1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu hòa nhập xã hội của người khuyết tật và khả năng đáp ứng từ phía xã hội cho họ ở những nơi công cộng tại khu vực trung tâm của tp hồ chí minh thực trạng và giải pháp

110 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 10,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, nhằm đánh giá khả năng đáp ứng các nhu cầu hòa nhập cộng đồng từ phía xã hội chính là các hạng mục thuộc khối cơ sở hạ tầng của những công trình công cộng như: Lối vào, đường d

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH

1 ThS Nguyễn Hải Nguyên Chủ

nhiệm

098377718

1

nguyenhainguyen@yahoo.com

2 Phan Đình Bích Vân Tham

gia

093489243

9

phandinhbichvan.dth@gmail.com

3 Đoàn Diệp Thùy Dương Tham

012039729

42

nguyenphuongnguyetminh@gmail.com

Trang 2

Để hoàn thành đề tài này nhóm nghiên cứu chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ nhiều phía, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- Ban giám hiệu Trường ĐH KHXH&NV, Phòng Quản lý khoa học – Dự án và Khoa Đô thị học đã tạo điều kiện cho chúng tôi được nhận và hướng dẫn chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này;

- Trung tâm Khuyết tật và phát triển (DRD) đã cung cấp tư liệu cho nghiên cứu;

- Các anh, chị sinh hoạt tại DRD và những anh, chị khác đã cung cấp thông tin trong quá trình khảo sát bảng hỏi;

- Các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài có thể vẫn còn nhiều thiếu sót, nhóm nghiên cứu xin được lắng nghe những ý kiến đóng góp và nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành nhất

Thay mặt Nhóm nghiên cứu Chủ nhiệm Đề tài

ThS.Nguyễn Hải Nguyên

Trang 3

STT Nội dung chưa

chỉnh sửa

Nội dung đã chỉnh sửa theo yêu cầu

31

3 Lỗi đánh máy ở 33

trang

Đã chỉnh sửa các lối đánh máy

103

Trang 4

ADA: Americans with Disabilities Act of 1990 (Đạo luật về người khuyết tật của

Hoa Kỳ năm 1990)

DDA: (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người

khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành)

DRD: Trung tâm Khuyết tật và phát triển

SPSS: Statistical Package for the Social Sciences

Trang 5

TÓM TẮT 1

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 16

1.2 Các khái niệm chính sử dụng trong đề tài 21

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NHU CẦU HÒA NHẬP XÃ HỘI CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG TỪ PHÍA XÃ HỘI CHO HỌ Ở NHỮNG NƠI CÔNG CỘNG TẠI KHU VỰC TRUNG TÂM CỦA TP HCM 38

2.1 Thực trạng về nhu cầu hòa nhập xã hội của người khuyết tật ở những nơi công cộng tại khu vực trung tâm của TP HCM 38

2.2 Khả năng đáp ứng từ phía xã hội đối với nhu cầu hòa nhập của người khuyết tật ở những nơi công cộng tại khu vực trung tâm của TP HCM 49

2.3 Người khuyết tật đánh giá khả năng đáp ứng của các công trình công cộng ở khu vực trung tâm đối với nhu hòa nhập của mình 87

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU HÒA NHẬP XÃ HỘI CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở NHỮNG NƠI CÔNG CỘNG TẠI KHU VỰC TRUNG TÂM CỦA TP HCM 97

3.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 97

3.2 Giải pháp mang tính kỹ thuật 98

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

TÓMTẮT

Đề tài là nghiên cứu thực nghiệm đánh giá nhu cầu hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật đặc biệt chỉ tập trung nhóm khuyết tật vận động bao gồm những người đi xe lăn, di chuyển phải dùng nạng hỗ trợ hoặc tay chân yếu Xác định nhu cầu tiếp cận các quận trung tâm của họ qua mức độ thường xuyên đến các quận này

Ngoài ra, nhằm đánh giá khả năng đáp ứng các nhu cầu hòa nhập cộng đồng

từ phía xã hội chính là các hạng mục thuộc khối cơ sở hạ tầng của những công trình công cộng như: Lối vào, đường dốc, cửa ra vào, hành lang, thang máy, nhà

vệ sinh sẽ được đánh giá qua việc quan sát các công trình thuộc khu vực trung tâm của TP.HCM

Đề tài đề xuất một số giải pháp có khả năng ứng dụng vào thực tiễn giúp người khuyết tật dễ dàng tiếp cận các công trình công cộng tại khu vực trung tâm

từ đó có thể hòa nhập cộng đồng một cách dễ dàng

Trang 7

ABSTRACT

Project is an empirical research which assesses the mands of community integration of disabled people focusing specifically on groups with mobility disabilities or reduced mobility those who are in wheelchairs, or supported by crutches or who have thier legs or hands weak Thier integration or participation needs is measured by the regular level they go to the centers of those districts

In addition, the ability to meet the society’s integration needs is assessed by the infrastructural sectors of public works, such as entrances, ramps, doors, corridors, elevators, restrooms will be evaluated by observing the works of Ho Chi Minh City’s central areas

Project is going to propose some feasible solutions which can be applied into the reality, supporting the disabilities to easily access to public buildings in the central areas for their easier integration

Trang 8

MỞĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có tỷ lệ người khuyết tật khá cao so với các nước khác trong khu vực với khoảng 7,8% dân số (tương đương với 6,7 triệu người) ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên bị khuyết tật1

Người khuyết tật được chia ra theo các dạng như sau 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do

Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai… Có tới 80% người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm)2

Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 70.000 người khuyết tật (chưa tính người ngoại tỉnh), theo tổ chức Y tế Thế giới số người khuyết tật chiếm 10% dân số thành phố theo số liệu của Sở Lao động Thương binh và Xã hội.3

TS Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số, Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa

gia đình, Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật

3

Dẫn theo ThS.Võ Thị Hoàng Yến, Giám đốc Trung tâm Khuyết tật và Phát triển TP.HCM, http://www.dphanoi.org.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2523

Trang 9

Người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay gặp rất nhiều khó khăn không chỉ về đời sống vật chất mà còn chịu nhiều thiệt thòi từ sự kỳ thị của xã hội Đã có nhiều nghiên cứu của các cá nhân và tổ chức về nhóm dân cư dễ bị tổn thương này trong đó phải kể đến đề tài của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) được sự tài trợ của Quỹ Ford, năm 2007 đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh thành ở Việt Nam và đưa ra một vài con số thống kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật - qua đó cho thấy sự phân biệt đối xử là lớn như thế nào, các con số biến thiên do sự khác biệt giữa các tỉnh4

Thái độ của cộng đồng với người khuyết tật Tỉ lệ quan điểm

đồng ý

Người khuyết tật không thể có cuộc sống bình thường 40% đến 59,4% Người khuyết tật bị như vậy là do số phận 56% đến 65% Người khuyết tật đáng phải gánh chịu số kiếp khuyết tật như

vậy vì họ phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước 14% đến 21%

Đến nay những quan niệm về người khuyết tật vẫn chưa có chuyển biến nhiều so với kết quả cuộc nghiên cứu trên Những quan niệm này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng

4

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_khuy%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADt

Trang 10

Chính phủ Việt Nam đã thông qua và thực thi nhiều Luật, chính sách, quy định và sáng kiến liên quan đến người khuyết tật, trong đó có quyền tiếp cận các công trình xây dựng để hòa nhập cộng đồng bền vững và hiệu quả Trong

đó phải kể đến những văn bản chủ yếu sau:

i) Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001 Việc bảo vệ người khuyết tật được nêu tại Điều 59 và 67;

ii) Pháp lệnh Người tàn tật (1998) đã quy định tại điều 26;

iii) Luật Xây dựng (2003), điều 52 Yêu cầu đối với thiết kế xây dựng công trình: …“đối với những công trình công cộng phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật”

iv) Luật Người khuyết tật (Luật số 51/2010/QH11) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 quy định tại Điều 39 về việc tuân thủ Quy chuẩn xây dựng

kỹ thuật quốc gia về xây dựng công trình trong hoạt động xây dựng và Điều

40 quy định lộ trình cải tạo công trình xây dựng;

v) Quyết định phê duyệt Đề án Trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006-2010

số 239/2006/QĐ-TTg ngày 24/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ trong đó giao cho Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành liên quan chỉ đạo việc xây dựng các công trình mới, nâng cấp các công trình hiện có theo bộ quy chuẩn xây dựng công trình công cộng

17/01/2002 về ban hành bộ Quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật:

QCXDVN 01:2002, Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;

Trang 11

TCXDVN 264:2002, Nhà và công trình – Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;

TCXDVN 265:2002, Đường và hè phố – Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;

TCXDVN 266:2002, Nhà ở - Hướng dẫn xây dựng để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng

Đây là các văn bản quy định các yêu cầu bắt buộc tuân thủ và các hướng dẫn kỹ thuật nhằm kiểm soát các hoạt động đầu tư xây dựng công trình Trên

cơ sở đó, theo phân cấp, các địa phương tổ chức kiểm soát các dự án thông qua công tác thẩm định dự án và nghiệm thu công trình theo quy định của

Ngoài ra 05 tháng 8 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định Số: 1019/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 –

2020 với những chỉ tiêu cụ thể đặc biệt là “Ít nhất 50% công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề, công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật; Ít nhất 50% người khuyết tật có nhu cầu tham gia giao thông được sử dụng phương tiện giao thông đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về giao thông tiếp cận hoặc dịch

vụ trợ giúp tương đương” Tiến dần đến giai đoạn 2016 – 2020 con số là

100% cho công trình và 80% cho nhu cầu tham gia giao thông6

Trang 12

Có thể thấy Chính phủ đã có nhiều nỗ lực mang đến cuộc sống bình đẳng cho người khuyết tật, nâng cao khả năng tiếp cận các công trình công cộng cho họ Tuy nhiên, người khuyết tật có nhu cầu tiếp cận các công trình ấy hay không? Mức độ như thế nào? Và khả năng đáp ứng sự hòa nhập cho họ ra sao

từ những công trình công cộng tại các quận trung tâm TP.HCM? Đề tài: “Nhu cầu hòa nhập xã hội của người khuyết tật và khả năng đáp ứng từ phía xã hội cho họ ở những nơi công cộng tại khu vực trung tâm của TP.HCM: Thực trạng và Giải pháp” sẽ trả lời các câu hỏi ấy

Đánh giá nhu cầu hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật được giới hạn trong đề tài chỉ dừng lại ở việc đo mức độ họ đến các công trình công cộng ở những quận trung tâm như thế nào? Khả năng đáp ứng từ phía xã hội

sẽ được đánh giá về các hạng mục công trình như: vỉa hè, lối vào, cửa, hành lang, thang máy, nhà vệ sinh của không gian cứng và không gian mềm ở các quận trung tâm có dễ dàng để người khuyết tật tiếp cận

2 Mục tiêu nghiên cứu

Với việc sử dụng bảng khảo sát chúng tôi hướng đến việc đánh giá nhu

cầu hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật đặc biệt chỉ tập trung nhóm khuyết tật vận động bao gồm những người đi xe lăn, di chuyển phải dùng nạng hỗ trợ hoặc tay chân yếu Xác định nhu cầu tiếp cận các quận trung tâm của họ qua mức độ thường xuyên đến các quận này

Ngoài ra, nhằm đánh giá khả năng đáp ứng các nhu cầu hòa nhập cộng đồng từ phía xã hội chính là các hạng mục thuộc khối cơ sở hạ tầng của những công trình công cộng ở khu vực trung tâm của TP.HCM như: lối vào, cửa, hành lang, thang máy, nhà vệ sinh sẽ được đánh giá qua việc quan sát các công trình trong địa bàn nghiên cứu;

Trang 13

Từ thực trạng nghiên cứu, đề tài đề xuất một số giải pháp có khả năng ứng dụng vào thực tiễn giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng một cách dễ dàng

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Nhu cầu hòa nhập xã hội của người khuyết tật và khả năng đáp ứng từ phía

xã hội cho họ ở những nơi công cộng tại khu vực trung tâm của TP HCM

3.2 Khách thể nghiên cứu

Người khuyết tật tập trung vào nhóm khuyết tật vận động gồm những người đi xe lăn, xe lắc, di chuyển phải dùng nạng hỗ trợ hoặc tay chân yếu, những người được chúng tôi đánh giá là năng động, có tính tự lập cao và chủ động hòa nhập

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập thông tin nghiên cứu

4.1.1 Phân tích tư liệu có sẵn

Phân tích tư liệu sẵn có từ báo cáo tổng kết, các tài liệu nghiên cứu về người khuyết tật từ trước đến nay, các công trình nghiên cứu trước đó về những vấn đề có liên quan đến người khuyết tật, sách, báo, tạp chí, nguồn số liệu thống kê về tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội tác động trực tiếp đến vấn

đề nghiên cứu Đặc biệt là chúng tôi phân tích lại một phần kết quả dự án

“Bản đồ tiếp cận” của Trung tâm Khuyết tật và phát triển (DRD) tháng

8/2011-2012, và trích một số số liệu từ đề tài luận văn thạc sĩ Xã hội học của

Trang 14

học viên Đỗ Trần Phan “Thực trạng và giải pháp về cơ sở hạ tầng đối với người khuyết tật tại thành phố Hồ chí Minh trong quá trình hội nhập xã hội”

4.1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp định lượng với công cụ điều tra bảng hỏi: 100 mẫu những người khuyết tật tập trung vào nhóm khuyết tật vận động Bảng hỏi được thiết kế bao gồm câu hỏi đóng (các câu hỏi có sẵn các phương án lựa chọn) Bằng việc sử dụng bảng hỏi, thông tin thu được bao gồm những đặc điểm về nhân khẩu: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp,… những câu hỏi đánh giá về nhu cầu hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật ở mức độ thường xuyên đến các công trình công cộng và những nhận định của họ đối với việc tiếp cận các công trình công cộng ở các quận trung tâm TP.HCM Bảng hỏi hoàn tất sẽ được đọc soát, kiểm tra về độ tin cậy của thông tin

4.1.3 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp định tính với công cụ điều tra lập bảng quan sát: 50 mẫu tiến

hành tại các quận trung tâm TP.HCM (xem định nghĩa các quận trung tâm ở mục 1.2 Các khái niệm chính sử dụng trong đề tài) khu vực 930 ha gồm quận

1, quận 3, quận 4 và một phần quận Bình Thạnh để đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu hòa nhập xã hội dành cho người khuyết tật của TP.HCM

Các công trình sẽ được quan sát những hạng mục gồm: lối vào, cửa, hành lang, lối đi, thang bộ, thang máy, nhà vệ sinh Những tiêu chí để đánh giá xem công trình có đạt chuẩn hay không căn cứ vào những văn bản pháp lý sau:

QCXDVN 01:2002, Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;

Trang 15

TCXDVN 264:2002, Nhà và công trình – Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;

TCXDVN 265:2002, Đường và hè phố – Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;

TCXDVN 266:2002, Nhà ở - Hướng dẫn xây dựng để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng

4.2 Phương pháp chọn mẫu

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (non-probability sampling) với cách lấy mẫu thuận tiện (convenience, accidental sampling)

Chúng tôi phát phiếu khảo sát cho những người khuyết tật vận động, đa số đang sinh hoạt, làm việc hoặc là tình nguyện viên tại Trung tâm Khuyết tật và phát triển (DRD) trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam,

là tổ chức phi lợi nhuận được thành lập vào ngày 03 tháng 12 năm 2005 dưới sự

hỗ trợ ban đầu của quỹ Ford Trung tâm với mục tiêu hoạt động là thúc đẩy bình đẳng cơ hội cho người khuyết tật, khuyến khích và tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia vào tất cả các hoạt động và đóng góp cho cộng đồng giống như những thành viên khác của xã hội Các hoạt động của DRD bao gồm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo và thông tin về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật vận động và chậm phát triển trí tuệ tại Việt Nam Có rất nhiều hoạt động và tập hợp được một số lượng lớn những người khuyết tật, đặc biệt là khuyết tật vận động

Ngoài ra, chúng tôi còn phát phiếu khảo sát cho những người khuyết tật vận động ở khu vực các quận trung tâm theo cách chọn mẫu nói trên

Trang 16

Đối với phương pháp quan sát, như đã đề cập ở trên, chúng tôi sử dụng thêm những số liệu quan sát của dự án “Bản đồ tiếp cận” Trong 1 năm, hơn 50 tình nguyện viên của Trung tâm Khuyết tật và phát triển đã khảo sát 1.800 công trình công cộng (bệnh viện, trường học, nhà hàng,…) trên địa bàn quận 1 và 3 của TP.HCM, kết quả là chỉ có 78 công trình xây dựng đúng quy chuẩn, có thể tiếp cận cho người khuyết tật7 chúng tôi đã khảo sát lại 10 trong số 78 công trình ở quận 1 và quận 3 được phân chia cụ thể như sau:

1 Trường học, trường dạy nghề (công trình giáo dục) 2

2 Trung tâm y tế bệnh viện (Công trình y tế) 2

3 Các UBND, sở ban ngành (Công trình hành chính) 2

5 Ngân hàng trung tâm thương mại nhà hàng khách sạn

sân vận động (Công trình dịch vụ)

2

Tổng cộng: 10 Cùng với 30 công trình không thuộc danh mục khảo sát của Bản đồ tiếp cận tập trung ở 2 quận còn lại của khu vực trung tâm như quận 4 và một phần quận Bình Thạnh cũng được phân chia theo 5 nhóm công trình như trên để có

sự đồng bộ trong dữ liệu

Ngoài ra, để đánh giá mức độ tiếp cận của người khuyết tật chúng tôi còn

mở rộng khảo sát tại 10 công viên và vườn dạo ở khu vực trung tâm (những công viên này không có trong danh mục nghiên cứu của Bản đồ tiếp cận) vì theo đánh giá của chúng tôi người khuyết tật có nhu cầu cao trong việc tiếp cận các không gian công cộng này Danh sách các công viên, vườn dạo được

7

http://www.drdvietnam.org/vi/ban-do-tiep-can.html

Trang 17

đưa vào khảo sát bao gồm: công viên 23 tháng 9, công viên 30 tháng 4, công viên Lam Sơn, công viên Bách Tùng Diệp, công viên Lê Văn Tám, công viên Tao Đàn, công viên cảng du lịch Bạch Đằng, vườn dạo trước UBND Thành phố, vườn dạo dưới chân cầu Tân Thuận, Thảo Cầm viên Sài Gòn,

Tổng cộng có 50 công trình công cộng được khảo sát trong đề tài nhằm trả lời câu hỏi khả năng đáp ứng sự hòa nhập của người khuyết tật ở các công trình công cộng tại các quận trung tâm của TP.HCM ra sao?

4.3 Phương pháp xử lý thông tin

4.3.1 Xử lý kết quả thu thập thông tin từ tư liệu có sẵn

Hầu hết các tài liệu tác giả tìm kiếm được đều liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó tiến hành tổng hợp tài liệu, sắp xếp, đánh giá, so sánh theo tiến trình thời gian, các chương mục của đề tài nhằm đảm bảo tính khoa học

4.3.2 Xử lý kết quả nghiên cứu định lượng

Để xử lý 100 bảng hỏi chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS for windows phiên bản 11.5 và phân tích chủ yếu theo phương pháp thống kê mô tả về tần

số, phần trăm lũy tiến Mặc dù nhóm nghiên cứu có khả năng phân tích chéo, kiểm định mối liên hệ giữa các biến tuy nhiên chúng tôi nhận thấy với số mẫu

là 100 và cách lấy mẫu thuận tiện thì không đủ mang tính đại diện nên việc kiểm định mối quan hệ giữa các biến và phân tích hồi quy tuyến tính là không cần thiết vì sẽ không đảm bảo tính đại diện của mẫu là toàn bộ những người khuyết tật vận động tại TP.HCM

Trang 18

4.3.2 Xử lý kết quả nghiên cứu định tính

Với 50 bảng quan sát chúng tôi cũng thống kê theo dạng hạng mục các công trình nhấn mạnh vào những nơi khó tiếp cận, được lập thành bảng với các hạng mục như: Lối vào, đường dốc, cửa, hành lang, thang máy, nhà vệ sinh để thấy công trình nào có khả năng đáp ứng cho người khuyết tật vận động

Ngoài ra, hình ảnh của nghiên cứu quan sát được nhóm nghiên cứu chụp trong quá trình thu thập thông tin cũng được chèn vào báo cáo để minh họa cho việc tiếp cận các công trình công cộng của người khuyết tật

Trang 19

5 Mô hình khung phân tích

Công trình văn hóa

Công trình dịch

vụ

Công viên

Vườn dạo

NHU CẦU HÒA

NHẬP CỦA

NGƯỜI KHUYẾT

TẬT

KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG TỪ

XÃ HỘI

NGƯỜI KHUYẾT TẬT HÒA NHẬP

XÃ HỘI

KHÔNG GIAN CỨNG

KHÔNG GIAN MỀM (Không gian công cộng)

Trang 20

6 Ý nghĩa của đề tài

Những đề xuất của nghiên cứu dựa trên các số liệu thực nghiệm có thể được dùng để tư vấn cho các cơ quan chức năng trong việc ra quyết định phát triển

đô thị TP.HCM Đặc biệt, với việc UBND Thành phố phê duyệt mở rộng các quận trung tâm thành khu vực 930 ha sẽ có rất nhiều công trình mới được xây dựng, với mục tiêu đem lại sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận cho mọi nhóm dân cư nhất là nhóm yếu thế như: Người khuyết tật, người già, phụ nữ mang thai và trẻ em thì các cơ quan như Sở Giao thông công chánh, Sở Qui hoạch Kiến trúc… có thể sử dụng số liệu của đề tài

Báo cáo là tài liệu tham khảo cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên quan tâm đến người khuyết tật;

Báo cáo sẽ bổ sung tư liệu cho khoa Đô thị học, khoa Xã Hội Học và khoa Công tác xã hội, trường ĐH KHXH&NV TP.HCM;

Trang 21

NỘI DUNG

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về đời sống của người khuyết tật

Nghiên cứu về đời sống của người khuyết tật được sự quan tâm khá lớn từ nhóm ngành Khoa học xã hội và Nhân văn Riêng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn đã có khá nhiều luận văn thạc sĩ thuộc các nhóm ngành văn hóa học, xã hội học, Thư viện thông tin học… quan tâm đến vấn đề

người khuyết tật như: Luận văn thạc sĩ của Hoàng Tố Uyên “Mở rộng dịch vụ thư viện cho người khiếm thị trong hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam” (2006); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Long “Quá trình hòa nhập cộng đồng của người khiếm thị dưới nhãn quan văn hóa” (2009); luận văn thạc sĩ của Bùi Việt Thành “Tìm hiểu đời sống của các nạn nhân thương tật do bom mìn sau chiến tranh tại Triệu Phong Quảng Trị hiện nay” (2011); Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Từ An, “Những vấn đề về tình dục của người khuyết tật ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” (2012)

Đa số các đề tài luận văn trên đều tiến hành nghiên cứu thực nghiệm và phân tích các vấn đề liên quan đến đời sống của người khuyết tật với rất nhiều hướng tiếp cận khác nhau Đặc biệt phải nhắc đến đề tài luận văn thạc sĩ của

học viên Bùi Việt Thành “Tìm hiểu đời sống của các nạn nhân thương tật do bom mìn sau chiến tranh tại Triệu Phong Quảng Trị hiện nay” (2011) Luận

văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp thu thập thông tin; phương pháp nghiên cứu định tính; định lượng; đo lường các biến số; phương pháp xử lý dữ liệu và phân tích bao gồm phương pháp xử lý

số liệu, phương pháp phân tích cụ thể với mục đích là tìm hiểu cuộc sống vật

Trang 22

chất, tinh thần nạn nhân thương tật bom mìn sau chiến tranh, qua đó tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong cuộc sống mà họ gặp phải Đời sống kinh

tế, xã hội, chính trị văn hóa và những vấn đề xã hội nảy sinh trong giai đoạn hiện nay ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của họ Chính sách của Đảng

và Nhà nước phù hợp sâu sát đối với cuộc sống của họ hay không Dựa vào kết quả trong quá trình nghiên cứu, tác giả cho rằng các điều kiện về vật chất

và tinh thần cũng như các dịch vụ xã hội của đối tượng nghiên cứu tại huyện Triệu Phong vẫn còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của họ, đồng thời các nạn nhân vẫn chưa có sự quan tâm sâu sắc từ các chính sách của Đảng và Nhà nước Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút hơn sự quan tâm của các cấp chính quyền, địa phương và cộng đồng, cũng như nâng cao cuộc sống đối với các nạn nhân thương tật do bom mìn sau chiến tranh tại Triệu Phong nói riêng và cả nước nói chung

Nghiên cứu về người khuyết tật còn có những công trình của Viện Nghiên

cứu phát triển xã hội “Người khuyết tật ở Việt Nam: Kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai”, NXB Chính trị Quốc gia

Hà Nội, 2008; Nguyễn Thị Từ An “Quan niệm của người khuyết tật tại Thành phố Hồ Chí Minh về tình yêu - hôn nhân - gia đình” : công trình dự thi giải

thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008 TP Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh), 2008; Công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS);

“Bảo trợ xã hội cho những nhóm bị thiệt thòi”, NXB Thế giới, 2005, đã chia

sẻ một số kinh nghiệm quý báu về vấn đề phát triển con người, nhất là các nhóm bị thiệt thòi, trong đó có người khuyết tật trong việc hội nhập cuộc sống, cũng như những thuận lợi, khó khăn và bài học rút ra từ kinh nghiệm hỗ trợ các nhóm xã hội bị thiệt thòi này Bên cạnh đó, cũng cho chúng ta những nhận

Trang 23

diện về các nhóm dễ tổn thương trong xã hội để có các biện pháp hỗ trợ họ phát triển bền vững

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu như: TS Hoàng Mai Khanh

“Tác động của gia đình và nhà trường đến việc hội nhập của trẻ khuyết tật”

(2011), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Và sách đã xuất bản

về “Giáo dục học trẻ khuyết tật” (2009), nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Xuân Hải; GS.TS Vũ Dũng “Thích ứng xã hội của các nhóm

xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay” (2012), nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Đặc biệt cuốn sách của GS.TS Vũ Dũng “Thích ứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay” bằng những phương pháp tiếp cận nghiên cứu

vấn đề như: tiếp cận trên cơ sở quan điểm chung, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các công ước quốc tế về các nhóm xã hội yếu thế; tiếp cận mang tính liên ngành và mang tính hệ thống, cùng những phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng,… đề tài nghiên cứu giúp mọi người hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về đời sống vật chất, tâm lý của các nhóm xã hội yếu thế, trong đó

có nhóm ngươi khuyết tật ở nước ta hiện nay, những thuận lợi và đặc biệt là những khó khăn mà họ đang gặp phải trong sự hòa nhập vào cuộc sống xã hội Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học cao do đã đề cập đến sự thích ứng của các nhóm xã hội yếu thế dưới lăng kính của tâm lý học trong bối cảnh hội nhập của nước ta hiện tại Đây được xem là tính mới của đề tài khác với các nghiên cứu khác trong nước chủ yếu tìm hiểu đối tượng nghiên cứu từ góc độ kinh tế, xã hội Hiểu được tâm lý, suy nghĩ của nhóm người yếu thế như người khuyết tật là công việc cần thiết khi thực hiện đề tài về nhu cầu của người khuyết tật trong việc hòa nhập cộng đồng

Trang 24

Nghiên cứu về người khuyết tật với cơ sở hạ tầng đô thị

Trái ngược với việc có rất nhiều những bài viết được đăng tải trên báo giấy

và báo điện tử phản ánh về việc người khuyết tật khó khăn trong việc tiếp cận các công trình thuộc cơ sở hạ tầng đô thị tại TP.HCM cho thấy thực trạng hiện nay người khuyết tật vẫn rất khó khăn trong việc hòa nhập xã hội bởi có rất nhiều rào cản từ các công trình không quan tâm đến việc tiếp cận của họ thì các công trình nghiên cứu về cơ sở hạ tầng cho người khuyết tật tại TP.HCM cũng chưa phải là nhiều Có thể kể ra sau đây tên và nội dung các công trình

mà nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thu thập được như sau:

Đề tài "Khảo sát các công trình công cộng phục vụ người khuyết tật tại TP.HCM", do ThS Võ Thị Hoàng Yến cùng nhóm cộng sự thực hiện năm

2007; đề tài đã khảo sát 453 mẫu với các công trình công cộng bao gồm công trình y tế - giáo dục, công trình hành chánh các cấp, công trình văn hóa – thể thao, công trình dịch vụ công cộng, công trình nhà chung cư, công trình giao thông, đường phố… có đúng với tiêu chuẩn xây dựng của nhà nước ban hành năm 2003 hay không

Tham luận: “Thực trạng các công trình xây dựng tại TP.HCM dành cho người khuyết tật sau khi ban hành qui chuẩn xây dựng năm 2003” (tác giả Bùi

Việt Thành - Hội thảo Những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá tại TP.HCM do Bộ môn Đô thị học tổ chức tháng 11/2008) tập trung khảo sát thực trạng các công trình xây dựng tại TP.HCM sau khi ban hành qui chuẩn xây dựng năm 2003, cho thấy, người khuyết tật vẫn bị gạt ra bên lề trong việc tiếp cận hệ thống cở sở hạ tầng đô thị dù đã có qui chuẩn xây dựng ban hành

và có hiệu lực Dù chính phủ và chính quyền có chú trọng hơn trong việc hỗ trợ cho người khuyết tật tiếp cận các công trình nhưng chủ yếu còn nhỏ lẻ, tự phát hoặc chỉ các công trình quốc gia Lề đường và hè phố bị hàng quán xâm

Trang 25

chiếm, xây dựng không đúng qui chuẩn, thiếu các biển báo dành cho người khuyết tật … Tóm lại, các thiết kế xây dựng hiện nay, hầu như không dành cơ hội cho người khuyết tật tiếp cận Cũng với tham luận này, đã cho thấy các vấn đề mang lại rào cản về văn hoá, kinh tế - xã hội đang góp phần gây nên sự khó khăn trong việc hòa nhập xã hội đối với người khuyết tật hiện nay

Đặc biệt phải kể đến luận văn và dự án được nhóm nghiên cứu rất chú ý vì

có thể kế thừa những số liệu tương thích, và so sánh đối chiếu các kết quả của

đề tài:

Luận văn thạc sĩ Xã hội học của Học viên cao học Đỗ Trần Phan - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, “Thực trạng và giải pháp về cơ sở hạ tầng đối với người khuyết tật tại thành phố Hồ chí Minh trong quá trình hội nhập xã hội” dựa trên số liệu mà tác giả thu thập được từ tất cả các quận trong

thành phố đánh giá về cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu hội nhập xã hội của người khuyết tật cho thấy thực trạng tình hình các hạng mục cơ sở hạ tầng của TP.HCM sau năm 2003, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã được đầu tư rất mạnh với tốc độ xây dựng khá nhanh, trong đó các hạng mục được xây mới chiếm một con số không nhỏ khoảng 2/3 trên tổng số 300 công trình

mà luận văn tiến hành đo đạc khảo sát Tuy nhiên, các hạng mục thuộc cơ sở

hạ tầng kỹ thuật TP HCM hiện nay vẫn chưa đủ để cho người khuyết tật có thể sử dụng, một số công trình được xây dựng đầy đủ nhưng do chất lượng thi công kém và không được bảo quản thường xuyên nên các hạng mục dành cho người khuyết tật thường bị hư hỏng và xuống cấp, mất chức năng sử dụng Một số công trình được xây mang tính hình thức, khả năng sử dụng thực tế không cao Luận văn kết luận thêm một vấn đề gây nhiều khó khăn cho người khuyết tật trong quá trình hoà nhập đời sống xã hội không chỉ là cơ sở hạ tầng

Trang 26

mà còn là sự phân biệt đối xử của cộng đồng vẫn còn rất nặng nề, NKT bị xem thường, và thường bị bỏ rơi trong tiến trình phát triển của cuộc sống

Dự án “Bản đồ tiếp cận”, 2012, do Trung tâm Khuyết tật và Phát triển đã

khảo sát 1.800 công trình công cộng (bệnh viện, trường học, nhà hàng,…) trên địa bàn quận 1 và 3 của TP.HCM, kết quả là chỉ có 78 công trình xây dựng đúng quy chuẩn, người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng

Các tài liệu nghiên cứu trước đây đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về người khuyết tật và thực trạng tiếp cận cơ sở hạ tầng của người khuyết tật trong việc hòa nhập cộng đồng tại TP.HCM và một số thuận lợi và khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề khác nhau của đô thị Tuy nhiên, việc đánh giá nhu cầu hòa nhập cộng đồng và khả năng đáp ứng của xã hội đối với họ vẫn đang là đề tài cần được quan tâm nghiên cứu sâu hơn Vì vậy, đề tài này

sẽ là việc đánh giá những nhu cầu một cách hệ thống và phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật từ phía xã hội trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng để các chủ thể tiếp cận một cách công bằng nhất là trong giai đoạn UBND TP.HCM vừa có quyết định phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 Khu trung tâm hiện hữu TP.HCM Theo đó, Khu trung tâm sẽ rộng 930 ha, bao gồm 1 phần các quận 1, 3, 4 và Bình Thạnh thì việc nghiên cứu ứng dụng cho những công trình trong tương lai hướng đến sự tiếp cận hướng đến tất cả các nhóm đối tượng là vô cùng cần thiết

1.2 Các khái niệm chính sử dụng trong đề tài

1.2.1 Người khuyết tật

Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực

Trang 27

hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật

do Quốc hội Anh ban hành) khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn Còn Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA

- Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống Cũng theo ADA những ví

dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể

về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999)

Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982) Do vậy, khuyết tật là

Trang 28

một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống8

Riêng khái niệm người khuyết tật sử dụng trong đề tài “Nhu cầu hòa nhập

xã hội của người khuyết tật và khả năng đáp ứng từ phía xã hội cho họ ở những nơi công cộng tại khu vực trung tâm của TP HCM: thực trạng và giải pháp” chúng tôi chỉ hướng đến nhóm Khuyết tật vận động (Moving

Difficulty) là những người có cơ quan vận động bị tổn thương do các nguyên nhân khác nhau (chấn thương, hậu quả của một số bệnh, ) gây nên những khó khăn khi di chuyển, đứng, ngồi cần được sự hỗ trợ của xe lăn, xe lắc, nạng,…

Hoặc theo định nghĩa của Bộ Xây dựng: Tàn tật vận động là tình trạng cơ thể do khiếm khuyết, nên giảm khả năng đi lại trong sinh hoạt, học tập và lao động bình thường mà phụ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào thiết bị trợ giúp hoặc người khác9

Nhóm nghiên cứu chọn dạng khuyết tật này vì theo đánh giá của chúng tôi đây là nhóm khuyết tật chiếm số lượng đông nhất, có nhu cầu cũng như khả năng hòa nhập xã hội rất cao hơn và dễ dàng hơn các nhóm khuyết tật khác như: khiếm thính, khiếm thị, bại não, cùng với những hạn chế của đề tài về thời gian và kinh phí nên chúng tôi tập trung vào một nhóm khuyết tật để có những phân tích sâu hơn và các số liệu thu thập tập trung hơn so với việc trải đều cho các loại khuyết tật

Trang 29

1.2.2 Nhu cầu hòa nhập

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của con người, có rất nhiều nhu cầu tồn tại Tùy theo hoàn cảnh cụ thể, lứa tuổi cụ thể mà những nhu cầu này có khác nhau ở mỗi người Tuy nhiên, nhìn chung nhu cầu của con người được xếp từ đơn giản đến phức tạp theo quá trình phát triển cá nhân và xã hội Abraham Maslow10 chia nhu cầu của con người thành năm cấp bậc từ thấp đến cao theo mô hình tháp, trong đó bao gồm:

1 Nhu cầu tâm sinh lý: ăn, mặc, ở… (Physiological needs)

2 Nhu cầu an toàn (safety needs)

3 Nhu cầu yêu thương và thuộc về (love and belongs needs)

4 Nhu cầu được tôn trọng (self - Esteem needs)

5 Nhu cầu tự hoàn thiện (self-actualization needs)

Bên cạnh đó, khi đi sâu khai thác vào thang đo này, Maslow còn nhấn mạnh thêm hai nhu cầu nữa của con người đó là:

- Nhu cầu biết và hiểu về môi trường và

- Nhu cầu cảm thụ vẻ đẹp trong môi trường

Lý thuyết nhu cầu của Maslow trở thành lý thuyết tiếp cận, áp dụng trong nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nhu cầu chung của con người ở góc

độ tâm lý

Nhu cầu thứ ba trong thang đo nhu cầu của Maslow (nhu cầu yêu thương

và thuộc về (gia đình, tổ chức, nhóm, bạn bè, tương tác với con người mà mình thuộc về) cùng với nhu cầu được nghiên cứu sâu hơn được các nhà

10

abraham-maslow-centea-xin/page/2

Trang 30

http://www.wattpad.com/378722-thang-b%E1%BA%ADc-nhu-c%E1%BA%A7u-c%E1%BB%A7a-nghiên cứu xã hội học đô thị khai thác đó là nhu cầu biết và hiểu môi trường, nhu cầu cảm nhận vẻ đẹp trong môi trường

Từ việc tiếp cận tháp nhu cầu của Abraham Maslow, nhu cầu hòa nhập chính là việc người khuyết tật được tự do đến những nơi mà mình thích, được làm những việc mà tất cả những người bình thường trong xã hội đều có thể làm mà không cần sự giúp đỡ hoặc ban ơn của ai Cụ thể trong đề tài này chính là việc tiếp cận với các công trình công cộng tại các quận trung tâm một cách chủ động, dễ dàng để người khuyết tật cảm thấy mình được hòa nhập vào xã hội được thuộc về xã hội

Trang 31

Tháp nhu cầu của Abraham Maslow11

11

abraham-maslow-centea-xin/page/2

Trang 32

http://www.wattpad.com/378722-thang-b%E1%BA%ADc-nhu-c%E1%BA%A7u-c%E1%BB%A7a-1.2.3 Khả năng đáp ứng:

Khả năng đáp ứng đối với đề tài này được nhóm nghiên cứu định nghĩa là: việc người khuyết tật vận động dễ dàng tiếp cận cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các hạng mục thuộc công trình công cộng như: Lối vào, đường dốc, cửa ra vào, hành lang, thang máy, nhà vệ sinh của các không gian cứng: các công trình giáo dục, y tế, dịch vụ, và công mềm: các công viên, vườn dạo ở những quận trung tâm TP.HCM (930ha)

1.2.4 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của một khu vực Từ điển Oxford và Lạc Việt định nghĩa như sau:

Cơ sở hạ tầng (Infrastructure): Hệ thống thiết bị cơ bản, cố định có tính chất nền tảng của một quốc gia như đường sá, đường sắt, nhà ga, bến cảng, kho bãi, sân bay, mạng cấp thoát nước, điện, mạng viễn thông 12

Hệ thống công trình hạ tầng xã hội bao gồm: các công trình như y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình khác Hệ thống công trình hạ tầng xã hội được xây dựng để phục vụ cộng đồng, có ý nghĩa xã hội hơn là kinh tế, nhằm nâng cao đời sống cộng đồng nơi đó Công trình hạ tầng có thể là các công trình sau: Giao thông: đường bộ, đường sắt, vận tải công cộng, sân bay, đường thủy, đường đi bộ

12

Lê Vinh Danh "Chính sách huy động đóng góp của nhân dân để chỉnh trang, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật khu

dân cư tại TP.HCM", năm 2006, trang 3

Trang 33

Công cộng: đường điện, đường cấp khí ga, đường cấp nước, đường thoát nước, viễn thông, cáp truyền hình

Dịch vụ công cộng: phòng cháy chữa cháy, bệnh viện, công an 13

Cơ sở hạ tầng đặc biệt là cơ sở hạ tầng xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của một đô thị Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hấp dẫn của đô thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư, góp phần vào phát triển bền vững của đô thị Ngoài ra việc phát triển cơ sở hạ tầng đô thị nhắm đến sự tiếp cận của tất cả các đối tượng trong đó có người khuyết tật là thể hiện một đô thị văn minh, nhân văn… Việc này không chỉ có ý nghĩa trong việc tăng cường sự hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật mà còn góp phần thu hút khách du lịch nhất là những nhóm người già (trong bối cảnh già hóa dân số xu hướng phát triển chung của tất cả các quốc gia trên thế giới)

Vì vậy, phát triển đầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng xã hội là một trong các biện pháp hàng đầu mà nhà nước phải lưu tâm nhằm phát triển

kinh tế xã hội đô thị một cách bền vững

1.2.5 Khu vực trung tâm

Khu vực trung tâm của TP.HCM được định nghĩa theo Quyết định Số: 6708/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh ban hành ngày 29 tháng 12 năm 2012 về duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ

13

http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_tr%C3%ACnh_h%E1%BA%A1_t%E1%BA%A7ng_x%C3%A3 _h%E1%BB%99i

Trang 34

1/2000 (quy hoạch phân khu) khu trung tâm hiện hữu thành phố Hồ Chí Minh (930ha).14

Địa giới Khu trung tâm

Quận 1 Các phường Nguyễn Thái Bình, Bến Thành, Bến Nghé,

Phạm Ngũ Lão, một phần phường Cầu Ông Lãnh, một phần phường Đa Kao

Quận 3 Phường 6, một phần phường 7

Nguyễn Tất Thành (phía Nam), phía Đông giáp sông Sài Gòn

Hạn chế tăng dân số

Theo quy hoạch này, quy mô dân số khu trung tâm dự kiến đến năm 2020

là khoảng gần 250.000 người Quy mô dân số này được dự kiến dựa trên các tiêu chí: hạn chế tăng quy mô dân số, tái định cư tại chỗ và tái định cư tại các khu vực lân cận trong phạm vi quận 1, quận 3, và bổ sung dân số đối với quận Bình Thạnh

14

Quyết định Số: 6708/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh ban hành ngày 29 tháng

12 năm 2012 về duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 (quy hoạch phân khu) khu trung tâm hiện hữu TP Hồ Chí Minh (930ha)

Trang 35

5 phân khu chức năng

Khu trung tâm sẽ được chia thành 5 phân khu chức năng, bao gồm: Phân khu 1 là khu lõi Trung tâm Thương mại - Tài Chính; Phân khu 2 là khu Trung tâm Văn hóa - Lịch sử; Phân khu 3 là khu bờ Tây sông Sài Gòn; Phân khu 4 là khu thấp tầng; Phân khu 5 là khu lân cận lõi trung tâm

Trong đó, Phân khu 1 được quy hoạch theo hướng tạo sự cân bằng giữa bảo tồn những giá trị cảnh quan lịch sử với phát triển chức năng đô thị mới Tầng cao công trình quanh những kiến trúc có giá trị lịch sử như Trụ sở UBND TP, Nhà hát thành phố và chợ Bến Thành sẽ được kiểm soát nghiêm ngặt để có thể giữ gìn cảnh quan

Những tuyến phố lớn như Nguyễn Huệ, Lê Lợi sẽ trở thành các trục đô thị, kiểm soát chặt chẽ công trình xây dựng và chuyển đổi dần thành khu mua sắm (tuyến phố đi bộ, cấm xe hơi và xe gắn máy; chỉ cho phép phương tiện vận tải công cộng và người đi bộ)

Trong Phân khu 2, đa số là các khu đất xây dựng mật độ thấp, bao gồm công viên, trường đại học, công trình văn hóa, hành chính, tôn giáo và bệnh viện Ở Phân khu 3 sẽ tận dụng ưu thế của bờ sông, hình thành dải công viên văn hóa, giải trí và không gian công cộng dọc bờ sông từ cầu Sài Gòn đến cầu Tân Thuận Định hướng không gian kiến trúc khu này là phát triển cao tầng với mật độ xây dựng thấp, theo nguyên tắc chiều cao công trình thấp dần từ trong ra phía bờ sông

Phân khu 4 có nhiều công trình nhà biệt thự từ thời Pháp thuộc sẽ được giữ gìn như những tài sản quan trọng của thành phố Do đó, chiều cao khu này sẽ được kiểm soát chặt chẽ nhằm giữ không gian kiến trúc cảnh quan hiện hữu cho khu vực, là một không gian thấp tầng

Trong Phân khu 5 sẽ cho phép phát triển công trình cao tầng ở các vị trí gần với nhà ga Bến Thành, dọc đường Hàm Nghi, kênh Bến Nghé và đoạn nối

Trang 36

dài của đường Nguyễn Thái Học sang quận 4, với chức năng văn phòng và

thương mại

Phát triển không gian ngầm

Quy hoạch Khu trung tâm chú trọng phát triển nhiều không gian ngầm Cụ thể như bên dưới đường Lê Lợi, giữa ga Bến Thành và ga Nhà hát thành phố

sẽ là đường bộ ngầm và trung tâm mua sắm ngầm; Bên dưới đường Nguyễn Huệ, giữa ga Nhà hát thành phố và đường Tôn Đức Thắng làm đường bộ, bãi đậu xe và trung tâm mua sắm; Không gian ngầm bên dưới ga Bến Thành làm quảng trường ga và trung tâm mua sắm

Không gian bên dưới công viên 23/9 sẽ được làm đường bộ ngầm, bãi đậu

xe, bến xe buýt và trung tâm mua sắm Không gian bên dưới công viên dọc bờ sông Sài Gòn (dọc đường Tôn Đức Thắng) và công trường Mê Linh sẽ làm bãi đậu xe và trung tâm mua sắm Ngoài ra còn các dự án đang được xem xét, triển khai như bãi xe ngầm dưới công viên Lê Văn Tám, sân khấu Trống Đồng, sân thể thao Hoa Lư…

Trong Phân khu 1 còn có tổng cộng 7 nhà ga metro ngầm sẽ được xây dựng, gồm 2 nhà ga của tuyến số 1, 2 nhà ga của tuyến số 2, 2 nhà ga của tuyến số 3A và 1 nhà ga của tuyến số 4

Phân khu 2 cũng có 3 tuyến tàu điện ngầm là tuyến số 3 đi dưới đường Nguyễn Thị Minh Khai với 3 nhà ga; Tuyến số 4 đi từ Hai Bà Trưng lên nhà

ga Bến Thành; Tuyến số 2 đi dưới đường Cách Mạng Tháng 8 tới nhà ga Bến Thành Phân khu 3 cũng sẽ có hai nhà ga ngầm được quy hoạch cho tuyến số

1 và số 5

Trong Phân khu 4 cũng có các tuyến tàu điện ngầm số 2, 3, 4 lần lượt chạy dưới các đường Cách Mạng Tháng Tám, Nguyễn Thị Minh Khai và Hai Bà Trưng Nhà ga ngầm Bến Thành nằm ở phía Bắc của Phân khu 5 tương lai sẽ

là một đầu mối giao thông rất lớn Các tuyến tàu điện ngầm số 2, 3A và 4 từ

Trang 37

nhà ga Bến Thành cũng tiếp giáp với khu vực Ba nhà ga ngầm sẽ được bố trí trong khu vực này.15

Có thể thấy với đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 (quy hoạch phân khu) khu trung tâm hiện hữu TP Hồ Chí Minh sẽ góp phần thay đổi diện mạo của thành phố Việc mở rộng khu vực trung tâm và 5 phân khu chức năng sẽ xuất hiện nhiều công trình mới Vấn đề đặt ra là nếu tất cả các công trình mới xây dựng đều tuân thủ quy định của Bộ Xây dựng trong việc chú ý đến khả năng tiếp cận của người khuyết tật thì thành phố của chúng ta

sẽ là một trong những thành phố hiện đại và nhân văn của khu vực Đông Nam

Á

Ngoài ra, chúng tôi chọn khu vực trung tâm làm điạ bàn nghiên cứu vì đây

là nơi có nhiều yếu tố có thể gây cản trở cho sự hòa nhập của NKT như:

- Luôn trong tình trạng đông đúc, xe cộ lưu thông tấp nập;

- Nhiều điểm giao thông giao cắt nhau;

- Nhiều vật cản khuất tầm nhìn vì NKT vận động thường đi xe lăn nên tầm nhìn thường thấp;

15

http://dantri.com.vn/xa-hoi/tphcm-phe-duyet-quy-hoach-khu-trung-tam-rong-930-ha-688063.htm

Trang 38

Bản đồ giới hạn Khu trung tâm TP.HCM (bên trong đường viền)

1.2.6 Khái niệm công cộng, không gian công cộng

Công cộng: Thuộc về mọi người hoặc phục vụ chung cho mọi người trong

xã hội Khu vực công cộng bao gồm: công viên, khu vui chơi, giải trí, khu nghỉ mát, khu du lịch; chợ, siêu thị, khu thương mại; bến xe, nhà ga, bến tàu, bến phà, bến cảng, phương tiện vận tải công cộng, các điểm chờ xe buýt; các điểm dịch vụ điện thoại công cộng; sân chơi của trẻ em, sân thi đấu thể thao;

Trang 39

nơi làm việc, trường học, bệnh viện; các khu di tích lịch sử, các khu lăng miếu, đền thờ và những địa điểm công cộng khép kín và có mái che khác…16

Đề tài phân nhóm các công trình công cộng thành:

Không gian cứng gồm các công trình như: công trình giáo dục, công trình

y tế, công trình hành chính, công trình văn hóa và công trình dịch vụ

Không gian mềm chính là các không gian công cộng như: công viên, vườn dạo

Không gian công cộng

Có rất nhiều những khái niệm khác nhau về không gian công cộng Không gian công cộng (public space), hay khu vực công cộng (public realm, public domain), đều nói lên ý nghĩa của sự xâm nhập công cộng vào một không gian, địa điểm hay khu vực nào đó

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia17 thì Không gian công cộng là không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người Có hai thể loại không gian công cộng chính:

Không gian "vật thể" ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên; Không gian "phi vật thể" ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi

Trang 40

Sự hình thành, phát triển, và thay đổi của không gian công cộng phụ thuộc vào sự phát triển và đặc điểm của đời sống công cộng, vốn không giống nhau giữa các nền văn hóa khác nhau và ở các thời điểm khác nhau

Trong không gian công cộng, người sử dụng vừa là người quan sát, lại vừa

là người tham gia các hoạt động chung Hình thức hay hoạt động của mỗi người trong không gian công cộng thường gây ảnh hưởng tới những người khác, vì thế, không gian công cộng được coi là nơi diễn ra các xung đột xã hội cũng như là nơi của các hòa giải xã hội giữa các tổ chức cá nhân

Không gian công cộng là một khái niệm phức tạp và có nhiều tranh luận được đưa ra vì ở mỗi quốc gia khác nhau có những khái niệm riêng liên quan đến tính chất sở hữu không gian hay vấn đề văn hóa – chính trị - xã hội riêng

Vì vậy, để giúp làm rõ khái niệm này cần có sự phân biệt không gian chung và không gian riêng Hai khái niệm này được hình thành trên cơ sở chính trị xã hội mang tính chất quyền lực kiểm soát xã hội trong cuộc nghiên cứu của tác giả người nước ngoài Lisa B.W.Drummond (Lisa B.W.Drummond, 2000) về không gian công cộng ở Việt Nam

Không gian chung

Không gian công cộng là không gian “ngoài đó” thuộc về cả cộng đồng, mặc dù được điều chỉnh bởi sự kiểm soát xã hội và các chuẩn mực pháp lý Ví dụ: công viên, vườn dạo, quảng trường…

Không gian riêng

Không gian tư là không gian bên trong nơi mà sản phẩm xã hội diễn ra ít nhiều tự do từ sự hoàn toàn kiểm soát bởi những lực lượng bên ngoài chẳng hạn như chính phủ

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Xây dựng, Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng
Tác giả: Bộ Xây dựng
Năm: 2002
4. TCCDVN 264; Nhà và công trình – Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà và công trình – Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng
5. Dự án “Bản đồ tiếp cận”, 2012, do Trung tâm Khuyết tật và phát triển in và phát miễn phí Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bản đồ tiếp cận”
6. TS. Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số, Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật, http://www.gopfp.gov.vn truy cập ngày 02/02/2014 lúc 8h00 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật
Tác giả: TS. Nguyễn Quốc Anh
7. TS. Lê Vinh Danh “Chính sách huy động đóng góp của nhân dân để chỉnh trang, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật khu dân cư tại TP.HCM”, 2006, Trường ĐH Tôn Đức Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách huy động đóng góp của nhân dân để chỉnh trang, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật khu dân cư tại TP.HCM
Tác giả: TS. Lê Vinh Danh
Nhà XB: Trường ĐH Tôn Đức Thắng
Năm: 2006
8. Trần Thanh Trúc Duy (chủ nhiệm đề tài), “Nhà vệ sinh công cộng TP.HCM: Thực trạng và giải pháp” (2012) Nghiên cứu khoa học cấp trường- Khoa Đô thị học -ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà vệ sinh công cộng TP.HCM: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thanh Trúc Duy
Nhà XB: Nghiên cứu khoa học cấp trường- Khoa Đô thị học -ĐH KHXH&NV
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Long “Quá trình hòa nhập cộng đồng của người khiếm thị dưới nhãn quan văn hóa” (2009), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hòa nhập cộng đồng của người khiếm thị dưới nhãn quan văn hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Năm: 2009
10. Đỗ Trần Phan “Thực trạng và giải pháp về cơ sở hạ tầng đối với người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập xã hội”. luận văn thạc sĩ Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp về cơ sở hạ tầng đối với người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập xã hội
Tác giả: Đỗ Trần Phan
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
11. TS. Hoàng Mai Khanh “Tác động của gia đình và nhà trường đến việc hội nhập của trẻ khuyết tật” (2011), Báo cáo tổng kết kết quả đề tài NCKH cấp đại học Quốc gia, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của gia đình và nhà trường đến việc hội nhập của trẻ khuyết tật
Tác giả: TS. Hoàng Mai Khanh
Nhà XB: Báo cáo tổng kết kết quả đề tài NCKH cấp đại học Quốc gia
Năm: 2011
12. Bùi Việt Thành “Tìm hiểu đời sống của các nạn nhân thương tật do bom mìn sau chiến tranh tại Triệu Phong Quảng Trị hiện nay” (2011), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn. Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đời sống của các nạn nhân thương tật do bom mìn sau chiến tranh tại Triệu Phong Quảng Trị hiện nay
Tác giả: Bùi Việt Thành “Tìm hiểu đời sống của các nạn nhân thương tật do bom mìn sau chiến tranh tại Triệu Phong Quảng Trị hiện nay”
Năm: 2011
13. Bùi Việt Thành - Tham luận Hội thảo Những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá tại TP.HCM do Bộ môn Đô thị học tổ chức tháng 11/2008: “Thực trạng các công trình xây dựng tại TP.HCM dành cho người khuyết tật sau khi ban hành qui chuẩn xây dựng năm 2003” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng các công trình xây dựng tại TP.HCM dành cho người khuyết tật sau khi ban hành qui chuẩn xây dựng năm 2003
Tác giả: Bùi Việt Thành
Nhà XB: Bộ môn Đô thị học
Năm: 2008
14. Hoàng Tố Uyên “Mở rộng dịch vụ thư viện cho người khiếm thị trong hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam” (2006), Luận văn thạc sĩ, Đại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng dịch vụ thư viện cho người khiếm thị trong hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tố Uyên
Nhà XB: Đại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Năm: 2006
15. ThS. Võ Thị Hoàng Yến "Khảo sát các công trình công cộng phục vụ người khuyết tật tại TP.HCM", (2007), Trung tâm Khuyết tật và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các công trình công cộng phục vụ người khuyết tật tại TP.HCM
Tác giả: ThS. Võ Thị Hoàng Yến "Khảo sát các công trình công cộng phục vụ người khuyết tật tại TP.HCM
Năm: 2007
1. Ban điều phối các hoạt động hỗ người khuyết tật Việt Nam, Báo cáo thương niên năm 2012 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật Việt Nam, NXB Lao động-Xã hội, 2013 Khác
3. Quyết định Số: 6708/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh ban hành ngày 29 tháng 12 năm 2012 về duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 (quy hoạch phân khu) khu trung tâm hiện hữu TP. Hồ Chí Minh (930ha) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm