PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thực hiện để tìm hiểu hiện trạng việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu tại trường ĐH KHXH&NV
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong nội dung này bao gồm khảo sát và phân tích dữ liệu thứ cấp, kết hợp với việc điều tra thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu.
Để có cái nhìn tổng quát về hiện trạng sử dụng bản đồ, chúng tôi đã thu thập và nghiên cứu 549 báo cáo luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và nghiên cứu khoa học của giảng viên tại trường ĐHKHXH&NV trong giai đoạn 2002-2012 Nghiên cứu tập trung vào 10 ngành liên quan đến thông tin không gian, bao gồm Lịch sử, Văn hóa học, Đông phương học, Nhật Bản học, Hàn Quốc học, Quan hệ quốc tế, Xã hội học, Nhân học, Đô thị học và Công tác xã hội Để đảm bảo tính chính xác, chúng tôi đã loại trừ Địa Lý học khỏi nghiên cứu, vì đây là lĩnh vực sử dụng bản đồ như một công cụ nghiên cứu truyền thống Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu các khía cạnh liên quan đến việc ứng dụng bản đồ trong các lĩnh vực trên.
- Các nghiên cứu có sử dụng bản đồ hay không,
Mức độ và hình thức sử dụng bản đồ trong nghiên cứu bao gồm mô tả vị trí, xác định đường đi, rút trích thông tin, phân tích và tính toán, cũng như mô tả và thể hiện kết quả nghiên cứu Tham khảo thêm chi tiết tại phụ lục 1.1 - Bảng thống kê khảo sát đề tài tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV Tp HCM.
Đề tài tiến hành điều tra thông qua bảng hỏi để tìm hiểu chi tiết về việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học (NCKH) của giáo viên, tập trung vào các khía cạnh như đặc điểm sử dụng, khả năng tiếp cận dữ liệu bản đồ, công nghệ xây dựng bản đồ và nhu cầu trong tương lai Bảng hỏi khảo sát mức độ thường xuyên sử dụng bản đồ, những khó khăn gặp phải, nhận thức về hiệu quả của bản đồ trong NCKH, cũng như đánh giá các yếu tố thuận lợi và khó khăn liên quan đến dữ liệu bản đồ và các kênh hỗ trợ Ngoài ra, nó còn tìm hiểu nhu cầu sử dụng bản đồ của người nghiên cứu trong tương lai.
Các bảng hỏi được đưa trực tiếp đến các GV và nghiên cứu viên của trường ĐHKHXH&NV (sau đây gọi là người nghiên cứu)
Các bảng hỏi đã được gửi đến 07 khoa và 3 trung tâm nghiên cứu dự kiến có liên quan đến thông tin không gian, bao gồm các khoa Lịch sử, Xã hội học, Công tác xã hội, Văn hóa học, Đông Phương học, Nhân học, Đô thị học, cùng với các Trung tâm nghiên cứu Biển và đảo, Trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng, và Trung tâm nghiên cứu Việt Nam- Đông Nam Á Mỗi đơn vị sẽ phát bảng hỏi đến tất cả giảng viên và nghiên cứu viên để thu thập ý kiến.
Trong tổng số 94 bảng hỏi được phát ra, chỉ có 80 bảng hỏi nhận được câu trả lời hợp lệ Trong đó, Khoa Lịch sử chiếm tỷ lệ cao nhất với 27,4%, tiếp theo là Khoa Công tác Xã hội với 15% Các khoa còn lại có số lượng phiếu thấp hơn, phụ thuộc vào tình hình nhân sự của từng đơn vị (Biểu đồ 1.1).
Các bảng hỏi được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS 11.5
Biểu đồ 0.1 Đơn vị công tác của người trả lời Nguồn: Khảo sát bảng hỏi của nhóm nghiên cứu, 2013
Kết quả từ việc xử lý và phân tích bảng hỏi cung cấp nền tảng cho nhóm nghiên cứu hiểu rõ hơn về hiện trạng Để làm rõ các khía cạnh mà bảng hỏi chưa phản ánh đầy đủ, như quan điểm về vai trò và lợi ích của bản đồ, khả năng và phương thức sử dụng bản đồ trong nghiên cứu, cũng như những kinh nghiệm thực tiễn và các thuận lợi, khó khăn gặp phải, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc Nhóm đã thực hiện phỏng vấn với 07 người nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau, những người có kinh nghiệm sử dụng bản đồ trong nghiên cứu Các cuộc phỏng vấn này được ghi âm hoặc ghi chép lại để phục vụ cho các nội dung nghiên cứu liên quan.
Công tác Xã hội Lịch sử Nhân học Đông phương học Đô thị học Văn hóa học
TT nghiên cứu biển và đảo Trung tâm Văn hóa học
Kết quả nội dung 1 chỉ ra hiện trạng sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học (NCKH) tại trường ĐHKHXH&NV, bao gồm số lượng và mức độ ứng dụng Đồng thời, nó cũng nhận diện các vấn đề trở ngại và thuận lợi trong việc sử dụng bản đồ trong NCKH, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu.
Phương pháp thực hiện để xác định khả năng của việc sử dụng bản đồ trong NCKHXH&NV
Trong nội dung này, phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là thu thập, phân tích tổng hợp tư liệu kết hợp với phỏng vấn sâu
Để khám phá khả năng ứng dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, chúng tôi đã thu thập và phân tích khoảng 632 tài liệu và báo cáo nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này.
Trong khoảng thời gian từ 1992 đến 2012, đã có 70 tài liệu và báo cáo nghiên cứu quốc tế được công bố (xem phụ lục 1.5) Mục tiêu của việc khảo sát các báo cáo và bài viết này là nhằm phát hiện những cách tiếp cận và ứng dụng mới Từ đó, chúng tôi đã lựa chọn 50 tài liệu có ý tưởng độc đáo và khả thi phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, và những nghiên cứu này đã được đặc biệt chú trọng phân tích và mô tả chi tiết.
Trong khoảng thời gian từ 2002 đến 2012, có tổng cộng 562 báo cáo, tài liệu và sách liên quan đến kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn được công bố trong nước Trong số này, 549 báo cáo là các nghiên cứu của học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, được lưu trữ tại thư viện của trường Nhóm báo cáo này được khảo sát nhằm tìm hiểu hiện trạng sử dụng bản đồ, như đã đề cập trong phần nội dung 1.1.(a).
Trong nghiên cứu của các giảng viên tại trường KHXH&NV, 07 chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau sẽ được phỏng vấn sâu để thu thập quan điểm về việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu Mục tiêu của các cuộc phỏng vấn là khám phá phương thức sử dụng bản đồ, những kinh nghiệm cụ thể trong quá trình thực hiện, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà họ gặp phải Những thông tin này sẽ được tích hợp vào phần khảo sát về hiện trạng sử dụng bản đồ, như đã đề cập trong mục 1.1.(c).
Để xử lý dữ liệu thu thập, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu Những thông tin và nội dung đã tìm hiểu sẽ được tổng hợp và sắp xếp một cách hệ thống.
Trong nghiên cứu, chúng ta có hai cách tiếp cận để xem xét việc sử dụng bản đồ: Thứ nhất, theo quá trình nghiên cứu, bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị (trước khi thực hiện), thực hiện (trong quá trình), và hoàn tất (sau khi kết thúc, báo cáo) Thứ hai, theo vai trò và chức năng của bản đồ trong từng giai đoạn của nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát và ghi nhận cách sử dụng bản đồ qua các giai đoạn thực hiện, đồng thời phân tích chức năng và vai trò của bản đồ trong từng cách sử dụng Chúng tôi nhận thấy rằng một số bản đồ, dù được áp dụng ở các giai đoạn khác nhau, vẫn giữ chung chức năng và vai trò Do đó, trong phần kết quả, chúng tôi sẽ trình bày những phát hiện này.
Bản đồ đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn (NCKHXH&NV), với các chức năng ngày càng đa dạng và sáng tạo Không chỉ đơn thuần là công cụ định vị và dẫn đường, bản đồ hiện nay còn được coi là ngôn ngữ thứ hai để diễn đạt thông tin không gian một cách trực quan Hơn nữa, bản đồ còn là phương tiện hữu ích trong việc thực hiện nghiên cứu, giúp các nhà khoa học phân tích và hiểu rõ hơn về các hiện tượng xã hội.
Để dễ dàng áp dụng, các gợi ý sử dụng sẽ được trình bày theo trình tự của một nghiên cứu, bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và hoàn tất Giai đoạn chuẩn bị bao gồm việc xác định ý tưởng, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, tìm kiếm thông tin về đối tượng nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu, cũng như xác định phương pháp và các bước thực hiện Giai đoạn thực hiện tập trung vào việc thu thập và xử lý dữ liệu Cuối cùng, giai đoạn hoàn tất chủ yếu là viết báo cáo kết quả nghiên cứu.
Việc sáng tạo và sử dụng các công cụ trực quan trong từng giai đoạn nghiên cứu là rất quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng Tuy nhiên, các bước trong quy trình này có tính tương đối, và hướng sử dụng bản đồ cũng vậy Chúng tôi ưu tiên trình bày các ví dụ về khả năng ứng dụng bản đồ đã được thực hiện hoặc đánh giá khả thi tại Việt Nam Nội dung này nhằm hệ thống hóa khả năng ứng dụng của bản đồ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cung cấp ý tưởng và gợi ý cho các nhà nghiên cứu để sử dụng công cụ bản đồ một cách hiệu quả hơn Trong phần kết quả và thảo luận tiếp theo, chúng tôi sẽ chỉ giới thiệu các khả năng sử dụng của bản đồ trong từng giai đoạn nghiên cứu.
Trong nghiên cứu cụ thể, người sử dụng bản đồ cần chú trọng đến việc áp dụng các bản đồ có sẵn mà không cần phải tìm hiểu cách tạo ra chúng Để phát triển các bản đồ phục vụ cho nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu có thể thực hiện theo hai phương pháp chính.
Nhóm đề tài đã phát triển tài liệu "Hướng dẫn xây dựng bản đồ phục vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn" (Chuyên đề 2.3) nhằm cung cấp hướng dẫn chi tiết về nguồn dữ liệu và các bước thao tác trên phần mềm cho việc tạo ra các bản đồ đơn giản.
Đối với các bản đồ phức tạp yêu cầu chuyên môn cao về Bản đồ và GIS, chúng tôi chỉ giới thiệu ý tưởng để người nghiên cứu có thể trao đổi và "đặt hàng" với các chuyên gia trong lĩnh vực bản đồ thông qua hình thức hợp tác chuyên môn.
Bản đồ là công cụ hữu ích trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, với khả năng ứng dụng phong phú Bài viết cũng đưa ra những gợi ý cụ thể nhằm hiện thực hóa việc sử dụng bản đồ trong lĩnh vực này.
Phương pháp thực hiện để đưa ra các giải pháp cụ thể
Ở nội dung này, phương pháp sử dụng chủ yếu là phân tích SWOT kết hợp với phương pháp chuyên gia qua hình thức tọa đàm
Phương pháp chuyên gia sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia để phân tích và đưa ra giải pháp tối ưu cho các vấn đề trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Các chuyên gia, với kinh nghiệm phong phú, sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức hiện tại trong việc sử dụng bản đồ cho nghiên cứu khoa học Họ cũng sẽ đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện việc áp dụng bản đồ trong nghiên cứu, nhấn mạnh tính liên ngành của lĩnh vực này Để thu thập ý kiến chuyên gia, chúng tôi đã tổ chức tọa đàm khoa học vào tháng 06, sau khi đã thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp từ các nghiên cứu trước đó và phỏng vấn sâu.
Các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau trong khoa học xã hội của trường, bao gồm Khảo cổ học, Văn hóa học, Lịch sử, Nhân học, Du lịch và Công, đã tham gia tọa đàm khoa học.
Tọa đàm khoa học đã thu hút sự tham gia của lãnh đạo nhà trường cùng các đơn vị liên quan, với sự góp mặt của 29 tác giả xã hội Các chuyên gia đã trình bày và thảo luận về nhiều vấn đề quan trọng trong buổi tọa đàm (Xem phụ lục 1.6 - Biên bản tọa đàm chuyên gia).
- Chia sẻ kinh nghiệm và khả năng sử dụng bản đồ trong các nghiên cứu KHXH&NV
Bài viết thảo luận về việc nâng cao khả năng sử dụng bản đồ trong nghiên cứu tại trường ĐH KHXH&NV, tập trung vào tính khả thi của các giải pháp đã được đề xuất từ kết quả xử lý bảng hỏi và phỏng vấn sâu Các giải pháp bao gồm: (i) Mở các lớp tập huấn để nâng cao kỹ năng sử dụng bản đồ; (ii) Viết và công bố các tài liệu hướng dẫn nhằm hỗ trợ người dùng; (iii) Thành lập trung tâm thông tin bản đồ để cung cấp nguồn tài nguyên và hỗ trợ nghiên cứu Kết quả của tọa đàm sẽ được xử lý để phục vụ cho việc phân tích tiếp theo (Xem phụ lục 1.6 - Biên bản tọa đàm chuyên gia).
Công cụ phân tích SWOT, xuất hiện vào những năm 1960-1970, bao gồm bốn yếu tố chính: Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) Trong đó, điểm mạnh và điểm yếu thuộc về yếu tố nội bộ, trong khi cơ hội và thách thức lại nằm ở yếu tố bên ngoài SWOT cung cấp một khung lý thuyết hữu ích để đánh giá toàn diện môi trường nội bộ và bên ngoài của tổ chức, từ đó xem xét lại tính khả thi của các chiến lược đã đề ra Công cụ này không chỉ giúp hiểu rõ vấn đề mà còn hỗ trợ trong quá trình ra quyết định Do đó, nghiên cứu này sử dụng SWOT như một công cụ để xác định các chiến lược và giải pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
(cho chiến lược) Đe dọa
Môi trường bên trong Điểm mạnh – S Điểm yếu - W
Môi trường bên ngoài Cơ hội – O Thách thức – T
Các bước tiến hành để thực hiện phân tích SWOT như sau:
Sơ đồ 0.1.Các bước phân tích SWOT Nguồn: Lê Thị Thu Thủy, 2012,tr.50
Xác định mục tiêu chiến lược
Xác định phạm vi phân tích
Xác định các tác nhân liên quan
Phân tích ma trận SWOT
Ma trận SWOT giúp kết hợp các yếu tố nội bộ (điểm mạnh, điểm yếu) và bên ngoài (cơ hội, thách thức) để đưa ra giải pháp phù hợp Các yếu tố này được xác định từ kết quả nội dung trước và tọa đàm chuyên gia Giải pháp được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, dựa trên thực tiễn phát triển của nhà trường Chiến lược hiệu quả là chiến lược tận dụng cơ hội bên ngoài và sức mạnh nội bộ, đồng thời vô hiệu hóa hoặc giảm thiểu thách thức và điểm yếu.
Cơ hội – O S – O: Phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
W – O: Tận dụng cơ hội để khắc phục điểm yếu/Hạn chế điểm yếu để nắm bắt cơ hội
S – T: Phát huy điểm mạnh để vượt qua thách thức
W – T: Khắc phục điểm yếu để vượt qua thách thức
Sơ đồ 0.2 Ma trận SWOT trong phân tích và xây dựng chiến lược
Kết quả nội dung 3 chỉ ra rằng cần áp dụng những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra, đề tài áp dụng kết hợp nhiều phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, cùng với các phương pháp phân tích dữ liệu, như được mô tả trong hình dưới đây.
Các chương 2, 3, 4 tiếp theo sẽ lần lượt mô tả kết quả của nghiên cứu theo ba mục tiêu đặt ra
PP khảo sát tư liệu (các báo cáo KH tại trường ĐH KHXH&NV)
PP khảo sát bằng bảng hỏi (cho người nghiên cứu ở trường ĐH KHXH&NV)
PP phỏng vấn sâu (người nghiên cứu ở trường ĐH KHXH&NV)
PP khảo sát tư liệu (các báo cáo KH bên ngoài trường và nước ngoài)
PP tọa đàm chuyên gia (người nghiên cứu ở trường ĐH KHXH&NV)
Nội dung 1: Hiện trạng sử dụng bản đồ trong NCKH ở trường ĐH KHXH &NV
Nội dung 2: Vai trò và khả năng sử dụng bảnđồ trong NCKH XH &NV
Nội dung 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bản đồ trong NCKH ở trường ĐH KHXH&NV
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV TP.HCM
HIỆN TRẠNG
Theo khảo sát tại thư viện trường Đại học KHXH&NV, chỉ 40% công trình nghiên cứu sử dụng bản đồ, trong khi 73,8% người nghiên cứu cho biết họ sử dụng bản đồ trong NCKH Sự khác biệt này xuất phát từ việc khảo sát hai đối tượng khác nhau: công trình nghiên cứu và người nghiên cứu Từ kết quả khảo sát bảng hỏi, chỉ 46,1% người nghiên cứu cho rằng dưới 20% công trình của họ sử dụng bản đồ, trong khi chỉ có 6,3% cho rằng 80% công trình có sử dụng bản đồ Điều này cho thấy việc sử dụng bản đồ trong NCKH tại trường KHXH&NV là chưa đáng kể.
Bảng 0.1 Phần trăm công trình NCKH có sử dụng bản đồ Phần trăm công trình có sử dụng bản đồ Số người Tỷ lệ
Nguồn: Khảo sát bảng hỏi của nhóm nghiên cứu, 2013
2.1 2 Về hình thức và mức độ sử dụng:
Việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học (NCKH) có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, với mức độ phức tạp đa dạng Trong khảo sát, đã xác định năm hình thức chính, được phân loại tạm thời dựa trên độ phức tạp của việc sử dụng bản đồ.
Khu vực nghiên cứu và xác định vị trí, đường đi là hai hình thức đơn giản nhất của bản đồ, thể hiện chức năng quen thuộc và dễ hiểu.
(ii) Rút trích thông tin từ bản đồ là hình thức có mức độ trung bình vì chỉ cần kỹ năng đọc bản đồ có sẵn
Phân tích và tính toán kết quả nghiên cứu là hai hình thức phức tạp, yêu cầu kỹ năng tương tác và khả năng tạo ra bản đồ mới.
Kết quả khảo sát các báo cáo tại thư viện cho thấy hầu hết các nghiên cứu chỉ sử dụng bản đồ ở mức độ đơn giản, chủ yếu để thể hiện vị trí nghiên cứu và đọc thông tin cơ bản Việc áp dụng bản đồ cho phân tích, tính toán hay mô tả kết quả nghiên cứu là rất hạn chế Mặc dù bản đồ có thể được sử dụng để xác định vị trí và đường đi, nhưng do không được ghi rõ ràng trong báo cáo kết quả, nên không thể thống kê chính xác.
Bảng 0.2 Hình thức sử dụng bản đồ trong các NCKH
(Khảo sát từ 50 luận án Tiến sĩ và 39 đề tài NCKH)
Hình thức sử dụng Số lượng báo cáo %
Thể hiện khu vực nghiên cứu 19 50,0 Xác định vị trí, đường đi 2 5,3
Nguồn: Khảo sát báo cáo tại thư viện trường (2012)
Những con số trên cho thấy, việc sử dụng bản đồ trong NCKH ở trường KHXH&NV phần lớn chỉ tập trung ở các hình thức sử dụng đơn giản
2.1 3 Về hiệu quả sử dụng bản đồ:
Mặc dù 93,2% người tham gia khảo sát tin rằng việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học (NCKH) là hiệu quả, nhưng khi xem xét chi tiết, phần lớn họ cho rằng hiệu quả thực tế của việc sử dụng bản đồ vẫn chưa đạt mức cao, chỉ ở mức trung bình.
Bảng 0.3 Hiệu quả sử dụng của bản đồ trong NCKH chia theo hình thức sử dụng
Hiệu quả của việc sử dụng (1: không tốt => 5: rất tốt)
(n=số người trả lời) Tổng số
Mô tả vị trí nghiên cứu - - 3 5,9 19 37,3 16 31,4 13 25,5 51 100 Xác định vị trí – đường đi - - 1 2,1 21 44,7 17 36,2 8 17,0 47 100
Mô tả - thể hiện kết quả nghiên cứu 5 10,0 9 18,0 18 36,0 10 20,0 8 16,0 50 100
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu, 2013
Việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay vẫn còn hạn chế, cả về số lượng lẫn tính hiệu quả và sự đa dạng.
NHẬN DIỆN NGUYÊN NHÂN
Dựa trên việc phân tích bảng hỏi và dữ liệu phỏng vấn sâu, có thể xác định những trở ngại chính gây ra hạn chế trong việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn tại trường.
Kết quả khảo sát cho thấy, 73,8% người tham gia nghiên cứu (tương đương 59/80 người) sử dụng bản đồ trong quá trình nghiên cứu Các nguồn dữ liệu bản đồ chủ yếu bao gồm: (1) bản đồ từ internet, (2) bản đồ giấy có sẵn, (3) bản đồ từ các nghiên cứu trước (có thể chỉnh sửa), (4) bản đồ xây dựng bằng phần mềm đồ họa, và (5) bản đồ từ phần mềm chuyên nghiệp (tự xây dựng hoặc thuê ngoài) Tuy nhiên, mức độ hài lòng về các nguồn này có sự chênh lệch rõ rệt.
Bảng 0.4 Mức độ hài lòng của người sử dụng đối với các nguồn bản đồ
Hài lòng Không hài lòng Tổng số
59 người có sử dụng bản đồ)
Mua bản đồ giấy có sẵn 41 80,4 10 19,6 51 86,4
Sử dụng lại bản đồ có sẵn trong các báo cáo, tài liệu, không cần chỉnh sửa lại
Download bản đồ từ internet, không cần chỉnh sửa lại 43 74,1 15 25,9 58 98,3
Biên tập, chỉnh sửa từ các hình ảnh bản đồ có sẵn 30 78,9 8 21,1 38 64,4
Vẽ tay trên giấy hoặc dùng phần mềm
Sử dụng các phần mềm hỗ trợ thành lập bản đồ (MapInfo, ArcView, ArcGIS…) 11 57,9 8 42,1 19 32,2
Khảo sát của nhóm nghiên cứu năm 2013 cho thấy mức độ hài lòng hay không hài lòng của người tham gia phụ thuộc vào từng nguồn thông tin Phân tích từ các câu trả lời mở cho thấy rõ ràng các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ.
Bản đồ giấy có sẵn trên thị trường thường dễ sử dụng và tiện lợi, nhưng gặp khó khăn do thông tin cũ và kích cỡ không phù hợp, đặc biệt là trong bối cảnh internet phát triển Mặc dù bản đồ trong các báo cáo và tài liệu dễ tìm và tiết kiệm thời gian, nhưng chúng thường không đáng tin cậy về tính chính xác và không phù hợp với nội dung nghiên cứu.
Bản đồ tải về từ internet có ưu điểm về sự dễ tiếp cận, đa dạng và màu sắc trình bày đẹp, giúp tiết kiệm thời gian và dễ lưu trữ Tuy nhiên, chúng thường có độ phân giải kém, không xác định được tỷ lệ và hướng, nội dung không phù hợp, và độ tin cậy thấp do khó xác định nguồn gốc chính xác.
Bản đồ đã được biên tập và chỉnh sửa, dễ dàng sử dụng cho nhu cầu nghiên cứu, mang lại sự thuận tiện cho người dùng Tuy nhiên, độ chính xác của bản đồ chưa được kiểm tra, gây khó khăn và tốn thời gian trong quá trình làm việc.
+ Đối với những nguồn khác, chúng tôi sẽ phân tích ở những nguyên nhân ngoài nguyên nhân về dữ liệu
Qua phỏng vấn sâu, chúng tôi nhận thấy rằng người nghiên cứu thường thiếu dữ liệu cần thiết cho các nghiên cứu cụ thể, trong khi bản đồ số bên ngoài vừa đắt đỏ vừa khó tiếp cận Điều này khiến các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm lo ngại về chất lượng dữ liệu trong các bản đồ sử dụng cho nghiên cứu khoa học Ví dụ, theo ý kiến của một nhà nghiên cứu Lịch sử, điều này có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
Năm 2013, tác giả nhận định rằng việc thiếu chuyên gia bản đồ đã ảnh hưởng đến giá trị của đề tài nghiên cứu Họ đã sử dụng các bản đồ có sẵn và áp dụng phần mềm Corel để chỉnh sửa ảnh bản đồ đã quét, dẫn đến hình thức không đạt yêu cầu chuyên nghiệp.
Kết quả điều tra cho thấy sự khác biệt trong mức độ hài lòng với các loại bản đồ theo nội dung, với tỷ lệ hài lòng cao đối với bản đồ giao thông (83,6%), bản đồ hành chính (93%) và bản đồ địa hình (81%) Những loại bản đồ này đã được xuất bản dưới dạng giấy và dễ dàng tìm thấy trên mạng Điều này phù hợp với mục đích sử dụng bản đồ, chủ yếu để thể hiện vị trí nghiên cứu và rút trích thông tin cơ bản Bản đồ được coi như một sơ đồ trực quan, giúp minh họa và làm sinh động cho nghiên cứu, mặc dù vấn đề chuẩn dữ liệu có thể bị gác lại Như một nhà nghiên cứu xã hội học đã nhận định, bản đồ cho phép nhìn thấy sự khác biệt địa lý và liên kết với bối cảnh kinh tế – văn hóa – xã hội.
Bảng 0.5 Đánh giá về các nội dung bản đồ được sử dụng trong NCKH
Các nội dung bản đồ
Hài lòng Không hài lòng Tổng số
Số người % Số người % Số người %
Bản đồ đường giao thông 53 93,0 4 7,0 57 100
Bản đồ ranh giới hành chính 46 83,6 9 16,4 55 100
Bản đồ thể hiện các đặc điểm tự nhiên 47 81,0 11 19,0 58 100
Bản đồ thể hiện các đặc điểm kinh tế xã hội 37 64,9 20 35,1 57 100
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu, 2013
Nhóm bản đồ thể hiện các đặc điểm kinh tế xã hội có mức độ hài lòng thấp nhất, điều này có thể do nguồn bản đồ khó tìm và nội dung đa dạng, khiến việc tìm kiếm thông tin phù hợp trở nên khó khăn Ví dụ, việc tìm bản đồ phân bố dân tộc cũng gặp nhiều trở ngại.
Nhóm nghiên cứu về người Khmer ở ĐBSCL đã sử dụng bản đồ có sẵn từ các nghiên cứu trước và các sở ban ngành địa phương để xác định khu vực nghiên cứu và tiến hành thực địa.
Các bản đồ hiện có không còn hữu ích do nội dung đã lỗi thời và không phù hợp với nhu cầu hiện tại Đặc biệt, khi thực hiện các nghiên cứu về tộc người, những bản đồ này thường không thể hiện chính xác ranh giới sinh sống của họ.
2.2.2 Về kỹ năng làm việc với máy tính, công nghệ bản đồ:
Khi thảo luận về việc tạo bản đồ, người nghiên cứu chỉ ra rằng kỹ năng sử dụng máy tính và công nghệ bản đồ vẫn còn nhiều hạn chế.
Bản đồ được vẽ lại bằng phần mềm như paint, word hay corel thường thiếu độ chính xác và tính thẩm mỹ, gây khó khăn trong việc thể hiện nội dung nghiên cứu và tốn thời gian Nhà nghiên cứu lịch sử đã chỉ ra rằng trong nghiên cứu về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, việc sử dụng nhiều bản đồ không đủ để thể hiện rõ ràng tiến trình phát triển và các mốc thời gian mở rộng địa giới hành chính, dẫn đến sự không hài lòng vì thiếu tính chủ động trong việc thể hiện nội dung đề tài.
Việc tạo ra bản đồ từ các phần mềm như MapInfo, ArcView và ArcGIS thường gặp nhiều khó khăn và tốn thời gian cho những người không có chuyên môn về bản đồ Một nhà nghiên cứu xã hội học chia sẻ: "Tôi rất muốn thể hiện kết quả nghiên cứu trên bản đồ, nhưng tôi không thể tự làm được Tôi phải trả tiền cho người khác để thực hiện công việc đó, như vẽ bản đồ thể hiện các vùng đông dân cư, vùng ít dân cư, hoặc về mặt nghèo đói."
MỘT SỐ TRIỂN VỌNG
Bên cạnh những khó khăn và hạn chế nêu trên, kết quả khảo sát, cũng cho thấy một số tín hiệu lạc quan:
Bên cạnh những GV có chuyên môn về bản đồ, đã có những “chuyên gia” thuộc các lãnh vực khác từng sử dụng bản đồ trong NCKH
Kết quả phỏng vấn cho thấy, các nhà nghiên cứu sử dụng bản đồ đều thống nhất về vai trò quan trọng của bản đồ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Họ nhấn mạnh rằng phân tích không gian từ bản đồ là hình thức sử dụng cao nhất, đồng thời bản đồ cũng là công cụ hiệu quả trong việc thu thập số liệu.
Bản đồ đóng vai trò quan trọng trong ngành khảo cổ học, đặc biệt trong việc xác định vị trí và phân bố các di tích trong khu vực nghiên cứu Chúng giúp tổng hợp và trình bày kết quả nghiên cứu một cách rõ ràng và đầy đủ, làm nổi bật giá trị của thông tin khảo cổ học.
Lịch sử và địa lý có mối liên hệ chặt chẽ, việc phân tích không gian trong địa lý là rất quan trọng cho ngành lịch sử, đặc biệt là trong bối cảnh lịch sử Việt Nam hiện đại, như sự phát triển của đô thị và làng nghề.
Mỗi chủ thể hoạt động trong một không gian và thời gian cụ thể, việc xác định không gian này là rất quan trọng trong nghiên cứu văn hóa học Điều này giúp chúng ta có những nhận thức và khả năng phân tích rõ ràng, đầy đủ hơn về các hiện tượng văn hóa.
(phỏng vấn nhà nghiên cứu Văn hóa, 2013)
Bài viết chủ yếu đề cập đến việc sử dụng các bản đồ xã hội để thể hiện thông tin về nhà ở Chẳng hạn, trong nghiên cứu về mô hình đồng tham gia, việc vẽ bản đồ nguồn lực thường được thực hiện theo cách thủ công.
(phỏng vấn nhà nghiên cứu Xã hội học, 2013)
2.3.2 Về nhu cầu sử dụng trong tương lai:
Hiện trạng cho thấy 26% người nghiên cứu chưa sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khoa học, và phần lớn chưa nhận thấy sự cần thiết của việc này Tuy nhiên, khảo sát cho thấy nhiều người có nhu cầu thử nghiệm và nâng cao khả năng sử dụng bản đồ trong các nghiên cứu sắp tới Đặc biệt, nhiều người mong muốn tìm hiểu cách tự xây dựng bản đồ đơn giản để phục vụ cho nghiên cứu của mình.
“đặt hàng” bản đồ với các yêu cầu cho từng trường hợp cụ thể (bản đồ trong NCKH, bản đồ để dạy học) Cụ thể như sau:
Theo nghiên cứu, 82,5% người tham gia (66/80 người) có kế hoạch sử dụng bản đồ trong các nghiên cứu sắp tới với nhiều mục đích khác nhau Cụ thể, 83,3% sử dụng bản đồ để thể hiện khu vực nghiên cứu, 77,3% để lấy thông tin và số liệu, 60,6% nhằm xác định vị trí và đường đi khảo sát thực địa, 59,1% để thể hiện kết quả nghiên cứu, và 53,0% để phân tích mối quan hệ không gian trên bản đồ.
Biểu đồ 0.1 Mục đích sử dụng bản đồ trong tương lai Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu, 2013
Các nội dung bản đồ sẽ được sử dụng trong thời gian tới bao gồm bản đồ thể hiện đặc điểm kinh tế - xã hội, ranh giới hành chính và bản đồ đặc điểm tự nhiên.
Biểu đồ 0.2 Nội dung bản đồ sẽ được sử dụng trong các NCKH sắp tới
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu, 2013
Thể hiện KV nghiên cứu
Xác định vị trí, đường đi khi khảo sát thực địa Đọc lấy thông tin, số liệu
Phân tích, tính toán mối quan hệ không gian
Thể hiện kết quả nghiên cứu trên bản đồ
Bản đồ đường giao thông
Bản đồ thể hiện ranh giới hành chính
Bản đồ thể hiện đặc điểm tự nhiên
Bản đồ thể hiện đặc điểm KT-XH có không
Nhiều người nghiên cứu mong muốn tham gia các lớp tập huấn chuyên đề (57,5%), tự tìm hiểu qua sách và internet (50,0%), hoặc học hỏi từ bạn bè và đồng nghiệp (45%) Nếu có lớp chuyên đề trong tương lai, các nội dung được quan tâm nhất bao gồm khả năng ứng dụng bản đồ trong chuyên ngành (77,5%), cách đọc thông tin trên bản đồ (73,8%), sử dụng phần mềm tạo bản đồ để phục vụ nhu cầu nghiên cứu (62,5%), phân tích các mối quan hệ không gian (56,3%), và định hướng đường đi (55,0%).
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy có hai quan điểm chính về nội dung tập huấn: Thứ nhất, cần trang bị kiến thức để có thể tự làm những bản đồ đơn giản; thứ hai, cần hiểu khả năng của bản đồ để biết cách "đặt hàng" với chuyên gia Một nhà nghiên cứu cho rằng, dù không chuyên về GIS, mọi người vẫn cần có kiến thức cơ bản để đưa ra yêu cầu hợp lý, tránh tình trạng yêu cầu vượt quá khả năng Họ nhấn mạnh sự cần thiết của các khóa tập huấn cơ bản để mọi người có thể nhân rộng tính ứng dụng Một quan điểm khác cho rằng, việc tổ chức các seminar ngắn không đủ để mọi người hiểu và tự làm được, mà cần tập huấn ứng dụng cụ thể trong các ngành khoa học xã hội để mọi người có thể vận dụng và đặt hàng hiệu quả.
Bảng 0.7 Nhu cầu tìm hiểu thêm về sử dụng bản đồ trong nghiên cứu
Nội dung lớp chuyên đề Có Tỷ lệ
Tìm hiểu về các ứng dụng của bản đồ trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực
KHXH&NV Ý niệm về bản đồ (đặc điểm, tính ưu việt khi sử dụng bản đồ) 38 47,5
Khả năng ứng dụng bản đồ trong chuyên ngành 62 77,5
Khác 2 2,5 Đọc và rút trích thông tin từ bản đồ Định hướng đường đi 44 55,0 Đo tính khoảng cách, diện tích, tọa độ, độ cao… trên bản đồ 37 46,3 Đọc các thông tin chuyên đề trên bản đồ 59 73,8
Để hiểu và yêu cầu kỹ thuật viên lập bản đồ 37 46,3, bạn cần nắm rõ cách sử dụng các phần mềm hỗ trợ tạo bản đồ Việc tự tạo ra các bản đồ theo nhu cầu nghiên cứu sẽ giúp bạn chủ động hơn trong công việc và nâng cao hiệu quả nghiên cứu.
62,5 Biết cách phân tích các mối quan hệ không gian (nếu có) của đối tượng nghiên cứu 45 56,3
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu, 2013
Việc "đặt hàng" làm bản đồ thường gây ra nhiều ý kiến khác nhau, phụ thuộc vào các yếu tố như kinh phí, độ phức tạp của bản đồ mong muốn, thời gian thực hiện và nhân lực có sẵn.
42 lực…Tuy nhiên, xu hướng chung là sẽ đặt hàng, có thể đặt hàng trọn gói hoặc theo từng gói (gói bản đồ nền, gói chuyên đề…):
Mô hình lý tưởng là đặt hàng, tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí và nội dung bản đồ tương đối đơn giản, nhiều người chọn cách tự làm.
Yêu cầu thực hiện dự án trong xã hội học kết hợp với GIS là một thách thức lớn, vì cần có người thực hiện các công việc cụ thể Mặc dù đã tham gia lớp tập huấn kéo dài 4 ngày, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để tự mình thực hiện các nhiệm vụ liên quan.
VAI TRÒ VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG NGHIÊN CỨU KHXH&NV 44 3 1 VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA BẢN ĐỒ
Bản đồ là công cụ định vị, dẫn đường
Chức năng cơ bản và lâu đời nhất của bản đồ là khả năng định vị, giúp người dùng tìm kiếm vị trí thông qua địa danh hoặc tọa độ Từ thời kỳ sử dụng đá và giấy cho đến hiện nay trên thiết bị di động, bản đồ vẫn là công cụ dẫn đường thông minh và hiệu quả Việc xác định vị trí không chỉ giúp người dùng tìm ra con đường đi mà còn cung cấp thông tin cơ bản về khu vực, hỗ trợ đáng kể cho các nhà nghiên cứu trong quá trình khảo sát thực địa.
Ngôn ngữ thể hiện trực quan dữ liệu không gian
Để mô tả vị trí và hình dạng của sự vật, ngôn ngữ truyền thống như lời nói hay chữ viết thường gặp khó khăn trong việc diễn đạt chính xác các đặc điểm này Ví dụ, việc nêu tên và kích thước con sông là dễ dàng, nhưng mô tả hình dáng cong lượn của nó lại rất khó khăn Trong những trường hợp như vậy, bản đồ trở thành công cụ hiệu quả giúp truyền đạt thông tin một cách rõ ràng và đầy đủ.
Bản đồ chuyên đề thể hiện đa dạng nội dung và cách thức, phản ánh thế giới thực trong KHXH&NV qua các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội trên không gian địa lý Chúng không chỉ mô tả các đối tượng cụ thể như đất đai và dân cư, mà còn thể hiện các yếu tố trừu tượng như trình độ học vấn và chất lượng cuộc sống Bản đồ là “bức tranh” sống động của cuộc sống, được diễn đạt qua ngôn ngữ khoa học, trở thành công cụ trực quan quan trọng để cung cấp dữ liệu không gian cho nghiên cứu và mô tả kết quả nghiên cứu.
Trong nghiên cứu các vấn đề không gian, việc sử dụng bản đồ minh họa bên cạnh số liệu và mô tả bằng lời giúp tăng tính rõ ràng và sinh động Cụ thể, việc thể hiện bảng số liệu thống kê qua bản đồ không chỉ trình bày các con số mà còn tạo ra bức tranh sinh động về phân bố không gian của hiện tượng.
(b) Hình 0.1 Bản đồ bổ sung giúp nghiên cứu thêm sinh động
Sử dụng bản đồ minh họa kết hợp với bảng số liệu giúp nhận diện nhanh chóng sự chênh lệch trong tốc độ phát triển du lịch giữa các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Nguồn: (a) Nguyễn Trọng Minh, 2010, tr232, (b) Kết quả của đề tài, 2014
Số lượng khách du lịch qua các năm
Hình 0.3 Trực quan số liệu thống kê bằng bản đồ
Bản đồ nghèo đói và địa hình cho phép chúng ta không chỉ đọc các giá trị riêng lẻ mà còn nhận diện được mối tương quan giữa tình trạng nghèo và đặc điểm địa hình Việc phân tích này giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố của nghèo đói trong các khu vực khác nhau.
Nguồn: Michael Epprecht và Andreas Heinimann, 2004, trang 155 (a) và 41 (b)
Trước đây, N.N Baranxki đã nhấn mạnh rằng "Bản đồ là alpha và omega của các nhà địa lý" (Baranxki, 1960), vì mọi nghiên cứu địa lý đều bắt đầu và kết thúc với bản đồ Ngày nay, sự phát triển của công nghệ bản đồ số đã giảm bớt thách thức trong việc xây dựng bản đồ Trong bối cảnh này, bản đồ không chỉ thể hiện thông tin về tự nhiên mà còn về kinh tế - xã hội một cách trực quan và hiệu quả, gắn liền với vị trí địa lý.
Hình 0.2 Bản đồ thể hiện rõ ràng, ấn tượng và sinh động nội dung nghiên cứu
Việc thể hiện vị trí các điểm di tích phát hiện được cho người đọc hình dung rất rõ về sự tập trung, phân bố các di tích
Nguồn: Phạm Đức Mạnh, 2014, Sử dụng bản đồ trong nghiên cứu chuyên khảo & tổng hợp khảo cổ học, Báo cáo khoa học toạ đàm chuyên gia, tháng 6/2014, slide 29
Ngôn ngữ thứ hai không chỉ là công cụ của các nhà địa lý mà còn là phương tiện hỗ trợ cho những nhà nghiên cứu trong việc minh họa trực quan cho các nghiên cứu liên quan đến thế giới thực.
Bản đồ, với vai trò là ngôn ngữ thứ hai phản ánh thế giới thực, là kho tư liệu quý giá mô tả không gian lãnh thổ cùng các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Các nhà nghiên cứu có thể thu thập nhiều thông tin từ bản đồ, đặc biệt là về các cộng đồng người, văn hóa, nhân vật và sự kiện lịch sử Để hiểu rõ các đối tượng này, họ cần thông tin về vị trí, sự phân bố và biến đổi không gian theo thời gian, cũng như các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xung quanh Bản đồ địa hình và atlas địa phương là nguồn thông tin quan trọng, cung cấp dữ liệu về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội qua các giai đoạn lịch sử Việc đọc và phân tích bản đồ không chỉ giúp hệ thống hóa thông tin cần thiết mà còn tạo điều kiện cho người nghiên cứu hình dung rõ hơn về khu vực nghiên cứu, nhận diện đặc điểm phân bố, môi trường xung quanh và khám phá quy luật.
Bản đồ là phương tiện nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy rằng sự phát triển xã hội đã dẫn đến sự đa dạng và phong phú của các sản phẩm bản đồ, khiến cho việc sử dụng bản đồ trở nên thường xuyên hơn Chức năng của bản đồ cũng được nâng cao, trở thành công cụ hỗ trợ nghiên cứu hữu ích trong việc thu thập dữ liệu sơ cấp cũng như trong quá trình phân tích và xử lý thông tin.
Bản đồ đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin sơ cấp, được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn sử dụng một cách sáng tạo để thu thập dữ liệu qua nhiều hình thức khác nhau.
Trong quá trình khảo sát thực địa, người nghiên cứu thu thập và ghi nhận thông tin trực tiếp lên bản đồ Họ sẽ quan sát kỹ lưỡng và có thể phối hợp với người dẫn đường am hiểu để làm rõ các đối tượng xuất hiện Sau đó, vị trí và đặc điểm của các đối tượng này được ghi nhận bằng các ký hiệu phù hợp trên bản đồ nền khu vực, bao gồm phác họa ranh giới và các con đường, sông trong khu vực khảo sát.
48 chính làm mốc) Kết quả là một bản đồ mô tả đặc điểm khu vực từ kết quả ghi nhận được
Việc thu nhận thông tin gián tiếp thông qua yêu cầu đối tượng nghiên cứu vẽ bản đồ giúp các nhà nghiên cứu đánh giá nhận thức của họ Trong các phương pháp thu thập dữ liệu định tính như phỏng vấn, quan sát hay thảo luận nhóm, dữ liệu có thể được thu thập qua phân tích ý kiến của người được khảo sát Phương pháp này cho phép hiểu biết về quan điểm của họ về vấn đề cụ thể Kết hợp với vẽ bản đồ, nghiên cứu có thể sử dụng ngôn ngữ bản đồ để thu thập nhận định và phát biểu của đối tượng Hình thức này, gọi là vẽ bản đồ có sự tham gia, cho phép người tham gia diễn đạt địa điểm một cách tự nhiên mà không cần quá chú trọng đến độ chính xác của vị trí trên bản đồ Trong quá trình vẽ, họ sẽ chia sẻ quan sát và câu chuyện cá nhân, và việc này có thể thực hiện theo nhóm để tăng tính tương tác.
Phương pháp vẽ bản đồ có sự tham gia mang lại nhiều lợi ích, trong đó bản đồ phản ánh nhận thức của cộng đồng về khu vực nghiên cứu, cho phép các thành viên thể hiện quan điểm mà không bị ảnh hưởng bởi chuyên gia Việc sử dụng công cụ trực quan và phi ngôn từ giúp tăng cường khả năng diễn đạt của những người không thoải mái khi giao tiếp bằng lời, đặc biệt là trong các trường hợp có rào cản ngôn ngữ, như ở vùng dân tộc thiểu số Nhận thức được phản ánh bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội, sự thay đổi theo thời gian, cũng như kinh nghiệm sống và thái độ về môi trường xung quanh Do đó, bản đồ có thể được coi là "bảng hỏi bằng hình" và "biên bản thảo luận nhóm bằng hình."
Có thể nói, đây là một cách tiếp cận sáng tạo, một cách dùng bản đồ khá độc đáo của các nhà nghiên cứu KHXH&NV ngày nay
(b) B ản đồ - công c ụ x ử lý thông tin
Khi nghiên cứu con người và các hiện tượng văn hóa, việc đặt sự vật vào không gian giúp chúng ta nhận diện rõ hơn sự tác động của môi trường xung quanh Điều này không chỉ giúp giải thích nguyên nhân mà còn khám phá quy luật Tận dụng “chiều kích không gian” của dữ liệu cho phép phân tích và cung cấp thông tin mới có giá trị, từ đó sử dụng bản đồ như một công cụ phân tích dữ liệu hiệu quả trong nghiên cứu.
Phân tích đa thời gian là kỹ thuật mà các nhà nghiên cứu thu thập và xây dựng bản đồ của một hiện tượng trong khu vực qua nhiều thời điểm khác nhau Kỹ thuật này giúp so sánh sự thay đổi và "dịch chuyển" vị trí của hiện tượng, từ đó phát hiện quy luật phát triển của nó.
Một ví dụ điển hình về bản đồ đa thời gian là nghiên cứu phát hiện con đường tơ lụa trên biển Các nhà khảo cổ học đã ghi chép vị trí, thời gian và đặc điểm vật mang của hơn 30 con tàu bị đắm, từ đó kết hợp các địa điểm này trên một bản đồ để xác định con đường tơ lụa trên biển Đông (Past horizons, 2010).
Hình 0.4 Bản đồ con đường tơ lụa
Con đường hình thành trong thời kỳ nhà Tần – Hán (25 – 220) đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào các thời kỳ Tam Quốc, Tùy, Đường, Tống và Nguyên, đạt đỉnh điểm vào nửa cuối thế kỷ XVIII nhờ vào các cuộc chiến ở phương Tây Tuy nhiên, đến thời Minh và Thanh, con đường này đã suy yếu nghiêm trọng do triều đình cấm hàng hải và hoàn toàn biến mất khi cuộc chiến tranh thuốc phiện bùng nổ vào năm 1840.
(Nguồn: http://dulichmoisinh.blogspot.com/2012/04/con-uong-to-lua.html)
Phân tích đa chỉ tiêu cho phép thực hiện trên cùng một bản đồ hoặc nhiều bản đồ trong cùng một khu vực, giúp chúng ta xem xét nhiều yếu tố khác nhau trong nghiên cứu Việc chú trọng đến các yếu tố xung quanh là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về khu vực nghiên cứu.
Bằng cách khai thác khía cạnh không gian của dữ liệu và sử dụng các bản đồ khu vực, người nghiên cứu có thể phát hiện vấn đề, đưa ra giả thuyết về mối tương quan, chọn địa điểm nghiên cứu đặc trưng, giải thích hiện tượng và xác định quy luật phát triển của sự vật.
Bản đồ không chỉ là công cụ dẫn đường mà còn là ngôn ngữ trực quan để diễn đạt dữ liệu không gian và phương tiện nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn Vai trò của bản đồ trong nghiên cứu rất đa dạng và có thể áp dụng hiệu quả qua từng giai đoạn, từ chuẩn bị, thực hiện đến hoàn tất Báo cáo này sẽ tóm tắt việc sử dụng bản đồ trong từng giai đoạn, trong khi những hướng dẫn chi tiết hơn sẽ được trình bày trong chuyên đề “Sử dụng bản đồ trong nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn” (Phụ lục 2.2).
KHẢ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG NC KHXH&NV
Quá trình tiến hành nghiên cứu bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, được chia thành ba giai đoạn chính: chuẩn bị, thực hiện và hoàn thành Sự phân chia này mang tính chất tương đối để dễ dàng theo dõi và quản lý.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, hầu hết các nghiên cứu đều gắn liền với một địa bàn cụ thể Nhà nghiên cứu thường bắt đầu với một khu vực rộng lớn, sau đó thu hẹp phạm vi nghiên cứu đến những địa bàn cụ thể hơn Do đó, việc tìm hiểu thông tin tổng quan, xác định địa bàn nghiên cứu và khảo sát thực tế là rất quan trọng Trong giai đoạn chuẩn bị, bản đồ trở thành nguồn tư liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn trực quan về đối tượng và địa bàn nghiên cứu, với nhiều khả năng sử dụng trong quá trình này.
Thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua việc sử dụng bản đồ là một phương pháp hiệu quả để thu thập thông tin tổng quan về khu vực nghiên cứu một cách trực quan.
Các sự vật và hiện tượng ở các khu vực khác nhau có sự khác biệt rõ rệt do ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội Do đó, việc nắm bắt kiến thức tổng quát và toàn diện là rất cần thiết trước khi tiến hành nghiên cứu.
Việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu khu vực là rất cần thiết, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho nhà nghiên cứu Các bản đồ, bao gồm bản đồ địa hình và bản đồ địa phương, cung cấp thông tin về điều kiện tự nhiên cũng như đặc điểm kinh tế xã hội qua các giai đoạn lịch sử Bản đồ tỉ lệ nhỏ cho phép nghiên cứu trên phạm vi rộng, trong khi bản đồ tỉ lệ lớn với độ chi tiết cao cung cấp thông tin cụ thể hơn Kỹ năng đọc bản đồ là một yêu cầu cơ bản cho các nhà nghiên cứu trong quá trình thu thập thông tin.
Khi nghiên cứu tổng quan về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam, việc sử dụng các bản đồ chuyên đề là rất hữu ích Các bản đồ như bản đồ địa hình, khí hậu, dân tộc, giao thông và khả năng tiếp cận khu đô thị chính sẽ cung cấp thông tin chi tiết và chính xác.
Hình 0.5 Bản đồ chuyên đề dùng để rút trích thông tin về khu vực nghiên cứu
(a) Bản đồ giao thông;(b) Bản đồ mật độ dân số
Nguồn: Michael Epprecht và Andreas Heinimann, 2004, trang 39 (a) và 47 (b)
Việc tiếp cận và rút trích thông tin từ bản đồ mang lại nhiều ưu thế so với các nguồn thông tin khác như văn bản hay bảng biểu, đặc biệt là khả năng thể hiện dữ liệu một cách trực quan Điều này giúp người nghiên cứu nhanh chóng nắm bắt vấn đề thông qua việc định tính và định lượng dữ liệu bằng màu sắc và kích thước ký hiệu Ví dụ, trên bản đồ mật độ dân số, màu sắc thể hiện rõ sự phân bố dân cư, với màu vàng đậm biểu thị mật độ cao và màu vàng nhạt biểu thị mật độ thấp Bản đồ không chỉ là hình ảnh sống động mô tả sự phân bố của các đối tượng trong không gian mà còn giúp hệ thống hóa thông tin cần thiết, từ đó người nghiên cứu có thể hình dung rõ hơn về địa bàn Hơn nữa, việc kết hợp thông tin từ nhiều bản đồ cho phép phân tích mối quan hệ không gian giữa đối tượng nghiên cứu và các yếu tố khác, như so sánh bản đồ mật độ dân cư với bản đồ giao thông, cho thấy rằng mật độ dân cư thường cao ở các khu vực dọc theo các con đường chính, chẳng hạn như ở một số nơi thuộc tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long với sự hiện diện của quốc lộ 1 và quốc lộ 80.
Trong một số trường hợp, khi thông tin về khu vực nghiên cứu chưa rõ ràng hoặc không được cập nhật thường xuyên, bản đồ có thể trở thành nguồn thông tin bổ sung hữu ích, đặc biệt là trong khía cạnh không gian.
Hiện nay, người nghiên cứu có thể sử dụng nhiều tập bản đồ chuyên đề khác nhau, bao gồm Tập bản đồ hành chính 63 tỉnh, thành phố Việt Nam, Tập bản đồ Giao thông đường bộ Việt Nam và Tập Bản đồ Nông nghiệp Việt Nam.
Atlas địa phương cung cấp thông tin chi tiết và đầy đủ về các khía cạnh tự nhiên và kinh tế xã hội của từng tỉnh/thành phố, là nguồn tài liệu quý giá cho nghiên cứu Tuy nhiên, hiện tại chỉ một số ít địa phương tại Việt Nam đã phát triển atlas, như Atlas Đồng Nai, Atlas Lào Cai và Atlas Bình Dương.
Cùng với việc phát hành bản đồ giấy, bản đồ cũng được phân phối rộng rãi qua các trình duyệt Internet Người dùng có thể tìm thấy các bản đồ hành chính của Việt Nam trên cổng thông tin điện tử của chính phủ tại http://gis.chinhphu.vn/ Ngoài ra, Tập Atlas điện tử Đồng Nai cũng có sẵn tại http://www.tnmtdongnai.gov.vn/Atlas/.
Lào Cai: http://bando.laocai.gov.vn/; Tập Atlas Bình Dương: http://binhduong.bando.com.vn/
Bản đồ là công cụ hữu ích trong việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu thông qua phân tích đa tiêu chí Quy trình này thường liên quan đến việc cân nhắc nhiều yếu tố và chỉ tiêu khác nhau Khi quyết định chọn địa bàn, chúng ta thường sử dụng cụm từ “điển cứu tại…” để nhấn mạnh tính đại diện của khu vực được chọn Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân, quá trình này có thể trở nên cảm tính Do đó, việc sử dụng bản đồ như một công cụ phân tích đa chỉ tiêu giúp xác định địa bàn nghiên cứu một cách khách quan và toàn diện hơn.
Để nghiên cứu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo đến người nghèo thuộc dân tộc ít người ngôn ngữ Nam Đảo ở Tây Nguyên, cần chọn khu vực có mật độ cao người Nam Đảo, tỉ lệ nghèo lớn và nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo Việc xác định các vùng này có thể thực hiện nhanh chóng thông qua việc kết hợp bản đồ phân bố ngôn ngữ, bản đồ tỉ lệ người sống dưới ngưỡng nghèo và bản đồ tỉ lệ người theo đạo Thiên Chúa trong khu vực.
Hình 0.6 Kết hợp các bản đồ để chọn ra vùng nghiên cứu điển hình Nguồn: Biên tập lại từ Michael Epprecht và Andreas Heinimann, 2004
Bản đồ là công cụ thiết yếu trong việc định vị và dẫn đường, hỗ trợ hiệu quả trong quá trình khảo sát thực địa Nó giúp lên kế hoạch và vạch tuyến, đồng thời ghi nhận kết quả khảo sát tổng quan về khu vực nghiên cứu.
Trước mỗi chuyến đi thực địa, việc lập kế hoạch cẩn thận về thời gian, địa điểm và nội dung công việc là rất quan trọng Sự chuẩn bị tốt giúp tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí, đồng thời nâng cao hiệu quả của chuyến đi Nghiên cứu trước về địa bàn thông qua bản đồ cũng rất hữu ích trong việc xác định phương tiện di chuyển, nơi ăn ở và các địa điểm cần tham quan.