1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự sinh trưởng và phát triển của branchinella thailandensis (tôm tiên thái lan)

38 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau.. Đánh giá sự phát triển của tôm tiên B.thailandensis thông qua kích thước túi t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

(TÔM TIÊN THÁI LAN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng, năm 2020

Đà Nẵng, năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

(TÔM TIÊN THÁI LAN)

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và Môi trường

Mã số: 315032161106

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

ThS Trần Ngọc Sơn

Đà Nẵng, năm 2020

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề: 1

2 Mục tiêu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về Fairy shrimp Branchinella thailandensis: 4

1.1.1.Khái quát chung về tôm tiên Thái Lan 4

1.1.2 Đặc điểm phân bố của tôm tiên B.thailandensis 7

1.1.3 Ưu điểm của tôm tiên B.thailandensis 7

1.1.4 Vai trò của tôm tiên B.thailandensis 8

1.1.5 Đặc điểm nuôi cấy 8

1.1.6 Sự sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis 9

1.1.7 Khái quát về nguồn thức ăn 9

1.2 Tổng quan tài liệu 10

1.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 10

1.2.2 Một số nghiên cứu trong nước 11

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 12

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 12

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 12

2.3 Nội dung nghiên cứu 12

2.4 Phương pháp nghiên cứu 12

2.4.1 Bố trí thí nghiệm: 12

2.4.1.1 Bố trí thí nghiệm xác định sự sinh trưởng và phát triển của B.thailandensis khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau 13

2.4.1.2 Bố trí thí nghiệm xác định tỷ lệ sống chết của B.thailandensis 13

2.4.2 Phương pháp chuẩn bị giống 14

2.4.3 Phương pháp đo chỉ tiêu môi trường nước 14

2.4.4 Phương pháp xác định sự tăng trưởng của tôm tiên B.thailandensis 15

2.4.5 Phương pháp xác định sự phát triển của tôm tiên B.thailandensis 15

2.4.6 Phương pháp xác định hàm lượng Carotenoid có trong cơ thể tôm tiên 15

2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 15

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 16

3.1 Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau 16

3.1.1 Đánh giá sự sinh trưởng của tôm tiên khi cho ăn tảo Chorella vulgaris và tinh bột khoai tây thông qua chiều dài trung bình của con cái 16

3.1.2 Đánh giá sự sinh trưởng của tôm tiên khi cho ăn tảo Chorella vulgaris và tinh bột khoai tây thông qua chiều dài trung bình của con đực 16

3.1.3 Đánh giá tỷ lệ sống của tôm tiên B.thailandensis ở mỗi lô thí nghiệm 17

Trang 4

3.2 Đánh giá sự phát triển của tôm tiên B.thailandensis thông qua kích thước túi

trứng và tổng số trứng (trên mỗi con cái trong suốt vòng đời) của B.thailandensis 18

3.3 Ảnh hưởng của một số chỉ tiêu môi trường đến sự sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis 18

3.4 Đánh giá hàm lượng Carotenoid có trong tôm tiên B.thailandensis 20

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 24

Trang 5

LỜI CAM ÐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự sinh

trưởng và phát triển của Branchinella thailandensis (tôm tiên Thái Lan)” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng đuợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu liên quan đuợc trích dẫn có ghi chú nguồn gốc

Huỳnh Thị Dung

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu khoa học tự lực đầu tiên mà tôi đã hoàn thành trong sự nghiệp học và làm khoa học của tôi Tuy nhiên, sự quan tâm, tin tưởng và giúp từ gia đình, thầy cô, bạn bè chính là những yếu tố quan trọng tạo nên

sự hoàn thiện của khóa luận

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi xin phép được chân thành cảm ơn đến những người luôn đồng hành cùng tôi vừa qua:

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Trần Ngọc Sơn – người đã luôn tận tình chỉ dạy tôi trong suốt khoảng thời gian chuẩn bị và thực hiện đề tài Cho tôi những kiến thức bổ ích trong học tập, nghiên cứu cũng như trong cuộc sống

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn trong tập thể lớp 16CTM đã nhiệt tình hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Sinh Môi trường đã trang

bị cho tôi kiến thức và tạo điều kiện về trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm để tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 07 năm 2020

Sinh viên: Huỳnh Thị Dung

Trang 7

Bảng 7 Kích thước túi trứng và tổng số trứng (trên mỗi con cái trong

suốt vòng đời) của B.thailandensis

19 Bảng 8 Biến động pH, DO, NO2-, NH4+ trong quá trình thí nghiệm 20

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3 Quét các vi sóng điện tử hình thái cấu trúc của trứng 7

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Các tỉnh ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi có điều kiện thuận lợi

để phát triển NTTS, trong đó có nuôi cá, tôm nước lợ, tôm hùm giống, nhất là nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh trên vùng đất cát, đặc biệt là mô hình nuôi xen ghép thâm canh vừa đạt hiệu quả kinh tế cao vừa bảo vệ môi trường Với nguồn nước sạch, độ mặn ổn định, nguồn giống tự nhiên, khu vực miền Trung được xác định là trung tâm sản xuất giống sạch cung cấp cho các vùng nuôi trong cả nước; khu vực này có đa dạng sinh học cao với nhiều kiểu hệ sinh thái như dải cát ven bờ, rừng ngập mặn, rạn san hô; hệ sinh thái đầm phá phong phú về nguồn lợi thủy sản [1] Tuy nhiên việc nuôi trồng thủy sản còn gặp nhiều khó khăn như vấn đề ô nhiễm môi trường vùng nuôi trên sông, hồ, đầm, phá, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như thời tiết bất thường, mưa bão, lũ ống, lũ quét thường xuyên xảy ra, dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp khiến cho người nuôi luôn đối mặt với nhiều khó khăn, bất lợi trong nuôi trồng thủy sản Và đặc biệt trong giai đoạn sản xuất giống, ươm nuôi cũng như trong nuôi thương phẩm các loài thủy sản, thức

ăn luôn đóng vai trò rất quan trọng và là yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế trong NTTS do thức ăn chiếm hơn 50% tổng chi phí sản xuất [2]

Hiện nay, việc lựa chọn nguồn thức ăn tươi phù hợp cho nuôi trồng thủy sản đặc biệt là đối với con giống ngày càng được chú trọng Thức ăn tươi được ưa thích cho cả trại sản xuất giống biển và nước ngọt bởi vì nó dễ ăn, dễ tiêu hóa và không ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nuôi và đảm bảo cho con giống phát triển tốt (Munuswamy

et al., 1997) Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc tìm các nguồn cung cấp thức ăn tươi dựa trên các tiêu chí như: Kích thước cơ thể phù hợp, vòng đời ngắn, phát triển nhanh và sinh sản sớm là những đặc điểm quan trọng Thức ăn sống thông thường được

sử dụng trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu là luân trùng (Hagiwara et al., 2007) và Artemia (Meade và Bulkowski-Cummings, 1987) [8]

Đối với các loại thức ăn trong nuôi trồng thủy sản, người ta đặc biệt chú ý đến đặc điểm dinh dưỡng của chúng Gần đây, tôm tiên Thái Lan (Branchinella thailandensis) đã được coi là một loại thức ăn tươi mới trong nuôi trồng thủy sản (Sriputhorn và Sanoamuang, 2011) Các nghiên cứu gần đây cho thấy tôm tiên đã thay

thế Artemia sp là thức ăn tươi phổ biến nhất cho trại giống thủy sản vì tôm tiên có tốc

độ tăng trưởng nhanh, kích thước lớn (con đực 26,2, con cái 27,8 mm), khả năng sinh sản cao, thời gian trưởng thành sớm và thành phần dinh dưỡng cao (Dararat et al 2011) [8]

Tôm tiên Thái Lan (B.thailandensis) cung cấp một giá trị sinh thái, thương mại

và dinh dưỡng Về mặt sinh thái, cung cấp thức ăn cho cá, tôm, là thức ăn sạch và không gây ô nhiễm môi trường nước Về mặt thương mại, tôm tiên Thái Lan có tầm quan trọng đặc biệt, với các trứng nghỉ được chế biến và bán làm thức ăn cho nuôi trồng thủy sản [5] Ngoài ra, tôm tiên chứa hàm lượng carotenoids cao (Murugan et al., 1995; Velu et al., 2003; Velu và Munuswamy, 2007), giúp tăng cường màu sắc cơ thể, tăng hiệu suất sinh sản, miễn dịch cho động vật thủy sinh (Nelis et al., 1988; Castillo và Negre-

Sadargues, 1995; Linan-Cabello và cộng sự, 2002) B.thailandensis có hàm lượng carotenoid cao hơn S sirindhornae và S siamensis (Dararat et al 2012) [3] Hơn nữa,

các axit béo thiết yếu (Mura et al., 1997a) và axit amin (Velu và Munuswamy, 2003) từ tôm tiên đã được chứng minh là hữu ích để kích thích sinh trưởng và phát triển ấu trùng của động vật không xương sống dưới nước và cá, tôm (Velu và Munuswamy, 2007,

Trang 10

2008) [4] Ngoài ra với lợi thế là có thể sử dụng với nhiều kích cỡ khác nhau từ ấu trùng mới nở cho đến con trưởng thành phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng thủy sản ngày càng được ưa chuộng

Ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào về khả năng sinh trưởng và phát

triển của tôm tiên (Branchinella thailandensis), đặc biệt là nghiên cứu với nguồn thức

ăn là tảo tươi Chlorella vulgaris Trước đây đã có những tài liệu nghiên cứu về tôm tiên (B.thailandensis) như nghiên cứu của Wipavee Dararat, Peter L Starkweather, and La-

orsri Sanoamuang (2011) về “Lịch sử sống của ba loài tôm tiên thuộc bộ Anostraca của

Thái Lan” [4], nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tôm tiên B.thailandensis có kích thước lớn

nhất (con đực: 26.2mm, con cái: 27.8 mm) và tỷ lệ nở cao nhất 87,67% Thời gian nở ngắn nhất, nó nở trong vòng 3 ngày, trong khi hai loài còn lại nở trong vòng bốn ngày

Tôm tiên B.thailandensis cho thấy sự tăng trưởng nhanh hơn hai loài còn lại và nó đạt

trưởng thành trong vòng 6.5 ngày Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn hạn chế bởi tác giả chỉ thử nghiệm trên một mật độ tảo là 1x 106 tế bào tảo Chlorella sp.và cũng chưa

có sự so sánh giữa các loại thức ăn khác nhau Vì vậy, đề tài này đã tiến hành nghiên cứu dựa trên mật độ tảo cho ăn tốt nhất từ nghiên cứu trước đó đồng thời thử nghiệm thêm nguồn thức ăn mới là tinh bột khoai tây Để tìm ra nguồn thức ăn giúp cho tôm tiên có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng sinh sản cao, rút ngắn thời gian trưởng thành

và tăng thành phần dinh dưỡng trong cơ thể chúng (Dararat et al 2011) [8] Từ đó, thay

thế một số loài như attemia, mona, cung cấp nguồn thức ăn cho cá, tôm và đặc biệt là

cung cấp thức ăn cho nuôi tôm hùm giống ở Việt Nam

Xuất phát từ những tình hình thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự sinh trưởng và phát triển của

Branchinella thailandensis (tôm tiên Thái Lan)” nhằm tìm ra nguồn thức ăn phù hợp

nhất để nuôi tôm tiên (B.thailandensis) hỗ trợ cho việc đưa nguồn thức ăn mới vào trong

nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam Kết quả được thực nghiệm tại phòng thí nghiệm môi trường tại Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng

Trang 11

2 Mục tiêu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Tìm ra nguồn thức ăn phù hợp nhất để nuôi tôm tiên B.thailandensis nhằm hỗ trợ

cho việc đưa tôm tiên Thái Lan vào trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

 Đánh giá được loại thức ăn phù hợp hơn cho sự sinh trưởng và phát triển của

B.thailandensis: khi cho ăn tảo Chlorella vulgaris và tinh bột khoai tây

 Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố (yếu tố môi trường: pH, nhiệt độ, NO2

-, DO-, NH4+) đến sự sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis trong

điều kiện phòng thí nghiệm

Đánh giá hàm lượng carotenoid có trong tôm tiên B.thailandensis ở hai khẩu phần

ăn là: tảo Chlorella vulgaris và tinh bột khoai tây

Thành công của khóa luận sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về thành phần thức ăn

và chế độ cho ăn đến sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis ở từng điều kiện môi trường nuôi và khẩu phần ăn khác nhau Có ý nghĩa trong việc ứng dụng tạo

nên các sản phẩm thương mại phục vụ trong nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả kinh

tế cao

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về Fairy shrimp Branchinella thailandensis

1.1.1 Khái quát chung về tôm tiên Thái Lan

Năm 1903 loài Branchinella thailandensis được phát hiện đầu tiên thông qua một

nghiên cứu của La-orsri Sanoamuang, Nukul Saengphan & Gopal Murugan ở khu vực Thái Lan [7]

Branchinella thailandensis thuộc:

Bộ: Anostraca

Họ: Thamnocephalidae Packard

Chi: Branchinella Sayce

Loài: Branchinella thailandensis

Ghi chú: aov: buồng trứng ở bụng có màu vàng, cr: cercopods có màu cam, tov: nhánh

ngực của buồng trứng, to: 11 đôi chân, an: râu, ce: đôi mắt kép

Hình 1 Tôm tiên B.thailandensis (nguồn: Journal of Crustacean Biology)

a Đặc điểm hình thái

B.thailandensis có kích thước lớn nhất ở con đực là 26,2mm, ở con cái là 27.8

mm và tỷ lệ nở cao nhất là 87,67% B.thailandensis thường có 6 phân khúc, dài 25 mm

(0,24 - 0,98 in) (đặc biệt lên tới 170 mm hoặc 6,7 in) Cơ thể có thể được chia thành ba

phần riêng biệt: đầu, ngực và bụng Tôm tiên Thái Lan (B.thailandensis) có thân hình

thon dài, có đôi mắt ghép và mười một đôi chân bơi Chúng bơi bằng hai chân đập theo chuyển động giống như sóng truyền từ trước ra sau cơ thể Chân là phần phụ có nhiều

Trang 13

chức năng, được sử dụng để bơi lội, cho ăn và thở Chúng bơi bên hông với 11 cặp chân (tổng cộng 22) và có hai mắt, hai bộ râu Một bộ râu ở trên đầu, một bộ khác ở gần miệng Tôm đực có râu lớn hơn tôm cái và một số loài tôm đực sử dụng râu để bắt tôm cái trong giao phối Con trưởng thành có thể dài tới 3 cm, nhưng có thể bắt đầu đẻ trứng

với chiều dài 1 cm tôm tiên cái có một túi trứng ở gốc đuôi phía sau các chân Tôm tiên

đực có râu nhô ra khỏi đầu - chúng được sử dụng để nắm bắt con cái trong quá trình giao phối [8]

b Đặc điểm sinh sản

Vòng đời của tôm tiên khá ngắn Con cái đẻ trứng cứng (tương tự như trứng nghỉ Artemia) sẽ nằm im trong chất nền khô cho đến khi các hồ chứa đầy nước, từ các trứng nghỉ sẽ nở ra nauplii (ấu trùng) Tôm "con" phát triển nhanh chóng, trải qua các giai đoạn lột xác, nó có được một bộ vỏ mới trong mỗi lần lột xác cho đến khi nó phát triển thành một con trưởng thành và sinh sản Quá trình này diễn ra nhanh chóng - từ một đến

ba tuần Đến cuối đời, con cái tạo ra các nang vỏ dày Các nang rất nhỏ, chúng không thể nhìn thấy bằng mắt thường Vào cuối mùa xuân và mùa hè khi các hồ nước khô, những trứng nghỉ này bị nhúng trong bùn đáy khô, vào mùa đông chúng có thể đóng băng trong và nằm im trong bùn trong nhiều thập kỷ và có thể hàng thế kỷ Cryptobiosis (2004) mô tả tình trạng bất thường này: Một trạng thái sống của một sinh vật để thích nghi với các điều kiện môi trường bất lợi như khô hạn, đóng băng và thiếu oxy, tất cả các quá trình trao đổi chất đều dừng lại, ngăn chặn sự sinh sản, phát triển Tuy nhiên, trứng nghỉ nở khi mưa trở lại vào mùa đông hoặc đầu mùa xuân năm sau Nếu hạn hán xảy ra, chúng có thể không nở trong vài năm Trứng của một số loài có thể chìm xuống đáy, trong khi trứng của các loài khác có thể nổi lên mặt nước và trôi dạt vào bờ hồ để lắng đọng (Dumont 2004) Một con cái có thể đẻ tới bốn mươi mẻ trứng trong đời, với mỗi mẻ chứa vài trăm trứng, mang lại tổng khả năng sinh sản lên tới 4.000 trứng mỗi con cái, trứng nở trong vòng 3 ngày Trứng chịu nhiệt độ cao tới 99°C và thấp đến -190°C và vẫn tồn tại Trứng mùa đông thường nở 30 giờ sau khi tiếp xúc với nước, và

nó đạt đến sự trưởng thành trong vòng 6.5 ngày Trứng có thể tồn tại đến 3 tháng [8]

d Phân biệt con đực và con cái tôm tiên B.thailandensis

Con đực và con cái đạt trưởng thành vào ngày 7 và 8 sau khi nở, với chiều dài tiêu chuẩn trung bình lần lượt là 12.8 ± 0.9 mm và 15.2 ± 0.5 mm Con đực có gai độc nhất trên các cơ quan sinh dục hỗ trợ cho quá trình thụ tinh, tôm đực có 02 râu, râu thứ nhất nhô ra khỏi đầu, râu thứ 2 được sử dụng để nắm bắt con cái trong quá trình giao phối Con cái có buồng trứng lưỡng tính các tuyến vỏ được tổ chức thành hai cụm, hai bên, trong đó đơn vị tuyến được hình thành bởi hai tế bào tuyến và một ống đơn, tôm

cái có một túi trứng ở gốc đuôi phía sau các chân [9][23]

e Vòng đời của tôm tiên B.thailandensis

Trong vòng 24h trứng nở ra và một ấu trùng (nauplii) rất nhỏ xuất hiện và bắt đầu bơi với những chuyển động giật khi chúng tự đẩy mình qua cột nước, ấu trùng của

Trang 14

B.thailandensis gần như trong suốt, màu trắng đục [8] Tôm "con" phát triển nhanh

chóng, trải qua giai đoạn lột xác nghiêm trọng, nó có được một bộ xương mới trong mỗi lần lột xác cho đến khi nó phát triển thành một con trưởng thành và sinh sản Quá trình này diễn ra nhanh chóng - từ một đến ba tuần Đến cuối đời, con cái tạo ra các nang vỏ

dày Các nang rất nhỏ, chúng không thể nhìn thấy bằng mắt thường [10] Tôm tiên

B.thailandensis có vòng đời ngắn, mất khoảng 6-8 tuần tùy thuộc vào nhiệt độ và nguồn

thức ăn Con trưởng thành của nó có thể đạt kích thước từ 25 đến 35mm trong khoảng thời gian này [8]

Hình 2 Sự phát triển phôi ở tôm tiên (nguồn: Kasetsart University, Bangkok)

a Trứng tôm tiên sau 1 giờ ngâm trong nước, phôi vẫn không phân biệt và các hạt lòng đỏ trong phôi đang dần phát triển (Mũi tên)

b Sau 2 giờ, phôi trong lớp biểu bì chia thành hai phần Một nửa để phân biệt phần phía trước và phần phía sau, bởi vì phần phía trước rộng hơn phần phía sau

c Sau 3 giờ, phần phía trước phát triển thành đầu màu nâu và phần phía sau là vùng ngực - bụng

d Sau 4 giờ, phần phía trước phát triển thành râu và các chân bơi, cùng với bắt đầu xuất hiện mắt naupliar trung vị

e Sau 5 giờ, phát triển hoàn chỉnh thành ấu trùng (nauplius), râu thứ nhất và thứ hai phát triển cũng như lỗ chân lông hậu môn

f - h Sau 6-8 h, ấu trùng (nauplius) nở ra từ lớp biểu bì phôi thành ấu trùng bơi tự

do

f Hình thái cấu trúc của trứng tôm tiên B.thailandensis

Trứng của tôm tiên Thái Lan có dạng hình cầu là một mô hình đa giác đều đặn với nhiều vết lõm sáu mặt không đều Ngoài ra, Munuswamy et al (2009) cho rằng phôi của tôm thần tiên được bảo vệ bởi sự hiện diện của vỏ ngoài dày, sau đó là lớp giữa là lớp phế nang với các hốc nhỏ và lớp biểu bì phôi bên trong Hình thái của vỏ ngoài là duy nhất bảo vệ phôi để chịu được thời gian hút ẩm dài Đường kính của nang nằm trong khoảng 180-200 µm [10]

Trang 15

Hình 1d: Hình thái cấu trúc của trứng cắt ngang cho thấy ba lớp vỏ trứng

Ghi chú: a trứng của B.thailandensis cho thấy hình dạng hình cầu với một hình

đa giác đều đặn, R Đường viền và D: Vùng lõm

b: Địa hình bề mặt của vỏ trứng cho thấy lỗ chân lông (P) và hình chiếu gai (S) c: Lỗ chân lông trên bề mặt của vùng lõm nổi bật (P)

d: Mặt cắt ngang của trứng hút ẩm: EM Phôi, EC Biểu bì phôi, AL Lớp phế nang và OC vỏ ngoài

Có thể thấy rằng phôi của tôm tiên Thái Lan (B.thailandensis) được bảo vệ khỏi

môi trường bên ngoài bởi sự hiện diện của lớp vỏ ngoài dày, tiếp theo là lớp phế nang giữa và lớp biểu bì phôi trong cùng Theo Plodsomboon et al lớp (~ 1 Netherm) Cấu trúc của vỏ trứng giúp hỗ trợ để chống lại thời gian hút ẩm dài, cũng như điều kiện bất lợi từ môi trường sống [6][10]

1.1.2 Đặc điểm phân bố của tôm tiên B.thailandensis

Tôm tiên Thái Lan sống ở vùng đất ngập nước tạm thời, cánh đồng lúa, mương nước ven đường và vũng nước đọng tạm thời (Sanoamuang, Murugan, Weekers & Dumont 2000; Rogers, Thaimuangphol, Saengphan & Sanoamuang 2013) tôm tiên

B.thailandensis là một trong những nhóm động vật giáp xác duy nhất có vòng đời diễn

ra nhanh: bao gồm ấp trứng sớm, trưởng thành nhanh và bắt đầu sản xuất trứng sớm để sinh sống tại các ao nước tạm thời [8]

1.1.3 Ưu điểm của tôm tiên B.thailandensis

Tôm tiên Thái Lan có tiềm năng thương mại cao trong nuôi trồng thủy sản như thời gian trưởng thành nhanh, kích thước cơ thể lớn, tỷ lệ sống cao, khả năng sinh sản

nhanh và giá trị dinh dưỡng cao, B.thailandensis tương đương với tôm nước muối

Artemia (Saengphan et al., 2005; Dararat et al.,2012) Gần đây, trong một nghiên cứu

so sánh về lịch sử sống đặc điểm của ba loài từ Thái Lan, Dararat et al (2011) báo cáo

rằng B.thailandensis cho thấy tăng trưởng nhanh hơn, kích thước cơ thể lớn nhất, thời gian trứng nở ngắn nhất và khả năng nở trứng cao nhất B.thailandensis được quan tâm

trong nuôi trồng thủy sản vì nó sinh sản nhanh chóng và có giá trị dinh dưỡng cao [11]

Trang 16

Thành công trong nuôi trồng thủy sản dựa trên các tiêu chí khác nhau, trong đó việc lựa chọn một loại thức ăn phù hợp và tiềm năng sử dụng của nó là rất quan trọng Sự

phù hợp và tiềm năng sử dụng của tôm tiên (B.thailandensis) trưởng thành như một thức

ăn sống đã được điều tra B.thailandensis chứa 64.94% protein, 17.96% carbohydrate, 5.07% lipid, 8.94% tro và giá trị năng lượng 20 kJ / g, tương đương với Artemia sp (

56.4% protein, 11% chất béo, 12.1% carbohydrate và 17.4% tro) Thành phần axit amin

của B.thailandensis trưởng thành đã được xác định; nồng độ axit amin thiết yếu trong

protein là 7,7% lysine, 2,8% methionine, 1,6% histidine, 7,4% arginine, 4,6% isoleucine, 8.2% leucine, 4,9% valine, 4,3% glycine và 5% Phân tích các carotenoids cho thấy sự hiện diện của astaxanthin, canthaxanthin và-carotene Sự hiện diện của carotenoid, hàm lượng năng lượng cao và giá trị dinh dưỡng tối ưu mang lại những lợi thế của tôm tiên làm thức ăn sống trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt [12]

1.1.4 Vai trò của tôm tiên B.thailandensis

Gần đây, tôm tiên Thái Lan (B.thailandensis) đã được coi là một loại thức ăn

sống mới trong nuôi trồng thủy sản (Sriputhorn và Sanoamuang, 2011) Đối với các loại thực phẩm sống thay thế mới, người ta đặc biệt chú ý đến đặc điểm dinh dưỡng của chúng: Về dinh dưỡng, nghiên cứu cơ bản chính được tập trung vào cung cấp thức ăn dinh dưỡng cao cho động vật thủy sản Nhiều tác giả đã báo cáo rằng tôm tiên Thái Lan

(B.thailandensis) chứa hàm lượng cao carotenoid (Murugan et al., 1995; Velu et al.,

2003; Velu và Munuswamy, 2007), giúp tăng cường màu sắc cơ thể, tăng hiệu suất sinh sản, miễn dịch và ấu trùng sống sót cho động vật thủy sinh (Nelis et al., 1988; Castillo

và Negre-Sadargues, 1995; Linan-Cabello và cộng sự, 2002) Hơn nữa, các axit béo thiết yếu được làm giàu (Mura et al., 1997a) và axit amin (Velu và Munuswamy, 2003) từ tôm tiên đã được chứng minh là hữu ích để kích thích sinh trưởng và phát triển ấu trùng của động vật không xương sống dưới nước và cá (Velu và Munuswamy, 2007, 2008)

Vì vậy Tôm tiên đang là mối quan tâm ngày càng nhiều trong nhu cầu làm thức ăn nuôi trồng thủy sản

1.1.5 Đặc điểm nuôi cấy

Khử trùng vỏ trứng: Khử trùng là biện pháp quan trọng làm giảm mầm bệnh (nấm, vi khuẩn) cho ấu trùng tôm, làm tăng tỷ lệ nở của trứng bào xác

Các bước tiến hành như sau:

 Ngâm lượng trứng cần ấp trong nước ngọt khoảng 1 giờ để trứng hút nước

 Ngâm lượng trứng cần ấp vào dung dịch thuốc tẩy (Chlorine), nồng độ 200ppm từ 20 -30 Và khuấy trong 5 phút cho đến khi phản ứng khử hoàn thành, biểu thị là màu của các trứng chuyển từ màu nâu sẫm sang màu cam

 Rửa sạch nhiều lần bằng nước ngọt hoặc bằng nước để lọc cho đến khi chúng được làm sạch hóa chất (trứng được chứa trong lưới 125µ).(Giúp khử trùng giúp giảm mầm bệnh như nấm, vi khuẩn cho ấu trùng tôm, giúp bào mòn vỏ trứng, làm cho vỏ trứng mỏng hơn, khả năng tách và nở của tôm tiên dễ dàng hơn)

 Trứng sau khi khử trùng đã sẵn sàng để cho nở

Trứng sau khi được khử trùng và rửa sạch tiến hành nuôi trong bình nhựa với thể tích 1000ml nước giếng có sục khí nhẹ Hộp đựng trứng được đặt gần cửa sổ phòng thí nghiệm để nhận ánh sáng tự nhiên Trứng nở sau 24h và bị bỏ đói trong 1 ngày, sau đó

ấu trùng được nuôi bằng tảo C.vulgaris cho đến khi ấu trùng đạt được 5 ngày tuổi, ấu

trùng được sử dụng cho nghiên cứu tiếp theo

Trang 17

1.1.6 Sự sinh trưởng và phát triển của tôm tiên B.thailandensis

Các cá thể tôm tiên (B.thailandensis) sau khi nở (24h) và bị bỏ đói trong 1 ngày, sau đó ấu trùng tôm được nuôi bằng tảo Chlorella vulgaris Tôm sau 48h có một sự gia tăng về kích thước cơ thể Trong 5 ngày đầu, sử dụng tảo Chlorella vulgaris làm thức

ăn

Tôm 3 ngày tuổi, cơ thể tôm và các chân bơi đang bắt đầu kéo dài Kiểu bơi của tôm đã lướt đi nhiều hơn là những chuyển động giật lùi được chú ý khi tôm vừa thoát ra

khỏi vỏ trứng Tảo Chlorella vulgaris được thêm vào thùng chứa để giữ cho lượng thức

ăn luôn đảm bảo

Tôm 5 ngày tuổi cơ thể của tôm non tiếp tục kéo dài và phát triển Bơi dường như dễ dàng khi tôm di chuyển qua cột nước Bắt đầu chuyển tôm vào thùng chứa lớn hơn Mật độ nuôi khoảng 15 con trên 500ml nước khi tôm đến tuổi trưởng thành là tốt nhất

Giai đoạn 2 tuần kể từ khi thả giống, tôm tiên phát triển với tốc độ trưởng thành khoảng 8-10 mm trong tổng chiều dài cơ thể Nhìn kỹ vào phần đuôi bị tách ra, vào ngày thứ 7 tôm bắt đầu thu được sắc tố đỏ thường thấy ở loài này

Vào ngày nuôi thứ 10 Tôm tiên (B.thailandensis) đực bắt đầu xuất hiện ở giai

đoạn này với 02 râu kéo dài hơn Tôm tiên cái đang trưởng thành và mang những quả trứng trắng đang chờ thụ tinh, nó sẽ sẫm màu và vỏ trở nên cứng sau 24h

Sinh sản: Khi tôm đạt đến độ trưởng thành, chúng sẽ tập trung hoàn toàn vào sinh sản Mục tiêu của con đực bây giờ là thụ tinh cho con cái để tạo ra các trứng mới Con cái sẽ bắt đầu sản xuất trứng ngay khi chúng trưởng thành Những quả trứng màu trắng sáng được lưu trữ trong một túi trứng (brood) trong suốt được gắn vào bụng của con cái Túi trứng (brood) này làm cho con cái dễ nhận biết Con tôm đực liên tục bơi xung quanh để tìm kiếm một con cái phù hợp Con đực sẽ tóm lấy con cái bằng cái râu lớn Con đực sẽ nhanh chóng thụ tinh cho trứng của con cái Có thể biết khi nào trứng đã được thụ tinh bởi vì trứng sẽ phát triển lớn hơn và chuyển sang màu nâu nhạt khi trứng bắt đầu phát triển một lớp vỏ nang Sau khi các nang được bọc hoàn toàn, con cái sẽ đẩy trứng ra khỏi túi của mình, và trứng sẽ chìm xuống đáy thùng [24]

1.1.7 Khái quát về nguồn thức ăn

a Tảo Chlorella vulgaris

Tảo là nguồn bổ sung dinh dưỡng rất quan trọng của động vật thủy sản, là thức

ăn không thể thiếu ở tất cả các giai đoạn của các loài nhuyễn thể và ấu trùng tôm, cá

Tảo Chlorella vulgaris thuộc ngành tảo lục (Chlorophyta) là một vi tảo đơn bào,

tế bào hình cầu hoặc hình ô van, không có tiêm mao, không có khả năng di chuyển, nên

hình thức sinh sản là vô tính, với kích thước chỉ khoảng 2 – 10 µm Tảo C vulgaris được

nuôi bằng môi trường BBM (Bold’s Basal Medium) (Bold 1949, Bischoff and Bold 1963) Sau khi nuôi cấy 3-5 ngày, tảo được thu hoạch và cho tôm ăn với tỷ lệ 1x 10 6 tế bào 1ml [14]

Tảo Chlorella vulgaris là tảo có tốc độ phát triển nhanh và được xem như nguồn

dinh dưỡng có giá trị cao trong tương lai với hàm luợng protein cao khoảng 50% và chứa hầu hết các acid amin thiết yếu như lysine, ethionine, tryptophan, arginine,

histidine…, lipid của tảo thay dổi từ 10-20% với đa số các acid béo không no C vulgaris

có chứa hầu hết các vitamin: A, B1, B2, B6, B, C, D, K, acid nicotinic, acid pantotenic

đặc biệt rất giàu vitamin C Trong thủy sản, C.vulgaris thuờng đuợc sử dụng như nguồn thức ăn thích hợp cho luân trùng, moina, ấu trùng cá…ngoài ra C.vulgaris có khả năng

Trang 18

sản sinh chlorellin là một hợp chất từ các acid béo có khả năng hạn chế sự phát triển của

một số vi khuẩn gram dương và gram âm (Pratt et al., 1948) [15]

b Tinh bột khoai tây

Khoai tây (danh pháp hai phần: Solanum tuberosum), thuộc họ Cà (Solanaceae)

Khoai tây là loài cây nông nghiệp ngắn ngày, trồng lấy củ chứa tinh bột Chúng là loại cây trồng lấy củ rộng rãi nhất thế giới và là loại cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi Trong củ khoai tây chứa một nguồn dồi dào xơ và các khoáng chất cần thiết như Vitamin B6 và kali, và một nguồn rất tốt của Vitamin C Khoai tây chứa ít Chất béo

bão hòa, cholesterol và natri

Khoai tây gọt sạch vỏ và rửa sạch, cắt nhỏ Các hạt tinh bột được đun sôi ở 50oC trong nước cất trong 10 phút Sau đó để nguội trong 10 phút và cho ăn qua lưới mịn để loại bỏ những hạt có kích thước to [3][19]

1.2 Tổng quan tài liệu

1.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Theo nghiên cứu của LucBrendonck và Bruce J Riddoch (2001) cho thấy, tỷ lệ

nở của tôm tiên có tỷ lệ nghịch với nhiệt độ ủ: từ khoảng 2,9 ± 4,4% ở 300C và 21,0 ± 11,9% ở 210C Nghiên cứu của Denton Belk “Tình trạng và xu hướng toàn cầu trong động vật không xương sống nhóm động vật không xương sống bảo tồn: Ý nghĩa đối với

Californian Fairy Shrimp” chỉ ra được một số yếu tố và các mối đe dọa trong môi trường sống của tôm tiên ở Californian

Nghiên cứu của Lalida Chaoruangrit (2017) đã phân tích ra được bề mặt không đối xứng của răng hàm tôm tiên từ kết luận đó có thể chỉ ra rằng chúng có thể tiêu thụ các hạt tinh bột lớn từ 5–30 µm Theo Sutthana Plodsomboon cùng cộng sự (2012) “Chu

kì sinh sản và cơ quan sinh dục của tôm tiên B.thailandensis” đã chỉ ra được một số đặc

điểm nồi bật ở cơ quan sinh dục của loài đực và loài cái cũng như chu kì sinh sản của

tôm tiên B.thailandensis: sinh sản nhanh chóng và có giá trị dinh dưỡng cao Branchinella

thailandensis chứa 55% protein, 9% carbohydrate, 19% lipid, 10% tro và giá trị năng lượng 20 kJ / g, tương đương với Artemia sp

Nghiên cứu của Wipavee Dararat, Peter L Starkweather, and La-orsri

Sanoamuang (2011) về Lịch sử của ba tôm thần tiên Branchiopoda: Anostraca của Thái

Lan cho thấy rằng với cùng một lượng thức ăn là 1x 106 tế bào 21ml tảo Clorella sp cho ăn hai lần mỗi ngày, đã chỉ ra rằng B.thailandensis có kích thước lớn nhất (con đực

26,2mm, con cái 27,8 mm), Thời gian nở ngắn nhất, nó nở trong vòng 3 ngày, tăng trưởng nhanh chóng,trưởng thành trong vòng một tuần (6,5 ngày) và khả năng nở cao nhất 87,67%

Nghiên cứu của Lalida Chaoruangrit, Sorawit Powtongsook, Paveena Tapaneeyaworawong & La-orsri Sanoamuang (2017) về “Chế độ ăn thay thế cho vi sinh

vật Tôm thần tiên Branchinella thailandensis (Chi nhánh: Anostraca)”cho thấy rằng trong hầu hết các trại giống, tảo Chlorella sp dường như là phổ biến nhất, phù hợp, và

thức ăn bổ dưỡng để nuôi tôm thần tiên Trong nghiên cứu này, họ đã thử nghiệm bảy chế độ cho ăn khác nhau: gồm tảo xoắn khô Spirulina sp ở 0.75, 1.5 và 3 mg trên trọng

lượng khô, tảo chlorococcum humicola ở 5× 105, 1× 106 và 2× 106 triệu tế bào trên 1ml

và chế độ ăn kiểm soát bằng tảo Chlorella Vulgaris ở mức 1 × 106 triệu tế bào trên 1ml cho tôm 5 ngày tuổi ăn trong 15 ngày Đánh giá hiệu suất tăng trưởng, sản xuất trứng,

tỷ lệ sống và hàm lượng dinh dưỡng và carotenoid của tôm thần tiên cho thấy rằng tảo

chlorella là chế độ ăn phù hợp nhất Kết quả cũng cho thấy C humicola là tốt nhất, là

Trang 19

nguồn thức ăn thay thế cho việc nuôi B.thailandensis Ngoài ra, tảo xoắn khô cũng là

một lựa chọn tốt khi tảo sống không có sẵn và có thể được sử dụng như một thức ăn thay thế trong nuôi tôm tiên

Theo nghiên cứu của Phuttaphannee Boonmak, Nukul Saengphan và La-orsri Sanoamuang (2007) về “Nghiên cứu so sánh về sinh học và sự phong phú của hai loài

tôm tiên, Streptocephalus sirindhornae và Branchinella thailandensis” với các cặp đực

- cái của mỗi loài được nuôi cấy trong điều kiện tĩnh ở nhiệt độ phòng và cho ăn với

Chlorella sp Sự tăng trưởng và tuổi thọ của những con tôm tiên này được quan sát hàng ngày Dữ liệu so sánh chỉ ra rằng S sirindhornae có tuổi thọ dài hơn (64,50± 6,81 ngày) hơn B.thailandensis (25,40 ± 9.03 ngày) Chiều dài cơ thể trưởng thành của S sirindhornae ngắn hơn B.thailandensis lần lượt là 2,43± 0,12cm và 2,73 ± 0,50 cm S sirindhornae thích hợp cho việc sản xuất trứng nghỉ và được nuôi như một động vật trong hồ cá Ấu trùng của S sirindhornae có thể dùng làm thức ăn sống cho tôm thương phẩm Tuy nhiên, B.thailandensis có tuổi thọ ngắn hơn và do đó, con trưởng thành của

nó có thể được sử dụng làm thực phẩm sống cho cá cảnh và động vật thủy sản thương mại Ngoài ra, tôm trưởng thành của cả hai loài có thể được sử dụng làm thực phẩm đông lạnh cho cá cảnh

1.2.2 Một số nghiên cứu trong nước

Hiện nay ở Việt Nam chưa có các nghiên cứu nuôi đối với Fairy shrimp, nhưng

đã có những nghiên cứu về một số loài tương tự như:

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học cũng như các biện pháp ươm nuôi Moina như: ươm nuôi Moina rectirostric bằng Chlorella sp và Scenedesmus (Anh và Mỹ, 1981); nuôi sinh khối Moina macrocopa (1998); Khả năng sử dụng tảo Chlorella sp nuôi sinh khối Moina sp (Ngọc, 2009) Nghiên cứu của Trần Sương Ngọc, La Ngọc Thạch và Trần Thị Thủy (2010) Trường Đại học Cần Thơ “Khả năng sử dụng tảo Chlorella sp nuôi sinh khối Moina Sp” Cho thấy Moina đạt mật độ cao nhất (16.833 ± 2743 ct/mL)

và tỉ lệ con cái mang trứng cao nhất (29,2 ±7,5 %) khi cho ăn bằng tảo Chlorella sp ở

khoảng 70-90%o, mật độ nuôi 100 con/lít, với thức ăn là tảo Chaetoceros sp thích hợp

để nuôi Artemia Có thể sử dụng sinh khối Artemia tươi để thay thế cho thức ăn công

nghiệp trong ương nuôi cá chim vây vàng giai đoạn 30-60 ngày tuổi

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Nguyễn Hải Nam, Trần Hữu

Lễ và Nguyễn Văn Hòa (2010) trường Đại học Cần Thơ “Khả năng sử dụng các loại sinh khối Artemia Trong ươm nuôi một số loài cá nước ngọt” cho thấy, việc sử dụng sinh khối Artemia để ương các loài cá nước ngọt có tính khả thi rất cao Kết quả sau 40 ngày ương cho thấy, Artemia sinh khối tươi sống và Artemia đông lạnh là loại thức ăn

rất được ưa thích của cả ba loài cá nước ngọt gồm cá lóc đen (Channa striata), cá thát lát còm (Notopterus chitala) và cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) có trọng lượng

và chiều dài ban đầu là 0,35± 0,08g và 3,4± 0,3cm; 0,45± 0,18g và 4,16± 0,41cm; 0,2± 0,09g; 2,2± 0,17cm

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] T. Thị Hồng Vân, T. Nguyễn Hải Nam, and T. Hữu Lễ và Nguyễn Văn Hòa, 2010. “Khả năng sử dụng các loại sinh khối artemia trong ương nuôi một số loài cá nước ngọt Title: Use of different Artemia biomass forms in nursing juveniles of some freshwater fish species tóm tắt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sử dụng các loại sinh khối artemia trong ương nuôi một số loài cá nước ngọt Title: Use of different "Artemia "biomass forms in nursing juveniles of some freshwater fish species tóm tắt
[16] T. H. Lễ et al., “Ảnh hưởng của liều lượng thức ăn phối chế kết hợp với tảo tự nhiên lên tỷ lệ sống, sinh trưởng và sinh sản của Artemia franciscana vĩnh châu trong điều kiện phòng thí nghiệm.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al.", “Ảnh hưởng của liều lượng thức ăn phối chế kết hợp với tảo tự nhiên lên tỷ lệ sống, sinh trưởng và sinh sản của "Artemia franciscana "vĩnh châu trong điều kiện phòng thí nghiệm
[17] V. Ngọc Út, L. Trường An, và Huỳnh Phước Vinh, K. Thủy sản, and T. Đại học Cần Thơ, “Khả năng sử dụng men bánh mì và tỉ lệ thu hoạch tối ưu trong nuôi sinh khối Schmackeria dubia.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sử dụng men bánh mì và tỉ lệ thu hoạch tối ưu trong nuôi sinh khối Schmackeria dubia
[18] Nguyễn Tấn Sỹ, 2013. “LUẬN ÁN TIẾN SĨ, Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, mật độ nuôi và thức ăn đến năng suất và chất lượng sinh khối Artemia franciscana nuôi trong ao đất tại Cam Ranh”.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: LUẬN ÁN TIẾN SĨ, Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, mật độ nuôi và thức ăn đến năng suất và chất lượng sinh khối "Artemia franciscana" nuôi trong ao đất tại Cam Ranh
[3] L. Chaoruangrit, S. Plodsomboon, D. C. Rogers, and L. O. Sanoamuang, “Morphology of mandibles and food size in two fairy shrimps (Branchiopoda:Anostraca) from Thailand,” J. Crustac. Biol., vol. 37, no. 5, pp. 579–587, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Morphology of mandibles and food size in two "fairy shrimps" (Branchiopoda: Anostraca) from Thailand,” "J. Crustac. Biol
[4] W. Dararat, K. Lomthaisong, and L. O. Sanoamuang, “Biochemical composition of three species of fairy shrimp (Branchiopoda: Anostraca) from Thailand,” J.Crustac. Biol., vol. 32, no. 1, pp. 81–87, Feb. 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biochemical composition of three species of "fairy shrimp" (Branchiopoda: Anostraca) from Thailand,” "J. "Crustac. Biol
[5] H. J. Dumont and A. J. Ali, “Stage-Specific Cannibalism and Spontaneous Cyst Hatching in the Freshwater Fairy Shrimp Streptocepha,” pp. 103–104, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stage-Specific Cannibalism and Spontaneous Cyst Hatching in the Freshwater "Fairy Shrimp" Streptocepha
[6] D. Belk, “Global Status and Trends in Ephemeral Pool Invertebrate Conservation : Implications for Californian Fairy Shrimp,” Ecol. Conserv. Manag. Vernal Pool Ecosyst. - Proc. from a 1996 Conf. Calif. Nativ. Plant Soc. Sacramento, CA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Status and Trends in Ephemeral Pool Invertebrate Conservation : Implications for Californian "Fairy Shrimp",”
[7] L.-O. Sanoamuang, N. Saengphan, and G. Murugan, “First record of the family Thamnocephalidae (Crustacea: Anostraca) from Southeast Asia and description of a new species of Branchinella,” 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First record of the family Thamnocephalidae (Crustacea: Anostraca) from Southeast Asia and description of a new species of "Branchinella
[8] W. Dararat, P. L. Starkweather, and L. Sanoamuang, “Life History of Three Fairy Shrimps (Branchiopoda: Anostraca) from Thailand,” J. Crustac. Biol., vol. 31, no.4, pp. 623–629, Oct. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Life History of Three "Fairy Shrimps" (Branchiopoda: Anostraca) from Thailand,” "J. Crustac. Biol
[9] S. Plodsomboon, A. M. Maeda-martínez, H. Obregón-barboza, L. Sanoamuang, and T. B. Anostraca, “Reproductive Cycle and Genitalia of the Fairy Shrimp Branchinella thailandensis (Branchiopoda : Anostraca ),” vol. 32, no. 5, pp. 711–726, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive Cycle and Genitalia of the "Fairy Shrimp Branchinella thailandensis" (Branchiopoda : Anostraca )
[10] S. Sukarawan, “้ าไทย Branchinella thailandensis Sanoamuang , Saengphan and Murugan , 2002 Internal structures of cryptobiotic cysts and embryonic development of Thai fairy shrimp Branchinella thailandensis Sanoamuang , Saengphan and Murugan , 2002 บทค ้ ดย ้ อ,” 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ้ าไทย "Branchinella thailandensis" Sanoamuang , Saengphan and Murugan , 2002 Internal structures of cryptobiotic cysts and embryonic development of Thai "fairy shrimp Branchinella thailandensis" Sanoamuang , Saengphan and Murugan , 2002 บทค ้ ดย ้ อ
[12] C. S. Velu, “Food Chemistry Composition and nutritional efficacy of adult fairy shrimp Streptocephalus dichotomus as live feed,” vol. 100, pp. 1435–1442, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Food Chemistry Composition and nutritional efficacy of adult "fairy shrimp" Streptocephalus dichotomus as live feed
[14] N. Saengphan, R. J. Shiel, and L. O. Sanoamuang, “The cyst hatching pattern of the thai fairy shrimp, Branchinella thailandensis Sanoamuang, Saengphan &Murugan, 2002 (Anostraca),” Crustaceana, vol. 78, no. 5, pp. 513–523, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cyst hatching pattern of the thai fairy shrimp, "Branchinella thailandensis" Sanoamuang, Saengphan & Murugan, 2002 (Anostraca),” "Crustaceana
[19] N. R. Reddy 1994. “Eduction in antinutritional and toxic components in plant foods” by fermentation, Food Research International 27 (1994) 281-290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eduction in antinutritional and toxic components in plant foods
[20] Lalida Chaoruangrit Sorawit Powtongsook & Paveena Tapaneeyaworawong & Sorawit Powtongsook & La-orsri Sanoamuang, 2017.“Alternative microalgal diets for cultivation of the fairy shrimp Branchinella thailandensis (Branchiopoda: Anostraca) ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alternative microalgal diets for cultivation of the "fairy shrimp Branchinella thailandensis" (Branchiopoda: Anostraca)
[22] Farooq Ahmad, Amin U. Khan and Abdullah Yasar, Sustainable Development Study Centre, G.C University, Lahore, Pakistan, January 2013. “The Potential Of Chlorella Vulgaris For Wastewater Treatment And Biodiesel Production” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Development Study Centre, G.C University, Lahore, Pakistan, "January 2013. “The Potential Of "Chlorella Vulgaris" For Wastewater Treatment And Biodiesel Production
[23] Ali và Dumont 1995; Zarattini và Mura 2004; Sriputhorn và Sanoamuang 2007; Saengphan và Sanoamuang 2009. “The Effects of Food Type on Length Weight Growth, Sexual Differentiation, and Survival in Chirocephalus Ruffoi (Anostraca) Cultured under Standard Conditions” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effects of Food Type on Length Weight Growth, Sexual Differentiation, and Survival in Chirocephalus Ruffoi (Anostraca) Cultured under Standard Conditions
[24] Sanoamuang, Saengphan & Murugan, 2002. “The cyst hatching pattern of the Thai Fairy Shrimp, Branchinella thailandensis”.Nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cyst hatching pattern of the Thai "Fairy Shrimp, Branchinella thailandensis

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w