Điều đó thể hiện qua việc sử dụng kính ngữ trong giao tiếp bởi đó là cách nói biểu thị sự kính trọng với đối tượng giao tiếp và sự khiêm tốn về bản thân mình.. Việc sử dụng kính ngữ thể
Trang 1KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-
NGUYỄN THỊ THANH THÙY
KÍNH NGỮ TRONG VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Mã số: 60.31.50
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VŨ QUỲNH NHƯ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
NGUYỄN THỊ THANH THÙY
KÍNH NGỮ TRONG VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Mã số: 60.31.50 Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Vũ Quỳnh Như, người đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn của mình
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Đông Phương học, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong thời gan vừa qua
TP Hồ Chí Minh, Ngày 14 tháng 07 năm 2015
Nguyễn Thị Thanh Thùy
Trang 4MỤC LỤC
KÍNH NGỮ TRONG VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
7 Bố cục 9
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT KÍNH NGỮ TIẾNG NHẬT 11
1.1 Ngôn ngữ Nhật Bản 11
1.1.1 Khái quát về tiếng Nhật 11
1.1.2 Tính lịch sự trong tiếng Nhật 14
1.2 Kính ngữ Nhật Bản 16
1.2.1 Khái niệm kính ngữ 17
1.2.2 Vai trò của kính ngữ 19
1.2.3 Quá trình hình thành kính ngữ 21
1.3.Phân loại kính ngữ 24
1.3.1 Tôn kính ngữ 24
1.3.1.1 Ý nghĩa 24
1.3.1.2 Hình thức biểu hiện 25
1.3.1.3 Trường hợp sử dụng 27
1.3.2 Khiêm nhường ngữ 28
1.3.2.1 Ý nghĩa 28
1.3.2.2 Hình thức biểu hiện 28
1.3.2.3 Trường hợp sử dụng 30
1.3.3 Từ lịch sự 32
1.3.3.1 Ý nghĩa 32
Trang 51.3.3.2 Hình thức biểu hiện 32
1.3.3.3 Trường hợp sử dụng 33
1.4 Một số quy tắc cơ bản trong sử dụng kính ngữ 34
1.4.1 Từ vựng 34
1.4.2 Phụ tố 35
1.4.2.1 Tiền tố 35
1.4.2.2 Hậu tố 37
CHƯƠNG 2: KÍNH NGỮ VÀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN 40
2.1.Văn hoá kinh doanh Nhật Bản 40
2.1.1 Giao tiếp trong kinh doanh Nhật Bản 40
2.1.2 Tính văn hóa Nhật Bản và giao tiếp kinh doanh 42
2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến cách giao tiếp bằng kính ngữ 46
2.2.1 Cấu trúc xã hội 46
2.2.2 Tư tưởng 48
2.2.3 Đối nhân xử thế 52
2.3 Nghi thức kinh doanh thể hiện qua kính ngữ 54
2.3.1 Chào hỏi 54
2.3.2 Lời cảm ơn và xin lỗi 59
2.4.Vai trò kính ngữ trong văn hoá kinh doanh 62
2.4.1 Thể hiện tính lịch sự 62
2.4.2 Thể hiện tôn ti trật tự 65
2.4.3 Thể hiện quan hệ xã hội 67
2.5 Một điểm lưu ý về kính ngữ trong kinh doanh 71
2.5.1 Sử dụng sai kính ngữ 71
2.5.1.1 Cách nói quá lịch sự 71
2.5.1.2 Sử dụng hai lần kính ngữ 73
2.5.1.3 Nhầm lẫn trong cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ 75
2.5.1.4 Trường hợp khác 76
2.5.2 Vấn đề “Hướng dẫn sử dụng kính ngữ” 77
CHƯƠNG 3: VIỆC SỬ DỤNG KÍNH NGỮ TRONG KINH DOANH 81
3.1 Giao tiếp giữa công ty với đối tác kinh doanh 82
3.1.1 Tiếp khách 83
3.1.1.1 Cách xưng hô, giới thiệu 83
Trang 63.1.1.2 Nghệ thuật tiếp khách 84
3.1.2 Thương thảo 90
3.2 Giao tiếp trong nội bộ công ty 95
3.2.1 Giữa cấp trên và cấp dưới 95
3.2.2 Giữa đồng nghiệp với nhau 100
3.3 Giao tiếp bằng kính ngữ qua điện thoại 102
3.3.1 Những nguyên tắc căn bản khi giao tiếp qua điện thoại 103
3.3.2 Cách nhận và trả lời điện thoại 105
3.4 Thực trạng sử dụng kính ngữ tiếng Nhật trong kinh doanh (Trường hợp công ty Nhật ở Việt Nam) 109
3.4.1 Tình hình sử dụng kính ngữ trong công ty Nhật tại Việt Nam 110
3.4.1.1 Kết quả khảo sát 110
3.4.1.2 Cảm nghĩ việc sử dụng kính ngữ tiếng Nhật trong kinh doanh 111
3.4.2 Nhận xét và ý kiến đề xuất 112
3.4.2.1 Nhận xét 112
3.4.2.2 Ý kiến đề xuất 114
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 125
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá phương Đông và phương Tây có nhiều điểm khác biệt trên nhiều phương diện, trong đó có văn hoá giao tiếp ứng xử Khác với phương Tây, các nước phương Đông trong đó có Nhật Bản rất coi trọng lễ nghi và lịch sự Điều đó thể hiện qua việc sử dụng kính ngữ trong giao tiếp bởi đó là cách nói biểu thị sự kính trọng với đối tượng giao tiếp và sự khiêm tốn về bản thân mình Việc sử dụng kính ngữ thể hiện phẩm chất khiêm nhường của người nói và mang lại thiện cảm cho người đối thoại từ đó thể hiện tính tôn ti và lịch sự trong giao tiếp Kính ngữ trong tiếng Nhật rất phong phú và được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, đó
là một điểm đặc biệt trong tiếng Nhật và trở thành nét đẹp trong văn hoá giao tiếp đặc biệt là trong môi trường kinh doanh của người Nhật
Ngày nay, sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa các quốc gia Đông Nam Á với Nhật Bản ngày càng nhiều hơn Bên cạnh đó, trong thời kỳ hội nhập, đã mở ra nhiều cơ hội giao lưu và hợp tác kinh tế, cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO thì đối tác quốc tế cũng nhiều hơn trong đó có Nhật Bản - cường quốc trên thế giới và khu vực, gần đây nhất là kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Việt Nam Chính sự giao lưu ngày càng khắng khít giữa hai quốc gia không những về mặt văn hóa mà còn cả mặt kinh tế, dẫn đến ngày càng nhiều công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam Nhu cầu giao tiếp văn hóa và ngôn ngữ theo đó cũng ngày càng tăng theo, từ đó thúc đẩy nhu cầu học tiếng Nhật và nghiên cứu về văn hóa - ngôn ngữ
Để làm việc trong công ty Nhật và giao tiếp bằng tiếng Nhật thuận lợi hơn thì điều tiên quyết đó là phải trang bị vốn tiếng Nhật đồng thời phải hiểu và lý giải được văn hóa Nhật Bản Giao tiếp có hiểu biết về văn hóa sẽ xóa bỏ đi khoảng cách giữa sự khác biệt về văn hóa giữa hai dân tộc, quốc gia Hay nói cách khác để hiểu
Trang 8và làm việc trong môi trường Nhật Bản thì trước hết phải hiểu được văn hóa Nhật Bản
Bản thân tôi là một người từng học tiếng Nhật và đã từng làm việc tại công
ty của Nhật tôi cảm thấy kính ngữ rất quan trọng trong giao tiếp với khách hàng cũng như với cấp trên, đồng nghiệp trong công ty Tuy nhiên, kính ngữ trong tiếng Nhật thể hiện những điểm ngữ pháp phức tạp, dễ nhầm lẫn với nhau Nhưng chính điều đó đã tạo nên nét đặc sắc trong tiếng Nhật Từ nhu cầu thực tế trên tôi đã tìm hiểu và học kính ngữ qua một số sách về kính ngữ trong kinh doanh Sở dĩ có sự phức tạp vì kính ngữ trong tiếng Nhật phân thành nhiều dạng, người nghe và người nói khi sử dụng kính ngữ đều phải tùy vào trường hợp và vị trí để có cách nói khác nhau Đồng thời, kính ngữ thật sự cần thiết khi làm việc trong một công ty của Nhật,
là điều kiện tiên quyết mà mỗi nhân viên làm việc trong công ty Nhật phải được đào tạo khi bắt đầu làm việc Chính sự phức tạp đó và những quy tắc riêng nên kính ngữ
là khó khăn rất lớn khi học và sử dụng không những đối với người nước ngoài mà ngay cả đối với người Nhật khi sử dụng trong cuộc sống, đặc biệt trong công việc Theo tài liệu do Nguyễn Quốc Vượng dịch từ Hiragana Times số 228 tháng 10 năm 2005: trong cuộc điều tra của Vụ văn hóa (文化庁 - Bunkachou) mang tên “Điều tra
về quốc ngữ” tiến hành năm 2004 thì 81.1% người trả lời rằng việc sai sót trong dùng kính ngữ đang tăng lên, 37.11% cảm thấy không tự tin trong việc dùng kính ngữ Khi những người học tiếng Nhật được hỏi “Bạn thường mắc những lỗi gì ?”, 55.2% trả lời “các từ kính ngữ, các từ khiêm tốn và lịch sự”, 55,1% trả lời “không dùng kính ngữ trong trường hợp cần thiết” Tuy nhiên, kính ngữ lại là kiến thức không thể thiếu khi làm việc tại các công ty Nhật Bản
Xuất phát từ thực tiễn, căn cứ vào những lý luận cơ bản, tôi chọn đề tài
“Kính ngữ tiếng Nhật trong kinh doanh” thuộc chuyên ngành Châu Á học làm đề
tài nghiên cứu cho mình
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục đích thấy rõ tính thiết yếu cũng như việc sử dụng rộng rãi kính ngữ trong xã hội Nhật Bản nói chung, trong kinh doanh nói riêng của người Nhật dưới góc độ ngôn ngữ Thông qua khía cạnh ngôn ngữ lý giải những nét văn hóa đặc trưng của người Nhật trong giao tiếp Từ đó cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hóa trong giao tiếp, cụ thể là trong môi trường giao tiếp kinh doanh Nhật Bản, làm tư liệu tham khảo cho người những ai
đã, đang và sẽ nghiên cứu về Nhật Bản
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu ở Việt Nam đến nay có bài viết “Kính ngữ trong tiếng Nhật”
của Trần Sơn đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 2-1999, công trình nghiên
cứu về đề tài “Những khó khăn của sinh viên tiếng Nhật, trường Đại học Ngoại
ngữ, Đại học Đà Nẵng khi sử dụng kính ngữ trong văn hóa giao tiếp Nhật Bản và biện pháp khắc phục” của Dương Quỳnh Nga, Đại học Đà Nẵng, năm 2012, đưa ra
cái nhìn tổng quát về kính ngữ, trong đó bao gồm định nghĩa và vai trò của kính ngữ, các thành phần quan trọng trong câu kính ngữ và mối quan hệ giữa chúng, phân loại và phương thức cấu tạo nên kính ngữ Đồng thời, những nghiên cứu trên
đã chỉ ra khó khăn của sinh viên khi sử dụng tiếng Nhật và nêu ra các biện pháp
khắc phục; sách tiếng Nhật “Mina no Nihongo II” (Tiếng Nhật dành cho mọi người
II) năm 1998 ít nhiều đề cập về định nghĩa và cách sử dụng kính ngữ Song, đa số
những công trình trên chọn cách tiếp cận về mặt ngôn ngữ, về cách sử dụng kính ngữ nói chung, chưa đi vào khía cạnh kính ngữ dùng trong kinh doanh
Tuy nhiên, với những bài viết, bài nghiên cứu trên với nhiều góc nhìn khác nhau là nguồn thông tin quý, là tư liệu hữu ích làm cơ sở lý luận cho đề tài này
“Xã hội Nhật Bản” năm 1990 của tác giả Chie Nakane đã đề cập đến trật tự
thứ bậc trong công ty; “Người Nhật” năm 2004 của Pronnikov –V.A, Ladavo.I D
đã đưa ra cái nhìn tổng quan về đất nước Nhật Bản với nhiều khía cạnh, làm cơ sở cho việc phân tích một trong những yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng kính ngữ của người Nhật
Trang 10Nghiên cứu “Đặc trưng lịch sự - Đặc trưng văn hóa trong tếng Nhật” của
Hoàng Anh Thi, khoa ngôn ngữ học, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2010 đã trình bày những đặc điểm giống nhau đi đến kết luận ngôn ngữ Nhật và Việt cùng nằm trong một hệ thống ngôn ngữ Đông Á, dựa trên các học thuyết của các học giả nước ngoài (quan điểm của Michael Haugh về lịch sự…) Tác giả đã nêu ra được một cách nhìn khác về đặc trưng lịch sự của kính ngữ
“Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt” của Hữu Đạt, nhà xuất bản
Văn hóa thông tin, năm 2000 đề cập đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và văn hóa giao tiếp Ngoài ra, tác giả còn nhắc đến hình thức giao tiếp, bản chất,
phạm vi của quá trình giao tiếp “Cơ sở Văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm,
năm 1997 đã khái quát về một số loại hình văn hóa cùa từng vùng, từng miền hay cách ứng xử trong giao tiếp và những chuẩn mực trong cách xưng hô của người
Việt Nam “Tìm về bản sắc văn hóa Việt nam” của Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến
đặc trưng cơ bản trong giao tiếp của người Việt Nam
Bên cạnh đó, “Phong cách kinh doanh của người Nhật” của Christopher, Robert (1995);“Hiểu và làm việc với giới thương mại của Nhật Bản” của Hiroki
Kato, Joan S.Kato (1997), dịch giả Nguyên Tố đã đề cập đến các nguyên tắc văn hóa, các hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ trong kinh doanh làm nguồn tư liệu giúp hiểu hơn về văn hóa giao tiếp trong kinh doanh của người Nhật
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu nước ngoài như Kyoko Naito (2007)
敬語と話し方Keigo to Hanashi kata (Kính ngữ và cách nói); Makoto Mori (2014)
ビジネス敬語力ドリルBijinesu Keigo Ryoku Doriru (Thực tập năng lực kính ngữ trong kinh doanh), 仕事の日本語Shigoto no nihongo (Tiếng Nhật trong công việc)
của tác giả Chuuko Kamabu (2009),ビジネス日本語 Bijinesu Nihongo (Tiếng
Nhật trong kinh doanh) phát hành năm 2004, chỉ ra cách sử dụng kính ngữ trong
kinh doanh đối với từng trường hợp cụ thể
敬語再入門 Keigo Sainyuumon (Nhập môn về kính ngữ) của tác giả Kikuchi
Yasuhito (菊地康人) (1997) đã giới thiệu khái quát bước đầu làm quen với kinh
Trang 11ngữ trong tiếng Nhật, một số câu kính ngữ dùng trong công ty, nhà hàng, nhà ga, siêu thị…
敬語表現 Keigo Huyogen (các biểu hiện của kính ngữ) của ba tác giả
Kabaya Hiroshi ( 蒲 谷 宏 ), Kawaguchi Yoshikazu ( 川 口 義 一 ) và Sakamoto Megumi (坂本恵), nhà xuất bản Taishuukanshoten (大修館書店), năm 1998, khái quát về mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa người nhỏ tuổi với người lớn tuổi, giữa nhân viên với khách hàng…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là kính ngữ tiếng Nhật, phạm vi nghiên cứu trong môi trường kinh doanh Nhật Bản dưới góc độ văn hóa - ngôn ngữ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
Hiểu được tiếng Nhật trong kinh doanh không những chỉ hiểu ngữ pháp và từ vựng mà hiểu được mối quan hệ giữa việc sử dụng ngôn ngữ thông qua các mối quan hệ xã hội hay nói cách khác là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, mà cụ thể là văn hóa giao tiếp trong môi trường kinh doanh
Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài nghiên cứu sẽ giúp người đọc rõ hơn về kính ngữ, các loại kính ngữ,
vị trí của kính ngữ trong xã hội Nhật Bản đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh, một lĩnh vực liên quan đến kinh tế
Đồng thời, đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo cho những ai, những nhà nghiên cứu nào quan tâm, muốn tìm hiểu về cách sử dụng kính ngữ trong giao tiếp kinh doanh nói riêng và văn hóa Nhật Bản nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra trong đề tài, khi nghiên cứu trình bày luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống, phương pháp điều tra khảo sát, so sánh.Trong quá trình nghiên cứu, tùy từng vấn đề
cụ thể: (Chương 1: Khái quát về kính ngữ tiếng Nhật sử dụng phương pháp tổng
hợp, phương pháp hệ thống Chương 2: Kính ngữ và văn hóa kinh doanh Nhật
Trang 12Bản sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp Chương 3: Sử dụng kính ngữ trong kinh doanh sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, khảo sát, so sánh.)
Nguồn tư liệu tập hợp từ sách tiếng Việt và tiếng Nhật, tiếng Anh; các bài
nghiên cứu khoa học của TS Hoàng Anh Thi (Khoa Ngôn ngữ học, Trường
ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN), được đăng trên kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế
“Nghiên cứu và dạy - hoc tiếng Nhật”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007;
“Kính ngữ tiếng Nhật” của Trần Sơn (Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội) được
in trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, tạp chí ngôn ngữ; tuyển tập
“Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012 sẽ được trình bày cụ thể trong “Tài liệu tham khảo”
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung đề tài được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát kính ngữ tiếng Nhật
Trình bày khái niệm, vai trò, quá trình hình thành kính ngữ cho thấy vị trí cũng như tầm quan trọng của kính ngữ trong giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Nhật thông qua cách phân loại và một số quy tắc cơ bản trong sử dụng kính ngữ Từ đó, đưa ra cái nhìn tổng quan về kính ngữ làm cơ sở lý luận cho việc phân tích trong chương 2
Chương 2: Kính ngữ và văn hóa kinh doanh Nhật Bản
Chương này trình bày khái quát về đặc trưng trong văn hóa giao tiếp kinh doanh của người Nhật, các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp bằng kính ngữ, từ đó cho thấy tầm quan trọng cũng như sự thiết yếu của kính ngữ trong môi trường kinh doanh Đồng thời, đưa ra những điểm lưu ý khi dùng kính ngữ trong kinh doanh như việc sử dụng sai kính ngữ, sự xuất hiện của kính ngữ làm thêm
Chương 3: Sử dụng kính ngữ trong kinh doanh
Căn cứ trên những đặc trưng rút ra từ chương 2 giúp hiểu hơn về kính ngữ từ góc độ văn hóa từ đó đi vào phân tích cụ thể việc sử dụng kính ngữ, phân tích kết quả khảo sát để có sự so sánh đối chiếu giữa cách biểu hiện sự tôn trọng và tính lịch
Trang 13sự trong hai ngôn ngữ Nhật, Việt Qua đó có những nhận xét và bài học trong văn hóa giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau cụ thể là giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Trang 14ý nhất là sự đồng nhất về chủng tộc và dân tộc của thành phần dân cư “Chín mươi
chín phần trăm người Nhật thuộc dân tộc Yamato Đó cũng là một cách gọi khác đối với người Nhật Còn sắc dân Ainu giờ chỉ còn chưa đến 20 ngàn người, sinh sống chủ yếu trên đảo Hokkaido Ngoài ra, tại đây còn có gần 600 ngàn dân Triều Tiên, đa phần di cư sang trong những năm thế chiến thứ II, và trên dưới bốn mươi ngàn người Nhật gốc Hoa.” [51, tr.8] Theo Thần Đạo - hệ thống tín ngưỡng Nhật
Bản - thì dân tộc Nhật là con cháu của thần Mặt trời Amaterasu và mỗi người dân Nhật Bản đều biết truyền thuyết tổ tiên của họ là thần Mặt trời Sự đồng nhất về chủng tộc và dân tộc có nguồn gốc lịch sử Nhật Bản là một nước gồm các đảo đơn độc Do sống đơn độc trên các đảo nên trong lịch sử người Nhật gắn bó với nhau, lại luôn có cảm giác dễ bị tấn công nên sự gắn bó dân tộc càng chặt chẽ Họ thấy họ
là một dân tộc không bị pha trộn nên có tính chất thượng đẳng hơn nhiều dân tộc khác
1.1.1 Khái quát về tiếng Nhật
Đi liền với sự đồng nhất về dân tộc, chủng tộc, lịch sử là sự đồng nhất về ngôn ngữ Mặc dù có nhiều phương ngữ nhưng hầu hết mọi người đều có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Nhật “Tiếng Nhật vừa là tiếng nói của người Nhật, vừa là ngôn ngữ quốc gia của Nhật Bản với tên gọi “Quốc ngữ” (Kokugo)” [14] Người
Trang 15Nhật thực hiện cải cách về chữ viết cũng không nhằm ngoài mục tiêu cải biến cho phù hợp với ngôn ngữ nói
Về mặt ngữ pháp, quy tắc động từ tiếng Nhật phải xuất hiện cuối câu được tuân thủ nghiêm ngặt, ngoại trừ trường hợp đảo ngược để nhấn mạnh Đặc điểm nổi bật nhất của ngữ pháp tiếng Nhật là trật tự câu hoàn toàn đảo lộn so với các ngôn ngữ khác như tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Trong tiếng Nhật, vị ngữ đứng cuối câu là một nguyên tắc bất dịch Hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng trợ từ và trợ động từ chứ không phải là bằng trật từ từ trong câu Điều này khác xa với tiếng Việt vốn thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp phần lớn bằng trật tự
từ, và đôi khi là hư từ trong câu
Một đặc điểm quan trọng khác của ngữ pháp tiếng Nhật, giống với các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, Nga, Pháp , động từ và tính từ trong tiếng Nhật có
sự biến đổi về mặt hình thức bằng cách ghép thêm tiếp vĩ ngữ để tạo thành thời, thể, trạng thái , nhưng không biểu hiện ngôi và số
Ngoài ra, kính ngữ cũng là một phạm trù ngữ pháp quan trọng của tiếng Nhật Mặc dù các phương tiện biểu thị kính ngữ trong tiếng Nhật bao gồm cả từ vựng và ngữ pháp, song phương tiện ngữ pháp chiếm tỉ lệ khá lớn
Tiếng Nhật là ngôn ngữ diễn đạt sự tôn trọng thể hiện ở danh từ tại những chỗ cần thiết, sự phát triển cao nhất của hệ thống thể hiện nằm trong động từ Mỗi động từ có thể được biểu thị sự “khiêm nhường” hoặc “kính trọng” tùy theo hình thái chủ ngữ trong câu Trong những động từ thông thường có thể không chỉ bao gồm một hình thức hoàn toàn khác biệt Các câu cũng được biểu thị cả nghĩa “thông thường” lẫn nghĩa “tôn trọng” có liên quan tới ngôi, là người được xưng hô
Theo chuyên gia về sử học Nhật Bản - Edwin Reichauer: “Tiếng Nhật vốn có
nguồn gốc từ hệ ngôn ngữ của các dân tộc ở vùng núi cao Mongdia, hệ ngôn ngữ các dân tộc vùng núi Altai bao gồm tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Mông Cổ, Triều Tiên, nó có cấu trúc giống với một số tiếng có nguồn gốc từ Châu Á như tiếng Hungari và Phần Lan và có thể có cả các ngôn ngữ Pravidia ở miền Nam Ấn Độ.” [5, tr 50]
Trang 16Tiếng Nhật có một lượng từ vựng lớn, không chỉ bởi vì sự lâu đời, mà còn bởi khuynh hướng vay mượn của nó, trước hết là từ tiếng Trung Quốc, tiếp đó là tiếng Bồ Đào Nha, gần đây là tiếng Anh Đa số những từ vay mượn này là danh từ, chủ yếu vì danh từ trong tiếng Nhật cố định không thay đổi trong cách, giống và số
Điều đó làm cho việc vay mượn khá đơn giản về mặt cấu trúc “Từ có gốc từ tiếng
Trung Quốc khoảng trên 50% từ vựng trong tiếng Nhật hiện đại” [33, tr 135] mặc
dù những từ gốc Châu Âu ngày nay cũng rất phổ biến trong tất cả mọi mặt của cuộc sống đặc biệt trong quảng cáo
Đáng chú ý trong tiếng Nhật là hệ thống chữ viết Vốn không có văn tự bản địa, người Nhật phải vay mượn chữ viết Hán tự tượng hình (Kanji) của người Trung Quốc để ghi âm Do không phù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Nhật, Hán tự đã gây
nhiều trở ngại cho việc ghi âm lẫn việc phát âm các văn bản Nhật Bản “Giới học
giả Nhật xây dựng một hệ thống văn tự tượng hình khác, ghi âm theo âm tiết, gọi là Kana, hình thành từ thế kỷ VIII – IX, để đáp ứng nhu cầu văn hóa, giáo dục của nước mình.” [51, tr.17] Văn tự Kana có hai biến thể: Katakana - chủ yếu để ký âm
các từ vay mượn, Hiragana - chủ yếu để ghi các từ thuần Nhật, cùng các phụ tố ngữ pháp đặc thù Kana là thứ văn tự kết hợp hai hệ thống chữ viết khác nhau, vừa tượng hình vừa ghi âm Như vậy, tiếng Nhật hiện đại được viết bằng sự kết hợp của bốn hệ thống chữ khác nhau: chữ được Latinh hóa, chữ Hiragana, Katakana và Hán
tự (Kanji) Có những trường hợp cả bốn thứ chữ này cũng được dùng trong một câu, mặc dù thông thường cách sử dụng của bất kỳ một hệ thống nào cũng phải phụ thuộc vào chủ ngữ và văn phạm
Có thể nói tiếng Nhật với hệ thống chữ viết độc đáo khiến nền văn hóa Nhật Bản rất gần gũi với văn hóa trong khu vực vùng văn hóa chữ Hán trong đó có Việt Nam, bởi Hán tự và chữ Nôm của Việt Nam đều xây dựng trên chữ viết tượng hình
Riêng hệ thống Kana đã mang lại cho văn tự Nhật Bản một bản sắc riêng biệt -
niềm kiêu hãnh của dân tộc Nhật Bản Bản sắc đó càng thể hiện rõ nét hơn nữa ở trong cách giao tiếp ngôn ngữ đặc thù của Nhật Bản Đồng thời, vì sử dụng kết hợp nhiều hệ thống chữ nên ngữ pháp tiếng Nhật luôn gây khó khăn cho người học vì cả
Trang 17chữ viết và cấu trúc câu đều phức tạp Trong đó, điều thú vị nhưng cũng khó khăn nhất khi học và sử dụng tiếng Nhật chính là việc sử dụng kính ngữ
1.1.2 Tính lịch sự trong tiếng Nhật
Ngày nay, sự tiếp xúc với thế giới bằng ngôn ngữ trở nên phổ biến và quan trọng hơn bao giờ hết Lịch sự được nhiều người quan tâm và có vị trí rõ nét trong giao tiếp Nói đến lịch sự không phải chỉ nói đến những lời nói ngọt ngào, những hành vi xã giao, khuôn phép Lịch sự bao gồm nhiều yếu tố và chuẩn mực trong nói năng, ứng xử Nhờ lịch sự mà chúng ta có thể đạt được những điều mà chúng ta muốn một cách tốt nhất Những yếu tố và chuẩn mực này, một mặt mang những nét chung cho mọi dân tộc trên thế giới, mặt khác mang sắc thái đặc trưng cho mỗi cộng đồng
Trong các lý thuyết về lịch sự, có ba quan điểm tương đối hoàn chỉnh và có những hiệu quả nhất định đối với việc nghiên cứu lịch sự đó là quan điểm của R Lakoff, G N Leech và P Brown & S Levison
Theo Lakoff : “lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột
trong diễn ngôn (…); những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.” [Dẫn lại 4,tr 258]
Theo Leech “phép lịch sự có chức năng như giữ gìn sự cân bằng xã hội và
quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta.” [Dẫn lại 4, tr 261]
Đối với lịch sử nghiên cứu phương Tây, P Brown và S Levison (B & L) là hai tác giả nổi tiếng nhất trong lĩnh vực lịch sự Hai ông đã đưa ra học thuyết về lịch
sự, đây được xem là học thuyết có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu về lịch sự nói riêng và giao tiếp nói chung Hai ông phân biệt hai loại thể diện xét theo khía cạnh có lợi cho người tham gia vào giao tiếp chứ không tập trung vào chuẩn
mực xã hội Hai thể diện đó là thể diện âm tính (Negative face) và thể diện dương
tính (Positive face) Thể diện âm tính ở đây được hiểu là “Sự mong muốn của mỗi thành viên lớn tuổi và có năng lực hiểu biết, về việc hành động của mình không bị người khác ép buộc…mong muốn được tự do hành động, trù tính” [12, tr.56] Thể
Trang 18diện dương tính được hiểu là “Sự mong muốn của mỗi thành viên về việc những
điều mà mình muốn cũng phải là điều mong mỏi ít ra là của một số người khác…”
[12, tr.56] Hay nói cách khác người có thể diện âm tính “mong muốn có độc lập,
muốn được tự do hành động với quyền bất khả xâm phạm ” Ngược lại người
mang thể diện dương tính “muốn được người khác thừa nhận, thậm chí quý mến,
muốn được cư xử như là một thành viên trong nhóm, muốn chắc chắn rằng mình được mọi người chia sẻ” Thông thường người mang thể diện âm tính sẽ cư xử theo
phép lịch sự âm tính, người mang thể diện dương tính sẽ cư xử theo phép lịch sự
dương tính
B & L nhấn mạnh rằng trong quá trình giao tiếp, người tham gia giao tiếp phải luôn luôn quan tâm đến hai mặt trên của thể diện để tránh thực hiện những hành động đe dọa thể diện Nguyên tắc cơ bản trong thuyết lịch sự của B & L là một số hành động tự thân có thể làm phương hại đến thể diện, và vì vậy, chúng ta phải có những điều chỉnh sao cho những điều đó không xảy ra Để đạt được mục đích này, mỗi cộng đồng tạo dựng riêng cho mình những quy ước, chuẩn mực riêng trong cách biểu thị lịch sự Và cũng từ đấy nảy sinh những nghệ thuật để đạt được lịch sự Bằng cách sử dụng nghệ thuật này chúng ta thành công trong giao tiếp cả về phương diện truyền đạt thông điệp cơ bản và cả về phương diện lịch sự
Theo thuyết lịch sự của B & L, tiếng Nhật là loại hình ngôn ngữ có biểu hiện
lịch sự âm tính Đối với cộng đồng xã hội Châu Á như Nhật Bản, lịch sự luôn gắn
liền với quy tắc xã hội, có nhiệm vụ giữ gìn hài hòa trong cộng đồng và phù hợp với cấu trúc của những xã hội coi trọng tính tôn ti trật tự này Hiểu một cách đơn giản là con người phải hành động theo các chuẩn tắc mà xã hội đã đặt ra Cụ thể Nhật Bản
có thể xem là một xã hội nghiêm ngặt về quy ước xã hội
Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam, tiêu biểu là Hoàng Anh Thi, cần có một
lý thuyết về lịch sự cho phù hợp với điều kiện văn hóa của các nước phương Đông,
cụ thể là Nhật Bản, tác giả đã tạm đưa ra khái niệm “lịch sự tương tác” [43, tr 30] đặt bên cạnh hai khái niệm “lịch sự âm tính” và “lịch sự dương tính” “Lịch sự
tương tác” được xem là hòa trộn cả “lịch sự âm tính” và “lịch sự dương tính” được
Trang 19Hoàng Anh Thi xem là lịch sự của xã hội phương Đông như Nhật Bản và “Lịch sự
tương tác” chính là tính lịch sự đặc trưng của ngôn ngữ tiếng Nhật
Ví dụ 1: khi đưa ra lời thỉnh cầu dưới dạng câu hỏi lịch sự trong tiếng Nhật
sẽ nói:
これをコピーしていただけませんか。
Kore wo kopiishite itadakemasen ka
Anh có thể copy cái này dùm được không ạ?
Trong ví dụ 1 người nói đã để ý đến thể diện âm tính của người nghe bằng cách giảm nhẹ tính áp đặt yêu cầu lên người nghe và vì thế được xem là lịch sự
Ví dụ 2: Khi được người đi trước (tiền bối) khen ngợi
A: あなたのことだから、大丈夫でしょう。
Anatanokoto dakara, daijoubudeshou
Cậu làm là ổn mà
B: ありがとうございます。先輩が認めてくれたからには、期待に忚えたいです。
Arigatogozaimasu Senpai ga mitonetekuretakarani wa, kitai ni kotaetaidesu
Em cám ơn anh Được anh công nhận, em sẽ làm theo kỳ vọng anh dành cho
em
Trong ví dụ 2, B chấp nhận lời khen của A được xem là chiến lược thỏa mãn thể diện dương tính của người khen (A), bởi việc chấp nhận một lời khen đồng nghĩa với việc người được khen (B) tán đồng với cách nhìn nhận của người khen (A)
Như vậy, ở hai ví dụ trên đã cho thấy trong cách nói của người Nhật thể hiện
cả hai thể diện âm tính và thể diện dương tính Hay nói cách khác tính lịch sự trong
tiếng Nhật đó chính là “lịch sự tương tác”
1.2 Kính ngữ Nhật Bản
Không giống như phần lớn các ngôn ngữ phương Tây nhưng giống nhiều ngôn ngữ phương Đông, tiếng Nhật có một hệ thống ngữ pháp để diễn tả sự tôn kính và sự trang trọng Do phần lớn các mối quan hệ trong xã hội Nhật Bản là
Trang 20không ngang hàng, nên một người nào đó thường có một địa vị cao hơn người kia Địa vị này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm: công việc, tuổi tác, kinh nghiệm hay thậm chí tình trạng tâm lý (ví dụ một người nhờ người khác giúp thì thường có xu hướng làm điều đó một cách lịch sự) Người có địa vị thấp hơn thường phải dùng kính ngữ còn người khác có thể dùng lối nói bình thường Người
lạ cũng phải hỏi người khác một cách lịch sự Trẻ con Nhật Bản hiếm khi sử dụng kính ngữ cho đến khi chúng đến tuổi thanh thiếu niên, tuổi mà chúng phải nói theo cách của người lớn Chính vì Nhật Bản là một xã hội coi trọng lễ nghi, địa vị vì thế kính ngữ là công cụ ngôn ngữ có thể biểu đạt lễ nghi, sự phân biệt đẳng cấp trong
xã hội một cách rõ ràng và mạnh mẽ nhất Kính ngữ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là kiến thức cơ bản không thể thiếu đối với mỗi người Nhật Kính ngữ cũng thể hiện trình độ học vấn, mức độ thanh lịch, lịch sự của người sử dụng Từ đó có thể thấy kính ngữ có vai trò không thể thiếu trong giao tiếp của người Nhật Vì vậy, kính ngữ đã được đưa vào giảng dạy ở ngay bậc tiểu học của Nhật Bản Chương trình giáo dục bắt buộc ở tiểu học và trung học có đưa vào nội dung giảng dạy quốc ngữ trong đó có kính ngữ để thanh thiếu niên có sự hiểu biết nhất định về kính ngữ Trong tiếng Việt cũng sử dụng kính ngữ Tuy nhiên kính ngữ trong tiếng Việt có vai trò không quá quan trọng như trong tiếng Nhật và cũng không được quy định thành một phạm trù riêng Đó chỉ là cách nói lịch sự lễ phép trong giao tiếp
1.2.1 Khái niệm kính ngữ
Theo định nghĩa kính ngữ trong sách ngữ pháp giải nghĩa bằng tiếng Anh:
“Kính ngữ là những biểu hiện được dùng để chỉ sự kính trọng đối với người nghe hay người được nói tới Người nói dùng kính ngữ đối với người mà theo quan hệ xã hội thì mình phải biểu thị sự kính trọng.” [73, tr 146]
Định nghĩa trên được lý giải dễ hiểu, tuy nhiên trong giao tiếp thì ngôn ngữ
là phương tiện biểu hiện Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và viết, để khu biệt với ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ xúc cảm Đối tượng là người nói vẫn có thể biểu hiện thái độ tôn kính khi cúi đầu, im lặng trước cấp trên của mình (người nghe) trong khi đối thoại; hoặc người nói có thể dùng ngôn ngữ biểu cảm từ ánh mắt, tay khi bày
Trang 21tỏ thái độ tôn kính hay khiêm nhường Các biểu hiện ngôn ngữ xúc cảm hay ngôn ngữ cơ thể không được xét vào phần kính ngữ Như vậy, cần bổ sung thêm: phương tiện biểu hiện của kính ngữ là ngôn ngữ (nói và viết); ngoài người nghe, người được nói tới còn có người đọc; ngoài người nói còn có người viết
Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Nhật, nhà xuất bản Kodansha, năm
1989: “Kính ngữ là: (1) Từ hoặc cách nói thể hiện sự tôn kính đối với người nghe
hoặc nhân vật trong chuyện (2) Từ hoặc cách nói biểu lộ tình cảm tôn kính, khiêm tốn, lễ phép đối với người nghe Còn gọi là tôn kính hoặc phép kính ngữ.”[Dẫn theo
35, tr 44]
Định nghĩa theo cách này đã đưa ra nhiều cách giải thích cho thuật ngữ “kính
ngữ”, tuy nhiên chưa thật chính xác trong câu “còn gọi là tôn kính hoặc phép kính
ngữ” vì kính ngữ không phải là tôn kính mà kính ngữ là công cụ biểu hiện sự tôn
kính
Theo sách ngữ pháp (phần kính ngữ) của Hirabayashi Yoshisuke và Hama
Yumiko năm 1988: “Kính ngữ là hình thức biểu hiện làm rõ mối quan hệ con người
với nhau thông qua cách sử dụng từ tùy theo mối quan hệ giữa người nói với người nghe, hoặc giữa người nói với nhân vật trong câu chuyện.”[Dẫn theo 35, tr.44]
Định nghĩa này đã chỉ ra kính ngữ chính là hình thức biểu hiện nhưng chưa
giải thích sự tôn kính, khiêm nhường được biểu hiện trong kính ngữ
Như vậy, qua các định nghĩa được nêu trên, có thể định nghĩa kính ngữ một
cách bao quát nhất: Kính ngữ trong tiếng Nhật là hình thức diễn đạt ngôn từ được
người Nhật dùng khi giao tiếp, là những biểu hiện sự kính trọng của chủ thể giao tiếp (người nói, người viết) với đối tượng giao tiếp (người nghe, người đọc) Trong
đó chủ thể giao tiếp là cấp dưới hoặc có địa vị xã hội thấp hơn hoặc khi chủ thể giao tiếp không có quan hệ thân lắm với đối tượng giao tiếp Kính ngữ được sử dụng tùy vào đối tượng, lời nói nói hay hành động của từng cá nhân cụ thể, thay đổi theo mối quan hệ trong - ngoài giữa chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp
Trang 22và vai trò, giữa tuổi tác và kinh nghiệm Đồng thời kính ngữ là một biểu hiện ngôn ngữ để diễn tả cảm xúc của con người về tình trạng, vị trí lúc sử dụng bằng cách sử dụng từ ngữ
Thứ hai, khi sử dụng kính ngữ dù đối tượng sử dụng có muốn hay không thì bản thân kính ngữ đã biểu hiện mối quan hệ giữa con người với nhau Ngược lại, nếu không sử dụng kính ngữ sẽ biểu hiện mối quan hệ khác so với khi sử dụng kính ngữ Vì vậy cần lưu ý sử dụng kính ngữ như thế nào trong mối quan hệ cụ thể
Thứ ba, kính ngữ chính là cơ sở của sự tôn trọng lẫn nhau Từ ngữ thay đổi cùng với thời gian, kính ngữ cũng sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi của xã hội và mối quan hệ giữa con người, của việc sử dụng ngôn từ trong từng hoàn cảnh cụ thể Trong xã hội hiện tại mọi người thừa nhận tính cách của nhau một cách bình đẳng, kính ngữ không cố định cũng không có tính tuyệt đối, phản ánh sự tôn trọng lẫn nhau trong mối quan hệ giữa con người với con người
Kính ngữ được sử dụng trong giao tiếp tùy vào đối tượng; lời nói hay hành động của từng cá nhân cụ thể; thay đổi theo mối quan hệ giữa người nói và người nghe cũng như tùy thuộc vào tình trạng quan hệ giữa người nói, người nghe và người thứ ba được nói đến Vì vậy việc dùng kính ngữ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Trang 23部長はどちらにいますか。
Buchou wa dochira ni imasu ka
Ví dụ 2: Khi sử dụng kính ngữ
部長はどちらにいらっしゃいますか。
Buchou wa dochira ni irasshaimasu ka
Cả hai câu đều mang nghĩa “Trưởng bộ phận ở đâu vậy?” trong câu nói
thông thường ở ví dụ 1 động từ “imasu ở” được đổi thành động từ “irasshaimasu
-ở” trong câu nói kính ngữ ở ví dụ 2 Chỉ cần nghe động từ sẽ hiểu mối quan hệ giữa
người nói là cấp dưới khi hỏi về người thứ ba, đó là cấp trên (trưởng bộ phận) của
anh ta và thông qua động từ thể hiện sự kính trọng của người nói đối với người được nhắc đến
❖ Mức độ thân mật trong mối quan hệ xã hội
Kính ngữ dùng để biểu thị tính lịch sự trong giao tiếp, khi người nói không
có quan hệ thân thiết với người nghe
Ví dụ 3: Trong cách nói thông thường
部屋の番号は係り者に確かめてください。
Heya no bangou wa kakari no mono ni tashikamete kudasai
Hãy xác nhận số phòng với người quản lý
Ví dụ 4: Khi sử dụng kính ngữ câu nói sẽ trở thành
部屋の番号は係り者にお確かめください。
Heya nobangou wa kakari no mono ni o tashikame kudasai
Xin hãy xác nhận số phòng với người quản lý
Trong hai câu ví dụ 3,4 ở trên, động từ “tashikameru - xác nhận” nếu trong
câu mệnh lệnh thông thường được chia theo thể “…- kudasai” (tashikamete - kudasai) thì trong câu thể hiện có tính lịch sự sẽ được chia “o… – kudasai” (o tashikame kudasai)
❖ Mối quan hệ trong - ngoài
Trang 24Mối quan hệ uchi - soto (trong - ngoài) cũng là yếu tố cần suy tính tới khi dùng kính ngữ Nhóm thuộc về người nói chẳng hạn như gia đình hay công ty của anh/cô ta …được xem là uchi (trong), và những nhóm khác được xem là soto (bên ngoài) Khi người nói nói về uchi no hito (người bên trong) với soto no hito (người bên ngoài) thì người bên trong này có vị trí tương đương với người nói Vì vậy, cho
dù nếu người bên trong là cấp trên hay người có địa vị cao hơn, người nói không thể dùng kính ngữ theo cách bày tỏ sự kính trọng đối với ngưới bên trong
Hai, orimasu / Vâng, có ạ
Ví dụ 5, động từ ở thể thông thường います(imasu - có) chuyển thành động
từ tôn kính ngữ đâc biệt いらっしゃいます(irasshaimasu - có) (5a) và khiêm nhường dạng đặc biệt おります(orimasu - có) (5b) đã chỉ ra mối quan hệ giữa
người hỏi và người được hỏi không cùng công ty (người hỏi dùng tôn kính ngữ khi nói đến người được hỏi) Đồng thời mối quan hệ giữa người trả lời và người được hỏi đó là người cùng công ty (người trả lời sử dụng khiêm nhường ngữ khi nói về người cùng công ty)
1.2.3 Quá trình hình thành kính ngữ
Theo nghiên cứu của các nhà chuyên môn về lịch sử của kính ngữ trong cuốn
Keigo shiron (1971), theo đó kính ngữ thời cổ đại là “Kính ngữ dựa vào ý thức về
sự đối lập giữa công và tư, còn kính ngữ ngày nay không đối lập giữa công và tư thay vào đó là tính tương hỗ, phụ thuộc vào bối cảnh.”[55, tr 89] Nói một cách cụ
thể là kính ngữ ngày nay dễ thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh trong mối quan hệ giữa người nói và người nghe, hầu như không phân chia việc sử dụng kính ngữ giữa những người tham gia trong câu chuyện, đặc biệt là ngôi thứ ba trong câu chuyện Theo Miyaji đó là do kính ngữ thời cổ đại có tính quy phạm được ý thức một cách
Trang 25mạnh mẽ về một xã hội có giai cấp, đó là chế độ quý tộc và đẳng cấp sĩ, nông, công, thương Vì vậy, họ luôn ý thức về mối quan hệ với ngôi thứ ba được nhắc đến trong câu chuyện và luôn luôn sử dụng kính ngữ đối với người chủ và gia đình
“Sự khác biệt trong ngôn ngữ của nam giới và phụ nữ bắt đầu được nhận thấy vào khoảng thế kỷ 14 - 15.” [27, tr 2] Những phụ nữ thuộc tầng lớp xã hội cao
tự tạo cho mình một cách nói lịch sự, lễ phép với những đặc trưng ngôn ngữ riêng
để phân biệt với ngôn ngữ của nam giới và những phụ nữ dân dã, thuộc tầng lớp xã hội thấp, qua đó để tự khẳng định địa vị xã hội của mình Sau đó dần dần thứ “biệt ngữ” hay còn gọi là “kính ngữ” lan truyền rộng ra ngoài tới các tầng lớp dưới như gia đình các võ sĩ, thương nhân và tới cả các gia đình thường dân
Thời kì Edo hệ thống đẳng cấp sĩ, nông, công, thương thể hiện rất rõ Đứng đầu là võ sĩ, đến nông dân, tiếp theo là người làm công và vị trí thấp nhất là thương nhân Những người buôn bán thuộc hai đẳng cấp cuối “công thương” Tuy nhiên, nếu một người bán hàng (thương nhân) gặp một người thợ mộc (người làm công) trên đường thì cũng không sử dụng cách nói khiêm nhường trong kính ngữ khi nói chuyện Mặc dù có sự phân biệt sĩ, nông, công, thương nhưng vấn đề ở đây thời mạc phủ Tokugawa chỉ có tầng lớp võ sĩ là cao nhất Chính vì thế đẳng cấp võ sĩ luôn tỏ ra hống hách, ba đẳng cấp còn lại phải cúi chào và bày tỏ sự tôn kính khi đi ngang qua người thuộc tầng lớp võ sĩ Khi nói chuyện với võ sĩ phải dùng tôn kính ngữ và dùng khiêm nhường ngữ để nói về bản thân mình Nếu không làm như thế thì bị xem là vô lễ Khi không có tầng lớp võ sĩ thì người nông dân và người buôn bán chỉ cần dùng từ lịch sự để giao tiếp với nhau
Kính ngữ được sử dụng đối với “người trên”, trong tiếng Nhật là 目上
(Meue) Tuy nhiên, “người trên” ở đây có một ý nghĩa của nó Từ xưa, trong xã hội
có đẳng cấp điều tất yếu người tài giỏi ở vị trí cao, người không tài giỏi ở vị trí thấp Kính ngữ có nguồn gốc từ việc phân chia cấp bậc trong xã hội dẫn đến việc sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ Từ lịch sự không liên quan đến việc phân chia cấp bậc Tuy nhiên, đã được định hình trong suy nghĩ của người Nhật Cấp bậc bắt
đầu vào năm 603, khi thái tử Shotoku quyết định chế độ “Hệ thống mười hai cấp
Trang 26bậc” [79] Thái tử Shotoku chia những người làm việc trong triều đình thành mười
hai cấp bậc, mỗi người đều có một cấp bậc của mình “Hệ thống mười hai cấp bậc”
bắt đầu là sự khác nhau về màu sắc của mũ Cứ mỗi cấp bậc sẽ có màu mũ khác nhau, khi nhìn vào sẽ phân biệt được mức độ tài giỏi của người đó Sang thời kì Heian cấp bậc được chia theo số như vị trí thứ nhất, thứ hai, thứ ba…không còn dựa vào màu sắc của mũ nữa mà thống nhất tất cả đều màu đen Cấp bậc được chia theo
số gọi là chức quan, trong tiếng Nhật là 官位kani, là vị trí do vua ban Tóm lại,
việc phân chia cấp bậc chỉ trong triều đình hay nói cách khác là nhà nước quy định
Chỉ những người làm việc trong triều mới có một cấp bậc, còn những người dân khác thì không có liên quan Ban đầu xã hội chia thành hai loại đó là những người có cấp bậc và những người nằm ngoài hệ thống cấp bậc đó Những người có cấp bậc là những người có địa vị xã hội, đây là những người tài giỏi Những người nằm ngoài hệ thống cấp bậc đó là những người không có địa vị xã hội tóm lại là những người không tài giỏi
Mặc dù xã hội chia thành bốn đẳng cấp sĩ, nông, công thương nhưng chỉ có tầng lớp võ sĩ là những người đặc biệt vì thế “sĩ” là tầng lớp có địa vị xã hội, còn nông, công, thương là những người không có địa vị xã hội Người không có địa vị
xã hội phải sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ với người có địa vị xã hội
Khi sử dụng cũng phải dựa vào cấp bậc của người đó trong “hệ thống mười hai cấp
bậc” để sử dụng cho đúng Trong thế giới của những người tài giỏi có địa vị xã hội,
những người này phải sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ ứng với cấp bậc
mà mình thuộc về Nếu một người có cấp bậc thứ năm đến nhà của người có cấp bậc cao nhất thì khi đó không được sử dụng động từ 行く(iku - đi) mà phải sử
dụng khiêm nhường ngữ 参る(mairu - đi), từ参る(mairu - đi) trong trường hợp này
cũng giống từ参るmairu trong câu 神社やお寺にお参りする (jinja ya otera ni
omairi suru / Viếng thăm đền thần đạo và chùa) Tại đền Thần đạo và chùa nếu
không dùng lời lẽ trang nghiêm thì sẽ bị Thần, Phật trừng phạt và việc sử dụng từ
参るmairu với những người có cấp bậc cũng như vậy, nếu không sử dụng khiêm
Trang 27nhường ngữ参るmairu để bày tỏ sự tôn kính thì cũng sẽ bị phạt Người xưa với
suy nghĩ đó đã sử dụng khiêm nhường ngữ và kính ngữ
Việc sử dụng kính ngữ trong lịch sử của Nhật Bản, chủ yếu để bày tỏ sự tôn kính đối với Thiên Hoàng Trong thời Minh Trị Duy Tân, cuối thế kỷ 19, Thiên
hoàng đã được thiết lập tại một “trạng thái tuyệt đối và thiêng liêng” [77, tr 108]
Ông là người duy nhất có thể nhận được hình thức cao nhất của kính ngữ Sau chiến tranh thế giới thứ II, kính ngữ có những biến đổi lớn Sự thay đổi sau khi chiến tranh dẫn đến việc sự dụng kính ngữ đối với Thiên hoàng cũng giảm đi Thiên Hoàng tồn tại như một biểu tượng chứ không phải là một vị thần, kính ngữ cũng không còn bị bắt buộc sử dụng
Có thể thấy kính ngữ ban đầu vốn được hình thành nhằm biểu thị tính lịch sự khi giao tiếp, dần dần trở thành cách nói bày tỏ sự tôn kính với người trên để phân biệt thứ bậc trong xã hội Mặc dù có nhiều biến đối sau chiến tranh nhưng ngày nay kính ngữ vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng trên tất cả mọi khía cạnh giao tiếp trong đời sống của người Nhật
Kính ngữ trong tiếng Nhật ngày nay được sự dụng rộng rãi ngoài xã hội như dùng trong công ty, nhà ga, nhà hàng, siêu thị, trong những văn bản v v… Tóm lại kính ngữ được sử dụng hầu hết trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt, đó là một phương tiện ngôn ngữ được sử dụng phổ biến và không thể thiếu trong giao tiếp kinh doanh
sở hữu của người đọc, người nghe hay của ngôi thứ ba mà người nói kính trọng và
đề cập tới trong đoạn văn, đoạn hội thoại.” [68, tr 14]
Trang 28Tôn kính ngữ sử dụng để diễn đạt khi chủ ngữ trong câu là đối tượng (ngôi thứ 2 hoặc thứ 3) mà người nói muốn đề cao và thể hiện sự tôn kính, kính trọng Đối tượng được tôn kính hay kính trọng thông thường là cấp trên, người lớn tuổi hơn hay những người “bên ngoài” không thuộc nhóm của người nói (chẳng hạn như dùng khi giao tiếp với người của công ty đối tác)
1.3.1.2 Hình thức biểu hiện
Phần lớn các danh từ, động từ và tính từ trong tiếng Nhật có thể trở thành tôn kính ngữ bằng cách thêm お (O) hoặc ご (Go) làm tiền tố Tóm lại, trong cách diễn đạt tôn kính ngữ danh từ, động từ và tính từ được thể hiện như sau:
❖ Đối với danh từ: [お (ご) + danh từ] [O (Go) + danh từ]
待つ (matsu - chờ) お待ちになる (Omachi ni naru - chờ)
説明 (setsumei - giải thích) ご説明になる (Gosetsumei ni naru - giải
thích)
b [お (ご)……なさる] [O (Go)……nasaru]
Ví dụ:
呼ぶ (yobu - gọi) お呼びなさる (Oyobi nasaru - gọi)
帰る (kaeru - trở về) お帰りなさる (Okaeri ni nasaru - trở về)
研 究 す る (kenkyu suru – nghiên cứu) ご 研 究 な さ る (Gokenkyuu nasaru - nghiên cứu)
Trang 29c [お (ご)……くださる] [O (Go)……kudasaru]
Ví dụ:
知 ら せ る (Shiraseru - thông báo) お 知 ら せ く だ さ る (Oshirse kudasaru - thông báo)
報告する (Houkokusuru - báo cáo) ご報告くださる。(Gohoukoku
kudasaru - báo cáo)
d [お (ご)……です] [O (Go)……desu]
Ví dụ:
待つ (matsu - chờ) お待ちです (Omachi desu - chờ)
発表する (happyou suru - phát biểu ) ご発表です (Gohappyou desu -
出かける (kakeru - ra ngoài) 出かけられる (kakerareru - ra ngoài)
f Một số trường hợp khác: Tuy nhiên, đối với các động từ bất quy tắc,
từng động từ hoặc nhóm động từ đều có biến thể riêng, không biến đổi phụ tố mà chuyển hẳn thành từ hoặc một tổ hợp từ khác
Ví dụ:
行く(imasu - đi) いらっしゃる ( irassharu - đi)
食べる (tabemasu - ăn) 召し上がる (meishiagaru - ăn)
Trang 30Trường hợp này, việc thêm O trước tính từ 忙しい (isogashii / bận rộn) đã
trở thành cách nói tôn kính ngữ, đề cao trạng thái “bận rộn” của thầy
❖ Tôn kính ngữ đề cao hành động (hành vi) của người được nhắc đến
Ví dụ 2: 社長は来週海外へいらっしゃるんですね。
Shachou wa raishuu kagai he irassharun desu ne
Tuần sau giám đốc đi nước ngoài
Ví dụ 3: 社長は来週海外へ行くんですね。
Shachou wa raishuu kaigai he ikun desu ne
Tuần sau giám đốc đi nước ngoài
Ví dụ 2 và 3 cùng nội dung nhưng bằng việc thay động từ 行く(iku - đi) là
động từ ở thể thông thường bằng いらっしゃる(irassharu - đi) động từ dạng tôn
kính ngữ đặc biệt đã trở thành cách nói đề cao cấp trên, trong ví dụ trên cấp trên là
Trang 31“giám đốc” Như vậy (irassharu - đi) với tư cách là tôn kính ngữ đã được sử dụng
để đề cao hành động “đi” của giám đốc
❖ Tôn kính ngữ liên quan đến sự vật thuộc sở hữu của người được nhắc
tới
Ví dụ 4: “Tên của Thầy”
Cách nói thông thường : 先生の名前 (Sensei no namae)
Cách nói tôn kính: 先生のお名前 (Sensei no onamae)
Trường hợp này, thêm O vào trước 名前 (namae - tên) đã trở thành tôn kính ngữ, đề cao “tên” của thầy (thuộc sở hữu của thầy) theo hình thức: O + Danh từ:
O + namae お名前 (Onamae - tên)
Tôn kính ngữ được sử dụng như một động cơ mang tính tâm lý, sử dụng để bày tỏ sự kính trọng, sự tôn trọng trong ngữ cảnh cần thiết hoặc dùng để tạo một khoảng cách nhất định giữa người nói và người được nói đến Khi sử dụng tôn kính ngữ, thông qua từ ngữ đã trở thành cách nói đề cao vị trí của người được nói đến
Đó chính là biểu hiện đặc trưng của tôn kính ngữ
1.3.2 Khiêm nhường ngữ
1.3.2.1 Ý nghĩa
Khiêm nhường ngữ (謙譲語 Kenjougo) là cách nói hạ mình (khiêm nhường)
mà người nói dùng để nói về hành vi của bản thân, qua đó thể hiện sự kính trọng của mình đối với người nghe hoặc người được nói đến [73, tr.152]
1.3.2.2 Hình thức biểu hiện
Nếu như tôn kính ngữ là cách nói đề cao người khác thì khiêm nhường ngữ
là cách nói hạ mình để bày tỏ sự kính ý Đối với động từ khiêm nhường có những cách diễn đạt như sau:
a [お(ご)……する] [O (Go)……suru]
Ví dụ:
待つ (matsu - chờ) お待ちする (Omachisuru - chờ)
Trang 32教える (oshieru - dạy) お教えいただく (Ooshieitadaku - dạy)
説明 (setsumei - giải thích) ご説明いただく (Gosetsumeiitadaku –
Ví dụ:
行く(iku - đi) 伺う (ukagau - đi)
見る(miru - đi) 拝見する(haikensuru - xem)
Trang 33Shachou no tokoro wo tazune tain desu
Tôi muốn đến thăm hỏi giám đốc
Cách nói dùng khiêm nhường ngữ
社長のところに伺いたいんです。(b)
Shachou no tokoro ni ukagai tain desu
Tôi muốn đến thăm hỏi giám đốc
Thay động từ 訪ねる(tazuneru - thăm hỏi) (Ví dụ 1a) là động từ ở thể thông thường bằng 伺う(utagau - thăm hỏi) (Ví dụ 1b) là động từ ở dạng khiêm nhường ngữ đã trở thành cách nói đề cao giám đốc bằng cách nói khiêm nhường về hành động của chủ thể (trường hợp này là “tôi”)
❖ Khiêm nhường bản thân người nói
Trang 34Đối tượng thể hiện sự kính trọng là người trên hoặc người ngoài nhóm của mình (soto no hito) Người nói sử dụng khiêm nhường ngữ trực tiếp khi nói về mình hoặc những người thuộc nhóm của mình (uchi no hito) Ngoài ra, người nói cũng dùng khiêm nhường ngữ khi nói với người bên ngoài nhóm về người bên trong nhóm
Ví dụ 4:
息子が社長のところに伺います。
Musuko ga shachou no tokoro ni ukagaimasu
Con trai tôi đến thăm giám đốc
“Con trai” trong trường hợp này là người thuộc nhóm của người nói nên sử
dụng khiêm nhường ngữ 伺う (ukagau/ thăm)
❖ Trường hợp hành vi của người nói không liên quan đến người nghe, có
các động từ khiêm nhường thướng gặp: 参るmairu,申す mousu
Ví dụ 5:
明日から海外へ行きます。(a)
Ngày mai tôi đi nước ngoài
Ashita kaigai he ikimasu
明日から海外へ参ります。(b)
Ashita kara kaigai he mairimasu
Ngày mai tôi đi nước ngoài
Hai câu trên có cùng một nội dung là “Ngày mai tôi đi nước ngoài”; bằng
cách thay động từ 行く(iku - đi) (5a) là động từ ở thể thông thường bằng 参る (mairu - đi) (5b) là động từ khiêm nhường ngữ khi nói về hành động của người nói,
để thể hiện sự tôn trọng đối với người nghe
Khiêm nhường ngữ được sử dụng như một động cơ mang tính tâm lý, sử dụng để bày tỏ sự kính trọng, sự tôn trọng trong ngữ cảnh cần thiết hoặc dùng để tạo một khoảng cách nhất định giữa người nói và người được nói đến; bên cạnh đó
là thái độ khiêm nhường khi nói về bản thân mình (hoặc những người cùng nhóm
Trang 35với mình) Khi sử dụng tôn kính, thông qua từ ngữ đã trở thành cách nói đề cao vị trí của người nghe, đồng thời khiêm tốn khi nói về mình Đó chính là biểu hiện đặc trưng của tôn kính ngữ
1.3.3 Từ lịch sự
1.3.3.1 Ý nghĩa
Từ lịch sự (丁寧語Teineigo) là cách nói lịch sự mà người nói dùng để biểu thị sự kính trọng của mình đối với người đọc, người nghe hay là những từ ngữ được người viết, người nói sử dụng nhằm biểu lộ sự lễ phép cơ bản đối với người đọc, người nghe [73, tr 153]
Cách diễn đạt bằng từ lịch sự là cách diễn đạt biểu đạt sự lịch sự tối thiểu khi giao tiếp, không đến mức quá thân mật như khi dùng cách nói thông tục, không quá
đề cao người đối thoại đến mức gây cảm giác khách sáo như cách nói tôn kính, cũng không tự khiêm tốn đến mức khiến người đối thoại cảm thấy e ngại như khi dùng cách nói khiêm nhường Cách nói này có thể dùng cho cả người trong nhóm
và người ngoài nhóm Trong lớp học, công ty được sử dụng khi tiếp xúc với thầy
Kochira wa okyaku no seki degozaimasu
Đây là chỗ ngồi của quý khách
Trang 36❖ Đối với động từ [……ます / ますた]
Ví dụ:
これから、出かけ ます。 (Korekara dekakemasu./ Bây giờ tôi đi ra ngoài.)
昨日どこへ行きましたか。(Kinou, doko he ikimashitaka./ Hôm qua anh
đã đi đâu vậy ?)
So với cách diễn đạt khác, từ lịch sự được khuyến khích sử dụng cho học sinh, sinh viên trong trường học Tuy nhiên, cách diễn đạt này đôi khi không được tuân thủ chặt chẽ trong quá trình giao tiếp do bị chen ngang bởi cách nói thông tục
Như vậy, cách nói lịch sự trong tiếng Nhật được biểu hiện bằng động từ dạng
ます(masu) khi động từ ở hiện tại, ました (mashita) khi động từ ở quá khứ Các hệ
từ です(desu) khi danh từ, tính từ ở hiện tại, でした (deshita) khi danh từ, tính từ ở quá khứ hoặc でございます(degozaimasu)
Ano kata wa shachou degozaimasu
Ví dụ 1 và 2 có cùng nghĩa “Vị kia là giám đốc”, việc thay hình thức biểu hiện danh từ + だ (da): 社長 (shachou) + だ (da) 社長だ (shachou da) bằng danh từ +でございます: 社長(shachou)+でございます(degozaimasu) 社長 でございます (Shachou degozaimasu), câu trở nên lịch sự vì thể hiện sự kính
trọng của mình khi nói về “giám đốc”
❖ Biểu lộ sự lễ phép cơ bản đối với người đọc, người nghe
Ví dụ 3: Cách nói thông thường
Trang 37会議室はこのビルの6階にある。
Kaigishitsu wa kono biru no rokkai ni aru
Ví dụ 4: Cách nói dùng từ lịch sự
会議室はこのビルの6階にございます。
Kaigishitsu wa kono biru no rokkai ni gozaimasu
Ví dụ 3 và 4 có cùng nghĩa “Phòng họp ở tầng 6 của tòa nhà”, việc thay đổi hình thức của động từ ở thể thông thường ある(aru - ở) thành động từ lịch sự ござ います (gozaimasu - ở) thể hiện lịch sự cơ bản của người nói với người nghe
1.4 Một số quy tắc cơ bản trong sử dụng kính ngữ
Từ ba loại kính ngữ như trên có thể rút ra được các quy tắc cơ bản khi sử dụng kính ngữ được biểu hiện qua cách sử dụng từ vựng, phụ tố (tiền tố, hậu tố) và đặc biệt là động từ
1.4.1 Từ vựng
Trước hết về số lượng và hệ thống từ vựng, có nhiều người cho rằng trong tiếng Nhật từ vựng có ít Thế nhưng nếu phân tích kỹ thì hiện nay tiếng Nhật ngoài
các từ yamato (tiếng Nhật gốc), người Nhật còn sử dụng rất nhiều từ được du nhập
từ ngoài vào như tiếng Hán từ Trung Quốc và từ ngoại lai (gốc tiếng Anh) Ví dụ:
cũng là từ “nhà” âm thuần Nhật đọc là uchi (家), âm Hán - Nhật đọc là katei (家庭)
và âm Anh - Nhật đọc là homu (ホーム); hay từ “tin tức” âm Nhật đọc là shirase (知らせ), âm Hán - Nhật đọc là houdou (報道) và âm Anh - Nhật đọc là nyuusu (ニュース) và nếu tính tất cả những từ đó đều là tiếng Nhật thì số từ vựng trong tiếng
Nhật rất nhiều Về cấu tạo từ của tiếng Nhật, như đã nói tiếng Nhật có rất nhiều từ Trong cuốn “Đại từ điển” của nhà xuất bản Heibonsha, một cuốn từ điển được cho
là lớn nhất, trong đó có khoảng 720.000 từ [15, tr.38], ví dụ từ xe, âm Hán - Nhật đọc là sha (車), từ này nếu ghép với từ khác sẽ có hatssha (発車) nghĩa là “xe khởi
hành”; joushya (乗車) là “lên xe”; teishya (停車) là “dừng xe”; kuushya (空車) là
“xe không” từ những ví dụ trên cho thấy không chỉ riêng với các từ âm Hán - Nhật
Trang 38mà ngay cả từ gốc Nhật cũng thấy rằng ngôn ngữ Nhật Bản là loại ngôn ngữ có khả năng tạo rất nhiều từ
Ngoài ra, trong tiếng Nhật, có một số từ vốn dĩ đã là từ thuộc dạng kính ngữ Những từ này có những nét khác biệt rất rõ so với các từ thông thường khác Các từ này không chỉ thuộc từ loại danh từ, mà cả phó từ, động từ
Ví dụ:
食べる(taberu - ăn) 召し上がる(meshiagaru - ăn) (tôn kính ngữ)
行く(iku - đi) いらっしゃる (irassharu - đi) (tôn kính ngữ)
知る (shiru - biết) ご存知になる (go zonjininaru - biết) (tôn kính ngữ) 食べる(taberu - ăn) (itadaku - ăn) (khiêm nhường ngữ)
行く(iku, đi) 参る (mairu - đi) (khiêm nhường ngữ)
知る(shiru - biết) 存じる (zonjiru - biết) (khiêm nhường ngữ)
1.4.2 Phụ tố
Phương thức thêm phụ tố thường áp dụng cho các danh từ và tính từ Đa số đều ở thể biến đổi sang sắc thái kính trọng bằng cách thêm
1.4.2.1 Tiền tố
Tiền tố お(O) hay ご(Go) đã trở thành một phần cố định của từ và được
dùng kể cả trong lối nói thông thường Cách tạo từ như thế thường chỉ phụ thuộc
Trang 39vào chủ của đồ vật hoặc chính chủ ngữ Tuy nhiên, sự kết hợp của hai tiền tố お(O)
hay ご(Go) đều không giống nhau nên được chia thành hai trường hợp như sau:
❖ Tiền tố お(O) thường được kết hợp với các từ gốc Nhật
Ví dụ:
水 (mizu - nước) お水 (Omizu - nước)
見積もり(mitsumori - báo giá) お見積り (Omitsumori - báo giá)
願い (negai - lời cầu xin) お願い (Onegai - lời cầu xin)
考え (kangae - sự suy nghĩ) お考え (Okangae - sự suy nghĩ)
- Gắn vào trước hành động của người nói liên quan đến đối tượng và đồ vật trở thành khiêm nhường ngữ
Ví dụ:
話 (hanashi - nói) お話 (Ohanashi - nói)
知らせ(Shirase - thông báo) お知らせ (Oshirase - thông báo)
- Gắn vào trước những vật có giá trị, nói một cách lịch sự trở thành từ lịch sự
Ví dụ:
いくら(ikura - bao nhiêu) おいくら (Oikura - bao nhiêu)
花 (hana - hoa) お花 (Ohana - hoa)
Tuy nhiên, vẫn có một số từ ngoại lệ, tiền tố お(O) kết hợp với từ gốc Hán
Ví dụ:
仕事 (shigoto - công việc) お仕事 (Oshigoto - công việc)
勉強 (benkyou - học) お勉強 (Obenkyou - học)
Trang 40洗濯 (sentaku - giặt giũ) お洗濯 (Osentaku - giặt giũ)
散歩 (sanpo - đi dạo) お散歩 (Osanpo - đi dạo)
Trong một số trường hợp, tiền tố お(O) đã trở thành một phần cố định của từ
và được dùng kể cả trong lối nói thông thường như: お酒 (Osake - rượu); お茶 (Ocha, trà); お金 (Okane - tiền); お土産 (Omiyage - quà)
❖ Tiền tố ご (Go) thường được kết hợp với các từ gốc Hán
Ví dụ:
意見 (iken - ý kiến) ご意見 (Goiken - ý kiến)
親切 (shinsetsu - thân thiết) ご親切 (Goshinsetsu - thân thiết)
連絡 (renraku - liên lạc) ご連絡 (Gorenraku - liên lạc)
検討 (kento - xem xét) ご検討 (Gokentou - xem xét)
Một số từ ngoại lệ, tiền tố ご (Go) kết hợp với từ gốc Nhật như: ごゆっくり (Goyukkuri, thong thả) Cũng giống như tiền tố お (O), tiền tố ご(Go) cũng trở thành một phần cố định trong cách nói thông thương như ご飯 (Gohan, cơm)
Bảng 1.1: Một số danh từ không thêm tiền tốお (O) ご (Go)
Nguồn: 38, tr 85
Thời gian 朝 (asa, buổi sáng), 夜 (yoru, buổi tối), 夜分(yabun, khuya)
1.4.2.2 Hậu tố
❖ San (さん) là kính ngữ phổ biến nhất, thường được sử dụng bình đẳng ở
mọi lứa tuổi Mặc dù tương tự những đại từ nhân xưng lịch sự như “Ông”, “Bà”,
“Cô”, “Anh”, “Chị”, san (さん) gần như có thể được ghép với tất cả các tên gọi,
trong hoàn cảnh trang trọng lẫn thông tục
Ví dụ: 川村さん (Kawamura san - anh Kawamura)