1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý tưởng hình thành và phát triển các không gian vui chơi giải trí cho sinh viên trong khu đô thị đại học quốc gia thành phố hồ chí minh công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học

79 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý Tưởng Hình Thành Và Phát Triển Các Không Gian Vui Chơi Giải Trí Cho Sinh Viên Trong Khu Đô Thị Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phan Đình Bích Vân, Nguyễn Thị Thùy Trang, Lê Trọng Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Minh Hóa
Trường học Đại Học Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Đô Thị Học
Thể loại Công Trình Dự Thi
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN   CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA” LẦN THỨ XIII NĂM 2011 TÊN CÔNG TRÌNH

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

 

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”

LẦN THỨ XIII NĂM 2011

TÊN CÔNG TRÌNH:

Ý TƯỞNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHÔNG GIAN VUI CHƠI GIẢI TRÍ CHO SINH VIÊN

TRONG KHU ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mã số công trình:

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

 

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”

LẦN THỨ XIII NĂM 2011

TÊN CÔNG TRÌNH:

Ý TƯỞNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHÔNG GIAN VUI CHƠI GIẢI TRÍ CHO SINH VIÊN

TRONG KHU ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ và Tên tác giả, nhóm tác giả Giới tính Sinh viên năm thứ

Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN MINH HÕA

Trưởng bộ môn Đô thị học và Quản lý đô thị

Trang 3

MỤC LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

TÓM TẮT 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Đặt vấn đề 7

2 Sơ lược tình hình nghiên cứu 7

3 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn 14

6 Kết cấu đề tài 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHÔNG GIAN VUI CHƠI- GIẢI TRÍ DÀNH CHO SINH VIÊN TRONG ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH 16

I.1 Không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên: 16

I.2 Lý thuyết chung về Đô thị Đại học: 18

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN VUI CHƠI- GIẢI TRÍ VÀ NHU CẦU VỀ KHÔNG GIAN VUI CHƠI- GIẢI TRÍ CỦA SINH VIÊN TRONG KHU ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 22

II.1 Thực trạng về các không gian vui chơi- giải trí trong khu Đô thị ĐHQG-HCM 22

II.2 Nhu cầu của sinh viên trong về các không gian vui chơi giải trí trong khu đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM 26

Trang 4

CHƯƠNG III: Ý TƯỞNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHÔNG

HỌC QUỐC GIA 34

HỒ CHÍ MINH 34

III.1 Cơ sở hình thành ý tưởng: 34

III.2 Ý tưởng hình thành và phát triển không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 37

PHẦN KẾT LUẬN 54

PHẦN PHỤ LỤC 58

I PHỤ LỤC RẢ BĂNG PHỎNG VẤN SÂU 58

II PHỤ LUC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU 65

III PHỤ LỤC BẢNG HỎI 71

VI PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 76

V PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SV: Sinh viên

ĐH: Đại học

ĐTĐH: Đô thị đại học

ĐHQG-HCM: Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

ĐTĐHQG-HCM: Đô thị Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

ĐHKHXH & NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn

ĐHKHTN: Đại học Khoa học Tự nhiên

KTX: Ký túc xá

KG: Không gian

KGCC: Không gian công cộng

KGVC-GT: Không gian vui chơi- giải trí

VC- GT: Vui chơi giải trí

Trang 6

TÓM TẮT

Khu đô thị Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh tập hợp các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu chủ yếu ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh Đây sẽ là nơi tập trung chủ yếu tầng lớp tri thức của xã hội, đặc biệt là các bạn sinh viên, những người có năng lực, óc sáng tạo và tinh thần học hỏi không ngừng Nhu cầu cần xây dựng một không gian vui chơi giải trí ở đây là tất yếu Qua cuộc khảo sát có thể khẳng định rằng không gian vui chơi giải trí ở KĐTĐHQG-HCM còn thiếu và kém: thiếu về mặt số lượng, kém về mặt chất lượng và chưa đáp ứng tốt cho hoạt động vui chơi, giải trí của sinh viên

Ở phần đầu đề tài đưa ra cơ sở lý thuyết về không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên, khái quát hóa các khái niệm về giải trí, không gian vui chơi giải trí, các khái niệm cơ bản về không gian công cộng và cũng đưa ra các khái niệm về mô hình Đô thị đại học

Phần tiếp theo, đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng về các không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

và phản ánh các nhu cầu của các bạn sinh viên về một không gian vui chơi giải trí

mà họ mong muốn Để từ đó đề tài phát triển các ý tưởng về không gian vui chơi giải trí xuất pháp từ nhu cầu của sinh viên

Và trong phần cuối đề tài đưa ra những ý tưởng hình thành và phát triển các không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học trên cơ sở nghiên cứu đồ án quy hoạch Đại học quốc gia đã được chính phủ phê duyệt và đưa ra những kiến nghị với các cấp có liên quan

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Dự án Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được quy hoạch chi tiết 1/2.000

từ năm 2003 theo mô hình đô thị Đại học đa chức năng và được tổ chức lại theo quyết định số 15 / 2001 / QĐ Qua hơn 15 năm xây dựng, ĐHQG- HCM đang ngày càng rõ nét trở thành một trung tâm đào tạo nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, ĐHQG- HCM là mô hình của một đô thị đào tạo và nghiên cứu khoa học

ĐHQG- HCM được chú trọng xây dựng thành trung tâm trọng điểm quốc gia đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Nhìn chung vào thời điểm này, các cơ sở hạ tầng và

kỹ thuật cũng như các dịch vụ của khu Đô thị Đại học Quốc gia HCM đã dần hoàn thiện và đi vào hoạt động Nhưng một thực tế cho thấy môi trường học tập và sinh hoạt của sinh viên chưa được đảm bảo “ Làng” đại học và Đại học Quốc gia TP.HCM với gần 10.000 sinh viên theo học, trong đó có trên 4.500 sinh viên ở trong ký túc xá (KTX) Sinh viên theo học tại đây rất cần những không gian phục

vụ nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí sau những giờ học tập căng thẳng trên giảng đường Là những sinh viên đang theo học tại đây, nhóm nghiên cứu cũng phần nào hiểu được mong muốn của các bạn sinh viên về một không gian vui chơi giải trí cho riêng mình

Xuất phát từ động lực đó, nhóm chúng tôi xây dựng đề tài nghiên cứu : “Ý tưởng

hình thành và phát triển các không gian vui chơi giải trí cho sinh viên trong Khu

Đô thị Đại học Quốc Gia TP.HCM”

Thông qua đề tài nghiên cứu này nhóm có thể nói lên ý kiến của sinh viên về một không gian vui chơi giải trí ước muốn nằm trong khuôn viên Đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM, đồng thời đây cũng là một cơ hội cho nhóm được luyện tập trau dồi kĩ năng nghiên cứu phục vụ cho nghề nghiệp trong tương lai

2 Sơ lược tình hình nghiên cứu:

Vui chơi giải trí- giải trí là một bộ phận quan trọng trong đời sống con người Vấn

đề này không còn mới lạ, đã được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều trong thời

gian qua Trong luận văn Thạc sỹ Thực trang không gian vui chơi và giao tiếp của

trẻ em trong quá trình đô thị hóa tại TP.HCM hiện nay [15] , tác giả đã đưa ra một

Trang 8

số khái niệm về không gian công cộng, vai trò của không gian công cộng đối với sự phát triển của con người, các khái niệm về nhu cầu, quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của nó đến các không gian vui chơi giải trí của trẻ em…từ đó đưa ra nhận định về thực trạng các không gian vui chơi giải trí dành cho trẻ em hiện nay trên địa bàn TP.HCM

Không thể phủ nhận, hoạt động vui chơi- giải trí là hoạt động cần thiết yêu đối sinh viên, nghiên cứu về vấn đề này có đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên 2002-2003,

Tìm hiểu hoạt động vui chơi- giải trí của sinh viên trong Đại học Quốc gia TP.HCM trong giai đoạn hiện nay [20], của nhóm sinh viên khoa Xã hội học,

trường ĐH KHXH& NV HCM : Phạm Thị Thùy Trang, Nguyễn Văn Nay, Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Thị Thanh Hiền, Nguyễn Thị Tuyết, Lê Nguyễn Việt Yên Trong

đề tài này nhóm nghiên cứu chú trọng sử dụng phương pháp thu thập thông tin định lượng bằng cách tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi dưới dạng phiếu thu thập ý kiến của 420 sinh viên thuộc 3 khoa của 3 trường đại học trong khối Đại học Quốc gia ( Khoa Xã hội học-ĐH KHXH& NV HCM, khoa Cơ khí- ĐH BK HCM, khoa Hóa- ĐH KHTN HCM) Đề tài này đã đưa ra được những nhận định ban đầu về hoạt động VC-GT của sinh viên trong ĐHQG-HCM, đa số các bạn sinh viên đều cho ràng sân chơi dành cho sinh viên hiện nay còn hạn chế, những chương trình phục vụ hoạt động VC-GT cho sinh viên chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên

cả về mặt nội dung và hình thức Qua điều tra nhóm nghiên cứu cho rằng việc xây dựng cho sinh viên nhiều sân chơi lành mạnh và bổ ích là một nhu cầu chính đáng, đáp ứng được đông đảo nguyện vọng của sinh viên Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số suy nghĩ mang tính kiến nghị để nhằm tạo ra những hoạt động VC-GT lành mạnh dành cho sinh viên như: tăng cường cơ sở vật chất, đa dạng hóa các hình thức VC-GT, các hoạt động Đoàn- Hội cần cụ thể hơn và tạo sức hút đối với sinh viên, cần có sự quản lý chặt chẽ và phối hợp từ nhiều phía để tạo ra một môi trường học tập an toàn, lành mạnh cho sinh viên Nghiên cứu này thực hiện cách đây 8 năm nên số liệu nghiên cứu sẽ không còn chính xác, tuy nhiên những kết luận trong đề tài là nguồn thông tin tham khảo để nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này

Trang 9

Bàn về mô hình Đô thị Đại học, Trong bài “Những ý tưởng ban đầu về một Đô thi

ĐHQC- HCM” [13] của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa (Trưởng bộ môn Đô Thị Học,

chủ nhiệm đề án Đô thị Đại học), in trên bản tin ĐHQG-HCM số 110.2009, tác giả

đã đưa ra những khái niệm ban đầu về thế nào là một Đô thị Đại học và trình bày những ý tưởng về một Đô thị ĐHQG-HCM tương lai Trong đó tác giả nhấn mạnh đến một mô hình Đô thi Đại học hiện đại mà truyền thống, thân thiện với môi trường, an toàn với con người, là không gian của các giá trị văn hóa nhân văn… Cũng trên bản tin ĐHQG-HCM số 115-116.2009, PGS.TS Nguyễn Minh Hòa có

bài: “ Mô hình Đô thị Đại học quảng Châu- một kinh nghiệm tốt cho Đại học Quốc

gia TP.HCM ” [14], trong bài viết tác giả đề cập đến mô hình Đô thị Đại học Quảng

Châu (còn gọi là Quảng Châu Đại học thành) thiệu một số thông tin và kinh nghiệm

về mô hình này để từ đó có thể học tập và ứng dụng vào việc xây dựng và phát triển

Đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM Đô thị Đại học Quảng Châu và Đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM có rất nhều điểm tương đồng Chúng có diện tích như nhau, khoảng cách xa trung tâm, bằng nhau, cả hai đều là đại học đa ngành, đa lĩnh vực và

sô các thành viên (trường, viện) tương đương nhau Cả hai đều là trường công lập với quy mô cực đại bằng nhau Do vậy đây là một ví dụ điển hình để ĐHQG-HCM

có thể trao đổi và học tập trong quá trình xây dựng đô thị Đại học hiện đại ở phía Đông- Bắc TP.HCM

Để có được một mô hình thành công như vậy, ĐH Quảng Châu đã tập trung chỉ đạo, cung cấp tối đa nguồn lực, thực hiện dứt điểm, thành phố được xây dựng với tốc độ nhanh nhất từ trước đến nay và tạo ra một kì tích “ không thể tin được” ở Trung Quốc Đại học Quảng Châu thống nhất về tổng thể và đa dạng về phong cách, triết lý của Đô thị Đại học quảng Châu là: Ưu tiên sinh thái, phát huy tối đa nguồn lực của đại phương; thông nhất ý tưởng chung, tôn trọng bản sắc riêng Một trong các ấn tượng mạnh về thành phố này là mảng xanh rất cao, tỷ lệ mảng xanh là 60%, còn 10% là mặt nước Đây là một Đô thị Đại học thân thiện với môi trường và tôn trọng quá khứ

Tại hội thảo Quốc gia “Hình thành và phát triển Đô thị Đại học Việt Nam: Tìm kiếm

ý tưởng, sự đồng thuận, giải pháp và lộ trình” [7], Thành phố Hồ Chí Minh ngày

20-02-2009, có các tham luận đáng chú ý:

Trang 10

Tham luận “Đô thị Đại học Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: ý tưởng và

tiến trình hình thành trên nền hiện hữu ” của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa đã đưa ra

một vài nét về thực trạng của ĐHQG TP.HCM hiện nay trong quan điểm qui hoạch không gian Tác giả nhận định rằng ĐHQG vẫn còn trong tình trạng đơn lẻ, manh mún chưa có được các tieu chuẩn của một Đô thị Đại học đúng nghĩa Sự thiếu đồng bộ của các dịch vụ xã hội và cơ sở vật chất làm cho uy tín của Đại học Quốc gia bị ảnh hưởng qua báo chí và công luận xã hội Trước tình hình đó, ĐHQG có ý định hình thành và phát triển Đô thị Đại học trên cơ sở chỉnh trang, nâng cấp và bổ sung mới trong khuôn viên 630ha hiện có Và việc xây dựng “ Mô hình khu Đô thị Đại học” trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kì 2010 của BCH Đảng bộ Đại học Quốc gia TP.HCM Bên cạnh đó tác giả cũng đề cập tới những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình này Ngoài ra , tác giả cũng phát thảo một vài ý tưởng

về triết lí phát triển của Đô thị Đại học Đại học Quốc gia TP.HCM gồm 8 triết lí sau:

1 Là không gian mở

2 Là không gian xanh, sạch và mỹ thuật

3 Là môi trường an toàn, thân thiện và hữu nghị

4 Là thành phố điện tử và thông minh

5 Là trung tâm khoa học chất lượng cao

6 Hài hòa giữa hiện đại và truyền thống

7 Là nơi tràn đầy các giá trị văn hóa nhân văn

8 Đa dạng văn hóa quốc gia và quốc tế

Tham luận : “Góp ý về dự án phát triển Đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM ”, KTS

Lưu Trọng Hải bổ sung thêm, phân tích làm rõ các ý cơ bản sau đây:

 Đô thị Đại học và sự khác biệt của nó với các đô thị thông thường Tác giả nhấn mạnh Đô thị Đại học là một “đô thị tri thức”

 Khái niệm “mở” trong xây dựng một Đô thị Đai học

 Hướng phát triển mang tầm khu vực và quốc tế của Đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM

 Tác giả gợi ý về hình ảnh trung tâm của Đô thị Đại học với hình ảnh một quảng trường lớn là bộ mặt văn hóa và tinh thần của Đô thị Đại học

Trang 11

 Khu KTX sinh viên, nơi ở của những người làm công tác giảng dạy và các

cơ sở sinh hoạt cộng đồng trong đô thị đại học

 Vấn đề đầu tư xây dựng

 Kết hợp với chính quyền địa phương để xây dựng một đề án quản lý hành chính đô thị dặc biệt này

Trong Hội thảo “ Không gian văn hóa Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM” [8] được

tổ chức vào ngày 25-09-2009, tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

nằm trong chuỗi ba cuộc hội thảo lớn của đề án: “ Lý luận và thực tiễn để hình

thành và phát triển Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM” Hội thảo bàn về việc kiến

tạo và tổ chức nên không gian văn hóa trong một thành phố đại học, mối quan hệ tương tác của con người với tổ chức vật chất của đô thị đại học để tạo một môi trường sống, học tập, làm việc, vui chơi, giải trí lành mạnh cho sinh viên, cán bộ,

Hay với bài báo cáo “ Thiết kế không gian vật chất nhằm kiến tạo không gian văn

hóa trong môi trường Đô thị Đại học: xây dựng khái niệm và đặt vấn đề” của Nhà

Đô thị học Nguyễn Đỗ Dũng, tác giả đã đề cập tới một khái niệm khá mới mẻ đó là

“Đô thị Đại học”, tạm hiểu như là một cụm các công trình kiến trúc liên kết nhau thành một thể độc lập, thống nhất, đặc trưng nhưng đa dạng về công năng và được

Trang 12

xây dựng trong một khuôn viên có hình thức công viên nhằm phục vụ các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, học tập, sinh sống, thể dục-thể thao, giải trí và hoạt động tập thể của giảng viên, sinh viên và nhân viên của một hoặc nhiều trường đại học.” Tác giả cũng đề cập tới vấn đề thiết kế đô thị nhằm định hình không gian văn hóa trong “Đô thị Đại học” vì “không gian văn hóa đại học” nhằm hai mục đích chính là nơi chuyển giao tri thức và sản sinh tri thức Nó là không gian mà trong đó con người gia tăng sự tương tác với nhau để trao đổi và sáng tạo ra tri thức mới thông qua các hoạt động bên ngoài lớp học Tác giả nhấn mạnh yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo dựng một “không gian văn hóa” chính là hành vi giao tiếp và tham gia các hoạt động cộng đồng của con người trong “Đô thị Đại học”

Ngoài ra hội thảo còn đề cập tới nhiều vấn đề như “ Mối quan hệ tương tác giữa Đô

thị Đại học Quốc gia TPHCM và tỉnh Bình Dương trong việc hình thành nên không gian văn hóa đại học” của TS.KTS Nguyễn Thiềm, hay “ Ý tưởng thiết kế không gian mỹ thuật tại Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM ” của TS Điêu khắc gia

Nguyễn Xuân Tiên, “ Ý tưởng về trại điêu khắc “Symposium” tại khu Đô thị Đại

học Quốc gia TPHCM” của Điêu khắc gia Bùi Hải Sơn, , hay bài báo cáo “ Hướng đến một bảo tàng khoa học-kỹ thuật trong không gian văn hóa của Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM” của PGS.TS Nguyễn Văn Huy, Th.s Phạm Kim Ngân… và

nhiều bài báo cáo khác

Nhìn chung các cuộc hội thảo là tập hợp các ý tưởng, các giải pháp và cách thức tổ chức, thưc hiện nhằm hiện thực hóa những ý tưởng vào trong một không gian cụ thể

đó là Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM của các nhà kiến trúc sư, các nhà nghệ thuật, nhân học, sử học, xã hội học, giáo dục học, môi trường học, quản lý… để góp phần tạo nên một không gian văn hóa thực thụ nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của phụ huynh, của sinh viên… để ĐHQG ngang tầm với các nước trong khu vực

3 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Với mục đích nghiên cứu để có cái nhìn tổng thể hơn về các không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để từ đó đóng góp một số ý tưởng nhằm tạo ra không gian vui chơi giải trí

Trang 13

văn hóa lanh manh, gần gũi cho sinh, cho sinh viên một môi trường học tập hoàn thiện và an toàn

3.2 Mục đích nghiên cứu:

Với mục đích nghiên cứu như trên , đề tài tập trung vào 2 mục tiêu chính:

 Mô tả thực trạng về không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và nhu cầu của sinh viên với các không gian này

 Xây dựng ý tưởng hình thành và phát triển các không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên trong khu ĐTHQH-HCM

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nhằm cụ thể hóa và rõ ràng trong định hưỡng nghiên cứu, chúng tôi triển khai 2 mục tiêu trên thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

 Tìm hiểu thực trạng không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

 Tìm hiểu nhu cầu của sinh viên về các không gian vui chơi- giải trí trong khu

Đô thị Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

 Nghiên cứu đồ án quy hoach Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để

từ đó cơ sở lý luận chung để xây dựng ý tưởng

 Áp dụng các kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ trên để xây dựng ý tưởng

về các không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

4.1 Phương pháp chung:

Đề tài sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp quy nạp, trong đó kết hợp các phương pháp khác như: diễn dịch, so sánh, mô tả , phân tích, giải thích

4.2 Phương pháp cụ thể

luật chi phối các hiện tượng xã hội bằng cách đi tìm những mối quan hệ tương quan giữa các sự kiện xã hội, giữa một số biến số nhất định

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu là diễn dịch: khởi đầu từ các ý tưởng tổng quát hình thành các lý thuyết và áp dụng vào thực tiễn xã hội tìm các sự kiện xã hội để kiểm chứng các ý tưởng, lý thuyết đưa ra

Sử dụng bảng hỏi thu thập thông tin và ý kiến của các bạn sinh viên về vấn đề không gian vui chơi giải trí tại khu Đô thị đại học Quốc gia TP.HCM

Nhóm nghiên cứu xác định sinh viên có cùng độ tuổi và tâm sinh lý nên có nhu cầu và cách đánh giá giống nhau, nên nhóm nghiên cứu giới hạn mẫu là sinh viên trường ĐHKHXH&NV để dễ dàng trong việc tiếp cận

Vì quy mô đề tài nhỏ, nên chúng tôi chỉ khảo sát 150 bảng hỏi

Quan niệm sự kiện xã hội, nhân văn là sự kiện tổng thể không thể chia cắt thành các biến số để nghiên cứu Thực tại xã hội do con người “cùng nhau thiết kế ra” nên không thể hiểu được từ bên ngoài Phương pháp NCĐT tìm kiếm ý nghĩa, động cơ, ý hướng của người thực hiện hàh động xã hội

Phương pháp nghiên cứu là quy nạp: quan sát thế giới thực, tìm kiếm mẫu hình quan sát, tổng quát hóa những vấn đề đang xảy ra

Phương pháp thu thập thông tin thông qua phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm tiêu điểm

Phương pháp quan sát

Thông qua nghiên cứu các dữ liệu có sẵn như: các đề tài, các công trình nghiên cứu, nguồn số liệu thống kê,các báo cáo hội thảo, các thông tin dữ liệu…liên quan đến vấn đề nghiên cứu

5 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn:

5.1 Ý nghĩa luận:

Vui chơi giải trí là hoạt động, nhu cầu thiết yếu của con người và nhất là đối với sinh viên, nguồn nhân lực trẻ của đất nước Nghiên cứu về ý tưởng để hình thành các không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong ĐTHĐHQG-HCM hy vọng góp phần làm phong phú hơn hệ thống lý luận về vấn đề không gian vui chơi

Trang 15

5.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Qua nghiên cứu này đề tai hi vọng có thể mô tả phần nào thực trạng chung về các không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu ĐTHĐHQG-HCM Đồng thời phản ảnh nhu cầu của các bạn sinh viên về không gian vui chơi giải trí dành cho mình Từ đó đưa ra một số ý tưởng để nhằm hiện thực hóa các nhu cầu đó Kết quả nghiên cứu là một gợi ý cho các cơ quan chức năng để có thể xây dựng một môi trường học tập lành mạnh cho sinh viên

Đề tài nghiên cứu sẽ chính là một tư liệu cho hoạt động nghiên cứu của sinh viên sau này Và đây có thể là bước mở đầu cho các đề tài nghiên cứu khác bước những bước tiếp, phát triển hơn nội dung và hoàn thiện hơn về hình thức

mô hình Đô thị đại học, các yếu tố hợp thành một Đô thị đại học

Đây là chương bản lề làm cơ sở nền tảng phục phụ cho việc nghiên cứu các chương sau

Chương 2:

Trong chương này, đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng về các không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và phản ánh các nhu cầu của các bạn sinh viên về một không gian vui chơi giải trí mà họ mong muốn Để từ đó đề tài phát triển các ý tưởng về không gian vui chơi giải trí xuất pháp từ nhu cầu của sinh viên

Chương 3:

Chương này là chương quan trong nhất của đề tài Trong chương này chúng tôi trình bày ý tưởng hình thành và phát triển các không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học trên cơ sở nghiên cứu đồ án quy hoạch Đại học quốc gia đã được chính phủ phê duyệt.

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHÔNG GIAN VUI CHƠI- GIẢI TRÍ DÀNH CHO SINH VIÊN TRONG ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH I.1 Không gian vui chơi- giải trí dành cho sinh viên:

Khái niệm về Không gian công cộng:

Khái niệm:

Có nhiều định nghĩa khác nhau về Không gian công cộng:

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Không gian công cộng (KGCC)là

không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người Có hai thể loại không gian công cộng chính:

1 Không gian "vật thể" ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên;

2 Không gian "phi vật thể" ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi

Theo định nghĩa của GS.TS, Mike Douglass- giám đốc trung tâm nghiên cứu toàn cầu hóa, ĐH Hawaii: KGCC được xác định bởi không gian mà mọi người – bất kể nguồn gốc, tầng lớp xã hội nào – đều có thể hòa nhập không bị kiểm soát bởi các lợi ích thương mại, hay lợi ích riêng của một tổ chức hay cá nhân nào

Một khái niệm khác là lĩnh vực công cộng là lĩnh vực mà bất cứ ai cũng có thể tham nhập, mặc dù sự tham nhập đó có thể bị khống chế bởi các thời gian khác nhau Chúng cũng bao gồm cả không gian bên trong (hành lang, sảnh, các nhà ga xe điện, các tòa nhà công cộng) và bên ngoài nhà (đường phố, quảng trường, công viên, và các không gian mở ngoài trời khác), miễn là con người có thể tham nhập một cách công cộng [16, trang 1-8 ]

Trang 17

Vai trò, chức năng của Không gian công cộng :

Các không gian công cộng đóng một vai trò rộng lớn, có thể được xếp như những

vai trò sinh thái, tâm lý, xã hội, chính trị, kinh tế, biểu tượng và thẩm mỹ Nếu

chúng ta xem xét thành phố được tạo nên bởi những không gian tư và không gian chung thì các không gian công cộng là một thành tố không thể thiếu trong thành phố

Phân loại không gian công cộng:

Có hai thể loại không gian công cộng chính

- Không gian "phi vật thể" : là không gian vô hình, thường gắn liền với hình thức ”dư luận”, tranh luận, hay phổ biến, trao đổi thông tin Ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi

- Không gian "vật thể" Là không gian hữu hình, có thể nhìn thấy được Nó là các dạng không gian thuộc

o "Phần cứng” : công trình, kiến trúc ;

+ Tính ngưỡng, tôn giáo: Nhà thờ, đình, chùa, miếu, lăng tẩm

+ Theo công năng: quảng trường, đường đi bộ, chợ, nhà chờ tại các gas, bến tàu

+ Theo giải trí: nhà hát, quá cà phê, câu lạc bộ, thư quán

o Phần mềm" : cảnh quang, sinh thái và tất cả những vật thể mà con người sống trong đó Ví dụ: công viên, vườn dạo, hồ nước, bờ kênh,

Khái niệm về Không gian vui chơi- giải trí:

Theo từ điển Xã hội học: “ Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học ” và “ giải

trí không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn gọi là nhu cầu của đời sống cộng đồng”

Hoạt động vui chơi giải trí mang lại cho cá nhân sự thư thái, sảng khoái, và những khoái cảm thẩm mỹ, tạo điều kiện cho sự phát triển về trí tuệ và nhân cách

Không gian vui chơi – giải trí công cộng là không gian – công trình cung cấp các

dịch vụ giải trí công cộng phục vụ nhu cầu ăn uống, vui chơi, họp mặt hoặc tham gia bất kỳ hoặc động giải trí nào (cắm trại, khiêu vũ, chơi games, trình diễn nghệ thuật, hội chợ…) Đó không phải là nhà riêng nơi khách có các hoạt động giải trí,

Trang 18

không phải các dịch vụ giải trí có thu phí (như rạp xiếc, rạp chiếu phim) Khu vui chơi – giải trí là nơi có cơ sở vật chất phục vụ hoạt động vui chơi – giải trí Một nơi

có cung cấp dịch vụ giải trí mang tính giáo dục cũng được xem là khu vui chơi – giải trí ( Luật cấp phép hoạt động cho các cơ sở giải trí của Bang New Jersey, US) Không có một định nghĩa chính xác thế nào là không gian vui chơi giải trí Khái niệm KGVC-GT trong được đề cập trong công trình nghiên cứu này là một bộ phận

của Không gian công cộng và được hiểu : Không gian vui chơi- giải trí dành cho

sinh trong khu Đô thị ĐHQG-HCM là những không gian công cộng vật thể nằm trong Đô thị ĐHQG-HCM, nơi mà sinh viên có thể tổ chức và tham gia các hoạt động vui chơi giải trí phục vụ cho nhu cầu của bản thân

Một KGVC-GT phải đáp ứng được các tiêu chí như:

Sự bảo vệ khỏi nạn kẹt xe, tai nạn giao thông; bảo vệ tránh gặp tội phạm, bạo

lực và tránh gặp những cảm giác khó chịu về các vấn đề của thời tiết: mưa, gió hay sự ô nhiễm môi trường, sự ồn ào, dơ bẩn…

Sự tiện lợi: đáp ứng nhu cầu đi dạo, đứng, ngồi, khả năng quan sát, lắng

nghe, trò chuyện và cả các hoạt động thể dục thể thao, giải trí của con người

như về mặt tinh thần, giúp con người có những cảm nhận tốt nhất khi tham gia các hoạt động tại không gian này

I.2 Lý thuyết chung về Đô thị Đại học:

Khái niệm Đô thị Đại học:

Theo PGS.TS Nguyễn Minh Hòa [12, trang 14-19], Đô thị Đại học là một khái niệm dùng để chỉ một khu vực đại học có cấu trúc như một thành phố và mang chức năng

đô thị khi so sánh với nông thôn, nhưng nó không phải là một tên gọi mang ý nghĩa hành chính Và PGS sử dụng khái niệm “Đô thị đại học” hàm chứa cả cho thành phố/thị trấn đại học

ĐTĐH là một tập hợp các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu trên một lãnh

sức quan trọng là trong số này có một trường đại học lớn nhất đóng vai trò là chủ

Trang 19

thể mẹ, chúng đóng ở gần nhau trên cùng một lãnh thổ (PGS.TS Nguyễn Minh

Hòa)

Đặc điểm chung nhất của ĐTĐH là:

 Các trường có chung một (hoặc một vài) khuôn viên rộng lớn được gọi là University Campus (UC)

 Các UC này được cấu trúc và thiết kế với những đặc trưng tiêu biểu riêng có của không gian đại học (ví dụ như tỷ lệ mảng xanh cao, trong sạch, yên tĩnh, nghệ thuật và thuận tiện cho việc học tập, nghiên cứu khoa học) Các university campus này liên thông và liên kết với nhau một cách liên hoàn tạo

ra một vùng công viên rộng lớn bao chứa các hoạt động sống trong đó của hàng chục, hàng trăm nghìn người trong cùng một thời gian và cùng một không gian

 Các trường, viện có thể đa ngành đa lĩnh vực nhưng chúng có chức năng giống nhau, chủ yếu là hoạt động khoa học (giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học)

 Chúng đồng thuận với nhau trên một số nguyên tắc vận hành và sử dụng không gian qui hoạch và kiến trúc chung theo qui chuẩn quốc gia hay quốc tế

 Cùng nhau tuân thủ các nguyên tắc “cứng” của qui hoạch và các tiêu chuẩn kiến trúc, xây dựng cho cả không gian chung và cho các công trình kiến trúc đơn

lẻ trong UC

 Cùng chung nhau sử dụng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng dạng, phục vụ chính cho giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học như hệ thống giao thông, cấp thoát nước, điện, gas, xử lý rác thải,…

 Cùng sử dụng chung và chia xẻ hệ thống các dịch vụ xã hội tiện ích được chọn lọc theo hướng chất lượng cao như siêu thị, ký túc xá, bệnh viện, nhà hát, khu phức hợp thể thao,…

 Cùng nằm trong một hệ thống quản lý chung của một thành phố lớn hay được quản lý theo một cơ chế đặc thù do chính phủ ban hành

Cũng theo Ông, cho đến hiện nay, ở Việt Nam chưa có khái niệm “Đô thị đại học” như đã nêu ở trên mà có một khái niệm khác là “Khu đô thị đại học tập trung” Hai

Trang 20

khái niệm này không hoàn toàn trùng nhau, sự khác biệt này chủ yếu xuất phát từ quan điểm pháp lý và quản lý chứ không khác nhau về cấu trúc và thiết kế, nội hàm của khái niệm “Đô thị đại học” và “Khu đô thị đại học tập trung” có khá nhiều điểm trùng khớp lên nhau, đặc biệt là về qui hoạch, kiến trúc và tổ chức không gian

Về cấu trúc, khu Đại học tập trung bao gồm các mô hình dưới đây:

1) Tập hợp các trường độc lập được xếp cạnh nhau trong cùng một khu đất, đóng

vai trò là một khu chức năng chuyên ngành của Thành phố

2) Một đại học có qui mô thật lớn bao gồm các trường, khoa thành viên, có một sự

quản lý nội tại chặt chẽ như một đơn vị đô thị độc lập với Thành phố

3) Liên hợp các trường Đại học, Cao đẳng độc lập về cơ sở đào tạo, nhưng lại có

những cơ sở, trung tâm dùng chung khác (thư viện - thông tin thư viện, hội nghị hội thảo, thể dục thể thao, khu ở và dịch vụ) Tham gia các Khu Đại học này là các trường Đại học, Cao đẳng và một số loại hình khác, nên cũng có thể hình thành các Khu Đại học - Nghiên cứu khoa học đa ngành, đa cấp

Về chức năng, Khu đô thị đại học có bốn dạng sau:

1) Tổ hợp của những trường có liên quan theo ngành dọc như các trường kỹ thuật, nghệ thuật, kinh tế, xã hội …

2) Tổ hợp của những trường khác ngành dọc hay còn gọi là đa ngành, đặc biệt là mô hình University lớn phổ biến ở các nước phương Tây và các nước phát triển

3) Tổ hợp của các trường đại học với các trung tâm nghiên cứu khoa học

4) Tổ hợp của các trường đại học với các Khu chế xuất, Khu công nghệ cao

Và cũng theo PGS.TS Nguyễn Minh Hòa [12, trang 25-31], tác giả đưa ra các thành tố cơ bản cấu thành nên một đô thị đại học bao gồm:

1 Không gian qui hoạch, kiến trúc - cảnh quan đại học

2 Không gian văn hoá đại học

3 Không gian lịch sử đại học

4 Không gian tâm linh đại học

5 Không gian khoa học đại học

6 Không gian dịch vụ đại học

7 Không gian kinh tế đại học

8 Không gian cộng đồng đại học

Trang 21

Trong số này có thể gom thành hai nhóm là không gian vật chất và không gian tinh thần

Cũng nghiên cứu về vấn đề này, nhà Đô thị hoc- Quy hoạch sư Nguyễn Đỗ Dũng [4] cũng đưa ra nhận định về thế nào là Đô thị Đại học Theo tác giả tạm hiểu

ĐTĐH là một cụm các công trình kiến trúc liên kết với nhau thành một tổng thể độc

lập, thống nhất, đặc trưng nhưng đa dạng về công năng và được xây dựng trong một khuôn viên có hình thức công viên nhằm phục các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, học tập, sinh sống, thể dục-thể thao, giải trí và hoạt động tập thể của giảng viên, sinh viên và nhân viên một hoặc nhiều trường đại học Ông Nguyễn Đỗ Dũng

cũng chú thích rằng Ông hiểu khái niệm “Đô thị đại học” mà Ông sử dụng tương

đương khái niệm university campus hoặc college/university town trong trường hợp

trường đai học có quy mô sinh viên và diện tích lớn đang được sử dụng phổ biến trên thế giới

Trang 22

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN VUI CHƠI- GIẢI TRÍ VÀ NHU CẦU VỀ KHÔNG GIAN VUI CHƠI- GIẢI TRÍ CỦA SINH VIÊN TRONG KHU ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

II.1 Thực trạng về các không gian vui chơi- giải trí trong khu Đô thị HCM:

ĐHQG-Không gian vui chơi giải trí là nơi diễn ra cụ thể nhất các hoạt động giao tiếp của mọi người trong cộng đồng và đem lại những lợi ích nhất định cho cá nhân và xã hội

Qua cuộc khảo sát tháng 12/2010 của nhóm tác giả về thực trạng và nhu cầu về những KGVC-GT của sinh viên ĐTĐHQG-HCM, nhóm tác giả nhận thấy ở đây chưa có một khu vui chơi giải trí nào dành cho sinh viên

Trong cuộc khảo sát có đến 66% các bạn nhận định rằng Đô thị ĐHQG-HCM hiện nay chưa có một không gian vui chơi giải trí nào dành cho sinh viên Những nơi trong khu đô thị mà sinh viên thường đến vui chơi hầu hết chỉ là một phần của những công trình trường học, khu ở của sinh viên và các khu dịch vụ tự phát Những KG VC-GT của sinh viên tại đậy được chia làm ba loại:

Không gian vui chơi- giải trí được quy hoạch sẵn:

Là những không gian mang đúng tên gọi Không gian vui chơi- giải trí nằm trong quy hoạch và phục vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí của sinh viên

Bao gồm:

 Sân vận động ở các trường ĐH trong khối ĐHQG-HCM: Đại học Bách khoa, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Thể dục Thể thao, Đại học Kinh tế Luật;

 Sân chơi thể thao trong Ký túc xá;

 Không gian cây xanh ở khu vực giữa Nhà điều hành và Thư viện trung tâm, không gian cây xanh trong Ký túc xá

Với những địa điểm đã được quy hoạch trong Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng của khu đô thị như sân vận động của các trường, khuôn viên giữa khu nhà điều

Trang 23

hành và thư viện trung tâm thì lại thu hút rất ít sinh viên Bằng chứng là khi được khảo sát về mức độ thường xuyên đến các địa điểm này thì 46% các bạn đều trả lời là ít khi hoặc chưa bao giờ đặt chân đến Khi được hỏi về mức độ tham gia các hoạt động ở sân vận động của trường mình thì chỉ có 2% ý kiến trả lời mình thường xuyên lui tới, 42% thì cho rằng mức độ mình đến thấp hơn và

có tới 56% các bạn cho biết mình chưa bao giờ đặt chân tới đây Bạn Thùy Linh, sinh viên năm 1, Khoa Công tác xã hội trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho biết sân vân động ở trường mình chỉ mở cửa khi có các hoạt động thể dục thể thao lớn như hội thao, hay những buổi phát động các phong trào lớn của Hội Sinh viên và Đoàn Thanh niên của trường như Chiến dịch xuân tình nguyện, Mùa hè xanh còn bình thường thì nó được đóng kín Và theo quan sát của nhóm tác giả thì sân vận động ở các trường hiện nay chủ yếu chỉ phục vụ cho mục đích giảng dạy, ngoài những giờ học giáo dục thể chất thì các sân vân động rất ít mở cửa nên việc chơi thể thao của sinh viên còn gặp nhiều khó khăn

Hay với không gian như khuôn viên Ký túc xá Đại học Quốc gia thì có 46% các bạn là thường xuyên đến, và con số ít khi và chưa bao giờ đến là 30% Ở khu vực giữa Thư viện Trung tâm và Nhà điều hành Đại học Quốc gia, dù thoáng mát, nhiều xanh nhưng chỉ có 9% các bạn thường xuyên đến Có tới 64% thì chưa đến bao giờ Không gian này vừa thoáng mát, cây xanh thì được bố trí nhiều và cảnh quan lại khá đẹp mắt nhưng cũng không thu hút được sự chú ý của sinh viên

Không gian vui chơi giải trí nằm ngoài quy hoạch (các KGVCGT tự

 Khu hồ đá

Trang 24

 Những khu đất trống đã giải phóng mặt bằng nhưng chưa thực hiện công trình xây dựng

Với những không gian tự phát này thì nguyên nhân chủ yếu là do cơ sở vật chất của khu đô thị vẫn còn đang trong quá trình quy hoạch nên chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu của sinh viên Ở các sân bóng tự phát, chủ yếu là các bạn nam thường chơi đá banh là do sân vận động ở trường ít mở cửa, và muốn chơi ở sân vận động thì phải xin phép khó khăn trong khi ĐTĐHQG-HCM đang trong quá trình quy hoạch, quỹ đất trống còn nhiều nên các bạn tận dụng các không gian này để phục vụ cho nhu cầu vui chơi- giải trí của mình

Và trong những KGVCGT tự phát này nổi bật là khu hồ đá ở Đại học Quốc gia,

đó là một nơi có lượng sinh viên khá cao (64% số lượng sinh viên khảo sát ) thường xuyên đến để phụ vụ các hoạt động vui chơi giải trí của mình Tuy nhiên khu vực này lại kém an toàn,là nơi thường xuyên xảy ra các tệ nạn xã hội như cướp giật, hút chích tình hình an ninh ở đây khá phức tạp Sự lựa chọn này của sinh viên cũng là một minh chững rõ ràng về việc thiếu hụt những không gian an toàn, lành mạnh để phụ vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí dành cho sinh viên tại ĐHQG - HCM

Các không gian khác:

Thông tin của cuộc khảo sát cho thấy với các quán cà phê, quán nước, quán Karaoke, quán lẫu là địa điểm được các bạn sinh viên thường lui tới nhất và coi đó là không gian phụ vụ các hoạt động vui chơi giải trí của minhg Chỉ có 15% ý kiến cho rằng mình hiếm khi và chưa bao chọn nơi này để vui chơi, thư giãn; 85% ý kiến còn lại đều rất thích những không gian này Đây là nơi sinh viên gặp mặt bạn bè, cùng nhau ngồi uống nước, nói chuyện học hành hay tán gẫu Bạn Trang, sinh viên năm 3 trường ĐHKHTN trò chuyện sôi nổi và cho biết rằng lâu lâu như sinh nhật hay các ngày lễ thì cả nhóm cùng đi hát cho vui,

có khi mệt mỏi hát xong cũng thấy thoải mái, yêu đời hơn Trong khu HCM số lượng các quán xá khá nhiều, được phân bố rộng khắp khu vực, trong

ĐHQG-Ký túc xá của sinh viên, xung quanh các trường đại học và những khu nhà trọ,

Trang 25

tập trung chủ yếu ở đoạn đường phía trước cổng trường ĐH Khoa học Tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu vui chơi, thư giãn của sinh viên

Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu những không gian này lành mạnh và thõa mãn được nhu cầu vui chơi giải trí của sinh viên sau những giờ học tập trên giảng đường, nhưng đây lại là nơi ẩn chứa những tệ nạn dễ thu hút sinh viên: cờ bạc, số đề, cá

độ, nhậu nhẹt, ma túy, mại dâm

Ngoài những không gian thực để vui chơi giải trí thì không gian vui chơi giải trí

ảo cũng thu hút được nhiều sinh viên quan tâm đó chính là Internet Internet là một loại hình giải trí rất phổ biến ở các bạn sinh vên Bằng chứng là qua khảo sát có hơn 50% các bạn chọn hình thức này để giải trí với 18% tham gia thường xuyên Một ngày các bạn phải bỏ ra ít nhất hai giờ với chiếc máy tính, sống cùng “thế giới phẳng” này

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Đô thị Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (ĐTĐHQG-HCM) tập hợp các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu chủ yếu của khu vực thành phố Hồ Chí Minh Phần lớn những người ở đây thuộc tầng lớp tri thức, điển hình là sinh viên, những người có năng lực, óc sáng tạo và tinh thần học hỏi không ngừng Một không gian vui chơi giải trí để các bạn có thể thư giãn sau những giờ học căng thẳng; tụ họp, gặp mặt bạn bè; học tập hay vui chơi vào những ngày cuối tuần là nhu cầu tất yếu Qua cuộc khảo sát có thể khẳng định rằng không gian vui chơi giải trí ở đây còn thiếu và kém, thiếu về mặt số lượng và kém về mặt

Trang 26

chất lượng Vì vậy nó chưa đáp ứng tốt cho hoạt động vui chơi, giải trí của sinh viên

Những không gian dành cho hoạt động vui chơi giải trí ở trên như không gian xanh trong Ký túc xá, phần không gian xanh ở giữa của Thư viện trung tâm và Nhà điều hành Đại học Quốc gia đơn giản chỉ là một phần của công trình kiến trúc, tạo cảnh quan cho khu vực Các quán cà phê, quán nước, quán internet, quán karaoke là những không gian tư nhân mọc lên nhằm phục vụ cho nhu cầu của sinh viên Riêng đối với khu vực hồ đá là một không gian công cộng, có hồ nước, đường cây rất gần giũ với thiên nhiên nhưng chưa được quy hoạch và bảo

vệ nên rất nhiều tệ nạn xã hội xảy ra ở đây Chúng chỉ là những cụm rải rác, chưa tạo được một không gian chung để cho các bạn có thể sinh hoạt, vui chơi

II.2 Nhu cầu của sinh viên trong về các không gian vui chơi giải trí trong khu

đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM

II.2.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên:

Sinh viên là một nhóm người trong xã hội; hiện đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng; được trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn để hỗ trợ công việc sau khi ra trường

“Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách” [Tô Hạnh Thúy , 17]

Ở độ tuổi này, sinh viên rất thích khám phá thế giới, tìm hiểu những điều mình chưa biết và cũng thích chứng tỏ bản thân, khẳng định mình Nhưng bên cạnh đó, sự phát triển tâm lý sinh viên cũng còn một số mặt hạn chế như sự thiếu chính chắn trong suy nghĩ, hành động một cách nông nỗi, bộc trực thường dẫn đến những hậu quả không tốt Ngoài ra, áp lực học tập cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “stress” ở sinh viên hiện nay

Một khó khăn nữa mà sinh viên thường gặp là việc làm quen với cuộc sống tự lập Hầu hết ở thời phổ thông các bạn đều ở với gia đình, chỉ đến khi học đại học, sinh

Trang 27

viên mới phải lo lắng về vấn đề nhà ở, sinh hoạt cá nhân, chi tiêu, tài chính của mình Những sinh viên chưa quen với cuộc sống tự lập thường có nguy cơ bị khủng hoảng tinh thần, thường xuyên lo lắng làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của chính mình Chính vì vậy, những nhu cầu về vui chơi giải trí của sinh viên rất lớn

Đó là một hoạt động thiết yếu của sinh viên

II.2.2 Phân bổ thời gian học và chơi của sinh viên:

Khi được hỏi về khoảng thời gian trung bình một ngày các bạn dành cho việc học là bao nhiêu thì có tới 52% các bạn dành từ 4 giờ đến 9 giờ (ngoài giờ lên lớp) ; 11% các bạn dành từ 10 giờ trở lên cho việc học và 37% là số lượng các bạn dành trung bình từ 1 tới 3 giờ cho việc học

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Trang 28

Nhưng khi được hỏi về khoảng thời gian dành cho hoạt động vui chơi giải trí thì có tới 62% các bạn chỉ dành từ 1 tới 3 giờ trong một ngày, 38% các bạn bỏ ra từ 4 đến

7 giờ Đặc biệt hầu hết những bạn dành rất ít thời gian để vui chơi giải trí thì các bạn trả lời thời gian hầu hết là dành để học bài, làm bài, tham khảo sách vở Các bạn trả lời rằng vì học theo chế độ tín chỉ, thời lượng tự học ở nhà rất nhiều, nếu không sẽ không hiểu bài vì trên lớp các thầy cô giảng bài rất nhanh Chúng ta nhận thấy có một sự chênh lệch khá về phân bổ thời gian học và chơi của sinh viên Nguyên nhân của sự chênh lệch có thể là ý thức học tập của các bạn khá cao hay thực chất các bạn không có một không gian để vui chơi, giải trí

II.2.3 Trạng thái căng thẳng thần kinh ở sinh viên, nguyên nhân và các biện pháp khắc phục tình trạng này:

Việc học tập quá nhiều mà không vui chơi, thư giãn, học không đúng phương pháp

là một trong những nguyên nhân dẫn đến chứng “stress” và kết quả học tập không tốt của sinh viên hiện nay Bằng chứng là có tới 85% các bạn đều trả lời mình đã từng bị stress, trong số đó có tới 24,8% các bạn cho biết mình thường xuyên bị căng thẳng Nó ảnh hưởng không chỉ đến sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến kết quả học tập và làm việc của các bạn

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Trang 29

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Xét những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thì có một điều đáng quan tâm là phần đông ý kiến các bạn cho rằng mình không biết đi đâu để vui chơi (chiếm 36% trên tổng số ý kiến) Các nguyên nhân còn lại như thời gian học quá nhiều (28%), tình cảm gia đình, bạn bè không tốt (15%, 19%), và 2% còn lại là do các nguyên nhân khác như tình trạng sức khỏe, sở thích học tập

Để khắc phục tình trạng này, các bạn sinh viên thường lựa chọn cho mình những thú tiêu khiển riêng như nghe nhạc, đọc sách, đi dạo, chơi thể thao, gặp mặt bạn bè, truy cập internet để trò chuyện, đọc báo, xem phim, chơi game Những loại hình này khá phổ biến và phù hợp tâm lý của sinh viên và là một trong những mặt không thể thiếu về đời sống tinh thần của các bạn Vui chơi, giải trí làm cho con người ta sảng khoái về mặt tinh thần, giải tỏa căng thẳng, tái tạo sức khỏe, nguồn năng lượng

để học tập và làm việc được tốt hơn

Trang 30

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Khi xét đến các yếu tố của một không gian giải trí mà thu hút phần đông các bạn sinh viên thì một không gian thoáng mát như công viên, vườn dạo là nơi mà các bạn thường lựa chọn (đi dạo: chiếm 30% trên tổng số ý kiến) Ở đây với không khí mát mẻ, cây xanh nhiều cùng với cảnh quan đẹp mang sự hòa hợp giữa thiên nhiên

và con người làm cho tinh thần các bạn trở nên thoải mái hơn Hằng ngày với những không gian như lớp học, phòng ở khoảng không gian của các bạn bị bó hẹp bởi bốn bức tường cứng nhắc thì những không gian thoáng mát như trên giúp các

bạn thư giãn, góp phần tái tạo sức khỏe để tiếp tục việc học của mình

Những không gian công cộng như công viên, vườn dạo, những ghế đá, bãi cỏ, hàng cây trong sân trường cũng thường được các bạn sử dụng cho mục đích học tập (chiếm gần 80% ý kiến trả lời) Thứ nhất, những không gian này khá thoáng mát Thứ hai, nó đem lại cảm giác thoải mái Học tập quá nhiều thường làm cho các bạn cảm thấy tinh thần sa sút, tiếp thu bài vở không tốt Một phương pháp học tập hay,

bổ ích là phải biết kết hợp cả học tập và vui chơi Ở những không gian thoáng mát,

có nhiều cây xanh làm cho tinh thần chúng ta trở nên phấn khởi, kích thích óc sáng tạo và phát triển tốt nhất

Trang 31

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Nhìn chung, môi trường đại học thường yêu cầu khá cao ở các bạn sinh viên Nó không chỉ yêu cầu về kiến thức mà còn yêu cầu về những kỹ năng mềm Nhưng không phải vì như vậy mà sinh viên phải học tập quá nhiều, không có thời gian vui chơi, giải trí Các bạn cần phải có một phương pháp học tập hợp lý, biết phối hợp hài hòa giữa học tập và vui chơi Và để góp phần định hướng suy nghĩ và hoạt động của các bạn một cách lành mạnh, khoa học, hợp lý thì chúng ta cần tạo một môi trường tốt cho các bạn sống và học tập Theo như quy hoạch đến năm 2020, KĐTĐHQG-HCM sẽ có hai trung tâm dịch vụ công cộng để phục vụ cho nhu cầu của sinh viên và cán bộ tri thức trong khu đô thị Nhưng hiện nay chúng vẫn đang trong tiến trình quy hoạch Vậy một số lượng lớn những sinh viên và cán bộ viên chức sẽ học tập và sinh hoạt trong một môi trường như thế nào cho tới khi hai khu dịch vụ này hoàn thành

II.2.4 Nhu cầu xây dựng không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên ở Khu

Đô thị Đại học Quốc gia TP.HCM

Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư triết học của Liên Xô định nghĩa: “ Nhu cầu là sự cần hay sự thiếu hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì hoạt động sống của cơ chế một cá nhân con người, một nhóm xã hội hay xã hội nói chung, là động cơ bên trong của tính tích cực”

Trang 32

Trong cuốn sách Về động lực của sự phát triền kinh tế- xã hội (Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1997), tác giả Lê Hữu Tầng đã viết: “Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xă hội muốn

có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển'' và “ nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau”

Như đã phân tích về thực trạng không gian và các hình thức vui chơi giải trí của sinh viên ở KĐTĐHQG-HCM thì nhu cầu cần xây dựng một không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên là rất cần thiết Đó cũng chính là sự mong mỏi của cả 86% ý kiến mà nhóm tác ghi nhận, trong đó có đến 60% là rất muốn một khu vui

chơi được hình thành

Những yếu tố mà các bạn cho là quan trọng và cần thiết để hình thành một khu vui

chơi giải trí đầu tiên đó là vấn đề an toàn (chiếm 88% trên tổng số 100 ý kiến): An

toàn là một vấn đề quan trọng đối với một không gian công cộng, nó cũng là một trong mười hai từ khóa chi tiết hóa không gian công cộng theo ý kiến của Helle

Soholt và Gehl Architects ApS Nó bao gồm cả sự bảo vệ con người trước những

như tai nạn về vấn đề giao thông, các tội phạm xã hội về bạo lực, cướp giật… và trước cả những thay đổi của xấu của khí hậu như mưa gió, bão,… Vấn đề an ninh ở khu vực Khu đô thị Đại học Quốc gia Tp.HCM khá phức tạp, độ an toàn chưa được đảm bảo Vì đây là khu vực nằm giáp ranh giữa quận Thủ Đức và huyện

Dĩ An, tỉnh Bình Dương, vấn đề quản lý cần có sự hợp tác giữa hai bên và khu vực này vẫn đang trong quá trình quy hoạch, chưa hoàn thiện nên khó quản lý về mặt dân cư Nhận định của sinh viên về vấn đề an ninh ở đây là còn chưa tốt, các tệ nạn như cướp giật, cờ bạc, đánh nhau, đua xe, hút chích ma túy thường xuyên xảy ra ( Khảo sát của nhóm tác giả) ; Thứ hai là vấn đề cảnh quan (chiếm 83%): sinh viên mong muốn có được một không gian tràn ngập cây xanh mang lại cảm giác mát mẻ, cảnh quan được bố trí đẹp mắt tạo sự cân đối, hài hòa là một nơi lý tưởng để vui chơi, thư giãn.; thứ ba là cần tạo không gian riêng để các bạn có thể thể hiện tài

năng của bản thân (chiếm 45%); Yếu tố ưu tiên thứ tư là sân chơi thể thao (chiếm

Trang 33

43%); yếu tố thứ năm là một không gian nghệ thuật như công trình tượng đài, điêu

khắc, hội họa (37%) và một số những yêu cầu khác

II.2.5 Các loại hình vui chơi đề xuất cho khu vui chơi giải trí trong KĐTĐHQG-HCM:

Những loại hình không gian mà các bạn cho là phù hợp với khu vui chơi này gồm

có sân chơi thể thao, nơi để ngồi, đường đi bộ, không gian nghệ thuật, rạp chiếu phim

Nguồn: Khảo sát tháng 12 năm 2010

Trong quy hoạch chung của KĐTĐHQG-HCM hiện nay thì các tuyến đường chủ yếu dành cho hoạt động giao thông trong khu đô thị Như vậy, đường đi bộ là một không gian khá lý tưởng Những con đường này không chỉ dành cho hoạt động đi

bộ mà nó còn là một chiếc cầu nối để nối kết cộng cồng lại với nhau Khi đi dạo trên đường, các bạn có cơ hội gặp gỡ nhiều người hơn làm tăng khả năng giao tiếp

và ứng xử cộng đồng Đặc biệt môi trường này là môi trường có rất nhiều sinh viên

và những người trí thức, tính hòa hợp, nối kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau là quan trọng và cần thiết

Ngoài ra, ở đây còn có thể bố trí những không gian như khu tượng đài, điêu khắc hay hội họa để kích thích óc sáng tạo và nghệ thuật của sinh viên Đối với sân chơi thể thao thì sinh viên có một không gian để luyện tập sức khỏe, chơi những môn thể thao mình yêu thích Hay với rạp chiếu phim thì đây là nơi các bạn có thể tận hửng loại hình dịch vụ và thư giãn vào những ngày cuối tuần hay nghỉ lễ

Trang 34

CHƯƠNG III:

Ý TƯỞNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHÔNG GIAN VUI CHƠI GIẢI TRÍ DÀNH CHO SINH VIÊN TRONG ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

III.1 Cơ sở hình thành ý tưởng:

Qua thực tế tìm hiểu thực trạng và nhu cầu, mong muốn của sinh viên, nhóm nghiên cứu đưa ra ý tưởng về một khu đô thị đại học có các không gian vui chơi – giải trí đáp ứng được nhu cầu thư giãn – giải trí cũng đồng thời là không gian học tập sáng tạo dành cho sinh viên, qua đó nâng cao chất lượng đời sống, chất lượng học tập của sinh viên một cách hiệu quả

Ý tưởng được hình thành dựa trên ý kiến của các chuyên gia trong hội thảo quốc gia

“Hình thành và phát triển đô thị đại học Việt Nam Tìm kiếm ý tưởng, sự đồng thuận, giải pháp và lộ trình” diễn ra tại TP HCM năm 2009, đề án “Xây dựng Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM” của PGS TS Nguyễn Minh Hòa, tham khảo quy hoạch tại các trường ĐH nổi tiếng như Harvard, MIT, University of Maryland…

Trên cơ sở tham khảo và qua thảo luận sáng tạo, nhóm nghiên cứu không đưa ra thiết kế chi tiết của một hay nhiều công trình mà đưa ra định hướng thiết kế để đảm bảo mục tiêu nghiên cứu và đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn của một mô hình Đô thị Đại học phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, mang đặc trưng văn hóa – con người của một Đô thị Tri thức

III.1.1 Cơ sở tự nhiên

Khu đô thị ĐHQG TPHCM nằm tại vùng giáp ranh của TP HCM và tỉnh Bình Dương, rộng 643,7ha Phạm vi quy hoạch được xác định như sau:

- Phía Bắc: giáp xã Bình An, xã Đông Hòa, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương;

- Phía Nam: nằm bên đại lộ xuyên Á, một phần trường Đại học Nông Lâm

TPHCM và Đại học Thể dục Thể thao Trung ương II;

- Phía Đông: giáp Viện Công nghệ sinh học và Sinh học nhiệt đới, Quốc lộ

1A, trường Đại học An ninh và một phần khu nhà ở xã Bình An;

- Phía Tây: giáp phần còn lại cảu phường Linh Trung, quận Thủ Đức

Trang 35

III.1.2 Điều kiện địa hình, địa chất, công trình thủy văn

Địa hình: Là vùng gò đồi cao, dốc thoải, cao độ nền từ 8m-35m, bình quân

11m-12m, độ dốc tự nhiên từ 3,2%-7,5% Trong khu quy hoạch, có khoảng 33% diện tích, tập trung nhiều ở phía Bắc là nơi khai thác đá từ trước tới nay, địa hình phức tạp đang được san lấp với những hố sâu 20-30m

Địa chất công trình: Là vùng đất đỏ, phát triển trên phù sa cổ trầm tích, dày

trung bình từ 2m-10m Phía Bắc là khu vực nền đá granite chất lượng cao thuận lợi xây dựng công trình

Thủy văn: Là vùng đồi cao, dốc thoải nên mức nước ngầm sâu, vào mùa khô khoảng 11m-13m, mùa mưa 4m-5m

Với đặc điểm địa hình tương đối không phẳng, các công trình kiến trúc và cảnh quang sẽ được thiết phù hợp với điều kiện địa hình, hạn chế tối đa việc san lấp

để tiết kiệm chi phí và tạo sự đa dạng trong phong cách kiến trúc của khu đô thị Nhóm nghiên cứu đặt ra những nguyên lý thiết kế khu công viên vui chơi – giải trí

để làm cơ sở khoa học phù hợp cho việc đưa ra ý tưởng của nhóm

Tiêu chí: Việc thiết kế các công viên, không gian vui chơi giải trí dành cho

sinh viên trong khu đô thị Đại học Quốc gia TPHCM phải thỏa mãn các tiêu chí sau

đây:

- Phục vụ dân cư: Các công viên – khu vui chơi, giải trí (gọi tắt là công viên)

trong khu vực sẽ là thành phần quan trọng trong tổng thể quy hoạch Đô thị Đại học Những công viên này sẽ đáp ứng những nhu cầu của dân cư (chủ yếu là sinh viên) sinh sống và học tập trong khu vực về các mặt thư giãn, giải trí, giao tiếp… qua đó nâng cao chất lượng sống cho sinh viên, tăng hiệu quả làm việc, học tập tối đa

- Sự kết nối: Các công viên là những khu vực chốt giao thông trong toàn khu

vực Giao thông trong – ngoài công viên là yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định sự hiệu quả trong phục việc phục vụ của công viên Hệ thống đường đi bội bộ và đường kết nối với các tuyến đường chính của khu đô thị phải phù hợp với quy hoạch chung của ĐHQG TPHCM Ngoài ra, các hệ thống đường này phải được đảm bảo sẽ phục vụ việc đi bộ và đi xe đạp, hạn chế tối đa đến loại bỏ hoàn toàn cách di chuyển bằng các phương tiện như xe gắn máy, xe ôtô

Trang 36

- Điểm nhấn không gian: Các công viên được xem là điểm nhấn không gian

cho khu vực khu quanh chúng Khi thiết kế cần chú trọng diện tích không xây dựng

là lớn nhất có thể để tạo điều kiện vui chơi, giải trí, sáng tạo cho sinh viên với số lượng lớn

- Khơi gợi lịch sử: Thiết kế công viên nên được chú ý thể hiện lịch sử (cả lịch

sử tự nhiên và lịch sử văn hóa) Các khu rừng, hồ, bờ hồ sẽ là những điểm chính được thiết kế tạo sự đẹp đẽ, gợi cảm, cũng như thể hiện yếu tố lịch sử - văn hóa của các công viên, tạo sự hứng thú – sáng tạo cho người tham gia hoạt động trong công viên

- Tính đơn giản: Vì trừ khu vực công viên chính ở xung quanh Hồ Đá có diện

tích lớn, các công viên khác sẽ có diện tích tương đối nhỏ nên thiết kế công viên phải đảm bảo cực kỳ đơn giản để thể hiện đặc trưng “mở” của không gian công viên Một thiết kế đơn giản là một thiết kế linh hoạt đáp ứng được nhiều nhu cầu của nhiều người dùng khác nhau trong một không gian (nhu cầu giải trí – sáng tạo bên cạnh nhu cầu nghỉ ngơi – thư giãn)

- Thiết kế bền vững: Yếu tố bền vững trong khu đô thị đại học là một trong

những yếu tố chính cần được áp dụng khi thiết kế các công viên trong đô thị đại học Một hệ thống cơ sở hạ tầng “xanh” (đường đi, công viên, kiến trúc…) là mấu chốt cho một khu đô thị “xanh” Các công viên được thiết kế theo tiêu chí bền vững

sẽ tạo ra một tiêu chuẩn cho việc áp dụng xây dựng bền vững vào các khu vực khác trong khu đô thị ĐHQG TPHCM

Mục đích của các nguyên lý thiết kế trên là để hợp nhất các kiểu thiết kế qua các khoảng thời gian khác nhau, trong khi vẫn thúc đẩy sáng tạo linh hoạt cho việc thiết

kế, không bị gò bó trong khuôn khổ nào Đó là những ý tưởng chi phối việc thiết kế

và quản lý các khu công viên vui chơi – giải trí trong khu đô thị Đại học Quốc gia TPHCM

Mục tiêu của những nguyên lý trên là tạo ra sự thống nhất trong thiết kế của khu đô thị, thiết kế các công viên vui chơi – giải trí phải phù hợp – liên quan đến các công trình kiến trúc xung quanh, cho dù các công trình kiến trúc đó được xây dựng trước hay sau Ngoài ra, nguyên lý thiết kế được đặt ra để giảm yêu cầu – chi phí duy trì cho các công trình công cộng này

Trang 37

Theo nhóm nghiên cứu, cảnh quan tự nhiên chính là tài sản lớn nhất của khu đô thị này, nó đặc biệt khác với cảnh quan tự nhiên xung quanh với nhiều cây mảng cỏ, cây xanh tự nhiên đi cùng với các hồ đá lớn Địa hình và cảnh quan tự nhiên nơi đây tạo thuận lợi lớn cho việc xây dựng các khu sinh thái, khu công viên công cộng phục vụ vui chơi – giải trí với nhiều loại hình hoạt động

Khi thiết kế các công viên, người thiết kế cần chú trọng yếu tố cảnh quan vì cảnh quan trong mắt người tham quan (kể cả người sinh sống và làm việc, học tập tại đây – sinh viên) có thể được xem như là biểu tượng của sự phát triển, sự tiến bộ về giáo dục và văn hóa, một phần cuộc sống của cư dân tại một khu đô thì gắn bó mật thiết với cảnh quan tự nhiên xung quanh, cảnh quan không còn chỉ là biểu tượng của nơi

để ở

Trong quy hoạch tổng thể của Đô thị Đại học Quốc gia TPHCM, khu vực xung quanh hồ đá là khu vực được xây dựng công viên lớn nhất, nhưng còn chưa được thiết kế và đầu tư xây dựng Nhóm nghiên cứu đưa ra các yếu tố để thiết kế công viên lớn nhất này một cách thành công theo quan điểm của nhóm

Công viên xung quanh hồ đá được coi là “lá phổi” của toàn khu đô thị với diện tích mảng xanh lớn nhất và diện tích tích măt nước tương đối lớn có nhiệm vụ điều hòa nhiệt độ, độ ẩm, lọc khói bụi cho toàn khu đô thị; kèm theo đó, công viên này có hệ thống đường được thiết kế nối cả hai khu vực phía Đông và phía Tây của ĐHQG, nằm gần ngã 4 của 2 trục đường chính Đông-Tây và Nam-Bắc, cạnh khu công viên khoa học và nằm gần khu dịch vụ công cộng số 1 nên dự kiến lượng sinh viên đến đây tham gia thư giãn – vui chơi giải trí sẽ là rất lớn, có thể tương đương hoặc lớn hơn tỉ lệ sinh viên toàn ĐHQG hiện nay thường xuyên đến khu vực hồ đá (64% theo khảo sát của nhóm nghiên cứu)

III.2 Ý tưởng hình thành và phát triển không gian vui chơi giải trí dành cho sinh viên trong khu Đô thị Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Tư duy sắp xếp lại không gian dịch vụ công cộng hiện tại để khai thác tốt hơn cơ sở

hạ tầng hiện có

Hiện nay, theo quy hoạch chi tiết đã có của ĐHQG TPHCM, các trung tâm dịch vụ công cộng và các trung tâm thể thao, giải trí tuy đã được bố trí đầy đủ Tuy vậy, do

Trang 38

việc phân bố đều các tiện ích công cộng cho các trường nên vô tình gây ra tình trạng các công trình công cộng sẽ hoạt động không hết công suất mà đối tượng là phục vụ

là sinh viên thì lại không được đáp ứng hết nhu cầu

Hình II.1 Bản đồ quy hoạch khu Đô thị ĐHQG-HCM

Theo như bản đồ quy hoạch chi tiết, toàn thể ĐHQG TP HCM có tổng cộng 6 khu trung tâm thể thao gồm Trung tâm TDTT I & II và các nhà thi đấu, nhà TDTT của các trường ĐH KHXH & NV, ĐH KHTN, ĐH BK Trừ Trung tâm TDTT II phục

vụ cho sinh viên ở KTXB và trường Kinh tế - Luật, khoa Ngoại ngữ, khoa Giáo dục thì các trung tâm TDTT còn lại không được sử dụng hiệu quả vì:

- Sinh viên sẽ có xu hướng sử dụng nhà thi đấu TDTT gần nhất, ngay trong khuôn viên trường, mà nhà thi đấu của trường chỉ được thiết kế quy mô nhỏ, giành cho việc học tập, nên sẽ không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của sinh viên

- Đối với sinh viên của các trường không có nhà thi đấu TDTT sẽ đến Trung tâm TDTT I Tuy có sự sử dụng tập trung nhưng lại không tận dụng được hết khả năng của Trung tâm, vốn được thiết kế cho toàn bộ ĐHQG TP HCM

Đối với các khu dịch vụ công cộng (đặc biệt xét đến khu TT DVCC I), đây là nơi tập trung hầu hết các hoạt động đời sống và là bộ mặt của đô thị đại học, nơi bố trí các công trình công cộng chủ yếu của đô thị và các công trình chuyên dụng Về Văn

Trang 39

hóa – Xã hội, đây là môi trường tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi thông tin, phục vụ phát triển văn hóa cho sinh viên học tập tại ĐHQG TP HCM

Theo nhận xét của nhóm nghiên cứu, TT DVCC I tuy là trung tâm, là bộ mặt của ĐHQG nhưng việc bố trí không gian và các công trình còn chưa làm tốt nhiệm vụ trên

Theo quy hoạch chi tiết thì TT DVCC I đã quá tập trung vào các công trình mà thiếu một không gian quảng trường để làm nơi tụ tập cho sinh viên hoạt động ngoài trời, sinh hoạt văn hóa, tổ chức các lễ hội, vui chơi, biểu diễn, giao tiếp, nghỉ ngơi Ngoài ra, với vị trí là trung tâm của ĐHQG, TD DVCC I còn là đầu mối giao thông nội bộ, nhưng việc bố trí các trục đường giao thông chính đi vào trong Trung tâm sẽ gây mất cảnh quang chung, chưa kể ảnh hưởng đến an toàn của các đối tượng sử dụng Trung tâm

Đối với mảng xanh trong quy hoạch ĐHQG TP HCM, diện tích mảng xanh lớn và phân bố trải đều trong khuôn viên nhưng đây chỉ là những bề mặt cỏ không có giá trị sử dụng khác ngoài việc điều hòa và làm đẹp môi trường

Với ưu thế diện tích mảng xanh lớn, cần phải có biện pháp cải tạo, nâng cấp các mảng xanh thành các công viên để phục vụ nhu cầu cho sinh viên cần có không gian giải trí, nghỉ ngơi, gặp gỡ… gần gũi với thiên nhiên

Cải tạo chức năng của các phần đất dành cho xây dựng nhà thi đấu TDTT để dành đất trống xây dựng các công viên nhỏ có chức năng là không gian vui chơi, giải trí dành cho sinh viên

Vai trò của các không gian vui chơi – giải trí

Không gian vui chơi giải trí là không gian mở có tác dụng phục vụ nhu cầu giải trí

về tinh thần cho dân cư đô thị:

- Có vai trò kết nối cộng đồng, đặc biệt về mặt văn hóa: người Việt (đặc biệt là sinh viên) rất thích giao tiếp Là môi trường tiếp xúc gặp gỡ, trao đổi thông tin, phục vụ phát triển tư tưởng, văn hóa, khoa học Ngoài ra còn phục vụ nhu cầu giáo dục chính trị một cách gần gũi, sinh động, hấp dẫn

- Nâng cao tiện nghi, chất lượng cuộc sống

- Có vai trò giúp lấy lại sự cân bằng cho dân cư (sinh viên) sau khi học tập,

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Công ty Xây dựng Kiến trúc Miền Nam- ACSA 10 (Tháng 02/2003). Thuyết minh tổng hợp Đồ án quy hoạch chi tiết Đại học Quốc gia- Thành phố Hồ Chí Minh, Quận Thủ Đức- Tp. HCM và huyện Dĩ An- Tỉnh Bình Dương. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết minh tổng hợp Đồ án quy hoạch chi tiết Đại học Quốc gia- Thành phố Hồ Chí Minh, Quận Thủ Đức- Tp. HCM và huyện Dĩ An- Tỉnh Bình Dương
3. Nguyễn Đỗ Dũng (2010). Hội thảo về mô hình đô thị đại học: Tìm kiếm ý tưởng và sự đồng thuận (Trực tuyến ). Xem ngày 11/1/2011. Có tại trang wed:http://dungdothi.wordpress.com/2010/11/17/h%E1%BB%99i-th%E1%BA%A3o-v%E1%BB%81-mo-hinh-do-th%E1%BB%8B-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-tim-ki%E1%BA%BFm-y-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-va-s%E1%BB%B1-d%E1%BB%93ng-thu%E1%BA%ADn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về mô hình đô thị đại học: Tìm kiếm ý tưởng và sự đồng thuận
Tác giả: Nguyễn Đỗ Dũng
Năm: 2010
4. Nguyễn Đỗ Dũng (2010). Tạo dựng môi trường văn hóa trong “Đô thị đại học” [Trực tuyến]. Hội quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam. Xem ngày25/12/2010. Có tại trang wed:http://ashui.com/mag/index.php/chuyenmuc/quyhoachdothi/68-quyhoachdothi/2979-tao-dung-moi-truong-van-hoa-trong-do-thi-dai-hoc.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo dựng môi trường văn hóa trong “Đô thị đại học”
Tác giả: Nguyễn Đỗ Dũng
Năm: 2010
5. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2010). “Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh- hướng đến tương lai”. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 15 năm xây dựng và phát triển, tr. 128- 129. Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh- hướng đến tương lai
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
6. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2010). “Xây dựng khu Đô thị đại học” Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 15 năm xây dựng và phát triển, tr.55. Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng khu Đô thị đại học
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
7. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2009). Kỷ yếu hội thảo quốc gia: Hình thành và phát triển Đô thị Đại học Việt Nam. Tìm kiếm ý tưởng sự đồng thuận, giải pháp và lộ trình. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành và phát triển Đô thị Đại học Việt Nam. Tìm kiếm ý tưởng sự đồng thuận, giải pháp và lộ trình
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
8. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2009).Kỷ yếu hội thảo quốc gia: Không gian văn hóa Đô thị Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Trường Đại học KHXH&NV HCM. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn hóa Đô thị Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
11. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1998). Quyển 2: Thuyết minh tóm tắt dự án tiền khả thi xây dựng ĐHQG-HCM. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1998). Quyển 2
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
12. PGS.TS Nguyễn Minh Hòa (2009). Báo cáo thực hiện đề án “ Xây dựng mô hình Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh” . Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện đề án" “ "Xây dựng mô hình Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Hòa
Năm: 2009
13. PGS.TS Nguyễn Minh Hòa (2009). “ Những ý tưởng ban đầu về một Đô thị ĐHQG-HCM”. Bản tin ĐHQG-HCM, (110), tr. 22- 25. Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ý tưởng ban đầu về một Đô thị ĐHQG-HCM
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Hòa
Nhà XB: Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
14. PGS.TS Nguyễn Minh Hòa (2009). “ Mô hình Đô thị Đại học Quảng Châu- một kinh nghiệm tốt cho Đại học Quốc gia TP.HCM”. Bản tin ĐHQG-HCM, (115), tr. 66- 70. Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Đô thị Đại học Quảng Châu- một kinh nghiệm tốt cho Đại học Quốc gia TP.HCM
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Hòa
Nhà XB: Nxb Đại hoc Quốc gia TPHCM. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
15. Trần Thị Ngọc Nhờ (2009). Thực trang không gian vui chơi và giao tiếp của trẻ em trong quá trình đô thị hóa tại TP.HCM hiện nay. Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Trường Đại học KHXH&NV HCM. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trang không gian vui chơi và giao tiếp của trẻ em trong quá trình đô thị hóa tại TP.HCM hiện nay
Tác giả: Trần Thị Ngọc Nhờ
Năm: 2009
16. Hồ Bá Thâm (2005). Không gian công cộng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, dưới góc nhìn văn hóa thẩm mỹ và tâm lý xã hội [Trực tuyến]. Viện Nghiên cứu và Phát triển Tp.HCM. Xem ngày 25/12/2010 . Có tại trang web:http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/timkiemmuc.asp?idcha=438&cap=2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian công cộng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, dưới góc nhìn văn hóa thẩm mỹ và tâm lý xã hội
Tác giả: Hồ Bá Thâm
Năm: 2005
17. Tô Hạnh Thúy (2011). Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên. Viện tâm lý học- Viện khoa học xã hội Việt Nam (Trực tuyến ). Xem ngày 22/3/2011.Có tại trang web: http://www.tamly.com.vn/home/?act=News-Detail-s-11-699-Mot_so_dac_diem_tam_ly_co_ban_cua_sinh_vien.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên
Tác giả: Tô Hạnh Thúy
Năm: 2011
18. Hạnh Tô (2011). Hoạt động học tập ở bậc đại học và khó khăn trong việc thích ứng của sinh viên với hoạt động này. Viện tâm lý học- Viện khoa học xã hội Việt Nam (Trực tuyến ). Xem ngày 22/3/2011. Có tại trang web:http://www.tamly.com.vn/home/?act=News-Detail-s-11-699-Mot_so_dac_diem_tam_ly_co_ban_cua_sinh_vien.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động học tập ở bậc đại học và khó khăn trong việc thích ứng của sinh viên với hoạt động này
Tác giả: Hạnh Tô
Năm: 2011
10. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1998), Quyển 1: Thuyết minh tổng hợp đồ án quy hoạch chung ĐHQG-HCM. Hồ Chí Minh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w