1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết kim dung ở việt nam

145 16 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Tiếp Nhận Tiểu Thuyết Kim Dung Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ly
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Lê Hoa Tranh
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 3,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, tiếp nhận bạn đọc đối với tiểu thuyết kiếp hiệp Kim Dung thời kỳ này còn nhiều hạn chế do những quan điểm cực đoan của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu nên không thấy được tầ

Trang 1

NGUYỄN THỊ BÍCH LY

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT

KIM DUNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN LÊ HOA TRANH

Thành phố Hồ Chí Minh 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người cam đoan 

      Nguyễn Thị Bích Ly

Trang 3

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Trần Lê Hoa Tranh, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô phụ trách chương trình cao học đã tận tình hướng dẫn những kiến thức nền cho chúng tôi trong hai năm học vừa qua Xin được cảm ơn chị Nguyễn Thị Mỹ Diễm – giáo vụ khoa Văn học & Ngôn ngữ đã tạo những điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học…

Cảm ơn gia đình đã không ngừng khích lệ Cảm ơn bạn Nguyễn Thị Liên đã giúp tôi tìm thông tin tư liệu hoàn thành luận văn này

Nguyễn Thị Bích Ly

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người cam đoan

Nguyễn Thị Bích Ly

 

Trang 5

MỞ ĐẦU 3 

1 Lý do chọn đề tài 3 

2 Lịch sử vấn đề 4 

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 9 

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10 

4.1 Đối tượng nghiên cứu   10 

4.2 Phạm vi nghiên cứu   10 

5 Phương pháp nghiên cứu 10 

6 Cấu trúc của luận văn 12 

NỘI DUNG 13 

Chương 1: TIỂU THUYẾT KIM DUNG VÀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC 13 

1.1 Tiểu thuyết Kim Dung   13 

1.1.1  Tiểu sử và quá trình sáng tác của Kim Dung   13 

1.1.2 Tiểu thuyết Kim Dung tại Việt Nam   18 

1.2 Lý thuyết tiếp nhận   25 

1.2.1 Lịch sử của lý thuyết tiếp nhận   25 

1.2.2 Lý thuyết tiếp nhận tại Việt Nam   29 

Chương 2: 35 

QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT KIM DUNG TẠI VIỆT NAM35  2.1 Tiếp nhận ở miền Nam trước 1975   35 

2.1.1 Bối cảnh miền Nam trước 1975   35 

2.1.2 Tiếp nhận tiểu thuyết Kim Dung ở miền Nam trước 1975   38 

2.2 Giai đoạn từ 1975 ‐ 1990   45 

2.2.1 Bối cảnh miền Nam Việt Nam 1975 ‐ 1990   45 

2.2.2 Những luận điểm phản đối Kim Dung   47 

Trang 6

2.2.2.4 Tiểu thuyết Kim Dung yếu kém về mặt nghệ thuật   54 

2.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay   55 

2.3.1 Bối cảnh Việt Nam từ năm 1990 đến nay   55 

2.3.2 Cách đọc Kim Dung hiện nay   57 

2.3.3 Tiểu thuyết Kim Dung và sự cải biên ở các loại hình nghệ thuật khác   60 

2.3.3.1 Sân khấu   61 

2.3.3.2 Điện ảnh – Truyền hình   62 

2.3.3.4 Trò chơi điện tử ‐ Trò chơi điện tử trực tuyến (game ‐ game online)   74 

2.3.3.5 Truyện mô phỏng Kim Dung   77 

Chương 3: 80 

SỨC HẤP DẪN CỦA TIỂU THUYẾT KIM DUNG 80 

3.1 Những yếu tố nổi bật trong tiểu thuyết của Kim Dung tác động đến độc giả Việt Nam   80 

3.1.1 Qua việc tiếp nhận lịch sử   80 

3.1.2 Qua việc tiếp nhận văn hóa   83 

3.1.3 Qua việc tiếp nhận tâm lý   89 

3.2 Sức hấp dẫn của tiểu thuyết “kiếm hiệp Kim Dung”   92 

3.2.1 Tiểu thuyết kiếm hiệp   92 

3.2.2 Nguyên nhân tạo nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung   96 

3.3 Tiểu thuyết kiếm hiệp “hậu Kim Dung”   99 

3.3.1 Tiểu thuyết tân kiếm hiệp   99 

3.3.2. Tiểu thuyết tiên hiệp   103 

KẾT LUẬN 107 

Phụ lục 110 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 135   

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trung Quốc là một nước phương Đông có lịch sử lâu đời, có nền văn học khoảng 3000 năm Văn học Trung Quốc bằng nội dung, hình thức, phong cách đã tạo nên nét độc đáo riêng cho mình và tiến lên với các nền văn học dân tộc khác trên thế giới bằng nhiều cách khác nhau Văn học Trung Quốc đã ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới và các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam

Trung Quốc với một nền văn học đồ sộ với nhiều thể tài nổi tiếng như thần

thoại, sử thi, truyền thuyết, ca dao cổ, thơ, tiểu thuyết… Về thơ ca có Kinh Thi, Sở

từ là những những áng thơ bất hủ của Trung Quốc Nhưng thời đại được xem là

hoàng kim nhất của thơ ca đó là thời Đường với những nhà thơ nổi tiếng như: Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị Tuy nhiên, tiểu thuyết vào giai đoạn này vẫn chưa phát triển, ngược lại còn bị đè nén và bị xem là “luận văn đường phố”

Đến giai đoạn hậu kỳ trung đại thì tiểu thuyết bắt đầu phát triển và có chỗ đứng trong văn học, do sự phát triển của xã hội kéo theo những nhu cầu về thị hiếu nhất là về tinh thần Văn chương vào giai đoạn này không chỉ đáp ứng cho tầng lớp thượng lưu, tri thức, mà còn hướng tới tầng lớp thị dân, do nhu cầu của tầng lớp này ngày càng nhiều Vì vậy, văn chương đô thị phát triển mạnh, tiêu biểu như tác phẩm của Thi Nại Am, Ngô Thừa Ân, Phùng Mộng Long…

Đến thời kì hiện đại, tiểu thuyết thị dân cũng phát triển mạnh, nhất là tiểu thuyết võ hiệp với các tác giả như: Cổ Long, Ngọa Long Sinh, Mộ Long Mỹ, Ngạc Xuyên…nổi bật hơn cả là Kim Dung Trung Quốc tiểu thuyết võ hiệp ra đời từ những năm 50 nhưng đến những năm 70 thì mới phát triển, gọi là tiểu thuyết võ hiệp vì viết về những “hiệp khách giang hồ” Tiểu thuyết Kim Dung ra đời đã thu hút nhiều độc giả khu vực Đông Nam Á và một số quốc gia châu Âu, ở Mỹ, Pháp, Đài Loan, Hồng Kông… đã có hội “Kim Dung học Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung là một dấu ấn trong lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc

Trang 8

Chính vì thế, trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã nổi lên phong trào thích đọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung Mọi người từ người già cho đến trẻ

em đều mê tiểu thuyết của ông Thậm chí đến những trí thức, những nhà phê bình, những ông đại sứ đều mê đọc truyện Kim Dung Sau năm 1975 phong trào mê truyện chưởng có phần lắng dịu do tình hình chính trị - xã hội không phù hợp Từ những năm 90 trở lại đây, với chính sách đa phương hóa hội nhập của Đảng, tiểu thuyết Kim Dung bắt đầu phát triển sôi động ở thị trường sách Việt Nam đánh dấu một bước trưởng thành mạnh mẽ của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung nói riêng và dòng tiểu thuyết nói chung

Tuy nhiên, cho tới nay việc tìm hiểu, nghiên cứu tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống Vì lẽ đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài

“Lịch sử tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Mong rằng với

đề tài này, chúng tôi có thể góp một phần nghiên cứu của mình vào việc khỏa lấp những khoảng trống nghiên cứu nhà văn Kim Dung tại Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu “Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Kim Dung ở Việt Nam”

gặp những khó khăn, phức tạp về nhiều mặt, nhất là về mặt tư liệu Vì vậy cho đến nay, sau hơn bốn mươi năm thống nhất đất nước, có nhiều công trình nghiên cứu tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, song phần lớn chỉ tập trung nghiên cứu về sáng tác, tiểu sử, nghệ thuật,… chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu có hệ thống “tiếp nhận tiểu thuyết của Kim Dung ở Việt Nam”

- Trước năm 1975

Trước năm 1945, tìm hiểu về Kim Dung chủ yếu là những bài báo và một

số công trình nghiên cứu ở miền Nam Nhờ một số công trình nghiên cứu này mà chúng ta thấy được tầm đón nhận của độc giả Việt Nam về tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung khá đáng kể

Trang 9

Bửu Ý (1967), có bài viết “Kim Dung, Tạ Tốn và Ỷ thiên đồ long” Bài viết

này Bửu Ý đi vào phân tích tác phẩm Ỷ thiên đồ long ký và xoáy sâu vào tìm hiểu

Năm 1972, Nguyễn Mộng Giác viết Nỗi băn khoăn của Kim Dung Sách

nêu lên “hiện tượng kiếm hiệp Kim Dung” tại miền Nam Việt Nam và sự tiếp nhận

ồ ạt của độc giả miền Nam đối với truyện của Kim Dung Ông còn phân tích do bối cảnh xã hội – lịch sử ở Sài Gòn giai đoạn này làm dân tình chán ngán, nên tiểu thuyết Kim Dung được đón nhận nồng nhiệt

Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khác viết về “hiện tượng Kim Dung” trước

1975 như: Lý Chánh Trung (1965), “Vài kỷ niệm và cảm nghĩ về truyện kiếm

hiệp”, Tạp chí Văn học, số 34, (15.3.1965); Hiếu Chân (1967), “Bàn về tiểu thuyết

võ hiệp, mục Thiên hạ sự”, Báo Tin Văn, số 16 (16.6.1967)

Mặc dù vậy, Tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung giai đoạn này chỉ được xếp vào loại văn học bình dân chưa được giới phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật Việt Nam thừa nhận và nghiên cứu

- Sau 1975:

Sau năm 1975 do tình hình chính trị - xã hội tại Việt Nam đất nước được thống nhất, hai miền Nam - Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Một số tác giả cho rằng tiểu thuyết của Kim Dung là không phù hợp và xếp vào danh mục cấm

Trang 10

Trần Hữu Tá (1977) với bài “Vị trí, ảnh hưởng và tác hại của văn nghệ tư sản nước ngoài trong sinh hoạt văn nghệ vùng địch tạm chiếm ở miền Nam trước

đây”, (trích Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ - Ngụy) Bài viết chỉ ra

tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung là thứ văn chương câu khách, giật gân, làm tắt niềm tin của người dân ở vùng tạm chiếm, ảnh hưởng đến tương lai giới trẻ và là loại tiểu thuyết không phân biệt nổi chính và tà, thiện và ác “Phải nói ngay, cây bút này có nhiều tài câu khách qua những mánh lới giật gân, giàu sức tưởng tượng…”[45, tr.406]

Trịnh Tuệ Quỳnh (1977), với bài “Điện ảnh Sài Gòn, Điện ảnh phản động

và sa đọa”, ( trích Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ - Ngụy) Bài viết

cho rằng tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung là loại “chưởng” đi vào thế giới hoang đường, không đưa người dân tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc, mà kéo mọi người xa rời thực tế

Trần Trọng Đăng Đàn (1987) với công trình Lại bàn về nọc độc văn học thực dân mới Mỹ Nội dung công trình trình bày khuynh hướng văn học phục vụ

chính trị phản động: khuynh hướng văn học nhằm đồi trụy hóa con người, chạy theo thị hiếu thẩm mỹ để kiếm tiền một khuynh hướng văn chương độc hại trong xã hội tiêu thụ

Ngoài ra, còn có nhiều sách, bài báo, bài viết của các tác giả phản ánh tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung như:

Trà Linh và nhiều tác giả khác (1977), Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ - Ngụy; Trần Độ cùng nhiều tác giả (1979), Văn học, văn nghệ miền Nam dưới thời Mỹ- Ngụy - tập 2; Trần Trọng Đàn (2011), Điện ảnh Việt Nam, tập 3: Lịch sử - Tác phẩm – Nghệ sĩ – Lí luận – phê bình – nghiên cứu; Vũ Hạnh (1980), Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng; Lữ Phương (1981), Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền

Trang 11

Nam Việt Nam; Phong Hiền (1984), Chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam; Lê Đình Kỵ (1987), Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ - Ngụy…

Sau năm 1975, văn học giờ đây chỉ tập trung vào những đề tài chính như: viết về hồi ức, động viên tinh thần lao động và xây dựng đất nước giàu mạnh, viết

về những thắng lợi và những khó khăn trong đời sống sau chiến tranh Những tác phẩm văn học nước ngoài kể cả tiểu thuyết của Kim Dung trong giai đoạn này được cho là ru ngủ, tiêm nhiễm vào giới trẻ

Nhìn chung, tiếp nhận bạn đọc đối với tiểu thuyết kiếp hiệp Kim Dung thời

kỳ này còn nhiều hạn chế do những quan điểm cực đoan của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu nên không thấy được tầm ảnh hưởng to lớn của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung Tư tưởng này ngày nay đã được thay đổi và được nhìn nhận lại

- Từ năm 1990 đến nay:

Từ 1990 đến nay, Đảng có chính sách đổi mới trên nhiều bình diện kinh tế, văn hóa, du lịch, xã hội…trong đó văn học cũng thay đổi theo Giai đoạn này ta có thể điểm qua các công trình nghiên cứu về việc tiếp nhận tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung ở Việt Nam như sau:

Trước tiên là công trình nghiên cứu của Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển thượng), Kiều Phong khát vọng của tự do Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển trung), Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển hạ), Từ AQ đến Vi Tiểu Bảo

Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển kết), Thanh kiếm và cây đàn Vũ Đức Sao Biển (2002), Nhân vật Kim Dung nhìn qua lăng kính pháp luật và

một số công trình nghiên cứu của Vũ Đức Sao Biển về Kim Dung trên báo, đài, mạng Trong công trình nghiên cứu trên, Vũ Đức Sao Biển không chỉ cho người đọc biết được tiểu sử, tác phẩm của Kim Dung mà còn tìm hiểu được tiểu thuyết của Kim Dung như là một từ điển Bách khoa toàn thư gồm có: Hội họa, võ công, rượu,

âm nhạc, y học, tôn giáo, trà đạo, thời trang, tình dục, chủ nghĩa hiện sinh, quan

Trang 12

niệm siêu hình…Những công trình nghiên cứu của Vũ Đức Sao Biển góp phần quan trọng cho việc tìm hiểu nhà văn Kim Dung sau này

Trần Thức (Sưu tầm và biên soạn 2001) với bài Kim Dung tác phẩm và dư luận Đây là công trình nghiên cứu Kim Dung với tư cách là tiểu thuyết võ hiệp với

các bài viết như: Nhận xét của Đỗ Lai Thúy “Chưởng” Kim Dung có phải là tiểu thuyết võ hiệp; Sự suy tàn của chủ nghĩa duy bạo lực; Nhận xét của Ông Văn Tùng

về tiểu thuyết “Chưởng” Kim Dung; Nhận xét của Phan Chánh Dưỡng về tiểu thuyết “Chưởng” Kim Dung; Cuộc chiến nảy lửa về Kim Dung ở Trung Quốc…

Ngoài ra, còn có bài phân tích của Trần Lê Hoa Tranh (2000), “Bước đầu tìm hiểu về “hiện tượng Kim Dung” tại Việt Nam”, bài nghiên cứu cho thấy được tầm đón nhận của độc giả Việt Nam tiếp nhận tiểu thuyết của Kim Dung trước

1975, sau năm 1975 và sự lan tỏa tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung đến giai đoạn hiện nay Cùng thời với “hiện tượng Kim Dung” là “hiện tượng Quỳnh Dao”,

luận văn của Lê Thị Hồng Loan (2011), Quỳnh Dao ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ

Ngữ Văn, Trường ĐHKHXH&NV, Tp Hồ Chí Minh, luận văn cho chúng ta thấy được sức bật mạnh mẽ của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung tại Việt Nam

Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu về Kim Dung như:

Nguyễn Duy Chính (2002), Đọc Kim Dung tìm hiểu văn hóa Trung Quốc; Huỳnh Ngọc Chiến (2002), Lai rai chén rượu giang hồ; Bành Hoa, Triệu Kính Lập (2002), Kim Dung cuộc đời và tác phẩm, (Nguyễn Thị Bích Hải dịch; Ôn Thụy An (2002), Thưởng thức tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, (Hồ Tiến Huân dịch); Từ Thành Trí Dũng (2004), Nghĩa khí Kim Dung và nhiều công trình nghiên cứu khác

Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn này có Trần Hoài Anh (2008), Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền nam Việt Nam 1954 – 1975, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Viện Văn học KHXH Việt Nam, Hà Nội; Lê Quang Hậu (2013), Phong trào đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm ở Sài Gòn–Gia Định (1954 – 1963), Luận án

tiến sĩ Ngữ văn, trường ĐH KHXH&NV, Tp Hồ Chí Minh Hai đề tài trên, nghiên

Trang 13

cứu lý luận tiếp nhận trước 1975 và bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam trước

1975, giải thích vì sao chính quyền Mỹ - Diệm lại sụp đổ để từ đó gián tiếp thấy được sự tiếp nhận ồ ạt của bạn đọc đối với tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung tại miền Nam Việt Nam

Nhìn chung, trong giai đoạn này tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung được giới phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam công nhận có tầm ảnh hưởng

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích chủ yếu của đề tài là tìm hiểu “Lịch sử tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu và đóng góp cho sự nghiệp văn chương nước nhà Để thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất: Tìm hiểu tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung và việc tiếp nhận Kim Dung tại Việt Nam Đây là điểm khởi đầu cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về công trình sáng tác của Kim Dung và cho thấy được sự tiếp nhận của ban đọc Việt Nam đối với tiểu thuyết Kim Dung dưới cái nhìn về lịch sử, văn hóa và tâm lý

Thứ 2: Làm rõ việc tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam giai đoạn trước 1975, giai đoạn từ năm 1975 – 1990 và giai đoạn từ năm 1990 đến nay Đây là ba giai đoạn quan trọng trong quá trình tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam, vì nó giúp người làm nghiên cứu thấy được sự ảnh hưởng của tiểu thuyết Kim Dung đến bạn đọc Việt Nam như thế nào; Sự ủng hộ, khen chê, phê phán và cải biên tiểu thuyết Kim Dung trong lĩnh vực nghệ thuật Việt Nam nói chung và bạn đọc nói riêng

Thứ 3: Làm sáng tỏ được sức hấp dẫn của tiểu thuyết Kim Dung Trên cơ

sở đó tìm thấy được sự hấp dẫn của tiểu thuyết Kim Dung dưới cái nhìn tổng thể và

ảnh hưởng của tiểu thuyết kiếm hiệp sau Kim Dung

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc tiếp nhận tiểu thuyết Kim Dung

ở Việt Nam Vốn dĩ, chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu này là vì luận văn khảo sát những công trình nghiên cứu có đề cập đến tiếp nhận tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung ở Việt Nam được xuất bản và đăng tải trên các báo, tạp chí, công trình nghiên cứu Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, người viết chỉ nghiên cứu phần tác giả, tiếp nhận của bạn đọc trong nước đối với tiểu thuyết Kim Dung và sức ảnh hưởng của tiểu thuyết Kim Dung tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của luận văn, chúng tôi thực hiện đề tài này theo các phương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp phê bình mỹ học tiếp nhận, Phương pháp so sánh - đối chiếu, Phương pháp thống kê - phân loại, Phương pháp phê bình lịch sử - xã hội

Phương pháp phê bình mỹ học tiếp nhận: Việc tiếp nhận tác phẩm văn học phụ thuộc rất nhiều vào tầm đón nhận của người đọc Thế nên, một tác phẩm văn học hiện tồn được hay không là nhờ vào tiếp nhận của bạn đọc Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết tiếp nhận để đi vào tìm hiểu lịch sử tiếp nhận của bạn đọc Việt Nam đối với tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung nhằm khái

Trang 15

quát được vì sao bạn đọc lại tiếp nhận ồ ạt tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung giai đoạn trước 1975 và giai đoạn từ năm 1990 đến nay, đưa ra được nguyên nhân vì sao

từ giai đoạn 1975 – 1990 tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung bị phản ánh là “đồ trụy” Chính vì lẽ đó, người viết quyết định chọn phương pháp lý thuyết tiếp nhận

để nghiên cứu cho luận văn

Phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử - xã hội: Tiểu thuyết của Kim Dung

có đề cập đến những vấn đề trong lịch sử, văn hóa, xã hội Trung Quốc, nên người nghiên cứu vận dụng phương pháp này để tìm hiểu cụ thể hơn tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung Cụ thể là chúng tôi vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp từng vấn đề cụ thể để thấy được tầm đón nhận của độc giả Việt Nam tiếp nhận tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung như thế nào, hoàn cảnh tiếp nhận ấy tác động gì đến các lĩnh vực nghệ thuật của Việt Nam Chúng tôi khái quát về tầm đón nhận của bạn đọc Việt Nam đối với tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, cùng với thị hiếu thẩm

mỹ của các thế hệ độc giả tiếp nhận khác nhau

Phương pháp thống kê - phân loại: khi thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê và phân loại sáng tác của Kim Dung nhằm hệ thống đối tượng đang tiếp nhận, làm chỗ dựa vững chắc cho chúng tôi nghiên cứu đề tài

Phương pháp so sánh - đối chiếu: chúng tôi dùng phương pháp này để khảo sát tiểu thuyết của Kim Dung qua so sánh bút pháp, đề tài, mục đích tiếp cận của bạn đọc theo nhiều hướng khác nhau nhằm tìm ra những đặc điểm quan trọng Thế nên, vấn đề đối sánh sự tiếp nhận hiện tượng Kim Dung ở Việt Nam qua không gian

và thời gian như: so sánh tiếp nhận Kim Dung trước 1975; tiếp nhận Kim Dung từ

1975 - 1990; tiếp nhận Kim Dung từ 1990 đến nay, để thấy sự lan tỏa tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung trong lĩnh vực nghệ thuật Việt Nam qua từng giai đoạn

Vì vậy, phương pháp so sánh - đối chiếu được chúng tôi vận dụng để nghiên cứu đề

tài “Lịch sử tiếp nhận Kim Dung ở Việt Nam”, từ đó rút ra những nhận xét chuẩn

xác về việc tiếp nhận của bạn đọc Việt Nam đối với tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung

Trang 16

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục thành 3 chương sau:

Chương 1: Tiểu thuyết Kim Dung và lý thuyết tiếp nhận văn học

Việc nghiên cứu về cuộc đời nhà văn Kim Dung là điều cần thiết Bởi vì, tác giả là người khai sinh ra tác phẩm Hiểu được về cuộc đời tác giả là một lợi thế

để ta đi vào nghiên cứu tác phẩm, khám phá được chiều sâu của tác phẩm thông qua thế giới nội tâm, cũng như cuộc đời đầy thăng trầm của tác giả Bên cạnh đó, việc tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận ở chương 1 nhằm mục đích đem lại nền tảng lý thuyết

để từ đó giúp chúng ta áp dụng vào nghiên cứu sự tiếp nhận Kim Dung tại Việt Nam

Chương 2: Quá trình tiếp nhận tiểu thuyết Kim Dung ở Việt Nam

Chương này trình bày hiện tượng tiếp nhận Kim Dung tại Việt Nam theo chiều dài lịch sử qua các giai đoạn chính, từ trước 1975, từ 1975 – 1990, từ 1990 đến nay Trong đó, chúng ta nhấn mạnh việc chuyển thể tiểu thuyết Kim Dung sang các loại hình nghệ thuật: Sân khấu, Điện ảnh – truyền hình, Trò chơi điện tử, truyện nhại, truyện tranh…Người viết còn phân tích nguyên nhân tiếp nhận, những đánh giá của độc giả về ưu, khuyết điểm của tiểu thuyết Kim Dung

Chương 3: Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Kim Dung

Chương này lí giải vấn đề sức hấp dẫn của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung được bạn đọc tiếp nhận ồ ạt tại Việt Nam Nội dung ở chương này, người viết đi sâu khám phá, làm rõ vấn đề tiểu thuyết của kim Dung hấp dẫn độc giả Việt Nam qua lịch sử, tâm lý, văn hóa và sự ảnh hưởng của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung đến thời hiện đại dẫn đến sự ra đời thể loại: tân kiếm hiệp và tiên hiệp Do đó, đây là nội

dung góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu đề tài “Lịch sử tiếp nhận Kim Dung

ở Việt Nam”

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1: TIỂU THUYẾT KIM DUNG VÀ LÝ THUYẾT

TIẾP NHẬN VĂN HỌC

1.1 Tiểu thuyết Kim Dung

1.1.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác của Kim Dung

Kim Dung 金庸 tên thật là Tra Lương Dung 查良鏞 , sinh ngày 06 tháng 02 năm 1924, tại trấn Viên Hoa, Hải Ninh, tỉnh Triết Giang–Trung Quốc Chữ Dung 庸 trong tên ông có nghĩa

là quả chuông lớn, gồm bộ Kim

金 (thanh thép) và âm Dung 庸 (bình thường) Ông đã tách tên

mình ra thành hai chữ Kim Dung 金庸 (thanh thép bình thường) và dùng nó để làm

bút danh của mình

Kim Dung xuất thân trong một gia đình dòng tộc nổi tiếng về khoa danh:

“Một nhà có bảy tiến sĩ, chú cháu năm hàn lâm” [76, Tr.7] Gia đình Kim Dung có truyền thống văn học, ông nội tổ là Tra Thận Hành một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Thanh Còn ông nội là Tra Văn Thanh đỗ tiến sĩ và làm tri huyện ở tỉnh Giang Tô, cũng

là tác giả nổi tiếng của tập thơ Hải Ninh sát thị sao thi Vì từ nhỏ Kim Dung rất thích đọc sách, báo, tiểu thuyết, nhà ông có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Tam Quốc chí, Thủy hử, hay tác phẩm của Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Lão Xá, Ba Kim… Lúc sáu tuổi, Kim

Dung rất ham đọc sách và trở thành một học sinh giỏi, ông cùng với thầy là Vị Đông biên tập tờ báo lớp, một số bài văn của Kim Dung được đăng trên tờ Đông Nam nhật báo

Trang 18

Năm lên tám tuổi Kim Dung đã bắt đầu đọc tiểu thuyết chương hồi cổ điển

Trung Quốc, khi đọc đến bộ truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm

thấy rất say mê, tuy có phần không hiểu nhưng đó là nền tảng để ông sáng tác các tiểu thuyết võ hiệp sau này

Năm mười sáu tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice

nhằm châm biếm chủ nhiệm ban huấn đạo, nên ông bị đuổi học Mặc dù có những trắc trở nhưng cho thấy sự tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, điều đó sau này được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của ông

Đến năm 1941: chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, để bớt đi gánh nặng các trường phải cho học sinh tốt nghiệp sớm, Kim Dung cũng nằm trong số đó Sau này ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh Đến năm thứ ba, Kim Dung bị đuổi học do tham gia cuộc bạo loạn chính trị, vì đã viết thư tố cáo một vụ bê bối ở trường, đây là lần thứ hai ông bị đuổi học

Năm mười chín tuổi Kim Dung làm việc tại thư viện Trung ương, ở đây ông đọc rất nhiều sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời

ông còn đọc các tác phẩm như: Ba chàng lính ngự lâm, Bá tước Monte Cristo của

Alexandre Dumas cha Tại đây Kim Dung bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện

võ hiệp

Năm 1946: Kim Dung về Hàng Châu làm việc cho tờ Đông Nam nhật báo

theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người đã ngưỡng mộ ông (khi ông viết bài

“Một sự ngông cuồng của trẻ con” đăng trên Đông nam nhật báo làm chấn động dư

luận ở trường Cù Châu lúc ông mười sáu tuổi) Nhưng sau đó, Kim Dung lại đến Thượng Hải học luật, ngành quốc tế công pháp

Năm 1948: Kim Dung sang Hồng Kông làm việc cho tờ Đại công báo ở

đây ông được phụ trách là dịch tin quốc tế Trước khi Kim Dung sang Hồng Kông ông đã cưới người vợ đầu tiên của mình, hôn lễ được tổ chức tại Thượng Hải

Trang 19

Năm 1950 – 1955: Ông làm biên tập phụ san, phụ trách chuyên mục Chuyện trà chiều (Ngọ hậu trà tọa) cho tờ Tân Vấn báo Ở đây Kim Dung bắt đầu viết kịch bản phim như: Lan hoa hoa (1953), Tuyệt đại mỹ nhân (1953), Tam luyến

(1953) và lấy bút danh là Diêu Phức Lan (Phiên âm Your friend: người bạn của

bạn) Cho đến năm 1955 ông bắt đầu viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục (Thư kiếm giang sơn) với sự giúp đỡ của hai người bạn thân là Lương Vũ Sinh

và La Phù Tác phẩm được đăng hàng ngày trên tờ Hương Cảng tân báo và bút

danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây

Năm 1956: Kim Dung cùng với bạn là Lương Vũ Sinh, Trần Phàm mở mục

Tam kiếm lâu tùy bút trên Đại công báo và cho đăng tiếp bộ truyện võ hiệp thứ hai

là Bích huyết kiếm được đón nhận và hoan nghênh nhiệt liệt

Năm 1957: Ông chuyển sang làm cho công ty điện ảnh Trường Thành và

viết một số truyện phim như: Ba mối tình, Tiếng đàn khuya… Trong thời gian này, Kim Dung cho đăng bộ tiểu thuyết võ hiệp Xạ điêu anh hùng truyện (Anh hùng xạ điêu)

Năm 1959: Kim Dung cùng với bạn là Thấm Bảo Tân thành lập tờ Minh Báo tại Hồng Kông Kim Dung làm chủ bút Trong năm này ông cho ra đời hai bộ tiểu thuyết là Tuyết sơn phi hồ (bộ truyện ngắn nhất trong số truyện dài), vào ngày 20.05 cùng năm Kim Dung cho đăng Thần điêu hiệp lữ (Thần điêu đại hiệp) liên tục

trong ba năm

Năm 1960: Kim Dung đăng Phi hồ ngoại truyện (Lãnh nguyệt bảo đao) Năm 1961: Tiểu thuyết Bạch mã khiếu tây phong, Ỷ thiên đồ long ký (Cô gái đồ long) và Uyên ương đao lần lượt được Kim Dung cho ra đời

Năm 1963: Ông đăng Liên thành huyết (Tố tâm kiếm) trên Minh báo và trên tuần san Đông Nam Á của Singapore và cũng trong năm này Kim Dung đăng Thiên long bát bộ (Lục mạch thần kiếm truyện) cũng đăng trên hai tờ báo trên

Trang 20

Năm 1965: Kim Dung cho ra đời Hiệp khách hành Năm 1967 ông đăng Tiếu ngạo giang hồ Trong năm 1970 Kim Dung cũng cho ra đời một truyện ngắn

đó là tác phẩm Việt nữ kiếm Từ năm 1969 – và 1972 ông viết và đăng tiểu thuyết Lộc đỉnh ký (Lộc đỉnh công), đến ngày 23.09.1972 Kim Dung mới đăng trọn bộ Lộc đỉnh ký trên tờ Minh báo, đăng suốt trong hai năm một tháng mới hết Sau đó ông

tuyên bố không viết tiểu thuyết võ hiệp nữa, tập trung vào việc thành lập một loạt

Minh báo với nhiều thời gian khác nhau như: Minh báo buổi sáng, Minh báo buổi chiều, Minh báo nguyệt san… viết xã luận, bình luận ngắn và sửa chữa những tiểu

thuyết võ hiệp đã đăng

Như vậy, trong khoảng thời gian từ năm 1955 – 1972 Kim Dung đã cho ra đời mười hai bộ tiểu thuyết dài, hai bộ truyện vừa, một bộ truyện ngắn, một bộ lịch

sử nhân vật bình truyện và một bộ lịch sử khảo cứu văn tự Trong đó mỗi tác phẩm của ông là một bộ (mỗi bộ là trên 10 quyển Việt Ngữ, trung bình mỗi quyển là từ

500 – 600 trang) và hầu hết các tiểu thuyết của Kim Dung đều được đăng trên các nhật báo

Đến năm 1994 nhà xuất bản Tam Liên Thư Điếm ở Bắc Kinh trao quyền xuất bản toàn bộ những tác phẩm của Kim Dung gồm có 36 cuốn tức là trọn 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp Tiểu thyết Kim Dung sau khi được sửa chữa và hiệu đính, chỉ trong hai năm tiểu thuyết của ông được tái bản đến ba lần Người viết tổng hợp tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung như sau:

1. Thư kiếm ân cừu lục (書劍恩仇錄) sáng tác 1955 -1956

2 Bích huyết kiếm (碧血劍) sáng tác 1956 – 1957

3 Xạ điêu anh hùng truyện (射雕英雄傳) sáng tác 1957

4 Thần điêu hiệp lữ (神雕俠侶) sáng tác 1959

5 Tuyết sơn phi hồ (雪山飛狐) sáng tác 1959

6 Phi hồ ngoại truyện (飛狐外傳) sáng tác 1960

Trang 21

7 Bạch mã khiếu tây phong (白馬嘯西風) sáng tác 1961

8 Uyên ương đao (鴛鴦刀) sáng tác 1961

tử, truyện tranh, truyện mô phỏng Điều này tạo nên một bước phát triển mới trong làng giải trí Trung Quốc và cả Việt Nam Tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung là một hiện tượng văn học nổi bật vào đầu thế kỉ XX Người đọc có thể thấy thơ, từ,

ca, phú, cầm, kỳ, thi, họa, đạo (Nho, Phật, Thiên Chúa…) trong tiểu thuyết Người

viết xin trích dẫn lời của Trần Mặc (1996), Võ học trong tiểu thuyết của Kim Dung,

Nxb Bách Hoa Châu Văn Nghệ, để chúng ta thấy được “vị ngon trên cả vị ngon” trong tiểu thuyết Kim Dung: “truyện Kim Dung không phải là phụ liệu mà là món

Trang 22

ăn đầu vị bên cạnh món ăn đầu vị khác thuộc văn, phải nếm náp thật kĩ mới nhận ra

vị ngon, trên cả vị ngon, có thể sánh ngang với Triết học, Nhân học, Tâm lý học, Xã hội học…”

1.1.2 Tiểu thuyết Kim Dung tại Việt Nam

Vào những năm đầu của thế kỉ XX, ở Việt Nam nổi lên một hiện tượng mê đọc tiểu thuyết nước ngoài, đặc biệt là tiểu thuyết võ hiệp Mặc dù, tiểu thuyết võ hiệp ra đời từ rất lâu, ở phương Tây tiểu thuyết võ hiệp được biết đến từ thời Hy

Lạp cổ đại với những truyện theo thể tài hiệp sĩ như chuyện Tristan và Iseult

Nhưng đến cuối thời đại Phục Hưng thì tiểu thuyết võ hiệp mới thực sự được biết

đến qua tác phẩm phản hiệp sĩ Don Quixote của nhà văn Tây Ban Nha, ở Pháp có

Ba chàng lính ngự lâm pháo thủ, ở Anh có Robin Hood Ở Trung Quốc lịch sử phát

triển của tiểu thuyết được manh nha từ thời Ngụy, Tấn dưới dạng chí quái tiêu biểu

như những tác phẩm: Sưu thần ký, Liệt di truyện… dạng chí nhân có tác phẩm: Thế thuyết tân ngữ Nhưng tiểu thuyết được thịnh hành nhất là vào đời Đường với thể loại truyền kỳ hiệp khách, có thể kể tới các tác phẩm như: Bạch viên truyện, Cổ kính ký, Cô lôn nô, Vô song truyện, Nhiếp Ân nương và Cầu tu khách truyện Đây

được xem là thời kỳ tiền thân cho việc phát triển thể loại tiểu thuyết sau này Đến đời Minh - Thanh tiểu thuyết nghĩa hiệp phát triển rực rỡ với các tác phẩm nổi tiếng

như: Tam quốc diễn nghĩa, Đông chu liệt quốc, Thủy hử, Tam hiệp ngũ nghĩa…

cuối đời Thanh đầu thời Dân Quốc tiểu thuyết võ hiệp rẻ tiền tràn lan, lời văn bịa đặt thô thiển, nhà trường và phụ huynh phải cấm không cho con em đọc truyện, từ

đó tiểu thuyết chương hồi bắt đầu xuống dốc Đến thời kỳ hiện đại, tiểu thuyết Trung Quốc bắt đầu chấn hưng trở lại với sự góp mặt của nhiều nhà viết tiểu thuyết như: Kim Dung, Ngọa Long Sinh, Lương Vũ Sinh, Nghê Khuông, Cổ Long, Nam Kim Thạch, Độc Cô Hồng, Gia Cát Thanh Vân, Mộ Dung Mỹ, Ngạc Xuyên… tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung có nhiều đóng góp to lớn cho việc phát triển nền văn học Trung Quốc

Trang 23

Trước năm 1945, khi tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung chưa ra đời, người đọc Việt Nam biết đến tiểu thuyết kiếm hiệp qua tác phẩm của ông Lý Ngọc Hưng (người Trung Hoa sống tại Việt Nam) Ông đã khai thác môn võ công là “Thập bát

ban võ nghệ” và viết hàng loạt tiểu thuyết như: Ngọc kỳ lân vân đằng giao, Kim hồ điệp Trúc Thúy Quỳnh, Bồi thành lực sĩ Sích Như Lân chi mộ, Nguyên suýt hồi trào… Lý Ngọc Hưng khai thác triệt để loại võ công này và từ đó hai chữ “kiếm

hiệp” được bạn đọc biết đến Tuy nhiên, truyện kiếm hiệp vẫn được xem là loại giải trí rẻ tiền, loại sách ba xu câu khách Ở thị trấn Nam Đàn có một hiệu sách nhỏ chủ tiệm tên là Bình Xuyên nói:

Lũ trẻ tiểu học chúng thường đến thuê, lèo tèo dăm bảy cuốn thay đi dổi lại, đứt đầu đứt đuôi có những cái tên đọc hoa cả mắt: Hoàng giang nữ hiệp, Hùng Anh Nam đại đao, Không động kì hiệp, Linh sơn thất hiệp, Tiểu kiếm khách, Bồng lai hiệp khách…Chúng tôi gọi là kiếm hiệp (…) Có một Đảng tên là Nghĩa Hưng chuyên đoán đường dọa khách nộp tiền mại lộ Người cầm đầu là một ông khách học tiểu học, khám phá chỉ thấy toàn sách kiếm hiệp ba xu [76, tr.64- 65]

Mãi cho đến 1954 – 1975 thể loại này mới tìm được chỗ đứng riêng cho mình và khái niệm “chưởng” được nhiều người biết tới Theo Vương Trí Nhàn tiểu thuyết chưởng là: “Một loại tiểu thuyết võ hiệp trong đó các ngón đòn đánh ra là từ bàn tay Song những cuộc tìm kiếm trả thù không vì thế mà giảm bớt tính quyết liệt, những cuộc tỉ thí không vì thế mà bớt đổ máu, ngược lại (…) giúp cho con người ta thấy những gian truân, nặng nhọc, đồng thời là những hào hứng kỳ lạ của cái gọi là kiếp người”[76, tr.32] Trong những năm 60 của thế kỉ XX tiểu thuyết võ hiệp nước ngoài tràn vào Việt Nam rất nhanh Tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung đã tạo nên cơn chấn động, nhà nhà, người người đều mê “chưởng” và tác phẩm Kim Dung đã thật sự đi vào đời sống văn học Việt Nam

Kim Dung được độc giả Việt Nam biết đến lần đầu vào năm 1960 với bộ

truyện Thần điêu đại hiệp (Thần điêu hiệp lữ) do Vũ Tài Lục và Hải Âu Tử dịch

Trang 24

đăng trên báo Mới Đến năm 1961 tiểu thuyết của Kim Dung mới được công chúng

tiếp nhận qua hai bộ tiểu thuyết Bích huyết kiếm và Cô gái đồ long đăng trên báo Đồng Nai do Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch

Khi bộ Anh hùng xạ điêu (Xạ điêu anh hùng truyện) đăng trên tờ Dân Việt

do Tam Khôi dịch, tiểu thuyết của Kim Dung thật sự trở thành cơn sốt, chấn động bạn đọc từ bình dân đến trí thức

Truyện chưởng Kim Dung giai đoạn 1960 - 1970, đạt đến mức kỷ lục: hơn

20 bộ, trong đó Cô gái đồ long gồm 6 tập với 2.370 trang; Lục mạch thần kiếm (8 tập) cộng lại tới 2.400 trang; Anh hùng xạ điêu cũng 8 tập với 2.820 trang, còn Tiếu ngạo giang hồ có tới 15 tập với ngót 3.000 trang Từ khi thể loại truyện chưởng tràn

ngập Sài Gòn - Chợ Lớn, lập tức xuất hiện một “guồng máy dịch thuật” với các dịch giả: Từ Khánh Vân, Từ Khánh Phụng, Thương Lan, Phan Cảnh Trung, Hàn Giang Nhạn, Phương Thảo, Khưu Văn, Dương Quân, Quần Ngọc, Lão Son Nhân, Điền Trung Tử, Lã Phi Khanh riêng Hàn Giang Nhạn dịch ít nhất 25 bộ truyện chưởng,

in ở năm nhà xuất bản (sách chưởng Kim Dung là 14 bộ gồm 102 tập với 25.000

trang) Đặc biệt, bộ Ỷ thiên đồ long ký (tức Cô gái đồ long) của Kim Dung do Từ

Khánh Phụng dịch (Nhà xuất bản Trung Thành in 1966) thu hút hàng trăm ngàn độc giả thuộc mọi tầng lớp

Một số nhà báo lấy bút danh theo tên nhân vật trong truyện như: ông Lê Tất Điều ký bút danh Kiều Phong, Nguyên Sa ký bút danh Hư Trúc, Vũ Đức Sao Biển lấy bút hiệu Mạc Đại tiên sinh và các bút danh Tiểu Siêu, Du Thản Chi lần lượt xuất hiện trên tạp chí, nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Khải, Xuân Sách, Kim Lân mê chưởng của Kim Dung

Một ngòi bút nổi tiếng, sắc sảo như Nguyễn Khải, một người ranh ma như Xuân Sách cũng mê chưởng, và mỗi lần ngốn hết một đống sách của Kim Dung là các anh lại ngồi vừa vân vi lí giải sự đời trong đó (…) Nguyễn Khải có lần còn cảm thấy mình có chất Mộ Dung Phục, một trong những

Trang 25

nhân vật hiếm hoi của Kim Dung từ chối tình yêu, vì chỉ sợ xa chân vào đó

là rơi vào phù phiếm, trong khi đời mình còn bao nhiêu là việc (…) anh cũng không quên lưu ý là dạo này, nào ông Kim Lân, nào ông Trọng Hứa…đang quay cuồng về chưởng ra sao [76, tr.46 - 47]

Còn độc giả bình dân khi đọc Cô gái đồ long đã hát lên: “Có cô gái đồ long

lắc bầu cua, lắc ba cái ra ba con gà mái, chung kết hết tiền, cô trốn liền…” [87, tr.129-130] Trẻ con ở khắp hang cùng ngõ hẻm hát, người lớn cũng hát trong những dịp tết chơi lắc bầu cua Các bạn học sinh mê chưởng:

Chuyền tay nhau đọc như điên, thành hẳn một phe đối lập đối lập với Quỳnh Dao của phe nữ Chỉ trong một lúc mà thế giới chia hẳn thành hai cực nam, bắc, một bên bóng đao ánh kiếm, một bên người đẹp như tranh (…) Cứ đến cuối tuần thì trong lớp học hay trên bãi cỏ thế nào cũng có các hiệp sĩ võ lâm họp mặt nhau lại để ấn chứng võ nghệ vui quên cả mệt mà rèn luyện công lực nội thân (…) nào Đông tà Tây độc, nào Nam đế Bắc cái, nào Tuyết Sơn phi hồ, nào Thần điêu hiệp lữ…[76, tr.245 – 246]

Các tiệm cho thuê sách báo thì đông như hội:

Chao ôi! Khách đến như hội Thì thầm, dấm dúi, kẻ cho thuê, người mê đọc, nữa đêm trao tay nhau trong bóng tối (…) Đa số là làm nghề chở xe

bò, đạp xích lô, buôn bán vặt, đóng gạch, thợ đấu và học sinh (…) Nếu tiểu thuyết Kim Dung đứng trước quán sách của tôi hoặc thả bộ trên dỉa hè Hà Nội hẳn ông cũng có suy nghĩ về hai ba tỉ độc giả của ông [76, tr.66 – 67]

Đỗ Lai Thúy, nhà phê bình mê “chưởng” khi đọc tiểu thuyết Kim Dung đã

kể: “Anh bạn phòng bên cho mượn cuốn Tiếu ngạo giang hồ giết thời gian Sau một

phút ngần ngại tôi cầm đọc Thế là cả một thế giới đắm say ấu thời tưởng đã đào sâu chôn chặt lại đội mồ sống dậy (…) Tôi lại mê say đọc những cuốn khác của Kim

Dung như: Thiên long bát bộ, Lục mạch thần kiếm, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp…”[76, tr.53 – 54] Không chỉ có những người bình dân, những học sinh, thợ

Trang 26

thuyền và tiểu công tư chức mà ngay cả những vị giáo sư đại học cũng mê Kim

Dung: bị người bạn mời đọc Cô gái đồ long rồi mê luôn đến nỗi xem hết cuốn thứ

năm hồi 11 giờ đêm, phải lái xe tới nhà bạn cách năm cây số để mượn cho được cuốn thứ sáu giữa thời kỳ Sài Gòn đang lệnh giới nghiêm… Ngay cả những nhà tu, những ông Đại sứ, những nhà chính trị cũng thích chưởng, các bà cũng thích chưởng, các trường đại học cũng thảo luận về chưởng

Từ đó tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã trở thành món ăn hàng ngày của người dân Độc giả ở các nhật báo Sài Gòn đều háo hức, mong chờ truyện của Kim Dung đăng trên tờ Minh báo từ Hồng Kông gởi sang Hôm nào, tờ báo có dòng chữ “Cáo lỗi vì máy bay Hồng Kông không qua kịp…độc giả buồn hơn là vật giá leo thang” [77] Có 44 tờ báo ngày ở Việt Nam tranh nhau đăng Kim Dung

dạng feuilleton, tờ báo nào không đăng tiểu thuyết của Kim Dung sẽ không ai mua

và xem như đang đứng trên bờ vực phá sản Các nhà xuất bản đua nhau in sách chưởng trong đó in Kim Dung nhiều nhất là nhà xuất bản Đường Sáng, Tân thế kỷ,

An Hưng… Nhiều nhà văn nổi tiếng tham gia bình luận Kim Dung như: Bùi Giáng, Bửu Ý, công phu nhất là Đỗ Long Vân với loạt bài viết: “Vô Kỵ giữa chúng ta hay

là hiện tượng Kim Dung” Dịch giả Hàn Giang Nhạn là dịch giả tài hoa nhất với

các bản dịch: Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, Liên thành huyết Lộc đỉnh ký,… Ông là người dịch sách Kim Dung nhiều nhất có tới 14 bộ, bao gồm 102 tập

(gồm 25.000 trang) Năm 1999 nhóm dịch giả của Vũ Đức Sao Biển dịch lại tác

phẩm Tiếu ngạo giang hồ (từ 26.04 đến 26.10 năm 1999) ra tiếng Việt lên đến 4000

trang (khoảng trên 12 triệu chữ) Cục xuất bản quốc gia Trung Quốc thống kê chỉ trong riêng năm 1985, đã có hơn 40 triệu bản tiểu thuyết Kim Dung được bán ra tác phẩm của ông còn phổ biến ở Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia, Nhật, Hàn Quốc, Singapore Theo Võ Phiến thống kê vào năm 1970 sách dịch chiếm đến 60% và đến năm 1972 đã lên đến 80% toàn bộ đầu sách xuất bản ở miền Nam Trần Trọng

Đăng Đàn, trong Văn Hoá, Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954 -1975 cũng đưa ra con

số tương tự như Võ Phiến Cũng theo Trần Trọng Đăng Đàn, sau kết quả điều tra, tiến hành vào tháng 7-1976, số sách dịch của miền Nam trong 20 năm bao gồm:

Trang 27

Đức 57 đầu sách, Ý 58, Nhật 71, Anh 97, Mỹ 273, Pháp 499, Đài Loan và Hương Cảng 358, Nga 120, còn lại các nước khác 38.1 Từ thống kê trên cho thấy sách dịch ở Đài Loan và Hương Cảng là 358 đứng sau Pháp, chứng tỏ tiểu thuyết tiểu thuyết Đài Loan và Hương Cảng chiếm tỷ lệ đồ sộ tại Việt Nam trước năm 1975 [84] Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung được bạn đọc tiếp nhận ồ ạt như làn sóng tràn bờ, nhà phê bình lý luận Nguyễn Văn Dân đã nhận xét:

Có thể nói nước ta là một xã hội đặc trưng bởi tính thống nhất các mặt kinh tế, chính trị văn hóa, đều thống nhất và dù tầm văn hóa của công chúng nước ta không thấp so với trình độ văn hóa của các nước khác trên thế giới Nhưng do điều kiện lịch sử nên văn hóa, nghệ thuật bị thu hẹp một

số chức năng quan trọng như: chức năng giải trí, một số mảng đề tài của văn nghệ thế giới như đề tài tình yêu, phiêu lưu, trinh thám hầu như không được phổ biến ( ) Thế là, từ khi có chính sách mở cửa các mảng đề tài lâu nay bị hạn chế kia bị ùa vào như vỡ bờ” [17, tr.77]

Những lí do khiến bạn đọc Việt Nam tiếp nhận tiểu thuyết Kim Dung nhiệt tình, theo chúng tôi là:

- Văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa có nhiều yếu tố giống nhau Việt Nam chịu ảnh hưởng 1000 năm đô hộ từ Trung Hoa, nên ít nhiều cũng ảnh hưởng truyền thống, phong tục, lễ giáo Trung Hoa Tiểu thuyết Kim Dung đề cập đến nhiều yếu tố như: tôn giáo, âm nhạc, hội họa, y học, thơ ca, võ công, tinh yêu… bạn đọc tiếp nhận tiểu thuyết Kim Dung cảm thấy gần gũi hơn là tiếp nhận tác phẩm văn học phương Tây Nhà văn Vũ Đức Sao Biển đã nhận xét: “Văn chương Việt Nam có một vấn đề là rất gần với văn chương Trung Hoa, đặc biệt là những từ Hán – Việt vẫn giữ được nghĩa gốc, cho nên, đọc tác phẩm Trung Hoa vẫn thấy sướng hơn là đọc tác phẩm văn học Tây phương” [7, tr.153]

- Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung mang tính giải trí rất cao, trong khi tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam đang trong cao trào của cuộc chiến chống

Mỹ Người dân đang phải chịu những đau đớn, mất mát, lầm than, căng thẳng, con

Trang 28

người cảm thấy cô đơn, buồn tủi không tìm được lối thoát cho riêng mình Tiểu thuyết Kim Dung hội đủ tất cả các yếu tố hấp dẫn, li kì, tình tiết lúc ẩn, lúc hiện (sự tranh giành quyền lực của các môn phái, tình yêu đôi lứa, võ công “chưởng” đan xen, nghĩa khí, tự do…), nhân vật tài hoa (Kiều Phong, Đoàn Dự, Lệnh Hồ Xung, Trương Vô Kỵ…), sự ranh ma của Vi Tiểu Bảo hay sự thông minh, xinh đẹp của Doanh Doanh, Hoàng Dung, Hân Ly Tính cách nội tâm nhân vật phức tạp, có lúc lại rất căng thẳng, biến đổi (tính cách của Dương Quá, Kiều Phong, Trương Vô Kỵ, Doanh Doanh… cuối cùng đã gạt bỏ tà phái để giữ cho mình được thiên lương bằng cách ở ẩn) Tất cả, Kim Dung đã làm thỏa mãn được yêu cầu của công chúng như lời của nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy đã nhận xét: “Người ta có thể tìm thấy ở chưởng của Kim Dung những vụ án hình sự li kì, những gián điệp và phản gián tài tình (…) người đọc Kim Dung còn tiếp thu ở ông rất nhiều hình thức về lịch sử, tôn giáo, văn hóa, ( ) Kim Dung còn có một phong văn riêng biệt, sáng sủa, duyên dáng và hấp dẫn” [76, tr.53 – 54]

- Nghệ thuật viết truyện rất độc đáo, lời văn trong truyện còn có sự dí dỏm tài hoa Kết hợp với lối kể truyện dân gian (hành động của Đoàn Dự, Kiều Phong, Dương Qua, Trương Vô Kỵ…) khiến người đọc thích thú, xúc động, mỗi khi cầm sách không muốn rời tay, đọc đến hai, ba lần vẫn muốn đọc lại

- Xây dựng nhân vật tài tình Nhân vật trong truyện của Kim Dung thường

là những bậc anh hùng hảo hán (Kiều Phong vì chính nghĩa hy sinh thân mình), trọng nghĩa khinh tài (Đoàn Dự từ bỏ cuộc sống giàu sang), con người có sức mạnh nhằm tái thiết lại trật tự, diệt trừ những những nhân vật gian ác (Vô Kỵ một người thông minh, đức độ vượt qua muôn vàn thử thách để dành lại sự công bằng) Nhân vật trong tiểu thuyết của ông là những con người giản dị, gần gũi với bạn đọc, không cầu kì, lạ hóa, xa rời cuộc sống

- Kim Dung còn phê phán, đả kích phong kiến (nhân vật Vi Tiểu Bảo) Ông phê phán không thương tiếc về vấn đề sùng bái cá nhân (Nhậm Ngã Hành, Đông Phương Bất Bại, Nhật Nguyệt Thần Giáo) Kim Dung còn vạch ra những thiếu hụt

Trang 29

trong đời sống chính trị để cảnh tỉnh xã hội không thể sống chung với chủ nghĩa chuyên chế

- Tiểu thuyết Kim Dung thể hiện tính nhân văn, nhân ái lấy tư tưởng Nho gia làm chủ đạo Ngoài ra, Kim Dung còn thể hiện tư tưởng tự do thoải mái, trải nghiệm cuộc đời Nhà văn Vũ Đức Sao Biển đã nhận xét về Kim Dung:

Tác phẩm của Kim Dung có tư tưởng và nhân sinh sâu sắc, tài xây dựng hình tượng nhân vật đã gây được ấn tượng mạnh mẽ (…) Có sự kết hợp giữa cái cao nhã và đại chúng, giữa nghệ thuật và ý tưởng thẩm mỹ, kỷ xảo điêu luyện do vận dụng thủ pháp biểu hiện của văn học mới bản địa với văn học cận đại phương Tây, thành ra “kịch võ lời văn” có võ mà cũng có hiệp [9, Tr.119]

Từ Kiến Duy ở Học Viện Mỹ thuật thuộc Đại học Thượng Hải đã nói: “Con người nếu không biết chữ, không đọc sách thì không cần phải nói làm gì; Nhưng nếu biết thì không thể không đọc tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, nếu không đọc thì uổng phí học hành, biết chữ mà làm gì” [13, tr.39] Tóm lại, tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đã để lại một dấu ấn lớn đối với bạn đọc Việt Nam nói riêng và bạn đọc

thế giới nói chung

1.2 Lý thuyết tiếp nhận

1.2.1 Lịch sử của lý thuyết tiếp nhận

Nhà văn khi hoàn thành một tác phẩm đều muốn truyền đạt, khái quát cho người đọc và khi người đọc tiếp nhận thì tác phẩm đó mới tồn tại Phương Lựu đã khẳng định: “Tác phẩm chỉ có được đời sống khi được tiếp nhận” [49, tr.331.] Do

đó, vai trò của tiếp nhận là vô cùng quan trọng, xứng đáng để người làm nghiên cứu tìm tòi và đi sâu khai thác ở từng khía cạnh, để hiểu “tiếp nhận” là gì, trước tiên ta

đi vào tìm hiểu khái niệm của nó

Norman Holland đưa ra quan niệm về tiếp nhận: “Tiếp nhận là quá trình cái tôi đem nội dung vô thức chuyển thành nội dung ý thức” [63, tr.305] Huỳnh Như

Trang 30

Phương cho rằng: “Tiếp nhận văn học là sự tiếp xúc và tri nhận của người đọc đối

với một hiện tượng văn học, chủ yếu là tác phẩm” [62, Tr.187] Trương Đăng Dung

đưa ra khái niệm tiếp nhận: “Có nghĩa là quá trình thỏa thuận giữa văn bản và sự tái

sáng tạo bản sắc riêng của người đọc” [18, tr.20]

Nói đến lịch sử tiếp nhận cần nhắc đến Platon, người đã đưa ra những phạm trù cơ bản của lý luận tiếp nhận sau này Platon là người đầu tiên chỉ ra khoái cảm thẩm mỹ tác động đến con người và sự tiếp nhận những khoái cảm thẩm mỹ đó, Platon cho rằng: “Khoái cảm thẩm mỹ chỉ làm cho tâm hồn con người rối loạn, gây tác hại đến lý trí (…) Khoái cảm là kẻ bịp bợm nhất” [17, tr.58] Nhưng, quan điểm

về tiếp nhận của Platon đối với thẩm mỹ lại theo xu hướng phản tiếp nhận Vì thế,

mãi đến những năm 60, 70 của thế kỉ XX lý thuyết tiếp nhận mới thật sự hoàn thiện

và phát triển

Lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại cũng chịu ảnh hưởng từ sự phát triển của xã hội và sự giao động mạnh của lý luận văn học phương Tây thế kỉ XX Nguồn

gốc thai nghén của nó bắt đầu từ lý thuyết catharsis (sự thanh lọc) của Aristote

Công trình nghiên cứu này đã mở ra một bước ngoặc quan trọng cho các công trình nghiên cứu khác về lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại Cụ thể như W.Iser (Đức)

với thuật ngữ “độc giả - đồng tác giả” Thomas Kuhn trong Cơ cấu cách mạng khoa học cũng chỉ ra các mô hình phương pháp luận chịu sự quy định của lịch sử và biến

đổi theo hoàn cảnh xã hội Walter Hohmann năm 1965 trong bài báo “Về việc

nghiên cứu sự tác động của văn học” lần đầu tiên ông đã đưa ra vai trò của “công

chúng” trong quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học Năm 1967 Harald Weinrich với bài viết “Vì một văn học sử của độc giả”, đã xác định những tiền đề cho “văn học sử của độc giả” Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên vẫn chưa đưa ra được một mô hình hoàn chỉnh cho lý thuyết tiếp nhận Cho đến bài tiểu luận nổi tiếng “Văn học sử như là một sự khiêu khích đối với lý luận văn học” của Hans Robert Jauss, một nhà lý luận nổi tiếng của Đức thuộc trường phái lý luận tiếp nhận văn học hiện đại, thì một mô hình hoàn thiện về lý thuyết tiếp nhận được ra đời

Trang 31

Hans Robert Jauss cho rằng: “Văn học sử trước đây chỉ làm công việc thống kê các

sự kiện có liên quan đến tác giả và tác phẩm: và ngày nay, theo Jauss, đã đến lúc chúng ta có một nền văn học sử của độc giả để hoàn thiện các khâu của quá trình văn học”.[17, tr.63- 64] Với quan điểm tiến bộ đó, H R Jauss đã đưa ra khái niệm tác phẩm văn học với lý thuyết tiếp nhận thật hoàn chỉnh là: “Tác phẩm văn học = văn bản + sự tiếp nhận của độc giả” Khái niệm cơ bản của Jauss được gọi là “ Erwartungshoriznot” (dịch là “tầm đón nhận” hay “chân trời chờ đợi”, “chân trời chờ mong”) Ông quan niệm “tầm đón nhận” của công chúng là:

Hệ quy chiếu có thể trình bày khách quan mà đối với mỗi tác phẩm ở thời điểm lịch sử xuất hiện của nó, hệ quy chiếu được rút ra từ ba yếu tố cơ bản: Kinh nghiệm có trước của công chúng về thể loại tác phẩm; hình thức và hệ

đề tài của tác phẩm trước nó yêu cầu phải tìm hiểu; và sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thực tế giữa thế giới tưởng tượng và ngôn ngữ thực

Trang 32

Việc phân tích “tầm đón nhận” của Jauss là nhân tố quan trọng giúp cho lý thuyết tiếp nhận xây dựng nên một kiểu văn học sử của độc giả Tạo nên ưu điểm đầu tiên cho lý thuyết tiếp nhận là: “Vừa nhấn mạnh chức năng xã hội của văn học

lại vừa chú ý đến việc xác định đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm” Cụ thể, khi phân tích, so sánh hai tiểu thuyết của Kim Dung là Thần điêu hiệp lữ (1959) và Lộc đỉnh ký (1972) ta sẽ thấy được sự khác nhau của hai tác phẩm Đó là yếu tố huyền

thoại kết hợp với tư tưởng truyền thống cao quý qua nhân vật Dương Quá trong tiểu

thuyết Thần điêu hiệp lữ (1959), giúp người đọc cảm thấy yêu quý và giữ gìn những

đức tính ấy Còn ngược lại, trong Lộc đỉnh ký (1972) ta thấy một Vi Tiểu Bảo ranh

ma, lắm mưu nhiều kế nhưng lại mang tư tưởng hiện đại, tạo ra được cái mới

Qua phân tích về tầm đón nhận của H R Jauss thì không có sự phân biệt chênh lệch giữa thẩm mỹ và lịch sử Đối với lý thuyết tiếp nhận thì hai quan điểm trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau H R Jauss quan niệm:

Cái mới không phải chỉ là một phạm trù thẩm mỹ (…) Cái mới cũng là một phạm trù lịch sử khi mà việc phân tích lịch đại đối với văn học đã đi đến chỗ đặt ra cho mình câu hỏi rằng đây là nhân tố lịch sử (…) Nghĩa là mỹ học tiếp nhận, khác với chủ nghĩa thẩm mỹ, nó không chỉ cho phép nắm bắt

ý nghĩa và hình thức của tác phẩm trong quá trình tiến triển lịch sử của nó,

mà nó còn đặt mỗi một tác phẩm vào trong cái chuỗi văn học của nó nhằm xác định vị trí lịch sử, vai trò và tầm quan trọng trong bối cảnh văn học chung.[ 17, tr 67 - 68]

Lý thuyết tiếp nhận của H R Jauss không chỉ cho bạn đọc thấy được nội dung và hình thức trong tiến trình lịch sử của một tác phẩm văn học mà còn xác

định vị trí lịch sử trong bối cảnh chung của văn học Cụ thể, Kim Dung viết Lộc đỉnh ký (1972) không chỉ cho bạn đọc hiểu được nội dung và hình thức của tác

phẩm trong sự phát triển của lịch sử mà còn chỉ ra cho bạn đọc thấy được triều đại nhà Minh là một triều đại u tối và nhu nhược Lý thuyết tiếp nhận đã làm thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận của bạn đọc đối với tác phẩm văn học, nhờ đó, bạn đọc

Trang 33

thoát khỏi sự áp đặt của nhà văn và khẳng định được sự độc lập của một tác phẩm, đưa bạn đọc trở thành nhân tố quan trọng trong khâu sáng tác Vì vậy, lý thuyết tiếp nhận của H R Jauss đã tìm ra được những giá trị mới mẻ, không chỉ làm thay đổi nhận thức của con người về văn học mà còn làm nên sự sống cho tác phẩm văn học nghệ thuật Lý thuyết tiếp nhận hiện đại của Jauss còn có những hạn chế nhưng ông

đã có những đóng góp bổ ích cho việc tiếp nhận một tác phẩm văn học

Ngay cả khái niệm “tầm đón nhận” cũng giúp cho người làm nghiên cứu thấy được tầm quan trọng của bạn đọc và tác giả có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Chính vì thế, quan điểm lý thuyết tiếp nhận hiện đại của H R Jauss đã góp phần làm thay đổi về cách nhìn, cách tiếp cận của lý luận văn học phương Tây vào thế kỉ XX

1.2.2 Lý thuyết tiếp nhận tại Việt Nam

Tại Việt Nam, vào cuối thế kỉ XX mới bắt đầu xuất hiện một số công trình nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận văn học, rải rác trên các tờ báo và tạp chí Năm

1971, Tạp chí Văn học, (số 4), có đăng bài viết của Nguyễn Văn Hạnh với tiêu đề

“Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống” Trong bài viết này Nguyễn Văn Hạnh đã đưa ra một quan điểm hoàn toàn mới so với trước đây là: Các nhà nghiên cứu văn học cần phải chú ý đến người đọc Tức là, mối liên hệ giữa giá

trị của một tác phẩm văn học với phạm vi thưởng thức của độc giả Nguyễn Văn

Hạnh cho rằng:

Giá trị của một tác phẩm thật không phải đóng khung lại ở một khâu sáng tác, mà còn lan rộng ra đến phạm vi “thưởng thức” và đứng trên quan điểm cải tạo, quan điểm thực tiễn cách mạng mà xét, chính ở khâu “thưởng thức”, tác phẩm mới có ý nghĩa xã hội thực tế của nó Quan điểm này tất yếu sẽ dẫn đến những tiêu chuẩn mới để đánh giá tác phẩm, đến một phương pháp nghiên cứu mới (…) Trong khâu sáng tác, giá trị là cố định

và ở trong thế khả năng; ở trong khâu “thưởng thức”, trong quan hệ với quần chúng, giá trị mới là hiện thực và biến đổi Quan điểm nghiên cứu

Trang 34

đánh giá tác phẩm này sẽ lưu ý nhà văn đến độc giả ( ) buộc người nghiên cứu trong khi đánh giá tác phẩm không thể chỉ dừng lại ở việc đối chiếu cái được phản ánh và cái phản ánh, ở sự phân tích cấu trúc “bên trong của tác phẩm”, mà chú ý đến tác dụng thực tế của tác phẩm, phản ứng của người đọc đối với nó, cơ sở xã hội – lịch sử và tâm lý của sự tiếp thu [17, tr.73 – 74]

Tuy nhiên, lúc bấy giờ quan điểm của Nguyễn Văn Hạnh đưa ra vẫn không được các nhà nghiên cứu chấp nhận, thậm chí họ còn cho rằng ông là người xem nhẹ nhân tố sáng tác và coi nhẹ tư tưởng giai cấp trong văn học Năm 1980, trong

Tạp chí Văn học (số 4), Hoàng Trinh có đề cập đến tiếp nhận văn học, nhưng được

nghiên cứu dưới hình thức của văn học so sánh Có nghĩa là, Hoàng Trinh chỉ nghiên cứu tiếp nhận của một nền văn học này với nền văn học khác, chứ chưa đi vào nghiên cứu sự biệt lập của lý thuyết tiếp nhận

Năm 1985 lần đầu tiên quan điểm “lý thuyết tiếp nhận” thuộc trường phái Konstanz của Đức, người đứng đầu là Hans Robert Jauss được giới thiệu trên tạp

chí Thông tin KHXH, (số 11, 1985), tại Việt Nam Từ đó, lý thuyết tiếp nhận của H

R Jauss đã mở ra cánh cửa cho người làm nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận tại Việt

Nam Năm 1986, trên Tạp chí Văn học, (số 4), Nguyễn Văn Dân đã đưa ra khái

niệm “ngưỡng tâm lý” trong tiếp nhận văn học nhằm bổ sung cho khái niệm “tầm đón nhận” của H R Jauss Cũng trong năm này Hoàng Trinh cũng có bài viết

“Giao tiếp trong văn học” in trên Tạp chí Văn học, (số 4, 1986) Trong bài viết này,

Hoàng Trinh đã phân tích, tìm hiểu về phạm trù của công chúng và tìm hiểu về sự tác động của người đọc

Dựa trên quan điểm của H R Jauss, Phương Lựu cũng đưa ra khái niệm

“tiếp nhận” và “tiêu thụ” trong văn học Ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa sản xuất với tiêu thụ văn học; tác phẩm với thương phẩm; và một số đặc điểm tiêu thụ của văn học Theo Phương Lựu, tác phẩm văn học và người đọc có mối quan hệ biện chứng với nhau, có nghĩa là, sản xuất văn học tiêu thụ tác phẩm văn học, và ngược lại, tiêu thụ tác động trở lại sản xuất Như vậy, với luận điểm của Phương Lựu đã

Trang 35

góp phần hoàn thiện khái niệm của Jauss là: Nhà văn – tác phẩm – người đọc Trần

Đình Sử cũng có công trình nghiên cứu “Mấy vấn đề của lý luận tiếp nhận văn

học”, trong Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận Trong công trình này Trần Đình Sử

đã chỉ ra lý luận tiếp nhận là gì và nhấn mạnh đến “phản tiếp nhận” được xem như

là một loại hình tiếp nhận Trương Đăng Dung trong Tác phẩm văn học như là một quá trình, chỉ ra quá trình văn học chịu ảnh hưởng bởi “văn bản” và “người đọc”

Trong đó văn bản và người đọc có mối quan hệ qua lại với nhau, tức là, “văn bản” thể hiện mối quan hệ giao tiếp và “người đọc” thể hiện sự đối thoại, người tiếp nhận tái tạo tác phẩm và tác phẩm thì tái hiện người đọc Như vậy, những công trình nghiên cứu vừa lược khảo cho thấy lý thuyết tiếp nhận đã bắt đầu có chỗ đứng trong giới nghiên cứu và trở thành một đề tài mới mẻ, hấp dẫn và nổi bật

Người viết có thể tóm lược một số công trình nghiên cứu lý thuyết tiếp

nhận cụ thể như sau: Hoàng Trinh, “Giao tiếp trong văn học”, Tạp chí Văn học (số

4, 1986) Phương Lựu nghiên cứu về tiếp nhận văn học với nội dung như Mỹ học tiếp nhận, Bạn đọc và tiếp nhận văn học, Nghiên cứu văn học từ góc độ vi mô và vĩ

mô Trần Đình Sử có công trình nghiên cứu Tiếp nhận - Bình diện mới của lý luận văn học, Nguyễn Văn Dân Tiếp nhận văn học - Một đề tài lớn của nghiên cứu văn học, Trương Đăng Dung với Tác phẩm văn học như là một quá trình, Huỳnh Vân với chủ đề về nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận văn học Mỹ học tiếp nhận như tầm đón nhận hay lịch sử tiếp nhận văn học, Đỗ Lai Thúy với công trình Phê bình văn học con vật lưỡng thể ấy, Trịnh Bá Đĩnh có công trình nghiên cứu Phê bình văn học Việt Nam hiện đại Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu từ tạp chí, website

của các khoa, các trường Đại học, các Viện nghiên cứu văn học như: www.lyluanvanhoc.com hay website của các khoa lý luận văn học…Từ những công trình nghiên cứu trên, cho thấy được bước chuyển mình mạnh mẽ của lý thuyết tiếp nhận văn học trong dòng chảy của tư duy lý luận và tư duy văn học, góp phần khẳng định một vai trò quan trọng của lý thuyết tiếp nhận trong nền văn học nói riêng và trong đời sống của người dân Việt Nam nói chung

Trang 36

- Thế kỉ XX cùng với những biến động về lý thuyết tiếp nhận trong lý luận văn học, song song đó, còn có sự biến động về kinh tế, văn hóa, chính trị và tất nhiên là cả văn học cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các nền văn học phương Tây Trong đó, chúng ta phải nói đến văn học Trung Quốc, một nền văn học của nhân loại, cũng tác động mạnh đến văn học Việt Nam Nhất là, từ khi có chính sách mở cửa của Đảng thì tầm văn hóa, nghệ thuật bấy lâu nay bị hạn chế như đề tài về tình yêu, tình dục, hôn nhân…bắt đầu phát triển rầm rộ và dâng cao Khái niệm “tầm đón nhận” trong lý thuyết tiếp nhận của H R Jauss giúp cho người đọc hiểu được vai trò của văn hóa trong tiếp nhận văn học thế kỉ XX Thực vậy, khi tiểu thuyết Kim Dung du nhập vào Việt Nam, đã nổi lên làn sóng mê “chưởng”, lần lượt những

bộ phim kiếm hiệp của Kim Dung ra đời, mang đến cho người xem một thị hiếu mới về thẩm mỹ Ngoài đời, chúng ta vẫn bắt gặp hình ảnh của những chú lái xe

ôm, những em bé vẫn hóa thân thành nhân vật Kiều Phong, Dương Quá, hay Đông Phương Bất Bạị với những ngôn từ bình dân như: bốp…bốp; chéo…chéo; xuất chiêu; xuất đầu lộ diện Cho nên, hiện thực văn học và hiện thực cuộc sống đã làm phong phú cho văn học Với “hiện tượng” Kim Dung, người đọc chịu ảnh hưởng bởi “cảm xúc thẩm mỹ” khi sự thích thú của con người vượt ra ngoài sự chịu đựng

sẽ xuất hiện một dạng ý thức mà theo G T Fechner khái niệm là “ngưỡng tâm lý”, trong đó cảm xúc thẩm mỹ và cảm xúc tâm lý chịu sự tác động của ý thức, nên được gọi là ngưỡng tâm lý – ý thức Fechner gọi ngưỡng tâm lý – ý thức là: “Sự tăng

cường độ tác động đủ để chuyển từ một loại tác động này sang một loại tác động khác, từ một loại ấn tượng này sang một loại ấn tượng khác” [27, tr 86] Chính vì

thế, đọc tiểu thuyết Kim Dung bạn đọc có thể thư giãn đầu óc, giải trí tinh thần và biết nhiều về: lịch sử, văn hóa, địa lí, tôn giáo, y học, võ thuật, âm nhạc…

Từ khái niệm “ngưỡng tâm lý” cho thấy, việc bạn đọc Việt Nam tiếp nhận ồ

ạt tiểu thuyết của Kim Dung là do tiểu thuyết có những tình tiết, nhân vật, cốt truyện biến hóa khôn lường Từ đó, làm chuyển đổi tâm lý bạn đọc từ buồn bực chuyển sang vui vẻ, từ khó chịu chuyển sang thoải mái, từ nặng nề chuyển sang phấn khởi… khi khoái cảm của bạn đọc vượt ra tâm lý chịu đựng, sẽ tạo nên

Trang 37

ngưỡng tiếp nhận rầm rộ, tức là tạo nên “hiện tượng Kim Dung” Ví dụ, đọc Thiên long bát bộ nhân vật Kiều Phong được Kim Dung xây dựng như một vị anh hùng

với hành động chững chạc, thân hình cao to lại là bang chủ của Cái bang mới 30 tuổi, đã tác động đến tâm lý “ thích thú” của bạn đọc Bạn đọc còn bị lôi kéo vào hình ảnh Kiều Phong, gan dạ, oai phong luôn bảo vệ lẽ phải, từ bỏ mọi quyền lực,

danh vọng để đến với tự do, thật sự đã làm tăng biên độ cảm xúc của bạn đọc Đến

tình tiết cuối truyện Kiều Phong tự tử để bảo vệ chính nghĩa, thật sự đưa bạn đọc

vượt ra ngoài ngưỡng tâm lý tiếp nhận, nâng tác phẩm lên tầm giá trị Tất cả những

tình tiết đó, Kim Dung như gián tiếp tác động vào thế giới vô thức của bạn đọc, khơi gợi cho bạn đọc sự rung cảm, để sự thưởng thức đó đạt đến giá trị chân lí, vượt

ra ngoài ngưỡng tiếp nhận của bạn đọc Vấn đề này được thể hiện qua nhận định

của Trù Xuyên Bạch Thôn: “(…) Đó là cơ sở của “đồng cảm về sự sống” mà tác giả muốn đánh thức ở người đọc bằng việc tác động vào thể nghiệm, rung cảm vào thế giới vô thức của con người, gây tác dụng “thanh lọc” (…) Thưởng thức giúp ta tiếp xúc với sự sống vô hạn, đạt tới được cái chân thực của loài người tự nhiên” [63, tr.305]

Tóm lại, lý thuyết tiếp nhận của H R Jauss cho chúng ta thấy được những vấn đề quan trọng trong tiếp nhận tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung tại Việt Nam về lịch sử, văn hóa, tâm lý mà người viết sẽ trình bày cụ thể ở phần những sau Ngoài

ra, lý thuyết tiếp nhận của H R Jauss còn góp phần khai sáng cho lý thuyết tiếp nhận Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy lớn của lý luận văn học thế kỉ XX

Tiểu kết

Tìm hiểu về cuộc đời nhà văn Kim Dung cũng như tìm hiểu sự ra đời những tác phẩm của ông là một phần hữu ích cho đề tài nghiên cứu Chương 1 sơ lược về tác giả, cho thấy được cuộc đời đầy thăng trầm của nhà văn Kim Dung trong buổi đầu xây dựng sự nghiệp tại Hồng Kông Kim Dung khởi đầu xây dựng cuộc sống mới ở Hồng Kông đầy gian nan, vất vả, vì thế, lời văn của ông trở nên rắn rỏi, gân

Trang 38

guốc, đầy khí phách Hình ảnh nhân vật Kiều Phong, Dương Quá, Lệnh Hồ Xung, Trương Vô Kỵ, Đoàn Dự…là một phần hình tượng, tính cách của Kim Dung Chính

vì thế, Kim Dung cho ra những kiệt tác, khiến bạn đọc say mê Bên cạnh đó, chương 1 chúng ta còn trình bày về lý luận tiếp nhận, nhằm đặt nền tảng cho việc nghiên cứu lý luận tiếp nhận Kim Dung tại Việt Nam Ở những chương sau chúng

ta sẽ ứng dụng lý thuyết này để nghiên cứu quá trình tiếp nhận Kim Dung tại Việt Nam và lý giải sự hấp dẫn của tiểu thuyết Kim Dung trên các bình diện lịch sử, văn

hóa, địa lý…

Trang 39

Chương 2:

QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT KIM DUNG

TẠI VIỆT NAM

2.1 Tiếp nhận ở miền Nam trước 1975

2.1.1 Bối cảnh miền Nam trước 1975

Giai đoạn 1954 – 1975 Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, từ đó tạo nên sự khác biệt trong sự vận động và phát triển của đất nước Miền Bắc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và hàn gắn vết thương sau chiến tranh Miền Nam thiết lập chính quyền Cộng hòa được Mỹ hỗ trợ Xã hội miền Nam vào giai đoạn này phát triển vô cùng phức tạp có thể nói là một xã hội phức hợp nhiều nền văn hóa Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm là tập trung xây dựng, khôi phục kinh tế sau chiến tranh ở miền Bắc, đồng thời giữ vững

và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam Trong khi đó, thế giới cũng bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ La Tinh, phong trào hòa bình dân chủ cũng dâng cao ở các nước tư bản Tạo điều kiện cho Việt Nam tiến lên cuộc đấu tranh chống Mỹ giành độc lập cho dân tộc

Tháng 07 năm 1954 đến tháng 07 năm 1956 tại miền Nam đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp và hợp thức hóa chính quyền miền Nam, phá hủy hiệp định Giơ- ne-vơ, tiến hành chiến dịch “tố cộng giai đoạn một” Mỹ muốn xây dựng và duy trì Chủ nghĩa thực dân kiểu mới, nên tăng cường viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm lãnh đạo Mỹ còn trang bị vũ khí hiện đại cho chính quyền Ngô Đình Diệm Những căn cứ quân sự hiện đại được xây dựng với sự lãnh đạo của nhiều cố vấn Mỹ Tình hình xã hội miền Nam trở nên căng thẳng, nhiều cuộc đấu tranh nổ ra ở khắp mọi nơi, từ thành thị cho đến nông thôn

Năm 1956 – 1960, Sài Gòn – Gia Định trở thành trung tâm chính trị quân

sự của Mỹ - Diệm và thực hiện các chiến dịch, đạo luật nhằm tiêu diệt cộng sản, mà đỉnh cao là đạo luật 10 1959 Trước tình hình đó xã hội miền Nam đã bùng cháy

Trang 40

ngọn lửa căm hờn trong lòng người dân, họ quyết chiến đứng lên đấu tranh chống lại đế quốc Mỹ Tuy nhiên, vào giai đoạn này lại xuất hiện mâu thuẫn về chính trị trong chính quyền Ngô Đình Diệm, phe đối lập với Diệm muốn thực hiện chiêu bài lật đổ, từ đó, chính thức đưa miền Nam rơi vào cơn khủng hoảng chính trị xã hội

Năm 1963 chấm dứt chế độ độc tài của chính quyền Ngô Đình Diệm Nhưng miền Nam lại rơi vào cuộc khủng hoảng khác, đó là mâu thuẫn tranh giành quyền lực chính trị dưới sự sắp đặt của Mỹ Lúc này xã hội miền Nam Việt Nam số người chết ngày càng nhiều, các tệ nạn xã hội ngày càng tăng nhanh

Mỹ không chỉ đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam mà còn đưa vào miền Nam “lối sống Mỹ”, “văn hóa Mỹ”, “đồng tiền Mỹ” Mỹ là một đế quốc hùng mạnh với nền kinh tế lớn nhất trên thế giới với số lượng hàng hóa sản xuất, tiêu dùng phong phú, chất lượng tốt, giá hợp lý đáp ứng nhu cầu cho người lao động Do đó, người dân có cơ hội sử dụng những vật dụng hiện đại như: ô tô, xe máy, tủ lạnh, tivi, điện thoại…cho nhu cầu vật chất của mình Mỹ còn đưa hàng loạt các loại sách báo, tạp chí, điện ảnh, vô tuyến truyền hình…với số lượng đồ sộ nhằm chi phối tinh thần, tiế tư tưởng, tình cảm của người dân miền Nam

Theo tài liệu của Thượng Nghị viện Mỹ thì số tiền JUSPAO viện trợ cho ngành thông tin miền Nam Cộng hòa, trực tiếp về máy móc, từ 1965 đến

1971 là 5.400.000 đô la; riêng cho vô tuyến truyền thanh, vô tuyến truyền hình và điện ảnh là khoảng 20.000.000 đô la (…) JUSPAO * cũng tung ra những đợt bán đài thu thanh bán dẫn rẻ cho nông dân (khoảng 125.000 chiếc trong năm 1965) [61, tr 41- 42]

Vì vậy, quá trình du nhập “lối sống Mỹ” và “văn hóa Mỹ” gây nên sự xáo trộn về văn hoá ở miền Nam Việt Nam, những giá trị cổ truyền của dân tộc bao lâu nay đã bị phá hoại, xã hội miền Nam “bị thay hình đổi dạng”

      

* JUSPAO: Liên bang cộng sự Mỹ: Jond United States Pulic Affairs Affairs Office

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ôn Thụy An (2002), Thưởng thức tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, (Hồ Tiến Huân dịch), Nxb Văn học, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thưởng thức tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung
Tác giả: Ôn Thụy An
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
2. Dư Quang Anh (chủ biên 1997), Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 1)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học Hậu hiện đại thế giới - quyển 1: Những vấn đề lí thuyết, Nxb Hội Nhà văn Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Hậu hiện đại thế giới - quyển 1: Những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2003
5. Vũ Bằng (1993), Bốn mươi năm nói láo, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1993
6. Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển thượng), Kiều Phong khát vọng của tự do, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Dung giữa đời tôi (quyển thượng), Kiều Phong khát vọng của tự do
Tác giả: Vũ Đức Sao Biển
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
7. Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển trung), Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Dung giữa đời tôi (quyển trung), Thiên hạ đệ nhất mỹ nhân
Tác giả: Vũ Đức Sao Biển
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
8. Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển hạ), Từ AQ đến Vi Tiểu Bảo, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Dung giữa đời tôi (quyển hạ), Từ AQ đến Vi Tiểu Bảo
Tác giả: Vũ Đức Sao Biển
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
9. Vũ Đức Sao Biển (1999), Kim Dung giữa đời tôi (quyển kết), Thanh kiếm và cây đàn, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Dung giữa đời tôi (quyển kết), Thanh kiếm và cây đà
Tác giả: Vũ Đức Sao Biển
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
10. Vũ Đức Sao Biển (2002), Nhân vật Kim Dung nhìn qua lăng kính pháp luật, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật Kim Dung nhìn qua lăng kính pháp luật
Tác giả: Vũ Đức Sao Biển
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
11. Vũ Đức Sao Biển (2007), Úi chao 60 năm, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Úi chao 60 năm
Tác giả: Vũ Đức Sao Biển
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
12. Hiếu Chân (1967), “Bàn về tiểu thuyết võ hiệp, mục Thiên hạ sự”, Báo Tin Văn, số 16 (16.6.1967) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiểu thuyết võ hiệp, mục Thiên hạ sự”, "Báo Tin Văn
Tác giả: Hiếu Chân
Năm: 1967
13. Phạm Tú Châu (tuyển chọn và hiệu đính 2005), Tiểu thuyết Kim Dung qua các cuộc hội thảo quốc tế 1998 và 2003, (Nguyễn Văn Thiệu dịch), Nxb Hội Nhà văn, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Kim Dung qua các cuộc hội thảo quốc tế 1998 và 2003
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
14. Huỳnh Ngọc Chiến (2002), Lai rai chén rượu giang hồ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lai rai chén rượu giang hồ
Tác giả: Huỳnh Ngọc Chiến
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
15. Ngô Vinh Chính (chủ biên 1994), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
16. Nguyễn Duy Chính (2002), Đọc Kim Dung tìm hiểu văn hóa Trung Quốc, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Kim Dung tìm hiểu văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Duy Chính
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
17. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
18. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là một quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
19. Từ Thành Trí Dũng (2002), Chủ nghĩa nhân đạo trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân đạo trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung
Tác giả: Từ Thành Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
20. Từ Thành Trí Dũng (2004), Nghĩa khí Kim Dung, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa khí Kim Dung
Tác giả: Từ Thành Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
21. Dương Ngọc Dũng (chủ biên 2005), Bút kiếm Kim Dung, Nxb Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút kiếm Kim Dung
Nhà XB: Nxb Tổng hợp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w