát triển NLNKH theo hướng kinh tế trang trại (tổ chức sản xuất NLNKH theo kiểu trang trại)

Trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá Quy mô sản xuất hàng hoá của hộ nông dân đạt được ở mức độ tương đối lớn và đa dạng hoá sản phẩm để có mức thu nhập

có thể tái sản xuất mở rộng sau khi các nhu cầu khác như sinh hoạt, đời sống được đảm bảo

KTTT là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp - phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ gia đình và căn bản giữ bản chất kinh tế hộ: Có đầu

tư, tích tụ lớn về qui mô đất đai, lao động, tiền vốn, khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để sản xuất hàng hoá có chất lượng cao cung cấp cho thị trường xã hội Như vậy có thể nói KTTT ra đời trên cơ sở kinh tế hộ

Ở nước ta, trong những năm gần đây thuật ngữ “trang trại gia đình” được gọi dưới các góc độ chuyên sâu của từng ngành kinh tế: Đối với NN có nông trại; đối với LN có lâm trại; đối với TS có ngư trại Dù ở ngành kinh tế nào đi nữa, các loại hình trang trại

đó đều là những cơ sở sản xuất ra hàng hoá trong phạm vi, quy mô hộ gia đình

Trên cơ sở tổng hợp qua nhiều kênh thông tin khác nhau, khái niệm trang trại về mặt kinh

tế có thể hiểu như sau: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người, hoặc một nhóm người, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản

lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường

c) Phát triển NLNKH theo các hình thức khác

Ở Việt Nam, ngoài hai hình thức phát triển NLNKH là: nông hộ và trang trại thì còn có hình thức phát triển NLNKH theo xu hướng khác như nông trường, lâm trường hay phát triển lâm nghiệp cộng đồng Tuy nhiên, ở hình thức phát triển NLNKH này việc

áp dụng các phương thức sản xuất NLNKH (nếu có) lại ít hiệu quả, không mang lại hiệu quả kinh tế cao như trong sản xuất của nông hộ hay trang trại

Trang 35

1.2.4.3 Các mô hình sản xuất nông lâm kết hợp

a) Hệ canh tác nông lâm kết hợp lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên

Mục đích chính trong hệ canh tác NLNKH là sản xuất gỗ, củi, tre, nứa Việc tiến hành

trồng xen các cây NN thân thảo ngắn ngày kết hợp để: hạn chế cỏ dại xâm chiếm; chống được cháy rừng trong mùa khô; chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tốt hơn; giúp cho cây rừng sinh trưởng tốt hơn trong các năm đầu; giảm được giá thành trồng rừng; cung cấp lương thực, thực phẩm tại chỗ cho nhân dân địa phương Việc trồng xen các cây NN cung cấp lương thực, thực phẩm với cây rừng trên đất canh tác lâm nghiệp trên nguyên tắc không làm giảm năng suất và chất lượng gỗ của rừng Trong hệ canh tác NLNKH lấy lâm nghiệp làm hướng ưu tiên có hai hệ phụ: trồng xen cây NN trong giai đoạn đầu khi trồng rừng chưa khép tán Taungya; trồng xen cây nông nghiệp, dược liệu chịu bóng dưới tán rừng (Bộ Nông nghiệp, 2006) [2]

b) Hệ canh tác nông lâm kết hợp lấy nông nghiệp làm hướng ưu tiên

Trong hệ canh tác NLNKH, mục đích sản xuất nông nghiệp là cơ bản, việc kết hợp trồng xen các loài cây gỗ sống lâu năm (sản xuất lâm nghiệp), nhằm mục đích phòng hộ cho các cây trồng nông nghiệp là chính, để thâm canh tăng năng suất các cây trồng nông nghiệp, kết hợp cung cấp thêm củi đun, gỗ gia dụng, phân xanh, thức ăn gia súc, phục vụ trực tiếp tại chỗ cho nhu cầu của nhân dân địa phương Bởi vậy, việc thiết kế trồng xen các cây thân

gỗ sống lâu năm (cây lâm nghiệp) trên đất canh tác nông nghiệp, không được làm giảm sút năng suất của các cây trồng nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp, 2006) [2]

c) Hệ canh tác súc - lâm kết hợp, lấy chăn nuôi làm hướng ưu tiên

Hệ canh tác súc - lâm mục đích chủ yếu là thâm canh các đồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc, việc kết hợp trồng xen các cây thân gỗ và nhất là các cây gỗ họ đậu có khả năng cố định đạm trên đồng cỏ chăn nuôi nhằm mục đích: nâng cao năng suất đồng cỏ, tạo bóng mát cần thiết cho gia súc, tạo thành các hàng rào ngăn cản súc vật để thực hiện việc chăn thả súc vật trên các đồng cỏ luân phiên (Bộ Nông nghiệp, 2006) [2]

d) Hệ canh tác lấy cả nông lâm ngư làm trọng tâm phát triển

Hệ canh tác nông lâm ngư kết hợp là hệ canh tác trên các dạng đất đai được ngập nước (ngập nước triều khi triều cường và ngập nước ngọt trong mùa mưa) Mục đích cơ bản là

Trang 36

nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây nông nghiệp và trồng rừng (Bộ Nông nghiệp, 2006) [2]

e) Hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thuỷ sản

Hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thuỷ sản là hệ canh tác trên các dạng đất đai được ngập nước, ngập nước triều khi triều cường và ngập nước ngọt trong mùa mưa Mục đích cơ bản là nuôi trồng thuỷ sản, bởi vì nguồn lợi thuỷ sản mang lại trên một đơn vị diện tích canh tác cao hơn từ 2 đến 5 lần so với trồng cây nông nghiệp và trồng rừng Để nuôi trồng thuỷ sản có năng suất cao và bền vững phải kết hợp trồng xen cây rừng nhằm: Tạo nguồn thức ăn cho các loài thuỷ sản, giảm nhiệt độ nước trong mùa nắng và hạn chế hiện tượng sắc mặn trong mùa khô, giảm độ đục của nước, hạn chế quá trình phèn hoá Trong

hệ canh tác lâm nghiệp kết hợp thuỷ sản có hai hệ phụ: Lâm ngư kết hợp, ngư lâm kết

Vì vậy, để có những phương án quy hoạch khả thi, cần phải xác định được các loại hình

sử dụng đất trong quá khứ và hiện tại Do đó, việc nghiên cứu lịch sử phát triển các mô hình hiện trạng nông nghiệp cây trồng - vật nuôi trong quá trình sử dụng đất đai là không thể thiếu được Nói cách khác, nghiên cứu quá khứ và hiện tại của các mô hình sản xuất cũng là cơ sở khoa học vững chắc cho việc đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, đồng thời trên cơ sở của lịch sử

đó có thể đưa ra những dự báo về kinh tế, sinh thái và môi trường một cách hữu hiệu

Trang 37

1.2.5.2 Quan điểm hệ thống và tổng hợp

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, dù ở bất cứ quy mô lãnh thổ nào thì thực chất vẫn tuân theo quy luật vận hành hệ thống, trong đó có sự tham gia của các hợp phần như: chính sách, pháp luật, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các loại nguyên liệu đầu vào khác Quá trình vận hành của hệ thống này quyết định bởi sự điều hành và quản lý của các cấp chính quyền địa phương, cuối cùng là sự tham gia của người dân

Các hợp phần tham gia vào sự vận hành của hệ thống này, ở bất cứ cấp độ nào đều phải hài hòa với nhau, có như vậy thì hệ thống mới hoạt động và mang lại hiệu quả, thật vậy

để các hợp phần này liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động nhịp nhàng thì phải có một

sự điều hành đúng đắn từ các cấp chính quyền, đó chính là những chiến lược, sách lược, các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn với sự tham gia của nhiều nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau

1.2.5.3 Quan điểm phát triển bền vững

Đến những năm gần đây, nhân loại mới nhận ra rằng môi trường sống của mình bị phá hủy nghiêm trọng, nguồn tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt Tuy nhiên cùng với những vấn nạn này thì sự phát triển vẫn không theo mong muốn, sự phân hóa giàu nghèo vẫn cao, các vấn đề xã hội và việc làm vẫn nảy sinh tiêu cực, lúc này người ta nghĩ tới “ngưỡng” của sự phát triển, và chính từ đây thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện

và thịnh hành trên khắp thế giới

“Phát triển để thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn các nhu cầu của những thế hệ tương lai” Đây là sự dũng cảm và cũng

là thách thức lớn đối với nhân loại khi lựa chọn phát triển nhằm đạt được cả ba mục tiêu

về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Các tính toán của quy hoạch phát triển kinh tế -

xã hội phải yêu cầu bền vững của sự đan kết các yếu tố phát triển (đảm bảo tính liên ngành, liên vùng) nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn thế, mọi hoạt động trong lãnh thổ phải được tổ chức khoa học

Như vậy, tính xã hội và bền vững chi phối nội dung và phương pháp nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ

Trang 38

1.3 KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ SINH THÁI

1.3.1 Phát triển kinh tế sinh thái của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Các mô hình nông lâm kết hợp chủ yếu ở Indonesia

- Mô hình NLNKH theo kiểu vườn hộ (pekarangan)

+ Mô hình này là một sự kết hợp giữa cây ngắn ngày, cây lâu năm và vật nuôi trong khu vườn quanh nhà Nó là một hệ thống canh tác tương hỗ với ranh giới được xác định để phục vụ nhiều chức năng khác nhau về kinh tế, sinh học tự nhiên và văn hoá xã hội Điển hình cấu trúc của mô hình này là vườn hộ trồng xen nhiều tầng

+ Mô hình 3 tầng: một phương thức trồng và thu hoạch cỏ, cây họ đậu, cây bụi và cây trồng làm thức ăn cho gia súc Tầng thứ nhất, bao gồm cỏ và cây họ đậu, nhằm cung cấp

cỏ cho chăn nuôi gia súc trong mùa mưa Tầng thứ 2 bao gồm cây bụi dùng để cung cấp nguyên liệu lợp mái, làm hàng rào và có thể tận dụng lá của chúng làm thức ăn gia súc Tầng thứ 3, bao gồm các cây thân gỗ nhằm cung cấp gỗ, củi và trái cây

Hình 1.1 Mô hình NLNKH theo kiểu vườn hộ (pekarangan) ở Indonesia

Trang 39

- Mô hình NLNKH dựa vào rừng: ở mô hình này chủ yếu là canh tác nương rẫy (hay còn gọi chặt, phá, đốt, bỏ hay làm nương, rẫy du canh) Canh tác nương rẫy bao gồm rất nhiều kỹ thuật theo sự đa dạng của điều kiện tự nhiên

Ở Apo Kayan (Đông Kalimantan), đa số là rừng tái sinh được phát, đốt và dọn sạch để sản xuất NN, giai đoạn bỏ hoá 10 đến 30 năm Người nông dân tin rằng giai đoạn bỏ hoá như vậy đủ lâu để giảm cỏ dại và ngăn chặn sự thoái hoá ngắn hạn của rừng biến thành rừng cây lau, cây bụi Một số nơi ở khu vực này có thể bỏ hoá dài hơn (40 đến 50 năm)

để ngăn ngừa giảm độ phì nhiêu của đất đai và xâm chiếm của cỏ dại Những người nông dân đã lấy được giá trị của việc bỏ hoá dài hạn trong canh tác nương rẫy

Ở Long Segar (cũng ở Đông Kalimantan), người ta canh tác nương rẫy bằng cách phát dọn sạch rừng (chủ yếu rừng nguyên sinh) để canh tác nương rẫy

- Hệ canh tác Taungya: Là mô hình khuyến khích trồng rừng theo phương thức truyền thống Tumpangsari, nông dân được quyền trồng cây lương thực giữa các hàng cây (trồng trong 2 năm đầu) Ngoài ra, mô hình Tumpangsari này còn cho phép trồng cây ăn quả, cỏ

và các loại cây trồng khác giữa những hàng cây rừng trong suốt luân kỳ của rừng trồng (Nguồn: Phạm Đức Tuấn (2005), Kỹ thuật canh tác Nông Lâm kết hợp ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội)

1.3.1.2 Các mô hình nông lâm kết hợp chủ yếu ở Philippines

Sau đây là các mô hình NLNKH chủ yếu ở Philippines:

- Mô hình canh tác xen theo băng: canh tác theo băng là một kỹ thuật trồng những hàng dậu họ đậu và xen hoa màu giữa hai hàng của chúng Những hàng dậu này là những cây hoặc bụi cây họ đậu được trồng cách đều nhau (khoảng từ 4 - 6m) dọc theo đường đồng mức Khoảng đất trống ở giữa những hàng dậu này được trồng những hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả Tiêu biểu cho hệ thống này là kỹ thuật canh tác trên đất dốc SALT Cách một hoặc hai hàng cây lâu năm được trồng những băng hàng cây họ đậu bằng gieo hạt trực tiếp hoặc cành giâm, dọc theo đường đồng mức với trung bình khoảng cách giữa hai hàng băng là 5 m

Tuy một số diện tích đất bị chiếm bởi các băng này nhưng hiệu quả kinh tế vẫn cao hơn

và hệ thống bền vững hơn ở phần đất trên cao được trồng cây lâu năm như cà phê, cây ăn

Trang 40

quả còn 2 băng đất xen giữa 3 hàng băng dưới chân đồi được dành cho trồng hoa màu ngắn ngày Với việc sắp xếp như trên thì tỷ lệ canh tác trên đất của các băng cây xanh chiếm khoảng 20%, cây lâu năm chiếm khoảng 25% và hoa màu ngắn ngày chiếm khoảng 55% tổng diện tích Những hàng dậu phải được cắt tỉa thường xuyên ở độ cao khoảng 0,5 m để giảm tối thiểu che bóng hoa màu trong băng Sinh khối từ phẩm vật cắt tỉa có thể sử dụng ủ lên đường băng làm phân xanh hoặc làm thức ăn cho gia súc (Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn (2005), Kỹ thuật canh tác Nông Lâm kết hợp ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội)

Ưu điểm của mô hình này là bảo vệ bền vững đất và nước, gia tăng năng suất hoa màu đồng thời tăng thu nhập cho nông trại Ngoài ra, mô hình này còn có ý nghĩa làm giảm sự phụ thuộc vào phân bón vô cơ vì việc cắt tỉa các băng cây họ đậu được sử dụng như nguồn phân hữu cơ đáng kể

Hình 1.2 Mô hình kỹ thuật SALT ở Philippin

(Sloping Agricultural Land Technology)

Tuy vậy, mô hình này còn có hạn chế là không phù hợp với những nơi có độ dốc thấp bởi vì: Đất canh tác bị mất do trồng nhiều hàng dậu, cắt tỉa không đúng và khoảng cách 2

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quang Anh, (2005), Bài giảng về nhập môn kinh tế sinh thái, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về nhập môn kinh tế sinh thái
Tác giả: Phạm Quang Anh
Năm: 2005
2. Lê Đức An và nnk, (1996), Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống các đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển. Báo cáo đề tài KT. 03 - 12. Lưu trữ Trường ĐH KHTN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống các đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển
Tác giả: Lê Đức An và nnk
Năm: 1996
3. Đề tài KC.09.12, (2005), Chuyên đề Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phát triển kinh tế sinh thái đảo trong nước và thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phát triển kinh tế sinh thái đảo trong nước và thế giới
Tác giả: Đề tài KC.09.12
Năm: 2005
5. Đề tài KC-09-12, (2005), Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam, Lưu trữ Trường ĐH KHTN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam
Tác giả: Đề tài KC-09-12
Năm: 2005
6. Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa, (2009), Vượt thách thức, mở thời cơ phát triển bền vững, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vượt thách thức, mở thời cơ phát triển bền vững
Tác giả: Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
7. Nguyễn Đắc Hy, (1990), Bước đầu tiếp cận lý thuyết hệ thống sinh thái - kinh tế vào nghiên cứu lãnh thổ Hà Nội, NXB Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tiếp cận lý thuyết hệ thống sinh thái - kinh tế vào nghiên cứu lãnh thổ Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Đắc Hy
Nhà XB: NXB Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm: 1990
9. Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, (2005), Kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
10. Bộ Lâm nghiệp, (1987), Một số mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1987
11. Bộ môn Địa mạo và Địa lý – môi trường biển, Khoa Địa lý, ĐHKHTN, ĐHQGHN, Bài giảng Địa mạo Việt Nam, trang 64-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Địa mạo Việt Nam
12. Trần Văn Chử, (2004), Tài nguyên thiên nhiên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thiên nhiên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Chử
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
13. Nguyễn Sinh Cúc, (2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
14. Đại học Kinh tế Quốc dân, (2006), Bài giảng phát triển bền vững, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phát triển bền vững
Tác giả: Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1996, 2001, 2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của Đảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
16. Võ Văn Đức, (2009), Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
17. Trương Quang Hải và Nguyễn Thị Hải, (2005), Kinh tế môi trường, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Trương Quang Hải và Nguyễn Thị Hải
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2005
18. Đào Lệ Hằng, (2008), Sử dụng bền vững đất trong nông nghiệp, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bền vững đất trong nông nghiệp
Tác giả: Đào Lệ Hằng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
19. Trần Thị Bích Hằng, (2009), Quản lý việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển theo hướng phát triển bền vững, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển theo hướng phát triển bền vững
Tác giả: Trần Thị Bích Hằng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
20. Nguyễn Cao Huần, (2005), Đánh giá cảnh quan (Theo tiếp cận kinh tế sinh thái), NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan (Theo tiếp cận kinh tế sinh thái)
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
21. Trần Ngọc Ngoạn, (2008), Phát triển nông thôn bền vững – Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phát triển nông thôn bền vững – Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
22. Nguyễn Bạch Nguyệt, (2008), Giáo trình lập dự án đầu tư, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Đầu tư, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lập dự án đầu tư
Tác giả: Nguyễn Bạch Nguyệt
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w