1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vị trí của tiếng tà mun trong nhóm nam bahnar

208 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 4,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn đóng góp thêm cứ liệu khoa học từ góc độ ngôn ngữ học, đặc biệt là mối quan hệ giữa tiếng Tà Mun với các ngôn ngữ khác trong ngữ hệ, chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp phần

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN VĂN HUỆ

Thành phố Hồ Chí Minh -2015

Trang 3

số, trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn GS TS Bùi Khánh Thế Thầy đã nhiệt tình gợi mở và khích lệ tôi chọn đề tài cho luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn PGS TS Đinh Lê Thư và PGS TS Lê Khắc Cường Các thầy cô đã tạo điều kiện cho tôi cùng tham gia các đề tài nghiên cứu, cùng trao đổi kinh nghiệm, ngữ liệu cho các công trình liên quan cũng như trực tiếp vào luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn các cộng tác viên, bà con các dân tộc Tà Mun, Kơho, Mnông, Mạ, Châu Ro, Stiêng ở khắp các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ Quý vị đã nhiệt tình cộng tác, tin tưởng ủng hộ tôi

Và còn nhiều người nữa không trực tiếp nhưng cũng góp phần để quyển luận văn này

ra đời

Một lần nữa xin chân thành cám ơn tất cả

Trang 4

MỤC LỤC

trang

Dẫn nhập 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8

7 Quy ước trình bày 8

8 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1: Tổng quan về người Tà Mun và tiếng Tà Mun 15

1.1 Vài nét về người Tà Mun 15

1.1.1 Địa bàn cư trú và quá trình định cư 15

1.1.2 Về hoạt động kinh tế 19

1.1.3 Đời sống tinh thần 20

1.1.4 Nghi lễ vòng đời 21

1.1.5 Các lễ trong năm 22

1.2 Những thảo luận về nguồn gốc và tộc danh của người Tà Mun 23

1.3 Khái quát về hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun 32

1.3.1 Mô hình cấu trúc từ ngữ âm tiếng Tà Mun 32

1.3.2 Hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun 34

1.3.2.1 Hệ thống phụ âm 34

1.3.2.2 Hệ thống nguyên âm 43

Chương 2: Tương ứng ngữ âm giữa tiếng Tà Mun với các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar 46

2.1 Mục đích và cơ sở ngữ liệu 46

2.2 Tiền âm tiết 48

2.2.1 Đặc điểm của tiền âm tiết 48

2.2.2 Tương ứng ngữ âm đối với tiền âm tiết 49

2.2.2.1 Tiền âm tiết mũi 49

Trang 5

2.2.2.2 Tiền âm tiết có cấu trúc CV 50

2.2.2.3 Tiền âm tiết có cấu trúc CCV 52

2.2.2.4 Tiền âm tiết có cấu trúc CVC 53

2.3 Âm tiết chính 56

2.3.1 Đặc điểm của âm tiết chính 56

2.3.2 Tương ứng ngữ âm đối với âm tiết chính 57

2.3.2.1 Phụ âm đầu của âm tiết chính 57

2.3.2.2 Nguyên âm của âm tiết chính 63

2.3.2.3 Phụ âm cuối của âm tiết chính 70

3.4 Tiểu kết 73

Chương 3: Vị trí của tiếng Tà Mun trong nhóm Nam Bahnar 75

3.1 Phương pháp xác định niên đại cho các ngôn ngữ cùng ngữ hệ 75

3.2 Tỷ lệ từ cùng gốc giữa các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar 77

3.3 Thời gian chia tách giữa các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar 85

3.4 Tiểu kết 93

Kết luận 94

Tài liệu tham khảo 97

Phụ lục 1: Danh sách cộng tác viên 104

Phụ lục 2: Bảng đồi chiếu từ cơ bản Việt-Tà Mun-Châu Ro 105

Phụ lục 3: Bảng đồi chiếu từ cơ bản Việt-Stiêng-Kơho 117

Phụ lục 4: Bảng đồi chiếu từ cơ bản Việt-Mạ-Mnông 128

Phự lục 5: Tương ứng từ vựng giữa các ngôn ngữ Nam Bahnar 140

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Tại hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước hiện có một cộng đồng tộc người được gọi là người Tà Mun Trong khi đó trong danh mục các thành phần dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam (quyết định số 121 TCTK của Tổng cục Thống kê, ngày 02/3/1979), cũng như trong số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê không có tộc danh Tà Mun [57, tr.58-63] Năm 2009, tỉnh Bình Phước đã đưa tộc người này vào nhánh của dân tộc S’tiêng Tuy nhiên, trên thực tế trong thời gian qua, theo quy định của nhà nước, tỉnh Bình Phước vẫn giải quyết cho tộc người Tà Mun là dân tộc

Tà Mun trong các giấy tờ như hộ khẩu, chứng minh nhân dân, giấy khai sinh

Theo số liệu thống kê tại địa phương, tính đến năm 2009, dân số người Tà Mun là 2.823 người phân bố trên 2 tỉnh Tây Ninh và Bình Phước Trong đó, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khoảng 1.680 người Tà Mun cư trú Họ tập trung chủ yếu ở các huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và thị xã Tây Ninh Tại tỉnh Bình Phước có 234 hộ, 1.143 người Tà Mun sinh sống chủ yếu ở xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản

Ngày 08/10/2012, tại tỉnh Bình Phước, một cuộc hội thảo do Viện Dân tộc học thuộc Ủy ban Dân tộc trung ương tổ chức mang tên “Nghiên cứu thành phần tên gọi người Tà Mun” Nhiều ý kiến tại hội thảo đề cập vấn đề có hay không một dân tộc Tà Mun và đề nghị Viện Dân tộc cần nghiên cứu rất thận trọng về truyền thống lịch sử và văn hóa của họ bởi trải qua nhiều biến cố như: chiến tranh, loạn lạc…sẽ rất khó để kết luận một cách chính xác

Trên cơ sở tổng hợp những ý kiến phát biểu tại hội thảo, Viện trưởng Viện Dân tộc học cho rằng còn rất nhiều điều cần đưa ra bàn bạc trước khi có quyết định chính thức về thành phần, tên gọi cho tộc người Tà Mun Bốn tiêu chí quan trọng để nhận diện tộc người được nêu ra là lịch sử, ý thức tộc người, ngôn ngữ và văn hóa Với tình hình nêu trên, chúng ta đều thấy việc công nhận tộc danh Tà Mun trên giấy tờ tùy thân chỉ là giải pháp tình thế vì áp lực của ý thức tộc người là có

Trang 7

thật, họ đang khao khát được công nhận là thành phần dân tộc thứ 55 trong gia đình các dân tộc Việt Nam Về hai lĩnh vực lịch sử và văn hóa, mặc dù chưa nhiều để có thể nói là đủ nhưng dù sao thì cũng đã được tiến hành và có nhiều công trình về hai lĩnh vực này Còn lĩnh vực ngôn ngữ hầu như gần đây mới được chú ý nghiên cứu

và đã xuất hiện vài công trình đi vào cấu trúc tiếng Tà Mun và ít nhiều liên quan đến quan hệ họ hàng giữa tiếng Tà Mun với các ngôn ngữ khác Với mong muốn đóng góp thêm cứ liệu khoa học từ góc độ ngôn ngữ học, đặc biệt là mối quan hệ giữa tiếng Tà Mun với các ngôn ngữ khác trong ngữ hệ, chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp phần giải đáp câu hỏi về người Tà Mun

2 Mục đích nghiên cứu

Những địa bàn cư trú của người Tà Mun có nơi lân cận, có nơi xen lẫn với nơi

cư trú của người Stiêng và người Khmer Quá trình tiếp xúc, cộng cư lâu dài dẫn đến hiện tượng giao thoa tất yếu thể hiện trong đời sống văn hóa và ngôn ngữ Tùy góc độ nghiên cứu, tùy địa bàn khảo sát khác nhau mà ta thấy người Tà Mun có quan hệ thân tộc với các dân tộc khác nhau chặt hay lỏng Mà cụ thể ở đây là với Stiêng hay Khmer Từ đó đặt ra giả thuyết là người Tà Mun có quan hệ thân tộc với người Stiêng hay với người Khmer? Cũng có nghĩa là thuộc tiểu nhóm Khmer hay nhóm Nam Bahnar?

Dựa trên các công trình hiện có và được nhiều người ủng hộ, cùng với những khảo sát cũng như một công trình đã công bố của mình (thành viên), chúng tôi ủng

hộ cũng như đã khẳng định qua tên luận văn là tiếng Tà Mun thuộc nhóm Nam Bahnar Như vậy, theo chúng tôi, tiếng Tà Mun và tiếng Khmer chỉ có quan hệ nguồn gốc xa xưa ở cấp độ nhánh Môn-Khmer nhưng đến cấp độ nhóm thì tiếng Tà Mun thuộc nhánh Bahnar, nhóm Nam Bahnar

Khi đặt tiếng Tà Mun vào tiểu nhóm Nam Bahnar thì nhiệm vụ và mục đích của luận văn là xác định vị trí của tiếng Tà Mun nằm ở đâu và tương quan thế nào với năm ngôn ngữ khác là Stiêng, Châu Ro, Kơho, Mạ, Mnông

Với ý thức dân tộc của mình, người Tà Mun luôn ý thức mình là một dân tộc riêng, độc lập với những dân tộc gần gũi xung quanh như Stiêng, Khmer, Châu Ro

Trang 8

nên người Tà Mun luôn mong mỏi được công nhận là dân tộc thứ 55 ở Việt Nam chứ không muốn nhận mình là người Stiêng Nhu cầu có những nghiên cứu về tiếng

Tà Mun là rất cần thiết hiện nay nhằm mục đích “dù kết quả xác định Tà Mun là một thành phần dân tộc hay chỉ là một nhánh nhỏ trong một dân tộc nào đó, thì cũng

có được câu trả lời thích đáng cho người Tà Mun” như phát biểu của TS Huỳnh Thị

Hồng Hạnh (Đi tìm cội nguồn dân tộc Tà Mun, Báo Tây Ninh online, ngày 18/4)

Như vậy, mục đích của luận văn không nhằm đưa ra kết luận về việc công nhận hay không một dân tộc Tà Mun, mà chỉ vẽ nên bức tranh tổng thể về vị trí của tiếng

Tà Mun, đóng góp mảng cứ liệu ngôn ngữ học cho vấn đề đang bàn Trên cơ sở đó, kết hợp với các lĩnh vực khác, các cơ quan chức năng hữu quan có cơ sở để đưa ra câu trả lời vĩ mô hơn, ngoài phạm vi của luận văn này

3 Lịch sử vấn đề

Cho đến thời điểm chúng tôi làm đề cương để đăng ký đề tài này, tháng 7/2014, thì nguồn tư liệu thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học mà chúng tôi có được vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp tiếng Tà Mun Gần đây, có 2 công trình nghiên cứu tiếng Tà Mun đã được công bố là:

- Lê Khắc Cường, Phan Trần Công, 2013, Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng

Tà Mun ở Tây Ninh, Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ, tập 16, Đại học

Quốc gia Tp Hồ Chí Minh [10]

- Nguyễn Trần Quý, 2014, Hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun (có so sánh với ngữ

âm tiếng Châu Ro), Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

Trang 9

Năm 1966, Henry F Blood công bố công trình A Reconstruction of

Proto-Mnong [64] trên cơ sở so sánh các phương ngữ Mnông và các tiếng khác trong nhóm để phục nguyên ngôn ngữ Tiền Mnông và Tiền Nam Bahnar Đây là công trình sử dụng phương pháp so sánh lịch sử có giá trị đối với nhóm Nam Bahnar David Thomas có những công trình về tiếng Việt và tiếng Châu Ro từ những năm 1950, và sau đó là nhiều công trình về tiếng Châu Ro Mãi đến năm 1980,

trong bài Note on Chrau Ethnogeography [77], David Thomas mới nhắc đến người

Tà Mun (Tamun) Theo hồi tưởng của người Châu Ro thì đây là nhóm người Châu

Ro trốn chạy (hoặc bị bắt buộc tái định cư) đến khu vực của người Stiêng ở Bình Long – Bình Dương hơn 100 năm trước, và trong tiếng Châu Ro “tamun” có nghĩa

là “người” [77, tr.221] Đây là công trình ngôn ngữ học hiếm hoi có nhắc đến người

Tà Mun

Đến năm 2000, Paul J Sidwell công bố công trình Proto South Bahnaric – A

reconstruction of a Mon-Khmer languange of Indo-China [77] Đây là một công trình nghiên cứu gián tiếp – dựa trên cứ liệu của các công trình đã công bố - công phu, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và hệ thống về các ngôn ngữ trong nhóm này Ngoài ra công trình còn là nguồn cung cấp tư liệu quý giá qua các bảng từ phục nguyên, đối chiếu của tác giả cũng như tổng hợp tư liệu của các tác giả đi trước trong cả phần chính văn và phụ lục với dung lượng 167 trang/ 219 trang (không kể phần tài liệu tham khảo) Đây là nguồn ngữ liệu đồ sộ và có hệ thống

Ngoài ra những công trình thuộc lĩnh vực nhân học cũng có nhiều quan điểm khác nhau Có tác giả cho người Tà Mun là một nhánh của người Stiêng, có tác giả xếp vào Khmer Và dĩ nhiên, cũng có những lý do, cơ sở nhất định để có thể đưa ra những kết luận về quan hệ tộc họ của người Tà Mun như trên Cũng có quan điểm chứng minh ngược lại như GS TS M.V Kriukov cùng GS Đặng Tất Chủng [27] Trên cơ sở so sánh nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc theo phương pháp nghiên cứu nhân học, hai tác giả này khẳng định người Tà Mun có quan hệ mật thiết với người Châu

Ro hơn người Stiêng

Trang 10

Gần đây, sinh viên và cán bộ Khoa Văn học – Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG – TP HCM) đã tiến hành hai đợt điền dã vào tháng 3/2011 và tháng 3-4/2013 khảo sát tiếng Tà Mun ở Tây Ninh Từ hai đợt điền

dã này, nhiều báo cáo được sinh viên thực hiện cho thấy bức tranh tổng quát các phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Tà Mun Có cơ hội cùng tham gia, bản thân chúng tôi cũng chỉ mới tiếp xúc với tiếng Tà Mun từ đợt điền dã đầu tiên (3/2011) Từ những ghi nhận ban đầu, kết hợp với những cứ liệu ngôn ngữ mà chúng tôi có dịp khảo sát trước đây cùng với những tranh luận gần đây về tộc người

Tà Mun đã gợi mở cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu sâu về đề tài này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như nhiệm vụ mà mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra, đối tượng chính của

đề tài là tiếng Tà Mun theo hướng so sánh với các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar Cụ thể ở đây là so sánh từ vựng với các ngôn ngữ: Kơho, Stiêng, Mnông,

Mạ, Châu Ro Như vậy, ngoài tiếng Tà Mun là trọng tâm thì việc thu thập ngữ liệu phải được tiến hành đối với tất cả các ngôn ngữ nói trên

Về từ vựng cần thu thập, để phục vụ cho việc xác định quan hệ thân tộc, ngữ

hệ, đối tượng từ vựng chúng tôi chú ý thu thập và cũng là cơ sở khảo sát, tính toán

là bảng 281 từ, là bảng từ được xây dựng trên cơ sở bổ sung danh sách 200 từ của Swadesh Đây là bảng từ vựng cơ bản được nhiều nhà ngôn ngữ học sử dụng để nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này

Bảng từ cùng với phương pháp so sánh lịch sử, ngữ thời học đã được sử dụng, củng cố qua lịch sử ngôn ngữ học nên có độ tin cậy cao Ngoài ra, chúng tôi cũng điều tra mở rộng ngoài bảng từ 281 mà chủ yếu theo bảng từ gồm 1.000 từ mà Đoàn Văn Phúc sử dụng trong công trình về phương ngữ tiếng Êđê [35] để phục vụ mục đích hỗ trợ khác

Về đối tượng công tác viên, đối với tiếng Tà Mun, đối tượng công tác viên của chúng tôi tương đối đa dạng về độ tuổi và giới tính và số lượng Còn đối với các ngôn ngữ khác, do qui mô đề tài mà khối lượng ngữ liệu cần thu thập trải đều trên

cả năm thứ tiếng nên không có điều kiện để khảo sát nhiều đối tượng Vì vậy tiêu

Trang 11

chí tuyển chọn công tác tác viên chỉ cần họ là người trưởng thành với bộ máy cấu

âm không bị dị tật Đây là đối tượng hệ thống tiếng mẹ đẻ đã hình thành ổn định, quá trình tiếp xúc, giao thoa không còn ảnh hưởng đáng kể nữa Đối tượng này có tuổi đời khoảng trên dưới 40

Đối tượng ngữ liệu và cộng tác viên được khoanh vùng như trên vừa vì mục đích nghiên cứu của đề tài, vừa vì hạn chế của đề tài Như trên đã trình bày, đề tài hướng vào việc so sánh từ vựng nên chỉ tập trung vào nhóm từ vựng cơ bản, đây là nhóm từ ít vay mượn nhất Bên cạnh đó, vấn đề giao thoa, tiếp xúc, biến đổi ngôn ngữ giữa các nhóm tuổi, nghề nghiệp, giới tính đối với từng thứ tiếng không phải là mục đích nghiên cứu của đề tài nên không cần thiết mở rộng đối tượng ngữ liệu và cộng tác viên

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu với mục đích và tiến trình như sau:

- Phương pháp nghiên cứu điền dã ngôn ngữ học: thu thập ngữ liệu trực tiếp

từ cộng tác viên đối với bảng từ cơ bản 281 Ngoài ra có thể thu thập thêm từ vựng ngoài bảng từ, điều tra thêm về các điểm ngữ pháp, phỏng vấn sâu về ý thức tộc người Việc điền dã được thực hiện tại các địa bàn Tây Ninh, Bình Phước (Tà Mun, Stiêng), Đăk Nông (Mạ, Kơho), Đăk Lăk (Mnông), Lâm Đồng (Kơho, Mạ), Đồng Nai (Mạ, Châu Ro), Bà Rịa (Châu Ro) Quá trình điền dã được tập trung chủ yếu trong thời gian thực hiện luận văn này Có những chuyến điền dã thực hiện trước đó cho những đề tài nghiên cứu khác mà ngữ liệu cũng được sử dụng ở đây Ngoài ra, cũng có trường hợp phỏng vấn và ghi âm tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp so sánh-lịch sử: Phương pháp này dùng để xác định mối quan

hệ về nguồn gốc giữa các ngôn ngữ và mức độ thân thuộc giữa các ngôn ngữ cùng gốc Xác định tương ứng ngữ âm trên cơ sở các quy luật biết đổi ngữ âm: So sánh bảng từ cơ bản và bảng từ mở rộng để xác định những biến đổi đồng loạt, tương ứng giữa các thứ tiếng về mặt ngữ âm, có thể lý giải trên cơ sở các quy luật biết đổi ngữ âm Từ đó có thể xác định mỗi từ giữa các ngôn ngữ có chung nguồn gốc hay

Trang 12

không Công việc này được áp dụng chủ yếu ở chương 2 của luận văn Đây là bước

cơ sở cho việc tính toán ngữ thời học

- Phương pháp ngữ thời học (phương pháp Swadesh/ glottochronologie) [4, tr.261]: Đây là phương pháp áp dụng cho chương 3 Trên cơ sở những tương ứng ngữ âm, chúng ta có thể xác định tương đồng/ tương đương từ vựng Thống kê tỷ lệ tương đồng từ vựng chúng ta có bức tranh tổng thể về mối quan hệ giữa các ngôn ngữ Từ đó, có thể tính toán thời gian chia tách của từng ngôn ngữ trong nhóm Theo Nguyễn Tài Cẩn, phương pháp Swadesh có một số mặt hạn chế đã bị nhiều nhà ngôn ngữ học nêu lên, chỉ trích Nhưng dầu sao, khi chưa có phương pháp khác tốt hơn, phương pháp này vẫn được dùng trên thế giới, trong một chừng mực nhất định, những con số vẫn có ý nghĩa [4, tr.319]

Với mục đích xác định quan hệ thân tộc, chúng tôi làm việc chủ yếu với lớp từ vựng cơ bản, là lớp từ ít vay mượn nhất Điều đó không có nghĩa là không cần quan tâm đến các lĩnh vực khác Tuy nhiên, các thông tin về từ vựng vẫn quan trọng nhất [31, tr.12] Trong ngôn ngữ học so sánh lịch sử hiện đại có hai phương pháp cơ bản

để xác định mức độ thân thuộc ngôn ngữ: phương pháp xác định cách tân (innovation) và phương pháp thống kê từ vựng (lexicostatistics) [31, tr.13] Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm và đối tượng ngữ liệu khác nhau,

và để phù hợp với mục đích của luận văn này, chúng tôi chọn phương pháp thống

kê từ vựng

Ngoài ngữ liệu trực tiếp thu thập, chúng tôi cũng sử dụng ngữ liệu từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố đối với các ngôn ngữ đang xét Chúng tôi cũng sử dụng các file ghi âm của sinh viên thu thập trong những chuyến thực tập điền dã gần đây Về phương pháp và lý thuyết, ngoài các vấn đề lý thuyết chung về ngôn ngữ học, chúng tôi quan tâm đặc biệt tham khảo các công trình nghiên cứu về mối quan hệ thân tộc giữa các ngôn ngữ, giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ bà con và đặc biệt là các ngôn ngữ Nam Bahnar

Trang 13

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Cần phải nói ngay từ đầu là hướng nghiên cứu của luận văn này là nghiên cứu ứng dụng chứ không phải lý thuyết Vận dụng các lý thuyết, phương pháp, thủ pháp ngôn ngữ học so sánh đồng đại và lịch đại, mục đích của chúng tôi là đi tìm một vị thế thích hợp cho tiếng Tà Mun, ngôn ngữ của một tộc người đang trong vòng nghi vấn Kế thừa hai công trình đã công bố về bản thân tiếng Tà Mun, cụ thể là ngữ âm tiếng Tà Mun, mong muốn của chúng tôi là vẽ nên bức tranh vĩ mô hơn, đó là những mối quan hệ tộc họ ngôn ngữ cho tiếng Tà Mun Đó là một trong những cơ

sở khoa học quan trọng bên cạnh văn hóa học, sử học và ý thức tộc người để có một câu trả lời thích đáng cho người Tà Mun Đó là đóng góp thực tiễn mà luận văn này mong muốn vươn tới

Về mặt khoa học, những so sánh, đối chiếu về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp còn cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu về sự chuyển đổi giữa các ngôn ngữ trong nhóm các ngôn ngữ thân tộc mà cụ thể ở đây là nhóm Nam Bahnar Các công trình phục nguyên cho một số ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar và công trình phục nguyên cho cả nhóm Nam Bahnar từ trước đến nay đều vắng bóng tiếng Tà Mun Bức tranh

về nhóm ngôn ngữ này có vài nét thay đổi khi có sự tham gia của tiếng Tà Mun theo hai hướng: bổ sung thêm những vấn đề mới, củng cố thêm những vấn đề đã được kết luận Cụ thể ở đây là những hiện tượng chuyển đổi ngữ âm Những phát hiện này có thể là những gợi ý, có thể áp dụng, góp phần lý giải cho các ngôn ngữ khác ngoài nhóm Nam Bahnar Đó là đóng góp cơ sở cho ngữ âm học đại cương của luận văn

7 Qui ước trình bày và phiên âm

- Quy ước trình bày: Quy cách trình bày luận văn này tuân thủ theo hướng dẫn

cuốn Cẩm nang sau đại học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại

học Quốc gia tại TP Hồ Chí Minh, TP HCM – 2012) từ trang 217 đến trang 221

Đó là những quy định về: trình bày, soạn thảo văn bản; tiểu mục; bảng biểu, hình vẽ; viết tắt; tài liệu tham khảo và trích dẫn; phụ lục; sắp xếp danh mục tài liệu tham khảo

Trang 14

Ví dụ: Chỉ mục tài liệu tham khảo: đặt trong dấu ngoặc vuông theo mô hình

[số thứ tự của tài liệu trong phụ lục Tài liệu tham khảo, số trang]

- Tên các dân tộc thiểu số: Chúng tôi ghi theo cách ghi của Tổng cục Thống

kê Nếu trích dẫn nguyên văn từ tài liệu khác, phần trích dẫn nguyên văn được đặt trong dấu ngoặc kép và cách ghi tộc danh được giữ nguyên theo nguyên tác Nếu là trích dẫn ý/ nội dung thì tộc danh được ghi theo Tổng cục Thống kê và cách ghi theo nguyên tác được đặt trong dấu ngoặc đơn

Ví dụ:

Trích nguyên văn: “dù kết quả xác định Tà Mun là một thành phần dân tộc hay chỉ là một nhánh nhỏ trong một dân tộc nào đó, thì cũng có được câu trả lời thích đáng cho người Tà Mun”

Trích ý: Mãi đến năm 1980 David Thomas mới nhắc đến người Tà Mun (Tamun)

- Quy ước viết tắt:

Một số ký hiệu quy ước thống nhất trong ngôn ngữ học:

Phiên âm ngữ âm học [ ]

Phiên âm âm vị học / /

Chuyển đổi luân phiên 

Trang 15

SB các ngôn ngữ Nam Bahnar

PSB Tiền Nam Bahnar (Proto South Banaric)

PM Tiền Mnông (Proto Mnong)

- Quy ước ghi âm tiếng dân tộc: Những mô tả sâu, cụ thể về ngữ âm thì chúng tôi sử dụng hệ thống ký tự phiên âm quốc tế của IPA Còn lại chúng tôi sử dụng hệ thống ghi âm Latin hóa được kế thừa và chỉnh sửa theo đặc trưng của nhóm ngôn ngữ đang xét Đây là hệ thống được sử dụng khởi phát từ các công trình nghiên cứu

từ nhóm SIL Sau đó được kế thừa, chỉnh sửa trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam Hệ thống ghi âm mà chúng tôi quy ước sau đây được chỉnh sửa và áp dụng cho các ngôn ngữ đang xét dựa trên ba tiêu chí: thống nhất, khu biệt và tiết kiệm

Quy ước phiên âm dùng trong luận văn:

- Phụ âm đầu/ cuối:

[p] p đầu/ cuối, tắc môi-môi, vô thanh, không bật hơi,

[t] t đầu/ cuối, tắc, đầu lưỡi-lợi, vô thanh, không bật hơi [c] c đầu/ cuối, tắc, mặt lưỡi giữa, vô thanh, không bật hơi [k] k đầu/ cuối, tắc, mặt lưỡi sau, vô thanh, không bật hơi

Trang 16

[/] zero/ q đầu: zero/ cuối: q, tắc thanh hầu, vô thanh, không bật hơi [pʻ] ph đầu, tắc, vô thanh, bật hơi, môi-môi

[tʻ] th đầu, tắc, bật hơi, đầu lưỡi, vô thanh

[cʻ] ch đầu, tắc, bật hơi, mặt lưỡi giữa, vô thanh

[kʻ] kh đầu, tắc, mặt lưỡi sau, vô thanh, bật hơi

[b] b đầu, tắc, môi-môi, hữu thanh, không bật hơi

[d] d đầu, tắc, đầu lưỡi-lợi, hữu thanh, không bật hơi

[j] j đầu, tắc, mặt lưỡi giữa, hữu thanh, không bật hơi

[/b] ƀ đầu, tắc, môi-môi, hữu thanh, tiền thanh hầu hóa

[/d] đ đầu, tắc, đầu lưỡi, hữu thanh, tiền thanh hầu hóa

[/j] ɟ đầu, tắc, mặt lưỡi giữa, hữu thanh, tiền thanh hầu hóa [g] g đầu, tắc, gốc lưỡi, hữu thanh, tiền thanh hầu hóa

[m] m đầu/ cuối, mũi, môi-môi

[n] n đầu/ cuối, mũi, đầu lưỡi-lợi

[ɲ] nh đầu/ cuối, mũi, mặt lưỡi giữa

[ŋ] ng đầu/ cuối, mũi, mặt lưỡi sau

[v] v đầu, xát, môi-răng

[l] l đầu/ cuối, xát bên, đầu lưỡi, vang

[r] r đầu/ cuối, rung, đầu lưỡi, vang

[s] s đầu, xát, đầu lưỡi, vô thanh

[y] y đầu, xát, mặt lưỡi giữa, hữu thanh

[h] h đầu/ cuối, xát thanh hầu, vô thanh

Trang 17

[-i] -i bán phụ âm cuối, khép dần – bẹt môi

[-u] -u bán phụ âm cuối, khép dần – tròn môi

[ɯ] ư dòng sau, độ mở hẹp, không tròn môi

[ɤ] ơ dòng sau, độ mở trung bình, không tròn môi

[a] a dòng sau, độ mở rộng, không tròn môi

[u] u dòng sau, độ mở hẹp, tròn môi

[o] ô dòng sau, độ mở trung bình, tròn môi

[ɔ] o dòng sau, độ mở rộng, tròn môi

[i‿e] ia/ iê- chuyển sắc từ độ mở hẹp đến trung bình, dòng trước,

-phụ âm cuối: ia; + -phụ âm cuối: iê [ɯ‿ɤ] ưa/ ươ- chuyển sắc từ độ mở hẹp đến trung bình, dòng sau, không

tròn môi, -phụ âm cuối: ưa; +phụ âm cuối: ươ [u‿o] ua/ uô- chuyển sắc từ độ mở hẹp đến trung bình, dòng sau, tròn

môi, -phụ âm cuối: ua; +phụ âm cuối: uô

Trang 18

- Dấu phụ

̆ ghi trên nguyên âm thể hiện trường độ ngắn

̯ ghi dưới chữ u (u̯), âm lướt nằm giữa phụ âm đầu và nguyên âm

8 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn bao gồm các chương và phần được trình bày theo thứ tự và nội dung tổng quát như sau:

Phần Dẫn nhập (từ trang 1 đến trang 14): Nêu lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nguồn tư liệu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Chương 1(từ trang 15 đến trang 45): Tổng quan về người Tà Mun và tiếng Tà Mun Chương này gồm hai phần: (1) Giới thiệu tổng quan về người Tà Mun, địa bàn cư trú, quá trình di dân, nguồn gốc tộc danh, đời sống kinh tế, tinh thần; (2) Khái quát về mô hình từ ngữ âm và hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun, những thảo luận về nguồn gốc tiếng Tà Mun

Chương 2 (từ trang 46 đến trang 73): Tương ứng ngữ âm giữa tiếng Tà Mun với các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar Chương này tìm kiếm những từ cùng nguồn gốc với các ngôn ngữ Nam Bahnar thông qua sự tương ứng ngữ âm giữa các thứ tiếng Đối tượng đối chiếu là các thành phần trong cấu trúc từ ngữ âm của tiếng

Tà Mun, bao gồm: tiền âm tiết, phụ âm đầu của âm tiết chính, nguyên âm của âm tiết chính và phụ âm cuối của âm tiết chính

Chương 3 (từ trang 74 đến trang 92): Vị trí của tiếng Tà Mun trong nhóm Nam Bahnar Chương này giới thiệu về phương pháp ngữ thời học và việc xây dựng tộc hệ ngôn ngữ, thống kê tỷ lệ từ cùng nguồn gốc giữa tiếng Tà Mun và các ngôn ngữ Nam Bahnar, áp dụng ngữ thời học để tính toán thời gian chia tách giữa các ngôn ngữ, xác định vị trí của tiếng Tà Mun trong cây phả hệ của nhóm Nam Bahnar

Trang 19

Phần kết luận (từ trang 93 đến trang 95): Tổng kết những kết quả đạt được của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tài liệu tham khảo: Những tài liệu tham khảo để phục vụ việc thực hiện luận văn, được trích dẫn trong luận văn

Trang 20

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀ MUN VÀ TIẾNG TÀ MUN

1.1 Vài nét về người Tà Mun

1.1.1 Địa bàn và quá trình định cư

Cộng đồng tộc người được gọi là người Tà Mun hiện cư trú tại hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước Trong khi đó, quyết định số 121 TCTK của Tổng cục thống kê ngày 02/3/1979 công bố danh sách các thành phần dân tộc trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam có 54 dân tộc và không có tộc danh Tà Mun trong danh sách này [54, tr.15-16] Vì vậy, người Tà Mun được chính quyền địa phương xếp vào nhóm Stiêng Vấn đề tộc danh của nhóm người này cho đến nay vẫn chưa được xác định

và giải quyết một cách thỏa đáng Điều đó có những lý do xuất phát từ quá trình tộc người của nhóm người này và cả những nhóm người khác cư trú xen kẽ trên cũng địa bàn, diễn ra một cách phức tạp dưới tác động của nhiều quá trình Đó là sự di chuyển tìm đất sống do không còn đất canh tác khi thực dân Pháp chiếm đất làm đồn điền cao su (sau khi chiếm Nam Bộ, từ đầu thế kỷ XX thực dân Pháp bắt đầu thử nghiệm và sau đó đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa bằng cách lập các đồn điền cao su ở miền Đông Nam Bộ mà trước nhất là vùng đất đỏ thuộc các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh), bởi tác động của chiến tranh, bởi tác động của các tộc người lân cận nhất là các tộc người cùng nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer, đặc biệt là người Stiêng, Khmer, Châu Ro Người Tà Mun đã theo đạo Cao Đài, chuyển cư về sinh sống gần Tòa thánh Tây Ninh và điều này cũng tác động đến quá trình tộc người của họ, làm cho vấn đề này trở nên phức tạp hơn Nhiều địa phương

có người Tà Mun sinh sống đều lúng túng khi xác định tộc danh của nhóm người này bởi vì họ được xem là một nhóm địa phương của người Stiêng Nhưng khi xếp

họ vào nhóm người Stiêng thì nhiều người trong số họ đã phản đối [2, tr.116] Điều đáng nói ở đây là do chưa xác định tộc danh nên cho đến nay chúng ta chưa có những số liệu thống kê chính thức về dân số người Tà Mun ở cả hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh Vì vậy cũng không có văn bản, tài liệu xác định địa bàn

Trang 21

ăn cho việcđãi cho ngư

g minh nhâành phần dđiền dã, cũng từ lâu đ

nh quyền m

n tộc được rất lớn Kh

ớc, qua giớ

hỉ còn ba hười Tà Muinh, Khmer

ời Khmer

ho tình hìnthể hiện hầnay với mứ

h chính tại

g nhưng gMun Vì vậ

n được thể

c quản lý hười dân tộc

ân dân củadân tộc đượhúng tôi đ

đã nhận mmiền Nam ghi trên đó

a một cộng

ợc ghi là “T

đã gặp khônmình là ngưcấp trước

ó là “Tà Mtại ấp Só

1975 vẫn Mun” Số n

c 5, xã Tâong cộng đ

i Tà Mun g

n hệ hôn n

g là người

y càng thêmbàn được c

ân Hiệp, hđồng tại địgốc, còn lạnhân với c

c hiện các

năm 1979

Khmer đãgiấy tờ tùy

ưu giữ đếnKhmer nàyhuyện Hớn

Trang 22

của họ Trường hợp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh chẳng hạn, cộng đồng ở ấp Tân Định 2, xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu mang đậm dấu ấn của người Khmer Mặc dù tự nhận là người Tà Mun nhưng khi chúng tôi điều tra sâu vào ngôn ngữ thì

họ thừa nhận gốc Khmer và phần lớn ngôn ngữ sử dụng hàng ngày là tiếng Khmer

Do đó, khi khảo sát điền dã ở đây, việc tìm cộng tác viên rất khó khăn Thời gian chúng tôi làm việc ở đây cũng có một nhóm sinh viên ngôn ngữ học (Khoa Văn học – Ngôn ngữ, Trường ĐH KH XH&NV, ĐHQG TP HCM) đang điền dã ở đây và cũng gặp cùng vấn đề cộng tác viên Vấn đề này chúng tôi không gặp phải ở những địa bàn khác Những nơi đó chúng tôi cũng gặp nhiều người gốc Khmer nhưng họ cho biết là đang sử dụng tiếng Tà Mun và được các cộng tác viên khác xác nhận (khi điều tra ngôn ngữ, chúng tôi luôn làm việc đồng thời với số lượng cộng tác viên từ 2 người trở lên) và việc cung cấp ngữ liệu được họ thực hiện một cách dễ dàng

Ở Bình Phước, người Tà Mun hiện sinh sống chủ yếu ở ấp Sóc 5, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản Theo thống kê năm 2012, tại tỉnh Bình Phước có 234 hộ với 1.143 người tự nhận là người Tà Mun Trong đó, tại xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản chiếm 218 hộ người Tà Mun với 1.015 nhân khẩu Đây được cho là vùng cư trú lâu đời của người Tà Mun, rồi từ đó chuyển đi nhiều nơi rồi định cư ở Tây Ninh Như vậy, người Tà Mun ở Tây Ninh có nguồn gốc di cư từ Bình Phước, mà cụ thể

là từ ấp Sóc 5 Thực tế thì phần lớn người Tà Mun ở Tây Ninh đều có bà con ở Bình Phước và họ có quan hệ, qua lại chặt chẽ với nhau Quá trình tiếp cận người Tà Mun của chúng tôi bắt đầu từ Tây Ninh Ở đây, người ta đều nói về nguồn gốc của mình từ Sóc 5 Qua sự giới thiệu từ các cộng tác viên ở Tây Ninh, chúng tôi mới tìm đến các cộng tác viên ở Sóc 5 dễ dàng

Ngoài bộ phận người Tà Mun chuyển sang định cư ở Tây Ninh, bộ phận còn lại ở Bình Phước cũng có sự dịch chuyển nhưng không quá xa địa điểm hiện tại

Theo già làng thì “hồi trước ở trong kia” rồi dịch chuyển dần ra đây Còn vị trí

trong kia thì chỉ mất 10 phút đi bộ Điểm đáng chú ý là điểm cư trú của người Tà

Mun cũng là vùng cư trú của người Stiêng (nhóm Budeh) Khu vực này cũng có

Trang 23

những phum sóc của người Khmer Cư trú lân cận nhau nên diễn ra quá trình giao lưu văn hóa, ngôn ngữ, quan hệ hôn nhân… khá mạnh mẽ giữa người Tà Mun với người Stiêng, Khmer, mà đặc biệt là với người Stiêng Phần lớn người Tà Mun ở Sóc 5 cũng mang họ Điểu như người Stiêng Điều đó góp phần giải thích vì sao người Tà Mun được xếp vào tộc người Stiêng [2, tr.119]

Người Tà Mun ở Tây Ninh, tất cả đều cho rằng họ vốn từ xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản của tỉnh Bình Phước chuyển sang Khu vực này được họ nói đến với tên Sóc 5 Nguyên nhân khiến họ di chuyển ra khỏi địa bàn cư trú là do tính chất du canh du cư của người Tà Mun trước đây, do mất đất vì thực dân Pháp làm đồn điền cao su, do tình hình chiến tranh trong những năm 1945-1954 và việc di cư sang Tây Ninh còn do quá trình theo đạo Cao Đài của người Tà Mun

Khi chuyển đến Tây Ninh, sự tiếp xúc mới người Khmer có cơ hội diễn ra mạnh mẽ hơn Nhiều nơi quan hệ giữa người Tà Mun và người Khmer trở nên rất chặt chẽ qua quá trình chung sống, kết hôn,… khiến cộng đồng người Tà Mun chịu ảnh hưởng nhiều về ngôn ngữ và phong tục tập quán của người Khmer

Hiện nay địa bàn cư trú của người Tà Mun ở Tây Ninh tập trung ở những nơi như sau:

- Thị xã Tây Ninh: ấp Ninh Đức (xã Ninh Thạnh), ấp Thạnh Hiệp (xã Thạnh Tân), ấp Tân Lập (xã Tân Bình)

- Huyện Tân Châu: ấp Tân Đông (xã Tân Thạnh)

- Huyện Tân Biên: ấp Suối Ông Đình (xã Trà Vong), ấp Mới (xã Tân Phong)

- Huyện Dương Minh Châu: ấp Tân Định 2 (xã Suối Đá) Theo Phan An thì

“cư dân ở đây tuyệt đại đa số là người Khmer chứ không phải là người Tà Mun” [2, tr.121]

Như trên đã nói, hiện nay không có một con số chính thức về dân số tộc người

Tà Mun từ Tổng cục Thống kê Những con số về dân số tộc người Tà Mun trong luận văn này được dẫn từ các nguồn báo chí, hoặc được cung cấp từ chính quyền địa phương, già làng qua các đợt điền dã và từ các nguồn tài liệu khác Vì vậy những con số này chỉ mang tính tương đối và thay đổi tùy thời điểm Ước tính của

Trang 24

Phan An cho rằng cuối năm 2008 thì số người Tà Mun nói chung có hơn 3.000 người và hơn 50% sinh sống tại tỉnh Tây Ninh [2, tr.121]

Bên dưới là cứ liệu về mặt hành chính liên quan đến tộc danh Tà Mun

Hình 1.2: Khu sinh hoạt văn hóa dân tộc Tà Mun tại xã Tân Bình, thị xã Tây Ninh,

trong chuyến điền dã cùng sinh viên ngôn ngữ học tháng 02/2011

1.1.2 Về hoạt động kinh tế

Theo Phan An, trước năm 1975, người Tà Mun làm nông nghiệp theo hình thức quảng canh: chặt cây, đốt, chọt lỗ, trỉa hạt Cây trồng chính là lúa rẫy hoặc bắp tuỳ vào loại đất Mỗi năm chỉ canh tác một vụ lúa Có nơi xen canh một vụ lúa một

vụ bắp Năng suất lúa rẫy thấp, chỉ khoảng 2-3 tấn/hecta Sau khi học tập cách trồng lúa nước từ người Kinh và người Khmer họ vẫn chưa thể cải thiện đời sống kinh tế Thời gian canh tác trên một rẫy mới khai phá là 2-3 năm, tối đa là 5 năm Khi rẫy bạc màu thì họ lại tìm một cánh rừng khác để phát rẫy mới Họ cũng săn bắn và hái lượm trái cây, rau củ để góp thêm lương thực cho bữa ăn hằng ngày Mặt khác, họ làm thêm các đồ thủ công đan lát để sử dụng trong gia đình Tóm lại, hoạt động kinh tế của người Tà Mun còn mang tính tự cấp tự túc

Từ sau năm 1975, khi được nhà nước cấp đất định cư, ổn định sản xuất, người

Tà Mun chuyển sang định canh và bắt đầu thâm canh tăng vụ, trồng thêm các loại cây lâu năm như xoài, mít… Cây hàng năm thường là lúa nước và mì Phần lớn các

Trang 25

hộ Tà Mun trồng mì do ít đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu Tuy nhiên, do việc tăng dân số ở đây và do đời sống còn nhiều khó khăn nên nhiều hộ đã bán đất dẫn đến tình trạng thiếu đất sản xuất

Hiện nay đại bộ phận người lao động Tà Mun làm thuê nông nghiệp ở các xã

mà họ sinh sống hay vùng lân cận Công việc của họ là làm cỏ, trồng mì, nhổ mì, trồng mía, chặt mía, cạo mủ cao su…

1.1.3 Đời sống tinh thần

Đời sống tinh thần của người Tà Mun đã có chuyển biến lớn từ đầu thế kỉ 20,

sự kiện này được đánh dấu bằng việc họ theo đạo Cao Đài Cho đến nay, ở hầu hết các điểm cư trú của họ đã có thánh thất Cao Đài Quá trình thực hiện các đức tin của đạo tạo cơ hội cho người Tà Mun tiếp xúc mạnh mẽ với người Việt Các nghi lễ của đạo Cao Đài của người Tà Mun ngày càng chịu ảnh hưởng của phong tục người dân Nam bộ Ảnh hưởng rõ nét nhất là trong phong tục cưới hỏi, tang ma

Mặc dù theo đạo Cao Đài nhưng tín ngưỡng vốn có của người Tà Mun vẫn được giữ gìn Tín ngưỡng của người Tà Mun là bái vật giáo Họ tin rằng có thần

linh nói chung và được gọi là un cô Un cô nghĩa là “bà ông” (un = bà, cô = ông) Theo nghĩa thông dụng thì un cô để chỉ những người thuộc thế hệ cha chú của cha

mẹ mình, nhưng ở đây nó được dùng như một ẩn dụ để chỉ thần linh: un cô he (thần đất), un cô mir (thần rẫy), un cô panâm (thần núi), un cô lê (thần sông) [2, tr.136]

Người Tà Mun tin rằng con người và các loài vật đều có linh hồn Bởi lẽ con người có linh hồn nên cũng có một thế giới của người chết Linh hồn của người chết được gọi là “un ta” Trong từ “un ta” thì “un” nghĩa là bà, “ta” có nghĩa là ông Nghĩa ẩn dụ của “un ta” là tổ tiên Cũng như “un cô” nghĩa đen là ông bà, nghĩa ẩn

dụ là thần linh, “un ta” nghĩa đen là ông bà, nghĩa ẩn dụ là tổ tiên Dựa vào hệ thống thuật ngữ thân tộc của người Tà Mun hiện nay, ta thấy người Tà Mun chịu ảnh

hưởng của người Khmer qua hai thuật ngữ âu (cha), ta (ông), trong khi thuật ngữ vốn có của họ là vap (cha), cô (ông)

Trang 26

1.1.4 Nghi lễ vòng đời

Phụ nữ Tà Mun khi mang thai phải giữ một số kiêng kị như không đứng ở ngạch cửa, không ngồi lên chõng tre, cây chổi Trước kia, người Tà Mun thường sinh con tại nhà Bà mụ đỡ đẻ sẽ dùng cật tre để cắt rốn trẻ sơ sinh Người mẹ sau khi sinh được cho uống một loại thuốc gồm nhiều loại thảo dược có trong rừng Loại thuốc này được chính sản phụ hoặc mẹ của sản phụ chuẩn bị trước khi sinh Tác dụng của thuốc là phục hồi sức khoẻ và làm cho sản phụ có đủ sữa cho con bú Hiện nay, thai sản đều đến trạm xá sinh nở Nhiều phụ nữ Tà Mun đã có ý thức về việc kế hoạch hoá gia đình

Theo phong tục người Tà Mun, cha mẹ không làm lễ đầy tháng cũng như thôi nôi như người Kinh Tên được đặt sau khi sinh hoặc được gia đình chọn trước Tên thường đặt là tên con vật hoặc theo tên một loại cây, rau quả nào đó Khi đặt tên,

người ta thường dùng ka trước tên dùng cho nữ, a trước tên dùng cho nam Nghi lễ

vòng đời đáng chú ý của người Tà Mun là hôn lễ và tang lễ

Về hôn lễ, cha mẹ muốn dựng vợ gả chồng cho con cái mình thì phải nhờ mai mối Hai bên sui gia không trực tiếp nói chuyện cưới hỏi Hôn sự gồm ba lễ chính:

lễ dạm hỏi, lễ hỏi và lễ cưới Người mai mối (tomka) là người lớn tuổi, chín chắn,

có uy tín và là người đại diện cho gia đình nhà trai đến trao đổi với nhà gái về hôn

sự Người Tà Mun không có tập quán xem tuổi cưới hỏi Lễ hỏi được tổ chức tại nhà cô gái Trong ngày cưới, nhà trai mang sang nhà gái hai mâm xôi gà và ba chai rượu

Trước đây người Tà Mun có tục ở rể Hiện nay không còn tục ở rể này nữa Chú rể chỉ sang giúp nhà gái khi có việc cần và có thể ở lại nghỉ đêm ở nhà gái Thời gian ở rể trước kia kéo dài 3 năm Hiện nay, thời gian từ lễ hỏi đến lễ cưới thường chỉ vài tháng và không kéo dài hơn một năm Người Tà Mun trước đây không nạp tiền cho nhà gái trong lễ cưới nhưng hiện nay chịu ảnh hưởng của người Kinh nên họ cũng nạp tiền Sau đám cưới, chú rể ở lại nhà vợ và trở thành thành viên chính thức của nhà vợ Khi ra ở riêng, họ thường dựng nhà ở gần nhà cha mẹ

vợ Người dân trong xóm Tà Mun thường giúp đỡ lẫn nhau trong việc xây nhà

Trang 27

Về nghi thức tang lễ, vài chục năm trước, người ta chỉ dùng tre bện lại để bó xác người chết rồi đem chôn Người chết sau khi được tắm rửa sạch sẽ được quấn lại trong ba lớp: lớp đệm bàng, lớp đệm dứa, lớp vạt tre đan lại Hiện nay, người ta dùng vải hoặc chiếu Người Tà Mun không có tập quán xem ngày để chôn cất nên tang lễ không kéo dài quá hai ngày

Người Tà Mun thường chôn người chết vào buổi sáng Khi đưa quan tài ra huyệt, người ta thường hướng chân người chết ra phía trước Việc này được lí giải

là để người chết không nhìn thấy người thân mà vương vấn Khi hạ huyệt, người ta chuẩn bị các vật dụng cho người chết mang theo bao gồm: ba cái chén, hai cái nồi, một cặp gà còn sống…

Ngày thứ ba sau khi chôn cất, người ta làm lễ mở cửa mả cho người chết Gia chủ mang lễ vật gồm một con gà trống đã luộc chín, cơm, xôi, muối, rượu, nhang…

để cúng lễ mở cửa mả

1.1.5 Các lễ trong năm

Lễ cầu mưa (16 tháng 4 âm lịch)

Thời gian tổ chức lễ cầu mưa là vào giữa tháng tư âm lịch nhằm cầu cho mưa thuận gió hoà Lễ này thường tổ chức ở gốc cây lớn trong sóc Thời gian cúng lễ là lúc xế chiều người dân trong sóc mang thức ăn đến làm lễ vật cúng Vật dùng tế lễ còn có ba ông táo được đắp bằng đất gò mối, kích cỡ bằng một cái chén Già làng thắp hương khấn vái cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi

Lễ cúng ông bà quăk un ta (29 hoặc 30 tháng 8 âm lịch)

Quăk un ta có thể được xem là tết của người Tà Mun Tết này diễn ra vào

ngày 29 hoặc 30 tháng 8 âm lịch hằng năm Có thể đây là lễ tết ảnh hưởng từ lễ Đolta của người Khmer Ở các gia đình sẽ bày hai mâm cơm, một mâm bày trong nhà để cúng ông bà, còn mâm kia bày trước sân để cúng thần đất Lễ này cũng được xem là ngày rước ông bà vì sau đó ba ngày liên tiếp mỗi nhà đều phải làm một mâm cơm cúng ông bà Trong dịp lễ này, người Tà Mun ở Tây Ninh thường gói bánh ít, bánh tét (piêng) để cúng

Trang 28

Trước kia, người Tà Mun thường cúng đồ ăn mặn nhưng hiện nay theo đạo Cao Đài nên họ cúng đồ ăn chay Vì làm cơm chay nên họ không mời khách đến

dự, chủ yếu là người trong nhà sum họp trò chuyện Vào ngày 3 tháng 9 âm lịch, mỗi nhà giết thịt hai con gà để tết nhà và để cúng cô hồn đồng thời tết cho trâu bò

Ngày lễ này được gọi là kung minqual, cúng xong thì chủ nhà mời khách ăn uống

Lễ cúng sau thu hoạch (16 tháng 11 âm lịch)

Cũng như lễ cầu mưa, lễ cúng sau thu hoạch chỉ được tổ chức lại sau năm

1976 vì lúc này họ mới được làm rẫy trở lại Thời gian tổ chức là buổi chiều, tại cây lớn giữa khu đất trống Mỗi hộ sẽ đóng tiền hoặc lễ vật tuỳ theo khả năng của mình

Lễ vật chính phải có là một đầu heo, bộ đồ lòng, bốn giò heo và cái đuôi cùng với hương, rượu… Cũng như các lễ khác của người Tà Mun, già làng làm trưởng lễ

1.2 Những thảo luận về nguồn gốc và tộc danh của người Tà Mun

Một tộc danh thường được hình thành theo hai phương thức: (1) Tộc danh tự gọi và được các dân tộc lân cận gọi theo; (2) Tộc danh do các dân tộc lân cận gọi và tộc người được gọi cũng chấp nhận Về nghĩa thì từ chỉ một tộc danh của một tộc người phần lớn có nghĩa là “người”, số này thường được hình thành theo phương thức (1) Một số tộc danh còn có nghĩa chỉ một tầng lớp trong xã hội, chỉ địa bàn cư trú, một đặc điểm nhận dạng,…, số này thường được hình thành theo phương thức (2) Về một nhóm người sử dụng một phương ngữ/ thổ ngữ trong một cộng đồng cùng ngôn ngữ thì được gọi bằng tộc danh đó đi kèm với một định ngữ thường chỉ địa bàn cư trú Ví dụ “Theo sự phân loại hiện nay thì người Xtiêng có 2 nhóm: Xtiêng Bù-dek – dân Xtiêng vùng đồng bằng và Xtiêng Bù-lơ – dân vùng núi” [14, tr.89]

Do quá trình cộng cư lâu đời giữa cộng đồng người Tà Mun với người Stiêng

và Khmer, người Tà Mun chịu ảnh hưởng khá lớn từ hai cộng đồng này thể hiện trong ngôn ngữ và đời sống văn hóa

Người Khmer gọi người Tà Mun là “Thamuôl” Người Tà Mun tự gọi mình là

“Kàmuôn” hay “kamon” Nhưng hiện nay theo cách gọi của người Kinh là “Tà Mun” mà trong một số văn bản còn ghi theo cách phát âm Nam bộ là “Tà Mung”

Trang 29

Theo Phan An, từ “kàmuôn” có thể là tên họ của một dòng tộc của nhóm Jro Còn tộc danh Tà Mun do người Kinh trong đạo Cao Đài gọi họ với hàm nghĩa sắc tộc da ngâm hơn da người Kinh và cũng với hàm nghĩa sống ở vùng rừng núi Tộc danh này gắn với quá trình theo đạo Cao Đài

Tác giả Phan An đã trích dẫn lại trong các văn bản thuộc đạo Cao Đài Trong một tài liệu ghi chép thông tin về đại hội của đạo Cao Đài tại chùa Gò Kén từ ngày 18-20 tháng 11 năm 1926, thành phần người tham dự có: người Hoa, người Ấn Độ, người Khmer, người Chăm, người Lào, người Tà Mun Trong tài liệu này, người Tà Mun được gọi là “Ta Muon” ở “vùng núi Bà Rá, Hớn Quản” Vùng núi Bà Rá là địa bàn cư trú của người Stiêng và người Khmer nhưng khó xác định về điểm cư trú của người Tà Mun [2, tr.126]

Năm 1972, trong tác phẩm Cao Thượng Phẩm Luật Tam Thể Nữ Đầu Sư

Hương Hiếu, Trần Văn Rạng có đề cập tới việc người Tà Mun tham gia xây Thánh

Thất Cao Đài như sau: “Lúc khởi công để phá rừng, người Miên, Tà Mun xuống cả

ngàn người làm công quả.” Lê Văn Trung (1973) cũng có nhắc đến tộc người Tà

Mun trong Lễ táng phần xác Đức Quyền Giáo Tông, “Ðạo Hữu Ðường Nhơn, Tần

Nhơn, Tà Mun v.v đứng trong sân số 13, ” (dẫn theo [2, tr.130])

Về ngôn ngữ, bằng ngữ cảm của người bản ngữ, trong quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy các cộng tác viên có thể phân biệt những từ nào là từ vay mượn

từ tiếng Khmer Còn những từ trong tiếng Tà Mun thì những người có kinh nghiệm tiếp xúc với người Stiêng có thể phân biệt được cách phát âm nào là của Tà Mun, cách phát âm nào là của Stiêng

Các công trình nghiên cứu lễ hội, địa chí, âm nhạc dân gian của ngành văn hóa hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước cũng khẳng định phong tục tập quán, âm nhạc

và đặc biệt là ngôn ngữ của người Tà Mun có nhiều khác biệt so với người Stiêng, một số điểm tương đồng với người Khmer do quá trình cộng cư tạo nên Đặc biệt là

ở Tây Ninh, số lượng người gốc Khmer đông nên những các lễ hội, sinh hoạt cộng đồng của người Khmer được duy trì trong cộng đồng Những người gốc Khmer này cũng tự xưng là người Tà Mun và sống chung trong cộng đồng nên Vần đề này dễ

Trang 30

gây ngộ nhận khi khảo sát, nghiên cứu từ góc độ văn hóa, dễ đi đến kết luận người

Tà Mun là một nhóm tộc người thuộc dân tộc Khmer

Tuy nhiên, về mặt ngôn ngữ thì có thể khẳng định là người Tà Mun không

phải là người Khmer Theo Mạc Đường, tộc người Tà Mun là một nhóm người đặc

biệt về đặc trưng xã hội và tộc người [14, tr.38] Ông nghiêng về quan điểm Tà

Mun trước hết là nhóm tộc người Stiêng và gọi nhóm người này là người Tà Mun

gốc Stiêng, còn người Châu Ro thì di cư đến và sống chung trong những năm kháng

Pháp [14, tr.38-39] Quan điểm của Mạc Đường được Phan An tổng kết lại như sau:

người Tà Mun là một cộng đồng người hợp nhất giữa một bộ phận người Stiêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Khmer với người Châu Ro, cùng theo đạo Cao Đài và đoàn kết lại với nhau chống lại thực dân Pháp ngay trên mảnh đất có tên Tàmun và địa danh đó trở thành tộc danh của cộng đồng này [2, tr.127]

Năm 1991, Mạc Đường bổ sung thêm thông tin về địa danh đã trở thành tộc

danh Tà Mun Theo tác giả thì “tộc danh (Tà Mun) có lẽ là tên một địa phương có

liên quan đến tục thờ thần thổ địa (Niek tà) của người Khmer (sóc) với điểm dân cư không phải người Khmer sống bên cạnh người Khmer và do người Khmer đặt ra để gọi nhóm người này ” Cũng theo Mạc Đường, “ở Tây Ninh, đại bộ phận họ thừa nhận gốc tích của bản thân họ là người Stiêng, nhưng hiện tại họ vẫn tự gọi là người Tà Mun.” [15, tr.286]

Năm 1990, M B Kriukov và Trần Tất Chủng lí giải về nguồn gốc của người

Tà Mun theo phương pháp dùng các thuật ngữ thân tộc Các thuật ngữ thân tộc có thể phần nào giúp người nghiên cứu dựng lại lịch sử một tộc người và xác định mức

độ gần gũi của các nhóm thân thuộc Theo hai tác giả thì thuật ngữ thân tộc là một

hệ thống khép kín, trong đó mỗi thuật ngữ là một thành tố của một cơ cấu thống nhất Phương pháp lập phả hệ được hai tác giả này tiến hành nghiên cứu tổng hợp các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc để so sánh tiếng Tà Mun với tiếng Khmer, Stiêng, Châu Ro

Kết quả nghiên cứu của Trần Tất Chủng và M B Kriukov đưa đến nhận xét: ngoài những thuật ngữ thân tộc chung của các dân tộc Mon-Khmer, các thuật ngữ

Trang 31

đặc trưng của mỗi thứ tiếng cho thấy mối quan hệ giữa tiếng Tà Mun với các ngôn ngữ đang xét như sau:

- Với tiếng Khmer: “Không thấy sự tương đồng nào trong dạng thức từ vựng của các thuật ngữ thân tộc mà các dân tộc này đang sử dụng [27, tr.37]

- Với tiếng Stiêng: “Chúng tôi không tìm được bằng chứng nào cho thấy sự gần gũi giữa hệ thống thân tộc của người Tà-mun với các nhóm tộc người được xem

là Xtiêng” [27, tr.38]

- Với tiếng Châu Ro: “Thuật ngữ thân tộc người Tà-mun và người Chơ-ro có

sự gần gũi nhất tất cả hệ thống thuật ngữ thân tộc của các dân tộc Môn-Khơme hiện nay (…) Sự trùng hợp đó chỉ có thể giải thích được là người Chơ-ro và Tà-mun có

1 nguồn gốc” [27, tr.39]

Hai tác giả đi đến kết luận người Tà Mun là một bộ phận của người Chơ-ro đã

bị mất mối liên hệ với cộng đồng tộc người của mình trong quá trình di chuyển và đang chịu sự ảnh hưởng của người Khmer Hoàn toàn không có cơ sở nào để nói rằng Tà Mun là một nhóm thuộc tộc người Stiêng [27, tr.39]

Kết luận này khẳng định thêm ý kiến của David D Thomas được ông đưa ra

từ năm 1980 trong bài Notes on Chrau Ethnogeography (trong Notes from

Indochina, Marilyn Gregerson và Dorothy Thomas chủ biên, tr.215-254) [77] Theo

hồi tưởng của người Châu Ro thì đây là nhóm người Châu Ro trốn chạy (hoặc bị bắt buộc tái định cư) đến khu vực của người Stiêng ở Bình Long-Bình Dương hơn 100 năm trước, và trong tiếng Châu Ro “tamun” có nghĩa là “người” [77, tr.221] Đây là công trình ngôn ngữ học hiếm hoi có nhắc đến người Tà Mun trong thời gian trước

Năm 2010, trong chuyên khảo Các ngôn ngữ Nam Á ở Việt Nam (đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ do Tạ Văn Thông chủ nhiệm), Nguyễn Văn Lợi (thành viên) không nói đến người Tà Mun nhưng trong phần nói về tiểu nhóm Nam Barnah có

một chi tiết cho thấy Ta mun là một một tên gọi khác để gọi người Châu Ro Ông

trình bày như sau:

Trang 32

Tiểu nhóm Ba na Nam : 1 Cơ ho (Cơ Ho, Kơ Ho) Các phương ngữ… 2 Mnông (Mơ nông) Các phương ngữ… 3 Mạ (Châu Mạ) 4 Xtiêng (Stiêng), Chrau (Châu ro, Chro, Ro, Ta mun) [31, tr.64]

Đến năm 2013, trong bài Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun ở Tây

Ninh, trên cơ sở so sánh bảng từ 281 giữa các thứ tiếng trong nhóm Nam Bahnar,

hai tác giả Lê Khắc Cường và Phan Trần Công đã đi đến kết luận: “Căn cứ vào vốn

từ vựng cơ bản và những đặc điểm về mặt ngữ pháp, có thể khẳng định tiếng Tà Mun là một ngôn ngữ thuộc họ Nam Á, chi Mon-Khmer, nhánh Đông Mon-Khmer, nhóm Bahnar, tiểu nhóm Nam Bahnar (bao gồm các ngôn ngữ Mnông, Kơho, Chrau, Stiêng, Mạ)” và đi đến kết luận “So sánh vốn từ cơ bản trong bảng 281 từ của Morris Swadesh, chúng tôi thấy tiếng Tà Mun và tiếng Chrau giống nhau khoảng 70% Có rất nhiều từ mà tiếng Chrau chỉ giống tiếng Tà Mun và khác với các ngôn ngữ còn lại trong nhóm Điều này cho thấy tiếng Tà Mun đã có quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Chrau, đúng như lời kể của nhiều đồng bào Tà Mun tại Tây Ninh.” [10, tr.16]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về sau cả lĩnh vực nhân học lẫn ngôn ngữ học ngày càng thống nhất quan điểm xem người Tà Mun là một tộc người có quan hệ gần gũi với người Châu Ro

Trong bối cảnh một xã hội đa dân tộc, giữa các dân tộc lại có quá trình tiếp xúc mạnh mẽ thì việc dùng chung một số thuật ngữ thân tộc là điều có thể xảy ra

Ví dụ: ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, người Kinh, người Khmer sống gần với người Hoa nên sử dụng chung một số thuật ngữ thân tộc của người Hoa Phan An

đã lập hệ thống thân tộc dạng phả hệ để so sánh dựa theo thông tin của ông Lâm Sứt, già làng, người Tà Mun ở ấp Thạnh Hiệp, xã Tân Thạnh Mặt khác, ông đã lập

hệ thống thân tộc của người Châu Ro (nhóm Jro ở Túc Trưng) nhờ ông Điểu Sao sinh năm 1952, ngụ tại ấp Đức Thắng 1, xã Túc Trưng, huyện Định Quán

Những khác biệt về thuật ngữ thân tộc mà Phan An tìm thấy:

- Cha: người Tà Mun ở Tân Thạnh gọi theo người Khmer là âu khác với người Jro là vap

Trang 33

- Ông: người Tà Mun ở Tân Thạnh gọi theo người Khmer là ta khác với người Jro là cô

- Em gái cha / em gái mẹ: người Tà Mun có sự phân biệt em gái cha pê, em gái mẹ têq và người Jro không phân biệt đều gọi là yong

Những khác biệt kể trên không đáng kể

Theo Phan An, người Châu Ro có ba nhóm là Chrau, Jro và Jron’he Trước năm 1954, ba nhóm này sống khá biệt lập trên địa bàn bao gồm cả tỉnh Đồng Nai, các huyện Tây Nam tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và các huyện Tánh Linh, Đức Linh của tỉnh Bình Thuận Ba nhóm này sống khá riêng biệt Nhóm Chrau đông dân nhất, tập trung ở khu vực núi Chứa Chan, Long Khánh, Ngãi Giao; nhóm Jro tập trung ở Túc Trưng, Lí Lịch, Bình Lộc, Đồng Xoài, Bàu Hàm, Hàng Gòn; nhóm Jron’he sống ở

Võ Đắc, Võ Xu, Trãng Táo, Gia Huynh, Gia Rây Ngoài ra có nhóm Lacanh, cư trú tại thị trấn Định Quán, nằm trong khu người Mạ sinh sống Tiếng nói của người Lacanh cũng giống tiếng Châu Ro nhưng sống cùng với người Mạ nên họ cũng nói được tiếng Mạ Những năm 1965-1968, các nhóm Châu Ro bị dồn dân lập ấp chiến lược nên có sự đan xen giữa ba nhóm Theo Phan An thì tiếng nói của người Tà Mun là gần gũi với nhóm Jro của người Châu Ro nhất Nhóm Jro có số dân ít nhất trong ba nhóm và cư trú ở các vùng đất đỏ Phan An tin rằng, nhóm Tà Mun đã tách

từ nhóm Jro và họ theo dải đất đỏ ba zan đi dần về phía Hớn Quản, Bình Phước và dần dần tách khỏi cộng đồng Jro của mình [2, tr.130] Phan An cũng tán đồng ý kiến của D Thomas (1980) rằng người Tà Mun là một trong những nhóm của người Châu Ro do người Pháp đưa từ Đồng Nai lên Sông Bé cách đây hơn 100 năm Theo

D Thomas thì khoảng thập niên 60 của thế kỷ trước, những người dân di cư này vẫn gọi mình là Châu Ro, mà lúc đó cái tên Tà Mun đối với họ còn xa lạ [2, tr.128] Trong quá trình điền dã chúng tôi cũng thử đặt câu hỏi với các cộng đồng khác

về sự tồn tại của người Tà Mun Người Stiêng và Khmer ở Tây Ninh và Bình Phước thì có quan hệ tiếp xúc và biết người Tà Mun Còn người Mạ, người Mnông ở Đắk Nông thì không hề biết, người Châu Ro ở Đồng Nai và Bà Rịa cũng không biết người Tà Mun nhưng họ liên hệ với ngôn ngữ của mình vì “tamun” trong tiếng

Trang 34

Châu Ro có nghĩa là “người/ người ta” (D Thomas cũng nói đến) Cũng như trong tiếng Tà Mun, “kamon” cũng có nghĩa như vậy và tộc danh tự gọi của người Tà Mun cũng là “Kamon”

Ở Tây Ninh, Bình Phước, người ta hay đoán tộc danh của mỗi người thông qua tên họ vì gần như mỗi dân tộc mang một tên họ riêng Ở Tây Ninh, người mang

họ Điểu là người Stiêng, họ Cao, họ Danh là người Khmer Người Tà Mun họ Lâm

Có thể người Tà Mun đã đổi từ họ Điểu sang họ Lâm kể từ khi họ theo đạo Cao Đài Theo lời người Tà Mun lớn tuổi, trước khi theo đạo Cao Đài, người Tà Mun đều mang họ Điểu Đến khi theo đạo, về cư trú ở ngoại ô Toà Thánh, họ đổi thành họ Lâm Lâm có ý nghĩa là sống trong vùng rừng núi Hiện nay, người Tà Mun ở Bình Phước cũng theo đạo Cao Đài, đồng thời đổi thành họ Lâm nhưng không rõ từ khi nào

Một ví dụ về việc biến cố xã hội ảnh hưởng đến họ của người Khmer ở Tân Định 2 là một minh chứng Theo ông Lâm Sê, lúc còn ở Bình Phước (trước năm 1939), bà con trong Sóc đều mang họ Điểu như họ của người Stiêng ở Bình Phước Tuy thế, năm 1948 vào chiến khu D, ở cùng với người Khmer nhóm dân cư này đổi thành họ Danh như người Khmer Đến năm 1955, trở về Trà Dơ, theo đạo Cao Đài

họ lại đổi sang họ Lâm như họ của người Tà Mun Trong sổ cầu đạo của tín đồ Cao Đài ở đây đều mang họ Lâm

Cũng có trường hợp người Stiêng đổi từ họ Điểu sang họ Lâm Ví dụ trường hợp ông Giáo hữu Điểu Liễu ở Ninh Đức, đổi thành họ Lâm khi theo đạo Cao Đài Hay trường hợp ông Lâm Văn Sol, cha là người Hoa, mẹ là người Khmer ở Svay Riêng, Campuchia Ông họ Cao nhưng khi được chia đất tại ngoại ô Toà Thánh, ông Sol đã đổi thành họ Lâm

Tại ấp Tân Đông, những người Khmer lánh nạn từ Campuchia sang dù có ý thức về bản sắc dân tộc của mình nhưng vì lí do nào đó họ tự nhận mình là người

Tà Mun và mang họ Lâm

Việc các dân tộc Stiêng, Khmer, Tà Mun ở Tây Ninh khi theo đạo Cao Đài đã đổi thành họ Lâm không có nghĩa các dân tộc này đánh mất ý thức tộc người gốc

Trang 35

của mình Tên họ mà các dân tộc này đang sử dụng không phải là một tập tục truyền thống lâu đời mà chỉ mới hình thành cách đây không lâu Theo Phan An có lẽ từ thế

kỉ 18, khi tiếp xúc với người Kinh

Bình Phước Tây Ninh

S

S S S S

S S

Hình 1.3: Bản đồ địa bàn cư trú của người Tà Mun, Stiêng và Khmer

Trang 36

Hình 1.4: Bản đồ các ngôn ngữ nhánh Bahnar, do Eva Ujlakyova lập năm 2013 (dẫn theo [68, tr.XXXV])

Trang 37

1.3 Khái quát về hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun

Để có một cái nhìn khái quát về một ngôn ngữ thì phải tiếp cận chí ít ba cấp độ: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Tuy nhiên, như trên đã xác định, tiếng Tà Mun là một ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Barnah (2.1) nên các qui luật ngữ pháp trọng yếu không khác biệt đáng kể so với các ngôn ngữ trong nhóm Về từ vựng thì chúng tôi

sẽ nói rõ hơn ở Chương 2 Vì vậy ở phần này chúng tôi chỉ xin trình bày khái quát

về mô hình cấu trúc từ ngữ âm và hệ thống ngữ âm của tiếng Tà Mun

Hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun lần đầu tiên được nghiên cứu qua bài viết

“Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun” của Lê Khắc Cường và Phan Trần

Công đăng trên tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, ĐHQG-TP.HCM, tập

16/2013 [10] Về cơ bản, trong phần này chúng tôi đồng tình với bài viết nói trên trừ một vài điểm có thay đổi so với bài viết sau khi cập nhật thêm tư liệu về sau

1.3.1 Mô hình cấu trúc từ ngữ âm tiếng Tà Mun

Từ ngữ âm (phonological word) có hai dạng: từ đơn đơn tiết và từ đơn đa tiết, trong đó từ đơn đơn tiết là chủ yếu, chiếm tỷ lệ gần 80% Thống kê 281 từ cơ bản của Morris Swadesh (Swadesh 281 list) chúng tôi nhận thấy từ đơn đa tiết chiếm số lượng 57/281, chiếm tỷ lệ 20,28%

Về cấu trúc, từ ngữ âm tiếng Tà Mun có dạng PƠSCHWVF

Trong đó:

- PƠS là tiền âm tiết (presyllable), gồm: P là một âm tắc, âm xát /s/ hoặc /h/,

âm vang /l/ hoặc âm tắc /g/ Ơ là một nguyên âm trung hoà, không đối lập về chất lượng và trường độ, thường là // hoặc // S là một âm vị âm tiết tính (syllabic phoneme), thường là một trong số các âm vang /m/, /n/, //, //, /l/

Tiền âm tiết có dạng PƠ như: /pkaj/ (sao), /bkaw/ (hoa), /kbok/ (mây), /sbEk/ (da), /gpăw/ ∞ /kpăw/ con trâu;

Tiền âm tiết có dạng S như: /mham/ (máu), /ntE&N/ (xương), /ci/ (cỏ), /Nke// (cát);

Trang 38

Tiền âm tiết có dạng PƠS như: /kmbɔk (vỏ cây), /tmth/ (ngực), /smbt/ (váy cuốn), /knnup/ (bờ sông), /kaNkh/ (cằm)

- CHWVF là âm tiết chính (main syllable), với: C (consonant) có thể là bất kỳ phụ âm nào trong hệ thống phụ âm tiếng Tà Mun H là một trong các phụ âm vang /h/, /l/, hoặc âm xát /Ɣ/ W là /w/ hoặc /j/ V (vowel) là bất kỳ nguyên âm nào trong

hệ thống nguyên âm tiếng Tà Mun; F (final consonant) là một phụ âm (trừ các phụ

âm tắc hữu thanh và thanh hầu hoá), một bán nguyên âm, hoặc một tổ hợp gồm một phụ âm và một bán nguyên âm (/jh/, /j/ hoặc /w/)

Ví dụ: /pa/ (bay), /t&/ (trứng), /ce&k/ (chuối), /ka/ (cá), /băt/ ∞ /cbăt/ (bóp), /dk/ (sắt), /bɔk/ (trắng), /ndah/ (hỉ (mũi)), /j=≠un/ (nai), /Ɣm/ (cười), /k/bk/ (ổi), //dun/ (nổi lên), /jul/ (say), /gak/ (chửi), /sɔ/ (thẳng), /hɔ&/ (ói), /muh/ (mũi), /sna/ (ná), /chjh/ (đám hỏi), /p&j// (nhỏ), /trw/ (trời), /kjaw/ (bên trái), /phuj/ (bụi) Trong hai âm tiết, âm tiết chính là âm tiết mang trọng âm Trọng âm trong từ ngữ âm tiếng Tà Mun không có giá trị khu biệt nghĩa, chỉ có tác dụng phân biệt âm tiết chính/âm tiết phụ trong từ song tiết Trọng âm luôn rơi vào âm tiết chính, do đó

âm tiết này bền vững hơn so với tiền âm tiết Điều này được thể hiện rõ trong hiện tượng đơn tiết hoá: âm tiết bị rơi rụng luôn là âm tiết yếu

Trang 39

Hìn 1.5: So sánh cường độ giữa tiền âm tiết và âm tiết chính qua âm phổ của

từ /tmth/ “ngực”

1.3.2 Hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun

1.3.2.1 Hệ thống phụ âm

- Phụ âm đầu của tiền âm tiết

Âm đầu của tiền âm tiết là một phụ âm với đầy đủ những đặc trưng âm học của âm thanh mở đầu âm tiết Số lượng phụ âm đảm nhận chức năng âm đầu của tiền âm tiết ít hơn so với phụ âm đảm nhận chức năng âm đầu của âm tiết chính Nếu âm tiết đầu là một âm mũi và có hiện tượng đồng cấu âm hay đồng hoá (assimilate) với phụ âm đi sau thì âm mũi đó được phát âm như một phụ âm âm tiết tính (syllabic consonant) hay phụ âm tiền mũi hoá (prenasalized consonant) Chúng tôi cũng xem các các phụ âm tiền mũi đó như một tiền âm tiết giống như trong các

ngôn ngữ mà từ có cấu trúc theo kiểu một âm tiết rưỡi (sesquisyllabic word) khác

Đây là cách phát âm phổ biến trong nhiều ngôn ngữ ở khu vực Đông Nam Á Ví dụ: /mbuk/ : [n̩buk] (bã trầu)

/nt&/ : [n̩t&] (xương)

Trang 40

trở thành [k] Do vậy, không có âm [r] ở vị trí phụ âm đầu của tiền âm tiết tiếng Tà Mun Vấn đề này sẽ được trình bày rõ hơn ở chương sau, phần (2.2.2.2)

- Phụ âm đầu của âm tiết chính

Đảm nhận chức năng âm đầu của âm tiết chính trong tiếng Tà Mun có thể là một phụ âm đơn hoặc một tổ hợp phụ âm Hầu hết là tổ hợp 2 phụ âm, tổ hợp 3 phụ

âm hiện còn rất ít, chỉ còn trong phát âm của người lớn tuổi Đây cũng là một dấu hiệu của xu hướng đơn tiết hoá

Về nguyên tắc, tổ hợp phụ âm chỉ thể hiện rõ, gắn bó chặt chẽ (tạm gọi là tổ hợp phụ âm chặt) nếu phụ âm thứ hai (hoặc thứ ba trong tổ hợp 3 phụ âm) là một trong ba phụ âm [Ɣ] (do hiện tượng [r] > [Ɣ]), /l/ hoặc /h/

Ví dụ: /tƔɔ tƔ/ (một loài cá nước ngọt thân mỏng, nhiều xương), /klp klet/ (láng lẩy, láng bóng), /plieh/ (chẻ), /plon/ (bắp (tay)), /j=≠hɔ/ (cột (nhà)), /ch/ (dây), /phɔ/ (sợ), /ph/ (gạo), /mhɔh/ ∞ /hɔh (chưa), /chuh/ (bào), /khw/ (xanh), /khlă¯/ (yêu), /khlom/ (thổi), /khwăt/ (đui, mù)

Các trường hợp mà yếu tố thứ hai hay thứ ba không phải là hai phụ âm kể trên thì cách thể hiện không rõ là một tổ hợp phụ âm Yếu tố thứ nhất sẽ được thể hiện như một một tiền âm tiết với một nguyên âm nhược hoá

Ví dụ: /kbok/ (đầu), /kbk/ (ổi), /kcew/ (dơi), /kyaw/ (xoáy tóc), /kmăw/ (đá (sỏi)), /kmbɔk/ (vỏ cây), /kkgɔt/ (xấu), /thɔ/ (ho), /pg/ (muỗng), /ptt/ (búng (tay)), /smbt/ (váy cuốn), /ska/ (chim sáo), /stn/ (chưa), /smun

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tô Thị Nhân Ái (1990), Hệ thống ngữ âm tiếng Mạ, Tiểu luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống ngữ âm tiếng Mạ
Tác giả: Tô Thị Nhân Ái
Năm: 1990
2. Phan An (2009), Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh, đề tài khoa học công nghệ do Hội Dân tộc học TP. HCM chủ trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh
Tác giả: Phan An
Năm: 2009
3. Lục Văn Bảo (1980), "Giới thiệu tiếng Mnông – Kơho – Stiêng", Dân Tộc Học (3), tr. 22 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu tiếng Mnông – Kơho – Stiêng
Tác giả: Lục Văn Bảo
Năm: 1980
4. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1995
5. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 2001
6. Hoàng Thị Châu (2001), Xây dựng bộ chữ phiên âm cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng bộ chữ phiên âm cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 2001
7. Lê Khắc Cường (1997), "Vài nét về cơ cấu ngữ âm của các ngôn ngữ Nam Bahnar", Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn (1), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP. HCM, tr. 135-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về cơ cấu ngữ âm của các ngôn ngữ Nam Bahnar
Tác giả: Lê Khắc Cường
Năm: 1997
8. Lê Khắc Cường (1999), Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng (có so sánh với một vài ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng (có so sánh với một vài ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar)
Tác giả: Lê Khắc Cường
Năm: 1999
9. Lê Khắc Cường (1999), "Mấy nhận xét ngữ âm học về các thứ tiếng Nam Bahnar so với tiếng Việt", Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn (10), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP.HCM , tr. 58-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận xét ngữ âm học về các thứ tiếng Nam Bahnar so với tiếng Việt
Tác giả: Lê Khắc Cường
Năm: 1999
10. Lê Khắc Cường, Phan Trần Công (2013), "Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun ở Tây Ninh", Tạp chí Phát triển khoa học &công nghệ (tập 16), Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 15-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun ở Tây Ninh
Tác giả: Lê Khắc Cường, Phan Trần Công
Năm: 2013
11. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 1999
12. Trần Trí Dõi (2011), Giáo trình Lịch sử tiếng Việt, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử tiếng Việt
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 2011
13. Ngô Đình Dũng (1987), Ngữ âm tiếng Stiêng, Tiểu luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ âm tiếng Stiêng
Tác giả: Ngô Đình Dũng
Năm: 1987
14. Mạc Đường (1985), “Vấn đề dân cư và dân tộc ở Sông Bé qua các thời kỳ lịch sử”, trong Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, Tổng hợp Sông Bé, tr. 11- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân cư và dân tộc ở Sông Bé qua các thời kỳ lịch sử”, trong "Vấn đề dân tộc ở Sông Bé
Tác giả: Mạc Đường
Năm: 1985
15. Mạc Đường (1991), “Miền núi tỉnh Sông Bé, lịch sử phát triển xã hội và đời sống các dân tộc”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, Tổng hợp Sông Bé, tr. 249-328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền núi tỉnh Sông Bé, lịch sử phát triển xã hội và đời sống các dân tộc”, trong "Địa chí tỉnh Sông Bé
Tác giả: Mạc Đường
Năm: 1991
16. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2012
17. Phạm Thị Thu Hà, Marc Brunelle (2014), “Ngữ điệu và các tiểu từ cuối câu trong tiếng Chăm Đông”, Ngôn ngữ (6), tr. 57-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ điệu và các tiểu từ cuối câu trong tiếng Chăm Đông”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Thị Thu Hà, Marc Brunelle
Năm: 2014
18. A.G. Haudicourt, 1991, “Giới hạn và nối kết của ngôn ngữ Nam Á ở Đông bắc” (Hoàng Tuệ dịch từ Limites et Connexions de l’autroasiatique au Nord-Est, 1974), Ngôn ngữ (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn và nối kết của ngôn ngữ Nam Á ở Đông bắc” (Hoàng Tuệ dịch từ Limites et Connexions de l’autroasiatique au Nord-Est, 1974), "Ngôn ngữ
19. A.G. Haudicourt, 1991, “Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á” (Hoàng Tuệ dịch từ La Place du Vietnamien dans les langues austroasiatiques, 1953), Ngôn ngữ, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á” (Hoàng Tuệ dịch từ La Place du Vietnamien dans les langues austroasiatiques, 1953), "Ngôn ngữ
20. Phú Văn Hẳn (2004), So sánh tiếng Chăm (Việt Nam) với tiếng Melayu (Malaysia) về ngữ âm và chữ viết. Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh tiếng Chăm (Việt Nam) với tiếng Melayu (Malaysia) về ngữ âm và chữ viết
Tác giả: Phú Văn Hẳn
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w