1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò các tập đoàn tài phiệt đối với lịch sử nhật bản cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx

129 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 11,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự lựa chọn này bên cạnh lý do phù hợp với ngành học, còn giúp cho học viên hiểu rõ hơn về quá trình hình thành, phát triển của hình thức tư bản tài chính độc quyền đặc trưng Nhật Bản Za

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP HCM

TRẦN HOÀNG PHƯƠNG KHÁNH

VAI TRÒ CÁC TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT

ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NHẬT BẢN

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÂU Á HỌC

(MÃ SỐ NGÀNH: 603150)

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TIẾN LỰC

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7

6 Bố cục 8

Chương 1: VỀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VÀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT NHẬT BẢN 10

1.1 VỀTẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT 10

1.1.1 Khái niệm tập đoàn tài phiệt 10

1.1.2 Tập đoàn tài phiệt đối với sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 15

1.2 TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT NHẬT BẢN (ZAIBATSU) 22

1.2.1 Sự hình thành các Zaibatsu 22

1.2.2 Đặc trưng các Zaibatsu 32

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2: CÁC TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 37

2.1 CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ CHI PHỐI NHẬT BẢN 37

2.1.1 Tập đoàn Mitsui (三井グループ) 37

2.1.2 Tập đoàn Mitsubishi (三菱グループ) 39

2.1.3 Tập đoàn Sumitomo (住友グループ) 43

2.1.4 Tập đoàn Yasuda (安田グループ) 45

Trang 3

2.2.2 Nguồn lực phát triển các ngành công nghiệp mới 63

2.2.3 Các tổ chức độc quyền thống trị kinh tế Nhật Bản 65

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3: QUAN HỆ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI GIỚI CHÍNH TRỊ VÀ QUÂN SỰ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 70

3.1 TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ 70

3.1.1 Mối quan hệ đặc biệt với chính trị 70

3.1.2 Zaibatsu và các đảng phái chính trị 72

3.2 TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN 76

3.2.1 Chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản 76

3.2.2 Các cuộc chiến tranh xâm lược và lợi nhuận 81

3.2.3 Di sản Zaibatsu ở thuộc địa 90

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Tài liệu tham khảo tiếng Việt 100

Tài liệu tham khảo tiếng Nhật 107

Tài liệu tham khảo tiếng Anh 107

Các Website 109 PHỤ LỤC

A Một số hình ảnh

B Các chú thích

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với tư cách là một học viên cao học chuyên ngành châu Á học, học viên quyết định chọn tìm hiểu về vấn đề "Vai trò của các tập đoàn tài phiệt đối với lịch sử Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX" cho luận văn thạc

sỹ của mình Sự lựa chọn này bên cạnh lý do phù hợp với ngành học, còn giúp cho học viên hiểu rõ hơn về quá trình hình thành, phát triển của hình

thức tư bản tài chính độc quyền đặc trưng Nhật Bản (Zaibatsu) cũng như

vai trò của các tổ chức này đối với giai đoạn phát triển nhanh về kinh tế, chính trị và quân sự trong lịch sử Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Những kỳ tích về kinh tế, chính trị và quân sự Nhật Bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX luôn có sức lôi cuốn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử giai đoạn cận và hiện đại Về chính trị, Nhật Bản đã xác định lộ trình chủ nghĩa tư bản trong lúc nhiều quốc gia khu vực vẫn còn đang loay hoay trong thân phận lệ thuộc Về kinh tế, Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ở châu Á chuyển từ hình thái kinh tế xã hội phong kiến phương Đông điển hình sang hình thái kinh tế tư bản theo mô hình phương Tây một cách nhanh chóng và đạt nhiều thành tựu Về quân sự, đến đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã có quân đội hùng mạnh và sau khi giành thắng lợi từ hai cuộc chiến tranh Nhật–Trung (1894-1895) và Nhật–Nga (1904-1905), Nhật Bản đã trở thành đế quốc Tuy nhiên, con đường phát triển của Nhật Bản không giống như của các nước phương Tây Mặc dù là quốc gia xuất phát sau nhưng Nhật Bản đã làm nên một cuộc bứt phá ngoạn mục trên đường đua tư bản chủ nghĩa

Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản được đặc trưng bởi các Zaibatsu, hay còn được gọi là các tập đoàn tài phiệt Zaibatsu là một thuật ngữ dùng để chỉ

Trang 5

hình thức tổ chức tư bản độc quyền kiểu Nhật Bản Các Zaibatsu có vai trò

đặc biệt đối với lịch sử Nhật Bản nói chung và lịch sử kinh tế hiện đại Nhật Bản nói riêng Vị thế kinh tế và những ảnh hưởng chính trị của các tập đoàn

tư bản này luôn có sức thu hút đối các học giả và nhà nghiên cứu Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc đánh giá những đóng góp tích cực và

những chi phối tiêu cực của các Zaibatsu đối với lịch sử Nhật Bản Tuy

nhiên, phần đông các ý kiến đều cho rằng sự phát triển vượt trội về tiềm lực

kinh tế của các Zaibatsu đã tạo ra năng lực chi phối chính trị, góp phần thúc

đẩy sự hình thành chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản

2 Lịch sử vấn đề

Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản được F Ia Pôlianxki mô tả

trong chương IX cuốn Lịch sử kinh tế các nước (ngoài Liên Xô) - Tập 2: Thời kỳ tư bản chủ nghĩa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1978 Theo

quan điểm của Pôlianxki, sư nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản có những đặc điểm riêng biệt so với chủ nghĩa tư bản ở các nước như Hà Lan, Anh hoặc Hoa Kỳ Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản ra đời muộn do sự bền vững của chế độ phong kiến chuyên chế Nhật Bản, sự kém phát triển của các công trường thủ công Nhịp độ tích lũy nguyên thủy tư bản của chủ nghĩa

tư bản Nhật Bản cũng tương đối chậm do không có nguồn lợi buổi đầu từ thuộc địa hoặc ngoại thương Ông kết luận rằng, cơ sở kinh tế cho sự nảy sinh của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản chủ yếu đến từ sự phát triển của thành thị, sự buôn bán thịnh vượng của các phú thương và sự ra đời của các phường hội

Sự hình thành và đặc trưng của các Zaibatsu được tác giả Nguyễn Văn

Kim nêu ra trong Nhật Bản với châu Á: Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 Ông

cho rằng chính những chuyển biến kinh tế - xã hội thời kỳ Edo là tiền đề

Trang 6

cho sự phát triển của các Zaibatsu thời hiện đại Bên cạnh định nghĩa về

Zaibatsu, ông cũng khái quát về quá trình phát triển và vị thế kinh tế -

chính trị của các Zaibatsu trong xã hội Nhật Bản hiện đại Trong The Social Background of Zaibatsu in Japan (tạm dịch: Nền tảng xã hội của các Zaibatsu), đại học Doshiha, Kyoto Nhật Bản; tác giả Shigeaki Yasuoka

đã nêu lên những đặc trưng cơ bản của Zaibatsu Theo quan điểm của ông,

Zaibatsu là các gia tộc có sự tích lũy tài sản lớn và có ảnh hưởng nhất định

đối với kinh tế, chính trị và xã hội Nhật Bản thời kỳ Minh Trị Các gia tộc này mở rộng quyền lực nắm giữ phần lớn các hoạt động kinh tế ở Nhật Bản, phát triển thành các nhóm độc quyền trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau và kiểm soát lợi nhuận của tất cả các ngành công nghiệp chủ chốt Tác

giả Edwin O Reischauer trong Nhật Bản – câu chuyện về một quốc gia

(Japan – The story of a nation), NXB Thống kê, Hà Nội, 1998; thì kết luận

về Zaibatsu như sau: “là một công ty nắm cổ phần lẫn nhau, tập trung và

thuộc sở hữu của một gia đình và thông qua lượng cổ phiếu nắm được rất lớn mà chi phối các hãng công nghiệp và thương mại chủ yếu, và đến lượt hãng lớn này lại chi phối các công ty con nhỏ hơn Một tài phiệt không chỉ tập trung vào một lĩnh vực duy nhất như các doanh nghiệp châu Âu thời ấy

mà còn mở rộng ra toàn bộ khu vực hiện đại của nền kinh tế” [46, 155]

Rất nhiều các nghiên cứu về vai trò của các Zaibatsu đối với kinh tế

Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tác giả G C Allen trong Chính sách kinh tế Nhật Bản - tập 1, nhà in Trường đại học Tổng hợp Hà Nội,

1988; đã khái quát về bốn nhóm Zaibatsu thời kỳ Minh Trị là Mitsui,

Mitsubishi, Sumitomo và Yasuda cùng các chính sách ưu đãi của chính phủ dành cho các nhóm này Ông cũng đã làm rõ sự phát triển và vai trò thống

trị của các Zaibatsu này đối với kinh tế Nhật Bản từ cuối thế kỷ XIX trở đi

Trong tác phẩm Tại sao Nhật Bản thành công? Công nghệ phương Tây, tính cách Nhật Bản (Why has Japan succeeded? Western technology and

the Japanese ethos), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991; tác giả Michio

Trang 7

Morishima đã nhận xét về vai trò trung tâm của các Zaibatsu đối với kinh tế Nhật Bản như sau: “Sự thật là, Nhật Bản đã thành công trong việc thiết lập

được trong một khoảng thời gian khá ngắn một khu vực độc quyền lớn và khu vực Zaibatsu làm hạt nhân của nền kinh tế Nhật Bản” [33, 129]

Tuy nhiên, những nghiên cứu về vai trò kinh tế thuần túy của các

Zaibatsu phải kể đến các công trình của hai giáo sư Randall K Morck và

Masao Nakamura Trong A Frog in a Well Knows Nothing of the Ocean: A History of Corporate Ownership in Japan, nhà xuất bản đại học Chicago,

tài liệu số 10274 năm 2005, Randall K Morck và Masao Nakamura đã khái quát sự hình thành các tập đoàn kinh tế Nhật Bản và phân tích rõ sự đóng

góp mang tính chi phối của các Zaibatsu đối với nền kinh tế Nhật Bản cho

đến khi các tập đoàn này bị giải thể năm 1945

Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa đế quốc đã được V.I Lenin

khái quát thành quan điểm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, tập 27 - V.I.Lenin Toàn tập, Bản tiếng Việt, NXB Tiến bộ,

Mat-xcơ-va năm 1981 Theo luận điểm của Lenin, các tập đoàn tài phiệt

như Cartel, Trust, Syndicate, Zaibatsu … bằng sự độc quyền đưa đến lũng

đoạn của mình; cùng với yêu cầu về nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và xuất khẩu tư bản; đã thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhật Bản đã được Lenin đề cập đến trong tác phẩm của

mình với vai trò là “nước tư bản trẻ”, là “quốc gia thôn tính Triều Tiên”, là

“đại cường quốc tiến hành phân chia các thuộc địa” [64, 478] cùng với

Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Vai trò của các Zaibatsu đối với sự hình thành và phát triển của chủ

nghĩa đế quốc được giáo sư W.G Beasley làm rõ trong tác phẩm Japanese Imperialism 1894-1945 (tạm dịch: Chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản từ 1894-1945) do nhà xuất bản đại học Oxford chi nhánh New York, Hoa Kỳ

xuất bản năm 1987 Giáo sư Beasley cho rằng chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản

Trang 8

là một trong những sự kiện đáng chú ý nhất của thế kỷ XX và ông đã đưa ra quan điểm của ông về nguồn gốc và bản chất của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản từ cuộc chiến tranh Nhật-Trung (1894-1895) cho đến năm 1945 Trong khoảng thời gian này, Nhật Bản là quốc gia châu Á duy nhất xây dựng thành công nền kinh tế công nghiệp và tiến vào chủ nghĩa đế quốc Theo quan điểm của giáo sư Beasley, nền kinh tế công nghiệp và chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản có liên quan chặt chẽ với nhau Mặc dù mục tiêu ban đầu của Nhật Bản là thực hiện các chính sách công nghiệp hóa mà chính phủ đã vạch ra để hướng nền kinh tế quốc gia vào con đường công nghiệp như các nước phương Tây, nhưng do sự tác động của hoàn cảnh chính trị bên ngoài cùng với sự phát triển của kinh tế trong nước, đã nảy sinh nhu cầu về tham vọng và quyền lực Các chính sách của chính phủ được thực hiện trong thời

kỳ Minh Trị và thời kỳ Taisho đã cho phép các Zaibatsu tham gia rộng và

sâu vào nền kinh tế Nhật Bản, để từ đó, hầu như mọi yếu tố liên quan đến

nền kinh tế này đều phụ thuộc vào sự chi phối của một hoặc nhiều Zaibatsu

Beasley đã làm rõ quan điểm của ông qua những chứng cứ cụ thể về sự phát triển, mở rộng, cuối cùng đưa đến sự tan rã của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản

Các công trình của những học giả nói trên đã thể hiện nhiều sử liệu, cách tiếp cận và các quan điểm khác nhau về những vấn đề có liên quan

đến Zaibatsu Tuy nhiên, trên cơ sở tổng hợp và tiếp thu có chọn lọc các

công trình của những người đi trước, luận văn này hướng đến cung cấp một cái nhìn khái quát và toàn diện về các tập đoàn tài phiệt nói chung cũng như

về Zaibatsu nói riêng Các Zaibatsu, trong quá trình vận động và phát triển

của mình, luôn bộc lộ những tác động tích cực và những ảnh hưởng tiêu cực đối với lịch sử Do đó, thông qua việc phân tích những đóng góp tích

cực của các Zaibatsu về phương diện kinh tế, cùng với việc làm rõ các mối quan hệ và sự chi phối của các Zaibatsu với giới chức chính trị; sẽ giúp học

viên rút ra được những nhận định khách quan về vai trò của các tập đoàn

Trang 9

này đối với giai đoạn phát triển nhanh trong lịch sử Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giai đoạn chủ nghĩa tư bản Nhật Bản bước vào con đường đế quốc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của của luận văn là các Zaibatsu hình

thành vào thời kỳ Minh Trị như Misui, Mitsubishi, Sumitomo, Yasuda cùng

những đóng góp về kinh tế của các Zaibatsu này trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sự chi phối về chính trị và vai trò của các Zaibatsu đối

với sự hình thành của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản cũng được đặc biệt quan tâm và phân tích

Bên cạnh đó, những biến chuyển kinh tế xã hội trong thời kỳ Tokugawa

từ 1603 đến 1868 cùng các chính sách của chính quyền Minh Trị đối với khu vực kinh tế tư nhân cũng được xem xét để làm rõ các tiền đề cho việc

hình thành các Zaibatsu

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn, về không gian, là lịch sử Nhật Bản, trong mối tương quan : lịch sử Nhật Bản là một bộ phận của lịch sử thế giới Việc xem xét lịch sử Nhật Bản để tìm ra vai trò của các tập đoàn tài phiệt không thể tách rời khỏi bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực Do đó, phạm

vi nghiên cứu của luận văn cũng sẽ bao gồm cả lịch sử thế giới và lịch sử của các quốc gia có liên quan

Phạm vi nghiên cứu về thời gian, là giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XX, giai đoạn Nhật Bản đóng một vai khá quan trọng trên sân khấu kinh tế, chính trị và quan hệ quốc tế khu vực Vì nền tảng của các

Zaibatsu hình thành trong bối cảnh xã hội Tokugawa do đó thời gian nghiên

Trang 10

cứu sẽ bắt đầu từ thời kỳ Edo Như vậy, phạm vi nghiên cứu của luận văn

về mặt thời gian, sẽ là giai đoạn lịch sử Nhật bản từ năm 1603 cho đến hết thập niên 1920

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học

- Làm rõ các khái niệm về tập đoàn tài phiệt và các hình thức tổ chức

tư bản độc quyền

- Làm rõ sự ra đời của các Zaibatsu thời kỳ Minh Trị

- Làm rõ vai trò của các Zaibatsu đối với kinh tế, chính trị và sự hình

thành chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Về ý nghĩa thực tiễn

Luận văn sẽ đóng góp tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản nói chung và châu Á học nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp lịch sử, phương pháp liên ngành và phương pháp logic được học viên sử dụng cho việc nghiên cứu các vấn đề đã đặt ra trong luận văn

Vì nội dung của luận văn là “Vai trò của các tập đoàn tài phiệt đối với lịch sử Nhật Bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, nên phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu chủ yếu Việc sử dụng

phương pháp lịch sử giúp học viên đặt các Zaibatsu Nhật Bản trong bối

cảnh lịch sử nhất định, từ đó thu thập các sự kiện, các mối quan hệ, các vấn

đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Những cứ liệu lịch sử chính xác

Trang 11

sẽ giúp cho việc lý giải và nhận định vai trò các Zaibatsu Nhật Bản khách

quan và xác thực hơn, đáp ứng yêu cầu của luận văn

Phương pháp liên ngành cũng được áp dụng xuất phát từ việc các

Zaibatsu đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, có mối quan

hệ đặc biệt với chính trị, đồng thời tác động đáng kể đến quan hệ ngoại giao của Nhật Bản Trong đó, các kỹ năng phân tích về kinh tế sẽ hỗ trợ cho học viên khi tiến hành thu thập các số liệu phục vụ cho vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, phương pháp logic với các kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh cũng được sử dụng trong luận văn

Nguồn tư liệu

Luận văn được thực hiện dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu:

- Các tác phẩm và công trình nghiên cứu của các học giả và nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài

- Các tác phẩm, sách, tạp chí chuyên khảo, luận văn liên quan đến nội dung nghiên cứu

- Những bức ảnh lịch sử liên quan đến nội dung đề tài

6 Bố cục

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, phần

Nội dung chính của luận văn với tiêu đề: “Vai trò các tập đoàn tài phiệt

đối với lịch sử Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” được chia

thành 3 chương

Chương một – VỀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VÀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT NHẬT BẢN Chương một được chia làm hai phần Phần đầu làm

rõ các khái niệm về tập đoàn, tập đoàn tài phiệt, tập đoàn tài phiệt Nhật Bản,

thuật ngữ Zaibatsu; cùng với lý luận về tập đoàn tài phiệt đối với sự ra đời

Trang 12

của chủ nghĩa đế quốc Phần còn lại nêu những chuyển biến về kinh tế trong thời kỳ Tokugawa đã tạo những tiền đề kinh tế cơ bản cho sự hình

thành của các Zaibatsu; cùng với những chính sách của chính phủ Minh Trị

đã tạo cơ hội cho các Zaibatsu xuất hiện và lớn mạnh Các đặc trưng của

tập đoàn tài phiệt Nhật Bản cũng được mô tả trong chương này

Chương hai – CÁC TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU XX Toàn

bộ chương hai dành riêng cho việc làm rõ vai trò của Zaibatsu đối với sự

phát triển kinh tế Nhật Bản, bởi vì vai trò này là chủ đạo: bản chất các

Zaibatsu là tập đoàn kinh tế, chức năng hoạt động chủ yếu là hoạt động

kinh tế và dùng chính tiềm lực kinh tế đó để chi phối những lĩnh vực khác Nội dung chính của chương chia làm hai phần Phần thứ nhất giới thiệu sơ

lược về các Zaibatsu đã chi phối Nhật Bản Phần sau đề cập đến vai trò trọng tâm của các Zaibatsu đối với kinh tế Nhật Bản; vai trò phát triển các ngành công nghiệp mới và sự ra đời của các tổ chức lũng đoạn Zaibatsu

Chương ba – QUAN HỆ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI GIỚI CHÍNH TRỊ VÀ QUÂN SỰ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Chương ba mang ý nghĩa tiếp nối với chương hai khi tiếp tục phân tích và nhìn nhận vai trò của các tập đoàn tài phiệt đối với chính trị và quân sự Nhật Bản Tuy nhiên, những phân tích và nhận định ở chương này còn mang ý nghĩa hệ quả: khi kinh tế tư bản phát triển mạnh sẽ đưa đến những đòi hỏi về nguyên liệu và thị trường, vì thế những ảnh hưởng đến chính trị và quân sự là tất yếu Chương ba gồm hai phần

Phần đầu nêu mối quan hệ của các Zaibatsu với chính trị và sự chi phối đối với các đảng phái Phần sau làm rõ vai trò của các Zaibatsu đối với sự hình

thành chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản và các hệ quả của nó

Trang 13

1 Chương 1: VỀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VÀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT NHẬT BẢN

1.1 VỀ TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT

1.1.1 Khái niệm tập đoàn tài phiệt

Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt [37, 884], tập đoàn là "tập hợp

những người có chung những quyền lợi kinh tế, xã hội hoặc có cùng một xu

hướng chính trị"; tài phiệt (財閥) là "tư bản tài chính có thế lực, nắm

quyền chi phối kinh tế - chính trị ở các nước tư bản" Như vậy, về ý nghĩa

ngôn ngữ, tập đoàn tài phiệt là "tập hợp những nhà tư bản tài chính có thế

lực, nắm quyền chi phối kinh tế - chính trị ở các nước tư bản" Tuy nhiên,

sự chuyển dịch đơn thuần về mặt ngôn ngữ sẽ là thiếu sót hoặc phiến diện nếu như những yếu tố về hoàn cảnh ra đời của thuật ngữ cũng như các đặc tính mà thuật ngữ đó phản ánh không được làm rõ

Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, V I Lenin đã viết rất rõ quan điểm của ông về khái niệm tư

bản tài chính Ông cho rằng "Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất

giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp" [64, 489] Các

liên minh độc quyền tư bản này đã "chia nhau thị trường trong nước bằng

cách chiếm lấy, ít nhiều hoàn toàn, nền sản xuất trong nước của họ Do việc xuất khẩu tư bản tăng lên, và những quan hệ với nước ngoài và với các thuộc địa Đã đưa đến một sự thỏa thuận quốc tế giữa các liên minh này, đưa đến sự hình thành các Các-ten quốc tế" [64, 462] Vậy, tư bản tài chính

là tổ chức độc quyền tư bản chủ nghĩa liên kết tư bản công nghiệp và tư bản

ngân hàng Sự phát triển của tư bản tài chính lại tiếp tục dẫn đến việc hình

thành một nhóm nhỏ độc quyền, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính

Trang 14

trị của toàn bộ xã hội tư bản Lenin đã gọi những nhóm người bằng các

cụm từ "bọn đầu sỏ tài chính", hay “nhóm tài phiệt” trong tác phẩm của

ông

Như vậy, tập đoàn tài phiệt là một nhóm các trùm tư bản tài chính

hình thành từ sự liên minh giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp,

độc quyền và có khả năng thao túng hoặc lũng đoạn về kinh tế, chính trị

Có nhiều hình thức tư bản tài chính độc quyền trên thế giới Các tổ chức tư bản độc quyền được định danh bằng nhiều tên gọi khác nhau như: Xanh-đi-ca (Syndicate), Các-ten (Cartel), Tơ-rớt (Trust), Công-xóc-xi-om

(Consortium), Zaibatsu (財閥), Chaebol (재벌) tùy vào quốc gia mà nó

hình thành Các thuật ngữ này có điểm chung là đều để chỉ một nhóm các doanh nghiệp liên minh hoặc liên hợp với nhau nhằm tạo ưu thế chi phối hoặc kiểm soát Tuy nhiên, chúng có những đặc trưng riêng

Các-ten (Cartel) là thuật ngữ dùng để chỉ liên hợp các doanh nghiệp ở Đức xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX để kiểm soát giá cả, tăng thêm lợi nhuận hoặc loại trừ xâm nhập của những đối thủ cạnh tranh mới tiến vào thị trường Số lượng Các-ten ở Đức ngày càng gia tăng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau và quy mô của chúng ngày càng mở rộng Vào năm

1870 ở Đức chỉ có khoảng hơn 6 Các-ten, nhưng năm 1890 con số đó đã là

210 và đến năm 1900 ở Đức đã có 300 Các-ten Các Các-ten ở Đức đã liên hợp hàng loạt các lĩnh vực sản xuất và điều khiển những lĩnh vực lớn của đời sống kinh tế So với các tổ chức độc quyền ở Hoa Kỳ (Tờ-rớt / Trust), quy mô hoạt động của Các-ten bao quát hơn, có mặt ở hầu như tất cả các ngành nghề của nền kinh tế, nhưng về cơ cấu tổ chức thì lại yếu hơn Các-ten chỉ quy định mức giá cả khu vực, quy định khối lượng nguyên liệu được mua, quy trình tiêu thụ, phân phối đơn đặt hàng và chia nhau lợi nhuận Các nhà tư bản tham gia Các-ten vẫn độc lập về sản xuất và thương nghiệp, họ chỉ cần cam kết thực hiện đúng quy định của hiệp hội, nếu vi

Trang 15

phạm sẽ bị phạt tiền, trong khi các Tờ-rớt Hoa Kỳ còn liên hợp cả việc sản xuất Vì vậy, Các-ten là liên minh độc quyền không vững chắc Trong nhiều trường hợp, những thành viên thấy ở vào vị trí bất lợi đã rút ra khỏi Các-ten, làm cho Các-ten thường tan vỡ trước kỳ hạn

Xanh-đi-ca (Syndicate) là một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm cá nhân hoặc doanh nghiệp hợp tác với nhau để giao dịch những thương vụ cụ thể hoặc nhẳm thúc đẩy lợi ích chung và hỗ trợ lẫn nhau, mà người ta thường gọi là các nghiệp đoàn hoặc công đoàn Trên thực tế, Xanh-đi-ca cũng là một hình thức của tổ chức độc quyền phổ biến ở Đức và Nga, tương tự như Các-ten Các xí nghiệp tham gia Xanh-đi-ca vẫn giữ độc lập về sản xuất, chỉ mất độc lập về lưu thông, mọi việc mua và bán sẽ do một ban quản trị chung của Xanh-đi-ca đảm nhận Mục đích của Xanh-đi-ca là thống nhất đầu mối mua và bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao

Công-xóc-xi-om (Consortium) là một từ bắt nguồn từ tiếng Latin, có nghĩa là hiệp hội hoặc liên đoàn Công-xóc-xi-om thường là sự kết hợp của hai hoặc nhiều cá nhân, công ty, tổ chức, chính phủ với mục tiêu tham gia vào một hoạt động phổ biến hoặc tổng hợp các nguồn lực để đạt mục tiêu chung Trên thực tế, Công-xóc-xi-om là hình thức tổ chức độc quyền có trình độ và quy mô lớn hơn các hình thức độc quyền trên Tham gia Công-xóc-xi-om không chỉ có các nhà tư bản lớn mà còn cả các Xanh-đi-ca, Tờ-rớt thuộc các ngành khác nhau nhưng liên quan với nhau về kinh tế, kỹ thuật Với kiểu liên kết dọc như vậy, một Công-xóc-xi-om có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm tư bản kếch sù Vào năm 1866 ở Hoa Kỳ, Công-xóc-xi-om đầu tiên là Công ty liên hợp điện báo miền Tây đã ra đời [41, 86]

Tờ-rớt (Trust) là một thuật ngữ xuất hiện ở Hoa Kỳ nửa sau thế kỷ XIX, ban đầu được sử dụng để chỉ doanh nghiệp sở hữu khối tài sản có giá trị cao

Trang 16

Sau đó, Tờ-rớt được dùng để chỉ các “liên hợp độc quyền” đặc trưng kiểu Hoa Kỳ Tờ-rớt đầu tiên là tập đoàn Standard Oil do John D Rockefeller thành lập năm 1870 ở tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ, với chức năng khai thác, điều chế, vận chuyển và kinh doanh dầu mỏ, được xem là tập đoàn dầu mỏ lớn nhất thế giới lúc bấy giờ cho đến khi bị tòa án tối cao của Hoa Kỳ phán quyết nó là một tổ chức độc quyền bất hợp pháp vào năm 1911 Standard

Oil “được xem là Tờ-rớt kiểu mẫu cho những Tờ-rớt khác Chẳng bao lâu

sau xuất hiện Tờ-rớt dầu hạt bông (năm 1884), Tờ-rớt dầu hạt gai (1885)

và Tờ-rớt rượu mạnh, đường…” [41, 87] Về mặt cơ cấu tổ chức, Tờ-rớt là

một hình thức độc quyền cao hơn Các-ten và Xanh-đi-ca, nó không chỉ liên hợp việc tiêu thụ mà nó còn liên hợp cả sản xuất Vì Tờ-rớt thống nhất cả việc sản xuất, tiêu thụ, tài vụ vào một ban quản trị nên các nhà tư bản tham gia Tờ-rớt trở thành những cổ đông thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần Cuối thế kỷ XX, các Tờ-rớt nhanh chóng có mặt ở tất cả các lĩnh vực của sản xuất công nghiệp Hoa Kỳ Tuy nhiên, sự xuất hiện ồ ạt của các Tờ-rớt đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt trong nhân dân buộc chính phủ phải phê chuẩn Đạo luật chống độc quyền Sherman (Sherman Antitrust Act) năm 1890 và Clayton (Clayton Antitrust Act) vào 1914 Nhưng, bất chấp các đạo luật, số lượng Tờ-rớt vẫn gia tăng nhanh chóng Năm 1903, các mặt hàng chủ lực ở Hoa Kỳ như nhựa đường, sợi bông, đồ điện, xe đạp, cao su, nông cụ, da, dầu mỏ, thép, đạn dược, máy móc, rượu hầu như được đặt dưới sự kiểm soát của các tổ chức độc quyền Đầu thế kỷ XX, gần 2/5 hệ thống đường sắt của Hoa Kỳ nằm trong tay các tổ chức độc quyền Không chỉ độc quyền trong công nghiệp, các Tờ-rớt còn bao trùm các ngân hàng, dẫn đến sự xuất hiện các tập đoàn tài phiệt chi phối mạnh đời sống kinh tế

và chính trị Ở Hoa Kỳ lúc này chỉ có hai ngân hàng lớn nằm trong tay hai

tỷ phú Rockefeller và Morgan

Zaibatsu (財閥 - theo tiếng Nhật có nghĩa là tài phiệt) là thuật ngữ

Trang 17

dùng để chỉ những tập đoàn tư bản tài chính độc quyền đặc trưng Nhật Bản

có khả năng thâu tóm và thao túng về kinh tế chính trị Mặc dù thuật ngữ

và phổ biến vào thời gian các tổ chức độc quyền này bị Bộ tư lệnh đồng

minh (SCAP) giải thể sau 1945, nhưng các Zaibatsu chính thức ra đời vào

thời kỳ Minh Trị với các cơ sở kinh tế đã có từ trước đó

Hidemasa Morikawa trong tác phẩm The Rise and Fall of Family

Enterprise Groups in Japan, đã định nghĩa Zaibatsu là “một nhóm các

doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế chịu sự sở hữu độc

quyền của một gia đình hoặc gia tộc” Trong Nhật Bản – câu chuyện về

một quốc gia, tác giả Edwin O Reischauer định nghĩa về các Zaibatsu như

sau : "Zaibatsu (tài phiệt) hay các conglomerate như ngày nay chúng ta vẫn

gọi là một công ty “nắm cổ phần lẫn nhau” tập trung và thuộc sở hữu của một gia đình và thông qua lượng cổ phiếu nắm được rất lớn mà chi phối các hãng công nghiệp và thương mại chủ yếu, và đến lượt hãng lớn này lại chi phối các công ty con nhỏ hơn Một tài phiệt không chỉ tập trung vào một lĩnh vực duy nhất như các doanh nghiệp châu Âu thời ấy mà còn mở rộng ra toàn bộ khu vực hiện đại của nền kinh tế Các Zaibatsu thường lấy các tổ chức ngân hàng lớn làm trung tâm, song chắc chắn còn bao gồm cả các công ty chế tạo, khai thác mỏ, hàng hải và ngoại thương” [46, 155]

Tác giả Nguyễn Văn Kim trong Nhật Bản với châu Á: Những mối liên hệ

lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội thì cho rằng: “Zaibatsu là những

tập đoàn tư bản tài chính được thiết lập trên cơ sở quan hệ họ tộc Trong quá trình phát triển các Zaibatsu đã có liên hệ mật thiết với giới chính trị cầm quyền và sử dụng sức mạnh tài chính của mình để kiểm soát nền kinh

tế Nhật Bản” [23, 520]

Chaebol (재벌 – theo tiếng Hàn Quốc có nghĩa là tài phiệt) là thuật

ngữ dùng để chỉ các tập đoàn tư bản công nghiệp lớn của Hàn Quốc thuộc

Trang 18

quyền sở hữu của một hoặc một nhóm các gia đình; nắm giữ các công ty con hoạt động trãi rộng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp và có tầm ảnh

hưởng về kinh tế xuyên quốc gia Chaebol chịu ảnh hưởng của các

Zaibatsu Nhật Bản Tuy nhiên, khác với các Zaibatsu, Chaebol không có

ngân hàng riêng và quyền quản lý điều hành Chaebol chỉ thuộc về người trong gia đình hoặc gia tộc Mặc dù thuật ngữ Chaebol chỉ được sử dụng

phổ biến từ năm 1984 nhưng các tập đoàn tài phiệt này đã chính thức xuất hiện dưới thời tổng thống Park Chung Hee trong thập niên 1960

Như vậy, tập đoàn tài phiệt là các tổ chức tư bản tài chính liên kết với nhau theo khuynh hướng độc quyền, sử dụng quyền lực tài chính để thao túng (hoặc lũng đoạn) kinh tế, chính trị, xã hội và quân sự

1.1.2 Tập đoàn tài phiệt đối với sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Chủ nghĩa đế quốc đã được La Mã tiến hành từ thời cổ đại khi quốc gia hùng mạnh này xâm lấn, chiếm đoạt và thống trị nhiều thành, bang và quốc gia khác Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc lại xuất hiện trên cơ sở kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển ở giai đoạn hiện đại Lenin đã

khái quát sự phát triển này thành quan điểm nổi tiếng “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”

Lenin đưa ra năm dấu hiệu cơ bản của chủ nghĩa đế quốc Thứ nhất, sự

ra đời của các tổ chức độc quyền trên cơ sở tập trung sản xuất và tập trung

tư bản ở trình độ cao và các tổ chức này giữ vai trò quyết định trong toàn

bộ đời sống kinh tế Thứ hai, sự xuất hiện của tư bản tài chính trên cơ sở kết hợp tư bản ngân hàng với tư bản công nghiệp Thứ ba, việc xuất khẩu tư bản đóng vai trò quan trọng Thứ tư, sự phân chia lại thị trường thế giới giữa các liên minh tư bản quốc tế Thứ năm, sự phân chia lãnh thổ trên thế

giới giữa các cường quốc được tiến hành Như vậy,“chủ nghĩa đế quốc là

Trang 19

chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn phát triển mà sự thống trị của các độc quyền

và tư bản tài chính đã hình thành; việc xuất khẩu tư bản mang một ý nghĩa nổi bật; bắt đầu việc phân chia thế giới giữa các tơ-rớt quốc tế; và việc phân chia toàn bộ lãnh thổ trái đất bởi các quốc gia tư bản chủ nghĩa lớn nhất đã kết thúc” [41, 26]

Chủ nghĩa tư bản ra đời là kết quả tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên, hợp quy luật, được quy định bởi sự phát triển những mâu thuẫn trong lòng chế độ phong kiến Mặc dù những mầm mống của chủ nghĩa tư bản xuất hiện ngay từ những thế kỷ XIV - XV ở Tây Âu, nhưng phải đến thế kỷ XVI

- XVIII, khi chế độ phong kiến bước vào giai đoạn tan rã nhanh chóng thì chủ nghĩa tư bản mới phát triển rộng rãi Có sự khác biệt về đặc điểm nảy sinh và phát triển của chủ nghĩa tư bản ở từng nước Nhưng về cơ bản, sự ra đời và trưởng thành của chủ nghĩa tư bản nói chung đều liên quan đến nền kinh tế hàng hoá, các cuộc cách mạng xã hội, chủ nghĩa trọng thương, sự phát triển của công nghiệp, và quá trình chinh phục hoặc chiếm đoạt các thuộc địa Tất cả các yếu tố đó đã đem lại cho chủ nghĩa tư bản nguồn tích lũy nguyên thủy tư bản khổng lồ

Chủ nghĩa tư bản trải qua nhiều giai đoạn Giai đoạn 1789 - 1871 được

Lênin gọi là thời kỳ "chủ nghĩa tư bản cũ" [64, 427], với yếu tố cạnh tranh

tự do hoàn toàn chiếm vị trí thống trị Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cũ, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động điển hình Tuy nhiên, từ 1871 trở đi, chủ nghĩa tư bản cũ với cạnh tranh tự do chuyển dần thành chủ nghĩa tư bản mới với sự thống trị của các yếu tố độc quyền Lenin cho rằng, giai đoạn ba mươi năm cuối của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại với tất cả những sự phát triển và mâu thuẫn tột cùng

của mình Lenin viết, "sự cạnh tranh biến thành độc quyền là một trong

những hiện tượng quan trọng – nếu không phải là hiện tượng quan trọng nhất – của nền kinh tế chủ nghĩa tư bản hiện đại" [64, 398]

Trang 20

Độc quyền xuất hiện khi có sự tập trung hoá cao về sản xuất và tư bản Hay nói cách khác, quá trình tập trung hoá cao sản xuất và tư bản sẽ tạo cơ

sở kinh tế cho sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền Việc tập trung sản xuất dẫn đến sự ra đời của các tổ chức độc quyền được Lenin xem là một quy luật cơ bản và phổ biến trong giai đoạn phát triển đầu thế kỷ XX của chủ nghĩa tư bản, giai đoạn chuyển từ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do

sang chủ nghĩa tư bản độc quyền Lenin đã phát biểu, "Khi phát triển đến

một mức độ nhất định, sự tập trung tự nó sẽ dẫn thẳng đến độc quyền" [64,

398] Kết quả của sự tập trung này là một nhóm cá nhân hoặc tổ chức

doanh nghiệp sẽ nắm giữ trong tay nhiều ngành công nghiệp khác nhau, những ngành này hoặc thể hiện các giai đoạn kế tiếp nhau hoặc hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình kinh doanh sản xuất Nhưng; tùy thuộc vào sự khác nhau giữa một số nước tư bản chủ nghĩa về chế độ bảo hộ mậu dịch hoặc tự

do buôn bán; hình thức, quy mô và thời gian xuất hiện của các tổ chức độc

quyền sẽ khác nhau

Không chỉ giới hạn trong phạm vi công nghiệp, sự tập trung dẫn đến độc quyền còn diễn ra trong lĩnh vực ngân hàng Sự phát triển trong kinh doanh ngân hàng cuối thế kỷ XIX đã làm thay đổi vai trò của ngân hàng từ

"người trung gian khiêm tốn" trở thành "các tổ chức độc quyền vạn năng"

[64, 415] hay tập đoàn ngân hàng Tập đoàn ngân hàng xuất hiện khi một số các ngân hàng, do quá trình tập trung mà đứng đầu toàn bộ nền kinh tế tư bản, đã dùng năng lực và quyền lực của mình lấn át các ngân hàng nhỏ

hoặc biến chúng thành các ngân hàng phụ thuộc "Ngân hàng phụ thuộc", theo Lenin, "là một trong những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại" [64, 417] Hệ thống các ngân hàng phụ thuộc này tạo thành một mạng lưới dày đặc, lan rộng và nhanh chóng, "bao phủ cả nước, tập trung hết thảy tư

bản và các khoản thu nhập bằng tiền, biến hàng nghìn hàng vạn doanh nghiệp tản mạn thành một đơn vị kinh tế tư bản chủ nghĩa thống nhất toàn quốc, rồi sau đó thành một đơn vị kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới" [64,

Trang 21

420] Mức phát triển cao nhất trong các hoạt động của tập đoàn ngân hàng

chính là khả năng độc quyền

Tuy nhiên, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XX không dừng lại ở việc độc quyền riêng biệt trong ngân hàng hay công nghiệp, mà còn kết hợp hai lĩnh vực kinh tế quan trọng này với nhau, tạo thành tư bản tài chính Nói cách khác, sự hợp nhất giữa tư bản công nghiệp và tư bản

ngân hàng đã tạo ra tư bản tài chính Lenin định nghĩa “Tư bản tài chính là

tư bản do ngân hàng chi phối và do nhà công nghiệp sử dụng” [64, 437]

Có nghĩa là, các tập đoàn ngân hàng dùng nguồn tư bản của mình đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp và các tập đoàn công nghiệp cũng mua

cổ phần trong các ngân hàng để thực hiện việc hợp tác, quản lý và chi phối lẫn nhau Tư bản tài chính phát triển mạnh, thu được lợi nhuận khổng lồ từ những hoạt động như sáng lập công ty hoặc phát hành chứng khoán, đã thống trị toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và tiến hành xuất khẩu tư bản

Nếu như xuất khẩu hàng hoá là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do thì xuất khẩu tư bản (hay còn được gọi là xuất khẩu vốn) là điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản giai đoạn các tổ chức độc quyền nắm giữ vai trò thống trị Trong giai đoạn này, do chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, ở một số nước tư bản tiên tiến đã xuất hiện thặng dư tư bản hay tình trạng tư bản thừa và hơn nữa tư bản cần đầu tư vào những địa bàn có thể tăng thêm lợi nhuận; do đó hành trình tìm kiếm thị trường đáp ứng cho nhu cầu nguyên liệu, nhân công, xuất khẩu … là không thể tránh khỏi Những địa bàn đáp ứng được nhu cầu đó chỉ có thể tìm thấy ở những vùng đất nông nghiệp lạc hậu, cuộc sống người dân nghèo khổ Ở những nơi đó, giá đất đai thấp, nguồn nhân công dồi dào, tiền công rẻ mạt và nguyên liệu giá hời hứa hẹn sẽ đem đến cho các nhà đầu tư những khoản siêu lợi nhuận Vì vậy, xuất khẩu tư bản được tư bản tài chính tiến hành ở các vùng đất thuộc

Trang 22

địa và ở những quốc gia bị cuốn hút bởi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Mặc dù việc xuất khẩu tư bản góp phần mở rộng và gia tăng sức mạnh cho chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới, nhưng trong một chừng mực nhất định

nó cũng giúp cho sự phát triển ở những nước đã được đầu tư

Các tổ chức độc quyền thường sử dụng các biện pháp phi cạnh tranh như chiếm nguồn nguyên vật liệu, nguồn nhân công và các phương tiện vận chuyển; đoạt thị trường tiêu thụ; tước nguồn tín dụng; thực hiện đánh sụt giá có hệ thống; tuyên bố tẩy chay hoặc ký các hợp đồng áp đặt với đối tác

để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh Các tổ chức độc quyền còn xâm nhập và thao túng tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đặc biệt chi phối chính

trị Chính vì vậy, lũng đoạn là một trong những đặc trưng của các tổ chức

độc quyền tư bản chủ nghĩa Tổ chức độc quyền quốc gia phát triển lớn mạnh thành tổ chức độc quyền quốc tế và bắt đầu hành trình tìm kiếm và chiếm đoạt các thị trường Thông qua việc nhập khẩu tư bản vào các nước lạc hậu về kinh tế, các tổ chức độc quyền thường tiến tới chiếm đoạt các

nước đó về quân sự “Khi bước lên vũ đài quốc tế, các tổ chức độc quyền

bắt đầu cướp bóc hàng loạt nước và các thuộc địa… Bất chấp các đường biên giới của các quốc gia đã được hình thành trong lịch sử; bất chấp ý kiến của các dân tộc; chà đạp lên mọi quyền hành của họ và mọi biểu hiện của nền dân chủ, bọn tư bản độc quyền đã phân chia thế giới theo ý của mình … đẩy nhanh sự chuẩn bị các cuộc chiến tranh thế giới” [41, 12]

Nhận định đó được minh chứng bằng sự tham gia của nước Đức, một trong các cường quốc tư bản, vào các tổ chức độc quyền quốc tế Nếu vào năm

1897 Đức mới chỉ tham gia vào 40 tổ chức liên hợp độc quyền quốc tế thì đến năm 1910 con số đó tăng lên 100 Nguồn tư bản của Đức đã đóng góp đắc lực vào quá trình phân chia thị trường tiêu thụ và nguyên liệu thế giới thông qua các tổ chức độc quyền

Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, các cường quốc tư bản bấy giờ như

Trang 23

Đức, Hoa Kỳ đã tiến nhanh trên con đường bành trướng về kinh tế và xâm lược về quân sự Để đảm bảo lợi ích cho các tổ chức độc quyền, chính phủ của các cường quốc này từng bước tiến hành các cuộc thôn tính lãnh thổ và thuộc địa Việc thực hiện xuất khẩu hàng loạt các sản phẩm công nghiệp cùng các cuộc đấu tranh giành thị trường nguyên liệu và tiêu thụ đã tạo cơ

sở kinh tế cho các cuộc xâm lược Để biện minh cho ý đồ xâm lấn lãnh thổ

và chiếm đoạt thị trường, các quốc gia đế quốc luôn đưa ra những lý do cần

thiết Cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã đưa vấn đề “xây dựng một đế quốc thực

dân ở ngoài biên giới Bắc Mỹ” [41, 103] vào chương trình nghị sự, còn

Đức thì viện dẫn việc “thiếu không gian sinh tồn” [41, 189] để che đậy cho

các ý đồ bành trướng

Trong thập niên 80 của thế kỷ XIX, nước Đức xâm nhập châu Phi bằng các tổ chức doanh thương và sau đó chiếm được một vùng đất rộng lớn ở Tây Nam và Đông Nam lục địa này Ở Viễn Đông, Đức chiếm cửa biển Triều Châu ở vùng Sơn Đông thuộc Trung Quốc và tiến hành xây dựng căn

cứ quân sự Năm 1899, lợi dụng sự khó khăn của Tây Ban Nha sau cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ, Đức đã mua lại các hòn đảo ở Thái Bình Dương

với giá rẻ Tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, “Đức sở hữu

trên 12 triệu dân thuộc địa và gần 3 triệu cây số vuông đất đai” [41, 195]

Tương tự, chỉ trong nửa sau thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã ráo riết thực hiện việc

bành trướng rộng rãi bên ngoài lãnh thổ về kinh tế và quân sự Từ “1860

đến trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, xuất khẩu của Hoa Kỳ đã tăng

24 lần, và tính đến năm 1889, việc đầu tư tư bản ra nước ngoài đã đạt 560 triệu đô la” [41, 99] Năm 1867, Hoa Kỳ chiếm được Alaska bằng một số

tiền không đáng kể và năm 1898 Hoa Kỳ đã hợp pháp hoá quần đảo Hawaii thuộc Thái Bình Dương thành lãnh thổ của mình sau một thời gian dài chi phối và bóc lột nó Sau đó, Hoa Kỳ chính thức nắm quyền bảo hộ Cuba khi kết thúc cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, đồng thời giành được quyền

Trang 24

xây dựng và kiểm soát kênh đào Panama hứa hẹn đem lại những khoản lợi nhuận khổng lồ Ở Viễn Đông, Hoa Kỳ tham gia cùng các đế quốc tư bản khác chia nhau các đảo chiếm được ở Philippines và thực hiện việc nô dịch

về tài chính đối với Trung Hoa Tham vọng đế quốc của Hoa Kỳ đã thể hiện

rõ trong lời tuyên bố “Nền thương mại thế giới cần phải, và sẽ là của

chúng ta” [41, 105] Đây cũng là khát vọng của chung của các quốc gia

bước vào lộ trình chủ nghĩa đế quốc: chiếm đoạt không ngừng để lớn mạnh

và lớn mạnh không ngừng để chiếm đoạt Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

đã nổ ra nhằm giải quyết tham vọng bất tận của các nước đế quốc thông qua việc phân chia lại lãnh thổ và thị trường thế giới cũng như chiếm đoạt của nhau những thuộc địa đã phân chia xong

Tóm lại, chủ nghĩa đế quốc là thời đại của của tư bản tài chính và các tổ chức độc quyền thể hiện tham vọng thống trị và chiếm đoạt thông qua bành trướng kinh tế và xâm chiếm lãnh thổ Chủ nghĩa đế quốc, hình thành từ nhu cầu tất yếu của các tập đoàn tài phiệt và được bảo trợ về cơ sở kinh tế, chắc chắn sẽ đáp ứng tích cực trở lại cho các đòi hỏi về lãnh thổ và sự thống trị mà các tập đoàn tài phiệt đặt ra Tất cả những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc đều thể hiện vai trò quan trọng của tư bản tài chính và các tổ chức độc quyền Như vậy, các tổ chức độc quyền tư bản chủ nghĩa – hay các tập đoàn tài phiệt – có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc đầu thế kỷ XX

Bước vào thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến nhiều hình thức độc quyền: liên minh độc quyền của các nhà tư bản trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa

và vị thế độc quyền của một vài nước có tích lũy tư bản ở quy mô lớn Và Nhật Bản đã đạt được cả hai điều này: tích lũy tư bản ở quy mô lớn trong một thời gian ngắn đồng thời chiếm được vai quan trọng trên sân khấu chính trị quốc tế

Trang 25

1.2 TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT NHẬT BẢN (ZAIBATSU)

1.2.1 Sự hình thành các Zaibatsu

1.2.1.1 Tiền đề kinh tế thời kỳ Tokugawa

Mặc dù các Zaibatsu Nhật Bản chính thức xuất hiện và lớn mạnh sau

những chính sách thúc đẩy phù hợp của chính phủ Minh Trị, nhưng nguồn gốc của các tổ chức này đã hình thành trong bối cảnh xã hội thời kỳ Mạc Phủ Tokuagawa (徳川幕府)1 Sự ổn định về mặt chính trị trong giai đoạn Tokugawa đã giúp cho Nhật Bản có được một nền kinh tế thống nhất và tự

chủ Có thể nói, xã hội Nhật Bản vào giai đoạn này “xét về nhiều phương

diện, là một xã hội tiền công nghiệp phồn vinh” [58, 175] Sự phát triển của

thành thị và một nền kinh tế thống nhất với quan hệ hàng hóa tiền tệ; Sự thịnh vượng của đẳng cấp thương nhân; Sự ra đời của các phường hội đã

tạo những cơ sở cần thiết cho sự hình thành của các Zaibatsu sau này

Sự phát triển của thành thị và một nền kinh tế thống nhất với quan hệ hàng hóa tiền tệ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế Nhật Bản thời kỳ cận đại Trong thời kỳ Tokugawa, thành Edo (Tokyo ngày nay), thành phố Osaka và cảng thị Nagasaki phát triển lớn mạnh, là nơi tập trung quyền lực chính trị và sức mạnh kinh tế của Nhật Bản

Edo là nơi tập trung các cơ quan đầu não của chính quyền Tokugawa

Đô thị này nằm giáp vịnh, là trung điểm của hệ thống giao thông trên cả

nước và là nơi tập trung sinh sống của các võ sỹ cấp cao cùng các Samurai

Vị trí thuận lợi và vai trò “thành thị chính trị” đã góp phần làm cho Edo đã trở thành một khu vực kinh tế - chính trị sầm uất Trong giai đoạn

Tokugawa, sự nhộn nhịp của các phái đoàn Daimyo 2 về Edo thực hiện chế

độ Sankin Kotai (参勤交代)3

theo định kỳ đã thúc đẩy kinh tế, dịch vụ và

hệ thống giao thông phát triển mạnh Sức tiêu thụ của thành Edo đã tạo sinh lực cho toàn khu vực, đồng thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của

Trang 26

các đô thị khác như Osaka, Kyoto, cảng thị Nagasaki cùng nhiều thành thị

khác trên khắp đất nước Nhật Bản Andrew Gordon trong cuốn A modern history of Japan - from Tokugawa Times to Present đã cho rằng "Sankin

Kotai làm gia tăng kinh tế liên vùng và đưa các sản vật địa phương đến khắp mọi miền đất nước" [71, 21]

Hai tuyến đường chính nối liền Edo – Kyoto – Osaka gồm tuyến

Tokaido dọc theo bờ biển và tuyến đường mòn Nakasendo men theo các

dãy núi miền trung Nhật Bản, cùng hàng loạt các tuyến đường nhánh nối liền Edo đến các vùng phía bắc, nam và tây, đã được xây dựng Nhiều nơi

nghỉ chân và lữ quán cao cấp xuất hiện dọc theo tuyến Tokaido và các loại

hình dịch vụ cũng ra đời Bên cạnh thành Edo sầm uất và tráng lệ, Osaka mặc nhiên trở thành trung tâm thương mại lớn suốt thời kỳ Tokugawa, là nơi tập trung rất nhiều nhà buôn lớn Thương nhân khắp từ các vùng miền

đã vận chuyển lúa gạo và các sản phẩm địa phương đến Osaka và Edo để buôn bán hoặc chu cấp cho các lãnh chúa trong thời gian họ lưu lại ở đây Các đại lý chuyên kinh doanh gạo ở Osaka sẵn sàng đổi gạo thành tiền cho

các Daimyo chi dụng, rồi đem gạo đó bán lại cho các thị dân Lúa gạo trở

thành sản phẩm thương mại quan trọng nhất trong thời kỳ này Một mạng lưới thị trường chung trên cả nước đã từng bước hình thành, với Edo – Osaka là tuyến kinh tế huyết mạch Từ các trung tâm thương mại lớn này, những hình thức kinh doanh và các hoạt động kinh tế mới lan rộng, tác động đến các nền kinh tế địa phương trên khắp Nhật Bản

Có thể nói, Sankin Kotai đã góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hoá các

vùng miền, phát triển mạng lưới giao thông và hội nhập kinh tế địa phương vào hệ thống kinh tế đất nước Nếu không có chính sách bắt buộc các lãnh

chúa hàng năm phải luân phiên đến Edo trình diện Shogun 4 đem theo cả đoàn gia đình và tùy tùng cùng các sản phẩm địa phương, thì sự tương tác kinh tế giữa các vùng miền với nhau và với các thành phố trung tâm sẽ rất

Trang 27

hạn chế Các lãnh địa địa phương chỉ có thể phát triển theo hướng chia cắt

và biệt lập Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phồn thịnh của Edo nói riêng và của cả Nhật Bản nói chung

Việc tập trung một khối lượng hàng hoá lớn vào các đô thị cùng với nhịp độ trong trao đổi lưu thông đã tạo môi trường thuận lợi cho thị trường tiền tệ ra đời Nhiều ngân hàng xuất hiện thay thế cho những cơ sở trao đổi tiền tệ giản đơn và hoạt động thanh toán của các ngân hàng này đã giúp thống nhất và ổn định nền kinh tế Chính quyền đã cho phép các loại giấy

tờ tín dụng được phép lưu hành Trong cuốn Nhật Bản với châu Á: Những

mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội, Nguyễn Văn Kim đã

nhận xét " từ trong lòng xã hội phong kiến, những nhân tố của một nền

sản xuất mới theo kiểu tư bản chủ nghĩa đã được hình thành" [23, 507]

Mặc dù nông nghiệp trong thời kỳ Tokugawa là ngành kinh tế chủ đạo nhưng các xí nghiệp kiểu công trường thủ công nhỏ đã xuất hiện Ở thế kỷ XVII, Nhật Bản đã có xưởng đóng thuyền, các xưởng sản xuất thủy tinh và

đồ sứ Vào thế kỷ XVIII, các xí nghiệp dệt, kéo sợi, nhuộm, làm đồ gốm ra đời Đến nửa đầu thế kỷ XIX, số lượng công trường thủ công ở Nhật Bản tăng đáng kể Nhiều nơi đã sử dụng máy móc và ở các công trường thủ công kéo sợi, bánh xe chạy bằng sức nước đã được sử dụng Tính đến thời

kỳ Minh Trị, ở Nhật Bản “có tất cả 420 công trường thủ công trong đó có

146 cái ra đời từ trước năm 1803” [40, 304] Tuy nhiên, các công trường

thủ công này “chỉ mới là bước đầu của ngành công nghiệp, trình độ kỹ

thuật rất thấp kém, thiết bị sản xuất rất lạc hậu” [66, 87]

Những hoạt động kinh tế đa dạng như trên đã dẫn đến việc tích tụ khối lượng tài sản khổng lồ trong tay một vài cá nhân hoặc một vài tập đoàn doanh thương, biến họ thành những phú thương hoặc gia tộc tài chính có

thế lực "Từ chỗ là những người sản xuất Sake một thứ rượu làm từ gạo của

người Nhật, hay là những người cho vay tiền hoặc những người buôn hàng

Trang 28

khô, nhiều thương gia đã xây dựng được các xí nghiệp phát đạt tại các thành phố của tướng quân với các chi nhánh ở vài thành phố khác Một ví

dụ điển hình là gia tộc Mitsui, bắt đầu dựng nghiệp từ đầu thế kỷ 17" [46,

115]

Sự thịnh vượng của tầng lớp thương nhân trong thời kỳ Tokugawa là

một điểm đặc biệt thứ hai góp phần vào quá trình hình thành các Zaibatsu

Trong xã hội Nhật Bản, thương nhân là đẳng cấp cuối cùng trong hệ thống

Sỹ - Nông – Công - Thương Tuy nhiên, sự phân tầng đẳng cấp này chỉ còn trên lý thuyết vào thời kỳ Tokugawa Trong một xã hội với nền kinh tế hàng hoá, tầng lớp thương nhân ngày càng đông đảo, phát đạt và chuyên nghiệp Tầng lớp thương nhân đã sử dụng nguồn lực kinh tế để thay đổi chính giai tầng của mình; cải thiện quan hệ với các tầng lớp trên, đặc biệt là đối với tầng lớp nắm quyền thống trị; tìm kiếm các đặc quyền và đồng thời tạo ra những ảnh hưởng chính trị - xã hội

Có nhiều loại thương nhân trong thời kỳ Tokugawa Ở các thành phố

lớn như Kyoto, Osaka và Edo những thương nhân trung gian như nakagai

và nakadachi-nin có vai trò quan trọng trong việc mua đi bán lại và phân phối hàng hóa Kuramato là các thương nhân chuyên thu mua lúa gạo hoặc

các sản vật mà các lãnh chúa gởi bán và từng bước trở thành đại diện

thương mại cho các lãnh chúa ở địa phương Kuramato và các thương nhân chuyên cho vay nợ lãi được gọi là kakeya, có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch

định chính sách của các lãnh chúa ở nhiều địa phương Không ít người trong số hai loại thương nhân này đã trở thành những chủ đất lớn Ở Edo, nơi tập trung đông đảo đội ngũ võ sỹ cao cấp và có nhiều đặc quyền, lại đặc

biệt phát triển các thương nhân fudasashi Những thương nhân loại này chủ

yếu tìm kiếm lợi nhuận qua việc kinh doanh lúa gạo được gửi bán từ những

người phục vụ và các võ sỹ kề cận Shogun Tuy nhiên, thương nhân giàu có

và thế lực nhất vẫn là các tonya Tonya (問屋) là những nhà buôn sỉ,

Trang 29

chuyên kinh doanh lớn, thâu tóm nhiều lĩnh vực kinh tế và có quyền lợi gắn

chặt với chính trị Gia tộc Mitsui được xem “là một trong các tonya thời kỳ

kinh tế của thời kỳ này đã biến Samurai thành tầng lớp dân tiêu thụ ở thị thành Vì vậy, hầu hết các Daimyo và Samurai đều lần lượt vay nặng lãi từ

các thương gia và chịu sự chi phối đáng kể

Các thương nhân giàu có ở thời kỳ Tokugawa không chỉ buôn bán đơn thuần mà họ còn tham gia đầu tư trực tiếp vào nhiều ngành sản xuất như nông nghiệp, luyện kim, khai thác mỏ, vận tải và kinh doanh tiền tệ Mối quan hệ giới chức chính trị - thương nhân có lẽ khởi đầu từ trước đó, nhưng trong bối cảnh xã hội Tokugawa, sự liên kết chia sẻ quyền lực - lợi ích và chi phối lẫn nhau của giới cầm quyền và các thương gia dường như mạnh

mẽ và phổ biến hơn

Nakama là môt hình thức hiệp hội thương mại xuất hiện nửa sau thế

kỷ XVII, và tồn tại như là một hình thức hiệp hội chủ yếu trong suốt thời kỳ Tokugawa, đặc biệt là ở các thành thị Nhật Bản Có ba lý do chính thúc đẩy

các thương nhân và thợ thủ công thành lập và tham gia vào các nakama:

liên kết và phối hợp các hoạt động sản xuất, kinh doanh; tạo sức mạnh độc quyền; và giảm sức ép cạnh tranh trong nội bộ nhóm hoặc trong nhóm liên

kết Mỗi nakama đều quản lý chặt chẽ số lượng thành viên và đặt ra các luật lệ riêng Các cuộc hội họp thành viên trong nội bộ nakama được tổ

chức thường xuyên để thảo luận về các vấn đề kinh doanh và giới thiệu thành viên mới

Trang 30

Sự phát triển ồ ạt các nakama lúc đầu cũng gây nên lo ngại cho

chính quyền Tokugawa Tuy nhiên, sau đó do nhận thấy được tính tích cực

của các nakama nên chính quyền đã khuyến khích sự phát triển của hình thức hiệp hội này Chính quyền Tokugawa sử dụng nakama như một cơ chế

kiểm soát thương mại nhằm mục đích thực hiện giám sát các hoạt động kinh doanh, phát triển các ngành nghề đặc biệt, kiểm soát giá cả và nguồn nguyên liệu, đảm bảo sự lưu thông tiền tệ, quy định các thủ tục kinh doanh, bảo tồn các ngành nghề thủ công đặc biệt, giải quyết các tranh chấp thương mại và đồng thời gia tăng lợi tức

Việc khuyến khích sự phát triển và trao cho các nakama những quyền

hạn nhất định đã phản ánh chính sách của chính quyền Tokugawa: quản lý kinh tế thương mại thông qua các tổ chức, hiệp hội Chính sách này, sau đó cũng được thực hiện vào thời kỳ chính quyền Minh Trị, đã tạo điều kiện

nền tảng cho sự hình thành của các Zaibatsu

1.2.1.2 Chính sách của chính quyền Minh Trị

Trước sức ép của hàng loạt các quốc gia phương Tây vào nửa sau thế

kỷ XIX, trong bối cảnh hàng loạt các quốc gia xung quanh lần lượt rơi vào hoàn cảnh lệ thuộc, Nhật Bản đã nhận thức sâu sắc rằng chỉ có một nền kinh tế vững chắc và một lực lượng quân sự hùng mạnh mới có thể giúp một dân tộc gìn giữ được sự độc lập Vì vậy sau khi lên nắm chính quyền, các nhà lãnh đạo thời kỳ Minh Trị đã chọn con đường phát triển chủ nghĩa

tư bản theo các quốc gia phương Tây với mục tiêu “phú quốc cường binh” (富国強兵)6 Chính phủ đã vạch ra một chương trình cụ thể nhằm mục đích cải cách tất cả mọi lĩnh vực xã hội trên diện rộng để bước vào con đường công nghiệp hóa đất nước Về kinh tế, chính phủ thực hiện chính sách “thực sản hưng nghiệp” (殖産興業) nhằm khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp mới tạo nguồn tích lũy tư bản cần thiết để gia tăng sức mạnh

Trang 31

cho quốc gia đương đầu với thế lực phương Tây Có thể nói, chính sách

“thực sản hưng nghiệp” có vai trò rất lớn đối sự xuất hiện của các Zaibatsu,

thông qua việc chính phủ thiết lập một khu vực kinh tế tư nhân làm trọng tâm cho toàn bộ nền kinh tế đất nước

Để mở đường cho công nghiệp hóa, chính phủ Minh Trị đã tiến hành tích lũy nguồn tư bản cần thiết, thuê các chuyên gia nước ngoài, phát triển các phương tiện giao thông công cộng, hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc, xây dựng các công xưởng nhà máy quốc doanh kiểu mẫu, thành lập hệ thống ngân hàng, đồng thời thiết lập một hệ thống thể chế hành chính và luật pháp tiến bộ Để đạt được nguồn tư bản cần thiết thực hiện chương trình trong giai đoạn chính quyền mới còn nhiều khó khăn, bên cạnh nguồn thu thuế, chính phủ Minh Trị đã kêu gọi sự ủng hộ tài chính từ các quý tộc, thương nhân và mọi tầng lớp trong xã hội thông qua việc phát hành trái phiếu huy động vốn

Trong giai đoạn đầu tiên của chương trình, chính phủ đã thuê các học giả và kỹ thuật gia tài năng từ nước ngoài với mức lương và sự đãi ngộ rất cao để có được kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật tiến bộ ở mọi lĩnh vực cải cách Nhờ sự hướng dẫn và chỉ đạo của những người này như trường hợp của Alexander Allen Shand (1844-1930)7, một chuyên gia ngân hàng người Anh được chính phủ mời đến Nhật Bản vào thập niên 1870 để dạy về dịch

vụ ngân hàng và giúp tổ chức một ngân hàng hiện đại, mà công cuộc hiện đại hoá của Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng

Chính phủ ưu tiên phát triển hệ thống giao thông và vận tải trên khắp Nhật Bản Tuyến đường sắt đầu tiên nối liền Tokyo và Yokohama dài khoảng 29 km đã được khánh thành vào năm 1872 do người Anh xây dựng bằng vốn vay từ Anh quốc Năm 1880, Nhật Bản đã tự mình xây dựng được

tuyến đường sắt Kyoto – Otsu dài 16 km không cần đến sự giúp đỡ của

nước ngoài Năm 1884, công ty tư nhân Đường sắt Nhật Bản (日本鉄道会

Trang 32

社 / Nihon Tetsudo Kaisha) đã khánh thành tuyến đường sắt nối từ Tokyo đến Maebashi dài 106 km, được xây dựng bởi các kỹ sư Nhật Bản bằng vốn

vay từ chính phủ “Vào năm 1891, người ta có thể đi xe lửa suốt từ Aomori

ở cực Bắc đảo Honshu tới Tokyo, rồi đi tiếp tới Koke” [45, 317] Bên cạnh

việc phát triển đường sắt, chính phủ cũng xây dựng và nâng cấp các bến cảng cùng các phương tiện liên quan đến ngành hàng hải Vấn đề giao thông trên mặt biển được chính phủ phó thác cho hãng Mitsubishi Năm

1885, Misubishi đã thành lập Công ty bưu chính hàng hải Nhật Bản (日本郵船会社/ Nippon Yusen Kaisha) dưới sự tài trợ đắc lực của chính phủ và trở thành một trong các hãng vận tải biển lớn nhất thế giới từ đó đến nay Việc phát triển hệ thống thông tin liên lạc cũng được chú trọng Năm

1869, đường dây điện tín giữ Tokyo và Yokohama đã được lắp đặt và đến năm 1874 hệ thống này đã được mở rộng đến những vùng xa như Nagasaki

và Hokkaido Đường dây điện tín ngầm dưới biển giữa Nagasaki và Thượng Hải được lắp đặt Nhiều chi nhánh của hệ thống bưu điện với các đường dây điện tín được thành lập trên khắp Nhật Bản để đảm bảo cho việc thông tin liên lạc và quản lý Đến năm 1877 Nhật Bản đã tham gia vào hiệp ước của Liên minh bưu điện thế giới

Để đảm bảo việc vận hành tài chính cho một quốc gia hiện đại ,chính phủ Nhật Bản xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng Năm 1872, chính phủ ban hành pháp lệnh cho phép thành lập hệ thống các Ngân hàng quốc gia (国立銀行), tuy nhiên sau đó chỉ có bốn ngân hàng ra đời do vấn đề về bản vị Năm 1876, sau khi chính phủ điều chỉnh lại các quy định, 153 ngân hàng tư nhân thuộc hệ thống ngân hàng quốc gia đã được thành lập Năm

1882, chính phủ thành lập Ngân hàng Nhật Bản (日本銀行) Ngân hàng Nhật Bản trở thành ngân hàng trung tâm của Nhật Bản, nơi chính thức phát hành tiền tệ cho đất nước Sau đó một loạt các ngân hàng tư nhân hiện đại cũng ra đời và đồng Yên chính thức trở thành đơn vị tiền tệ của Nhật Bản

Trang 33

Do nhận thức được tầm quan trọng của công nghiệp đối với việc xây dựng nên kinh tế tư bản chủ nghĩa, nên ở giai đoạn đầu, chính phủ đầu tư xây dựng nhiều rất nhiều nhà máy, xí nghiệp quốc doanh có quy mô lớn, trang bị các thiết bị hiện đại và áp dụng kỹ thuật phương Tây được hướng dẫn bởi các chuyên gia nước ngoài nhằm tạo nên một “hình mẫu” cho các

xí nghiệp tư bản tư nhân noi theo “Năm 1880 chính phủ đã xây dựng được

2 xưởng đóng tàu, 51 tàu buôn, 5 xưởng sản xuất đạn dược, 52 nhà máy các loại, 10 hầm mỏ, 75 dặm đường xe lửa và hệ thống điện tín… Từ năm

1868 đến 1877 có khoảng 489 nhà máy được xây dựng, và từ 1878 đến

1885 số xí nghiệp mới xây dựng đạt tới con số 800” [44, 151] Sau một thời

gian hoạt động, phần vì khó khăn tài chính, phần vì muốn nâng đỡ khu vực kinh tế tư nhân nên chính phủ đã chuyển nhượng các xí nghiệp này với giá rất rẻ và được phép thanh toán dài hạn cho các doanh nghiệp tư nhân có khả năng tài chính Các xưởng đóng tàu như Nagasaki, Kobe, Uraga cùng một

số khác được chính phủ Minh Trị tiếp quản từ chính quyền Tokugawa cũng lần lượt chuyển vào tay tư nhân trong thập niên 1880 Các doanh nghiệp tư nhân này, dĩ nhiên, có mối quan hệ mật thiết với chính phủ Ví dụ, mỏ đồng

ở Ashio được bán cho hãng Furukawa chỉ bằng khoảng 1/5 số vốn đã đầu tư Trong các cuộc chuyển nhượng không vụ lợi này, nhờ vào mối quan hệ khăng khít với chính phủ, Mitsui đã mua được mỏ than, xưởng kéo sợi và xưởng ươm tơ; còn Mitsubishi thì mua được xưởng đóng tàu Nagasaki, mỏ vàng Sado và mỏ bạc Ikuno Nhờ đó, các nhà đại tư bản trước đây chỉ hoạt động trong các lĩnh vực thương mại và tài chính đã trở thành những ông chủ của những hầm mỏ và các xí nghiệp lớn Tài sản của họ chính là nền

tảng của các Zaibatsu sau này “Trong giai đoạn từ 1874–1896, chính phủ

đã bán cho các Zaibatsu tổng cộng 26 mỏ than, đồng, bạc, vàng; nhà máy

tơ sợi, xưởng đóng tàu, nhà máy sản xuất xi măng, xí nghiệp sắt thép, nhà máy tinh chế đường và xưởng sản xuất kính” [86, 385]

Trang 34

Bên cạnh đó chính phủ cũng tiến hành nâng cấp nhiều cơ sở hạ tầng, thành lập các thể chế hành chính hiện đại và ban hành các quy định xã hội tiến bộ tạo điều kiện dễ dàng cho kinh tế phát triển Năm 1870 Bộ công nghiệp Nhật Bản được thành lập và cũng trong năm đó Nhật Bản xây dựng xong sở đúc tiền Năm 1871, Nhật Bản chính thức sử dụng dương lịch và thống nhất đơn vị đo lường Năm 1874 Bộ nội vụ, Bộ tài chính ra đời Các quyền tự do thương mại, tự do di chuyển hàng hóa và tự do đi lại của người dân trên toàn quốc được đảm bảo Hiến pháp 1889 và một hệ thống tòa án

tư pháp theo mô hình phương Tây đã ra đời

Công xưởng, nhà máy thuộc quyền

sở hữu chính quyền Minh Trị

Năm chuyển nhượng

Doanh nghiệp nhận chuyển nhượng

Trang 35

tư nhân – chủ yếu là dành cho các doanh nghiệp giàu có và quan hệ mật thiết với chính phủ – thông qua các hoạt động hỗ trợ cụ thể như cung cấp

cơ sở hạ tầng cần thiết; đầu tư ban đầu về công nghệ và thiết bị phương Tây; thuê chuyên gia nước ngoài làm cố vấn và giảng dạy; cung cấp các nhà

quản lý và kỹ sư có năng lực; mà các Zaibatsu đã ra đời và nhanh chóng lớn mạnh Bốn Zaibatsu lớn nhất vào thời kỳ Minh Trị, còn được gọi bằng cụm từ Shidai Zaibatsu (四大財閥), là Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo và

Yasuda

1.2.2 Đặc trưng các Zaibatsu

Zaibatsu là những tập đoàn tài chính gia tộc độc quyền Nhật Bản, hoạt

động trong nhiều lĩnh vực kinh tế và có mối quan hệ đặc biệt với chính trị

Đặc trưng của các Zaibatsu thể hiện ở tính gia tộc, ở hệ thống quản lý và ở

mối quan hệ đặc biệt với các chính trị

Hầu hết các Zaibatsu đều thuộc quyền sở hữu của một gia tộc kinh

doanh lâu đời và vô cùng giàu có tại Nhật Bản Các thành viên trong cùng một gia tộc chia nhau nắm giữ số tài sản khổng lồ Mỗi gia tộc đều đặt ra quy định riêng về việc sở hữu tài sản, hệ thống tổ chức và phương thức

quản lý doanh nghiệp Quyền sở hữu gia tộc đem lại cho các Zaibatsu

những thuận lợi nhất định Việc tập trung toàn bộ nguồn vốn trong tay các thành viên gia tộc có thể ngăn ngừa các hành động chi phối hoặc thâu tóm tài sản và quyền hành từ bên ngoài Nguồn vốn thuộc gia tộc giúp các

Zaibatsu có thể chủ động trong những trường hợp cần sự đáp ứng nhanh

như đáp ứng các yêu cầu cấp bách của chính phủ, nắm bắt các cơ hội đầu tư, thâu tóm các doanh nghiệp phá sản … vì thỏa thuận giữa các thành viên trong gia tộc thường được thông qua nhanh chóng hơn là giữa các cổ đông không cùng huyết thống

Trong gia tộc Zaibatsu, quyền đứng đầu điều hành doanh nghiệp

Trang 36

thường là cha truyền con nối hoặc trao cho những cùng huyết thống trong gia tộc Tuy nhiên, trong trường hợp người gia tộc đó không có con trai hoặc các người con trai trong gia tộc không có đủ năng lực để quản lý kinh doanh thì người ta thường tuyển chọn một trong các nhân viên trung thành

và có năng lực nhất để giao quyền quản lý, bởi vì sự sống còn của doanh nghiệp, danh tiếng của gia đình và hiệp hội luôn được được đặt lên hàng

đầu Những người quản lý này được gọi là banto (番頭).“Mặc dù quyền

điều hành các Zaibatsu thường được đảm nhận bởi thành viên cùng huyết thống trong gia tộc như trường hợp Mitsubishi, tuy nhiên vẫn có thể được

Đương nhiên, quyền lực mà các banto được giao phó chắc chắn phải đến

từ sự tín nhiệm và chấp thuận của gia tộc Zaibatsu; đổi lại các banto phải thể hiện lòng trung thành tuyệt đối của mình đối với gia tộc và gánh vác trọng trách được giao như một bổn phận” [69, 64]

Các banto thường là những người học việc trong các gia tộc Zaibatsu

và được huấn luyện về các kỹ năng kinh doanh từ khi còn nhỏ Trải qua

nhiều thử thách và sàng lọc khắc nghiệt, các banto được chọn sẽ trở thành

người kế nghiệp điều hành công việc kinh doanh của gia tộc Một vài gia

tộc còn có khuynh hướng gả người con gái đầu lòng cho banto Các banto

không coi mình là người đi làm công cho chủ, họ tận tụy phát triển doanh nghiệp như là của chính họ Sau này, các sinh viên có năng lực và phẩm

chất từ các trường đại học cũng được chọn để trở thành các banto

Việc giao phó cơ nghiệp gia tộc vào tay một hoặc nhiều nhà quản lý tài năng, trung thành và tận tụy phát triển doanh nghiệp là đặc trưng nổi bật

nhất của các Zaibatsu “Các nhà tư bản tuyển người quản lý và nếu người

này không thể làm gia tăng lợi nhuận thì lập tức anh ta bị đuổi Tuy nhiên,

ở Nhật Bản, chủ nghĩa tư bản không có nhà tư bản Không ai có thể tưởng tượng được chủ tịch của tập đoàn Mitsubishi được tuyển bởi các cổ đông

Trang 37

của tập đoàn Nhiều công ty say sưa nói về trách nhiệm xã hội của họ mà chẳng màng gì đến quyền lợi của các cổ đông” [89, 173] Có thể nói, ở các Zaibatsu có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, nhưng sự

hưng thịnh và uy tín của doanh nghiệp luôn trở thành mục tiêu chung

Tất cả các Zaibatsu ở thời kỳ Minh Trị đều có ngân hàng riêng và hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế Về cơ cấu, các Zaibatsu tổ chức theo

hình kim tự tháp Một gia tộc nắm giữ và kiểm soát một công ty mẹ (công

ty quản trị) Công ty mẹ tiếp tục nắm giữ cổ phần và kiểm soát các công ty thành viên (bao gồm các công ty chủ chốt, các ngân hàng, công ty thương mại, các hãng bảo hiểm …) Các công ty thành viên lại tiếp tục nắm giữ cổ phần và kiểm soát các phân nhánh bên dưới và cứ như vậy

Gia tộc

Công ty quản trị

(Holding Company)

Công ty thành viên

Công ty thành viên

Công ty

thành viên

Công ty thành viên

Cơ cấu tổ chức của một Zaibatsu

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Mặc dù chủ nghĩa tư bản Nhật Bản gần như không thu được nguồn lợi nào từ bên ngoài nào đối với việc tích lũy tư bản nguyên thủy, nhưng sự phát triển kinh tế trong suốt hơn hai trăm năm “tỏa quốc”8 thời kỳ Tokugawa đã tạo ra nguồn nội lực đáng kể Sự phát triển của nội thương, sự

ra đời của quan hệ hàng hóa - tiền tệ, sự định hình của các đô thị, sự gia tăng số lượng các công trường thủ công chuyên nghiệp cùng với sự tập trung tư bản trong tay một số thương nhân kếch xù, đã tạo những tiền đề cần thiết cho Nhật Bản trở thành một quốc gia tư bản hiện đại Edwin O Reischauer nhận xét về kinh tế Nhật Bản trong giai Tokugawa như sau :

"nền kinh tế đã trở nên thương mại hoá hơn và phức tạp hơn nhiều so với những gì mà người ta có thể hình dung ở một đất nước có chế độ chính trị phong kiến" [46, 110] Có thể nói, sự chuyển đổi về kinh tế - xã hội giai

đoạn Tokugawa, được Andrew Gordon gọi là "sự bùng nổ" ("boom") [71, 20], đã tạo ra những cơ sở cần thiết cho sự ra đời chủ nghĩa tư bản Nhật Bản Đồng thời, sự thịnh vượng và kinh nghiệm kinh doanh của một số gia tộc thương nhân trong thời gian này cũng góp phần tích lũy nguồn tư bản

cần thiết cho sự hình thành của các Zaibatsu vào thời kỳ Minh Trị

Zaibatsu là các tập đoàn tư bản tài chính độc quyền Nhật Bản xuất hiện

vào thời kỳ Minh Trị nhưng cở sở hình thành đã tồn tại từ trước đó rất lâu

Các Zaibatsu kế thừa và phát triển các hình thức tổ chức và quản lý kinh

doanh trong lịch sử Khác với các tập đoàn tư bản tài chính phương Tây, là

sự liên kết của nhiều doanh nghiệp khác nhau trên cơ sở gia tăng sức mạnh

và lợi ích, quyền sở hữu Zaibatsu thuộc về một gia tộc và có sự tách rời giữa quyền sở hữu với quyền quản lý Các Zaibatsu đều có mối liên kết

chặt chẽ với chính trị trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, nhưng trong nhiều

trường hợp, lợi ích quốc gia và dân tộc đều được chính phủ và Zaibatsu đặt

lên hàng đầu

Trang 39

Chính phủ Minh Trị có vai trò đáng kể trong sự hình thành và phát triển

của các Zaibatsu Chính sách công nghiệp hóa của chính phủ Minh Trị với

việc thiết lập một khu vực kinh tế tư nhân và trao cho nó sự độc quyền đã

tạo những điều kiện cần thiết và thuận lợi nhất để các Zaibatsu phát triển

lớn mạnh Chính phủ dùng quyền lực của mình để gây ảnh hưởng và dẫn

dắt các doanh nghiệp, đổi lại, các Zaibatsu luôn sẵn lòng đồng hành cùng

chính phủ trong các chương trình phát triển đất nước

Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản vào thời kỳ Minh Trị đã có những nhà lãnh đạo ưu tú với kiến thức và nhận thức vượt trội cùng một tầm nhìn chiến lược Khác với tư tưởng “thủ cựu” của chính quyền Trung Hoa đã đẩy đất nước vào tình trạng lệ thuộc, các nhà lãnh đạo Nhật Bản sớm ý thức được tầm quan trọng của tự do và sức mạnh quốc gia Hơn nữa, ở Nhật Bản mọi tư tưởng tiến bộ đều được khuyến khích và chấp thuận Có lẽ vì vậy, chính phủ Nhật Bản đã nhanh chóng xây dựng được một chính sách tiến bộ

và nhất quán nhằm mục đích duy tân phát triển đất nước; đồng thời đạt được sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi từ mọi tầng lớp nhân dân

Trang 40

2 Chương 2: CÁC TẬP ĐOÀN TÀI PHIỆT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1 CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ CHI PHỐI NHẬT BẢN

2.1.1 Tập đoàn Mitsui (三井グループ)

Mitsui được sáng lập bởi Mitsui Takatoshi (三井高利) (1622-1694)

thuộc dòng dõi của một võ sỹ Samurai rơi vào tình trạng vô chủ Vào thế

kỷ XVII, gia đình Mitsui sở hữu một cửa hiệu bán miso và cầm đồ tên Echigoya (越後屋) ở Matsusaka thuộc tỉnh Mie ngày nay Năm 14 tuổi, Takatoshi đến làm việc tại cửa hàng thứ hai của gia đình ông mở tại Edo, tuy nhiên, do mối bất hòa với người anh trai, Takatoshi buộc phải quay trở lại Matsusaka vào năm 28 tuổi và phải trên 20 năm sau ông mới chính thức tiếp quản cơ nghiệp của gia đình Năm 1673, Takatoshi mở một của hàng may Kimono cao cấp tại Nihonbashi, một quận trung tâm của thành Edo, được gọi là Gofukuya và nhanh chóng làm ăn phát đạt Cửa hàng Gofukuya hoạt động bằng cách cử nhân viên đến nhà khách hàng theo yêu cầu, thường là những người có tầng lớp cao trong xã hội hoặc giàu có, để nhận đơn đặt hàng về thực hiện Năm 1683, thay cho hình thức kinh doanh giao hàng tận nhà, Takatoshi thành lập một loại hình cửa hàng mới chuyên trưng bày và bán các sản phẩm được sản xuất sẵn thu tiền mặt, sau này trở thành chuỗi cửa hàng bán lẻ nổi tiếng Mitsukoshi (三越) Đây là một hình thức kinh doanh vô cùng mới mẻ, bởi vì vào thời kỳ Tokugawa việc kinh doanh thu tiền mặt chưa trở thành một hoạt động phổ biến Tuy nhiên, Takatoshi nhanh chóng phát đạt và trở thành một trong những thương nhân giàu có

nhất Edo Đến đầu thế kỷ XVIII, Mitsukoshi ở Edo đã trở thành “cửa hàng

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w