1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quần thể mộ cổ quận 2 thành phố hồ chí minh hiện trạng và đề xuất bảo tồn để những tiềm năng trở thành khu du lịch văn hóa công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành

34 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quần thể mộ cổ quận 2 - thành phố hồ chí minh – hiện trạng và đề xuất bảo tồn để những tiềm năng trở thành khu du lịch văn hóa
Tác giả Trần Thị Hải Hà, Cao Quang Tổng
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư, Tiến Sĩ Phạm Đức Mạnh
Trường học Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Công trình
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 306,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Mục đích nghiên cứu trang (5)
  • 2. Phương pháp nghiên cứu (6)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu (6)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (6)
  • Chương 1: Đôi nét về lịch sử hình thành Gia Định – Sài Gòn – TP HCM (8)
  • Chương 2 Quần thể mộ cổ hợp chất quận 2 – Thành Phố Hồ Chí Minh (14)
    • 2.1 Những quần thể mộ cổ hợp chất mới phát hiện và điều tra (15)
      • 2.1.1 Nhóm mộ cổ hợp chất ở Thạnh Mỹ Lợi (16)
      • 2.1.2 Nhóm mộ cổ hợp chất ở Giồng Ông Tố (0)
      • 2.1.3 Nhóm mộ cổ hợp chất ở Gò Quéo (0)
  • Chương 3 Nhận định giá trị khoa học về kiến trúc và văn hóa mộ cổ hợp chất – giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng du lịch văn hóa lịch sử (25)
    • 3.1 Nhận định giá trị khoa học về kiến trúc và văn hóa mộ cổ hợp chất (0)
    • 3.2 Giải pháp để bảo tồn quần thể mộ cổ theo hướng phát triển thành khu du lịch văn hóa lịch sử (29)
  • Tài Liệu Tham Khảo (32)
  • Phụ Lục (33)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu trang

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là thống kê và thu thập tư liệu về các ngôi mộ cổ, chủ yếu là mộ hợp chất, còn sót lại trên địa bàn quận 2 Qua khảo sát thực tế, chúng tôi muốn tiếp cận nền văn hóa và con người Sài Gòn xưa thông qua loại hình văn hóa mộ cổ Đề tài cũng nhằm kiến nghị các cơ quan chức năng TP HCM về cách bảo tồn và phát triển các ngôi mộ này thành khu di tích lịch sử văn hóa Hy vọng rằng nghiên cứu này sẽ đóng góp tư liệu quý giá cho Bảo tàng của Đại học Quốc Gia TP HCM.

Phương pháp nghiên cứu

- Chúng tôi sử dụng phương pháp truyền thống của khảo cổ học như: điều tra, xử lí số liệu, vẽ kỹ thuật

- Phương pháp liên ngành cũng được nhóm chúng tôi ứng dụng trong đề tài này như: phương pháp thống kê, sử học

- Nghiên cứu kết cấu các hợp chất của quần thể

- Sử dụng phương pháp duy vật lịch sử để nhìn nhận vấn đề hiện thực khách quan nhất.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề văn hóa TP HCM đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm từ lâu, nhưng cách tiếp cận và tìm hiểu về nó lại có sự khác biệt rõ rệt.

Trước khi đất nước ta thống nhất, người Pháp đã khai quật một số ngôi mộ cổ vào những năm giữa thế kỷ XX:

- Mộ Thượng thư Trần Văn Học, nhà Đồ bản học

- Mộ Lê Văn Phong em của tướng quân Lê Văn Duyệt

Sau năm 1975, các nhà KCH VN đã tìm thấy

- Mộ Huỳnh Công Lý Phó Tổng trấn thành Gia Định xưa ở Vườn Chuối, Mộ ở Xóm Cải ở chung cư Đại học Y Dược TPHCM

- Mộ ở Phú Thọ Hòa trong lúc đang xây dựng 1 trung tâm bưu điện

- Trong quá trình mở rộng đường Paster người ta tìm thấy một ngôi mộ cổ ở đấy

Hầu hết các ngôi mộ cổ ở Gia Định Sài Gòn được xây dựng từ thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, thuộc thời kỳ nhà Nguyễn, và gắn liền với quá trình lịch sử mở nước của dân tộc Giá trị văn hóa của những ngôi mộ này không chỉ thể hiện lịch sử mà còn góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của vùng đất Tuy nhiên, trước sức ép của đô thị hóa, nhiều ngôi mộ cổ đang bị khai quật hoặc hủy hoại bởi thời gian và sự lãng quên của con người.

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo vệ di tích là việc cấp bách, cần thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế TP.HCM Chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp phần vào xu hướng phát triển bền vững và ổn định cho thành phố.

Hiện nay, nghiên cứu về các di tích mộ cổ gắn liền với văn hóa và lịch sử của vùng đất Gia Định Sài Gòn vẫn chưa được các nhà khoa học quan tâm một cách hệ thống và chi tiết Các tài liệu hiện có chủ yếu dừng lại ở mức độ tư liệu, ít được công bố thành sử liệu chính thức hoặc chỉ được đề cập từ góc độ văn học, như trong tác phẩm của nhà văn Sơn Nam trong “Đất Gia Định – Bến Nghé Xưa và Người Sài Gòn, NXB Trẻ, 2005”.

Đôi nét về lịch sử hình thành Gia Định – Sài Gòn – TP HCM

ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH GIA ĐỊNH -

SÀI GÒN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh trước đây có tên là Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, là thành phố lớn nhất Việt Nam, với diện tích 2090km2, dân số

5037155 người (tính đến ngày 1 tháng 4 năm 1999) Nằm giữa ranh giới

“miệt trên”- vùng đất nâng cao “phù sa cổ” phía bắc – đông bắc – Đông Nam

Bộ và “miệt dưới” là vùng đất thấp sụt trũng của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, trải dài 99km theo hướng tây bắc – đông nam Điểm rộng nhất là 45km từ quận IX đến huyện Bình Chánh, trong khi điểm hẹp nhất chỉ 6km ở huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu ở phía đông, Long An và Tiền Giang ở phía tây – tây nam, Tây Ninh và Bình Dương ở phía bắc, và phía nam – đông nam giáp Biển Đông.

TP HCM có hai sông lớn là Đồng Nai và Sài Gòn, cùng với hàng trăm sông nhánh và kênh rạch chằng chịt Hệ thống đường bộ từ TP HCM phân tán ra các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ theo hình dạng tỏa tia, với ba quốc lộ chính là 1A, 22 và 13.

TP HCM nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nhiệt độ trung bình

Khí hậu nơi đây có nhiệt độ trung bình 27 độ C và lượng mưa hàng năm đạt 1700mm, chủ yếu rơi vào tháng 5 và tháng 10 với khoảng 1600mm Đặc điểm nổi bật là khí hậu nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa, hiếm bão tố và sương muối Ngày thường nóng, đêm mát mẻ, và buổi chiều thường có mưa giông.

TP HCM có một lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp, bắt đầu từ khoảng 165 - 170 triệu năm trước Trong giai đoạn này, khu vực đã trải qua nhiều vận động kiến tạo, dẫn đến sự hình thành các hệ thống đứt gãy và địa hình bậc thang Đồng thời, mạng lưới sông ngòi uốn lượn và các vịnh cửa sông cận biển cũng đã được hình thành.

Theo Nguyễn Hữu Danh, từ giai đoạn tân kiến tạo từ Miocène Đệ Tứ

Khoảng 25 triệu năm trước, các vùng sụt lún đã được lấp đầy và hình thành nền cảnh hiện đại Quá trình này bao gồm 6 chu kỳ vận động, trong đó 4 chu kỳ đầu diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến sự hình thành của dãy Himalaya.

Trần Văn Giàu trong tác phẩm "Địa chí văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh" (NXB TP HCM, 1987) đã chỉ ra rằng, Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua chu kỳ V với sự tác động mạnh mẽ trong thời kỳ Pleistocene đầu Kỷ Đệ Tứ Sau giai đoạn tân kiến tạo, môi trường sinh thái, địa hình, khí hậu và thủy văn của thành phố đã ổn định, bao gồm ba dạng địa hình chính: đồi gò trên thềm phù sa cổ từ bắc Củ Chi đến quận 9, đồng bằng từ Hốc Môn, quận 12 đến nội thành, và nền đất trũng ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.

Vùng đất này đã có con người sinh sống từ lâu, để lại nhiều dấu tích tiền sử quan trọng cho việc nghiên cứu nguồn gốc văn hóa của TP HCM như Bến Đò, Hội Sơn, Gò Sao, Rỏng Bàng, Gò Cát và Láng Le Bàu Cò, có niên đại từ 2500 – 1500 năm trước Nhiều dân tộc đã tồn tại và chứng kiến sự chuyển biến văn hóa tại đây, với vương quốc Phù Nam trong nền văn hóa Óc Eo từ thế kỉ I đến giữa thế kỉ VII, tiếp theo là Thủy Chân Lạp, và sự xuất hiện của người Việt vào giữa thế kỉ XVII Mốc thời gian đánh dấu sự chuyển biến văn hóa của các cộng đồng người rất khó xác định, vì đây là quá trình giao lưu của nhiều thế hệ Đất Nam Bộ cũng không ngoại lệ, cuộc chiến giữa Chân Lạp và Chăm Pa đã làm tan rã cộng đồng cư dân bản địa, đồng thời sự tranh chấp và cộng cư giữa các tộc người đã tạo nên sự đa dạng văn hóa phong phú nơi đây.

Văn hóa vùng đất Thành Phố Hồ Chí Minh đã được hòa quyện từ rất sớm, đặc biệt từ năm 1620 khi công chúa Ngọc Vạn, con gái chúa Nguyễn Sãi Vương, kết hôn với vua Chân Lạp Chey Chetta II, khởi đầu cho làn sóng di dân của người Việt vào Nam Bộ Đến năm 1642, chúa Nguyễn đã cho khoảng 300.000 người đến định cư tại Gia Định – Đồng Nai Sau năm Mậu Tuất 1658, khi chúa Nguyễn Phước Yến dẹp loạn ở Mô Soài, dòng người di cư càng gia tăng Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, chúa Nguyễn Phúc Châu (1675 – 1725) đã chỉ đạo mở rộng đất đai phương Nam, lấy Đồng Nai làm điểm phát triển, thành lập hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, thu hút hơn 40.000 hộ dân.

Chiêu mộ những người có sức lao động từ Điện Bàn, Quảng Nghĩa, và Qui Nhơn thuộc Quảng Nam di cư đến khu vực này Họ thực hiện việc chặt cây và khai hoang, biến những vùng đất hoang thành những khu vực bằng phẳng, màu mỡ với nguồn nước dồi dào Mọi người có thể làm việc theo khả năng của mình, tự do sản xuất theo sức lực.

Vào tháng 5 năm 1679, khoảng 3000 người Hoa từ Quảng Đông, dẫn đầu bởi Trần Thượng Xuyên và các lãnh đạo khác, đã di cư đến Việt Nam để lánh nạn Mãn Thanh Chúa Nguyễn đã chấp thuận cho họ định cư và chỉ định các tướng quân dẫn dắt họ vào Nam Nhóm Long Môn của Dương Ngạn Địch đã lập nghiệp tại Bàng Lân, Đồng Nai từ năm 1679 Đến mùa xuân năm 1698, dưới triều vua Hiển Tông Hiếu Minh, Nguyễn Hữu Cảnh được giao nhiệm vụ tổ chức hành chính mới cho vùng đất này, thành lập Gia Định Phủ và các huyện Phước Long và Tân Bình, đồng thời dựng Dinh Phiên Trấn và chia lập thôn ấp.

3 Nguyễn Thi Hậu, Một thế kỉ nghiên cứu khảo cổ học Lịch sử TP HCM, Miền Đông Nam

Bộ - Lịch sử và phát triển, tạp chí Xưa và nay, tr 178

Vào năm 1970, khu vực Tân Bình (TP HCM) đã phát triển ổn định với nhân lực đông đúc và đất đai phì nhiêu, sản phẩm phong phú hơn so với nhiều vùng khác, nổi bật với các ngành nghề như dệt chiếu, đúc đồng và trồng dâu nuôi tằm Từ đầu thế kỉ XVII, Sài Gòn đã trở thành trung tâm thương mại quan trọng, không chỉ cho Đàng Trong mà còn cho toàn khu vực Đông Nam Á Khảo cổ học tại đường Tôn Đức Thắng đã phát hiện hàng ngàn mảnh gốm từ các nền văn hóa khác nhau, chứng minh sự giao thoa văn hóa tại đây Khu vực Bến Nghé xưa từng là cảng sầm uất, nối liền với hệ thống chợ và bến cảng, trong khi Sài Gòn là trung tâm giao thương nông sản lớn nhất cả nước với các phường hội thủ công nghiệp như Xóm Chiếu và Xóm Lò Gốm.

Trên mảnh đất này, dấu tích của các công trình quân sự và văn hóa vẫn còn hiện hữu, thể hiện sự bền bỉ qua thời gian Những di sản này không chỉ nằm sâu trong lòng đất mà còn đứng vững, thách thức sự lãng quên của thời gian và nhịp sống hối hả.

Quần thể mộ cổ hợp chất quận 2 – Thành Phố Hồ Chí Minh

Những quần thể mộ cổ hợp chất mới phát hiện và điều tra

Quận 2, cùng với nhiều quận khác tại TP HCM, sở hữu nhiều ngôi mộ cổ có niên đại từ giữa thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX Chuyên ngành khảo cổ của trường Đại học KHXH và NV TP HCM đã đồng ý hỗ trợ UBND TP HCM trong việc khảo sát và thống kê các ngôi mộ cổ còn lại.

Trong quá trình khảo sát cùng thầy cô và bạn bè ngành khảo cổ, chúng tôi đã quyết định thực hiện nghiên cứu về quần thể mộ cổ hợp chất tại quận 2, một quận mới được thành lập từ quận Thủ Đức vào năm 1996 Chúng tôi tiến hành khảo sát tại các địa điểm như phường Thạnh Mỹ Lợi, Giồng Ông Tố, ấp Tây B, phường Bình Trưng Tây, và Gò Quéo, ấp Đông, phường Bình Trưng Đông Nhờ sự hỗ trợ từ phòng VHTT quận 2 và sự hướng dẫn của giảng viên Nguyễn Công Chuyên, chúng tôi đã lập được bảng thống kê các mộ cổ trong khu vực này.

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào việc khảo sát các ngôi mộ cổ tại quận 2, TP HCM, đặc biệt là phường Bình Trưng Đông Dựa vào sơ đồ vị trí và bản đồ quận 2, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các ngôi mộ hợp chất Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã phát hiện thêm nhiều ngôi mộ hợp chất thực tế còn tồn tại, mà trước đó chưa được ghi nhận trong bản thống kê.

Để phục vụ cho việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa Quận 2 và TP HCM, Ban thực hiện đề án xây dựng Bảo tàng và bộ môn khảo cổ học thuộc Trường Đại học KHXH và NV – Đại học Quốc gia TP HCM đã tiến hành khai quật khảo cổ tại ngôi mộ số 1/134 tổ 7, khu phố 1, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2 Hoạt động này nhằm giải phóng mặt bằng về mặt văn hóa theo đề nghị của Công ty cổ phần May – Xây dựng Huy Hoàng và Ban quản lý di tích – Danh lam thắng cảnh.

Từ ngày 9 đến 13 tháng 5 năm 2007, TP HCM đã tổ chức khảo sát các ngôi mộ cổ tại Quận 2 Những ngôi mộ này thường nằm trên các gò đất cao, được gọi là Gò, như Gò Giồng, Gò Ông và Gò Giồng Ông.

Tố Các Gò – Giồng cao như gò đất của Công ty Huy Hoàng nằm ở phía tây nam, tạo thành một chuỗi gò kéo dài theo hướng đông nam – tây bắc Khu vực này nằm ở trung tâm của nền cảnh địa – sinh thái, với địa thế cao ráo và uốn cong theo sông Sài Gòn, hòa vào dòng Đồng Nai ở phía đông nam Người dân địa phương tin rằng chuỗi gò – giồng tại Quận 2 tựa như thế rồng thiêng, trong đó đầu rồng là khu mộ hợp chất quý giá của gia tộc họ Nguyễn, còn đuôi rồng là khu gò mộ cổ Gò Quéo, với mắt rồng nằm ở phía tây và đông nam.

Mỹ Hòa, thuộc phường Bình Trưng Đông, là khu vực có gò đất nổi bật trong dự án của Công ty Huy Hoàng Nơi đây còn nổi tiếng với những ngôi chùa lâu năm, gắn liền với lịch sử hình thành cộng đồng dân cư trong khu vực Quận 2.

2.1.1 Nhóm mộ cổ hợp chất ở Thạnh Mỹ Lợi Đầu tiên chúng tôi tới khảo sát các ngôi mộ ở địa chỉ Đường số 18 tổ 21- KP2 phường Thạnh Mỹ Lợi – quận 2 Ở đây có tất cả 13 ngôi mộ, phân bố bên một gò đất cao mà dân địa phương quen gọi là gò Miu, tạo nên một khu mã nhỏ Hiện tại, chúng bị phân cách và xâm lấn bởi khu dân cư Cách đây không lâu đó là khu vực hoang vắng, ít người sinh sống, chỉ có lau sậy, tre nhưng đến những năm 90 của thế kỉ XX và cho đến bây giờ nhà cửa mọc lên san sát, chen chúc nhau đến ngạt thở Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, quá trình đô thị hóa diễn ra rất mạnh mẽ mà chủ yếu là tự phát, những ngôi nhà mọc lên không ngay hàng thẳng lối, điều quan trọng là những ngôi mộ cổ hợp chất ở đây cũng biến thành sân trước của nhà, các vách tường tạo thành hành lang bao quanh lấy khu mộ chật hẹp (h1 Sơ đồ phân bố các mộ hợp chất ở Thạnh Mỹ Lợi) chỉ có một con hẻm nhỏ khoảng chừng 1m để vào khu mộ và đó cũng là cổng chung của những ngôi nhà có hướng quay vào khu mộ và xem như là sân trước của họ

Mười ba ngôi mộ được xây dựng bằng hợp chất ô đước, có kiểu dáng voi phục và hướng về phía Đông Nam Trước khi bị che khuất bởi các ngôi nhà, khu mộ nhìn ra sông Bến Dốc chảy hiền hòa, trong khi phía sau là những gò đồi cao tạo thành thế “thủy, hỏa” Hai bên khu mộ là những gò đồi nhỏ, tạo nên thế “rồng cuộn”.

Hình ảnh "hổ ngồi" của hai hành "kim, mộc" cùng với khu mộ mang hành thổ, tạo nên trung tâm của tiểu vũ trụ, nơi hấp thụ linh khí của đất trời Khi tổ tiên được an vị tại đây, con cháu sẽ được thịnh đạt, sống an lành và ấm no Kiểu chôn cất này trong dân gian thường được gọi một cách giản đơn.

Ngoài 13 ngôi mộ kể trên, trong một chương trình khảo sát trước đó, chúng tôi còn thấy thêm một ngôi mộ hợp chất nữa nằm ở phía chân của gò đất phân bố của 13 ngôi mộ, mộ trên cách khu mộ khoảng 200km về phía Nam, ngôi mộ này được xây băng đá tổ ông cùng xoay về hướng Tây Nam và ở trong tình trạng xuống cấp trầm trọng, điều dị biệt nó là ngôi mộ không theo kiểu hình voi phục mà được xây theo bình đồ hình con nhện, rất lạ mắt H2 – M14 Cả phần nấm mồ và nhà bia đều làm bằng hợp chất, văn bia không còn nhưng dựa vào hiện trạng có thể đoán định được, đây là ngôi mộ cũng khá xưa Hiện tại nó đang nằm trong sân ngôi nhà số 69 đường 18 phường Thạnh

Mỹ Lợi Chúng tôi đã sắp xếp vào bản thống kê sơ bộ về 14 ngôi mộ ở Thạnh

Khu mộ ở Thạnh Mỹ Lợi có nhiều ngôi mộ hình voi phục tương tự, cho thấy khả năng chúng được xây dựng vào cùng một thời điểm hoặc thuộc về một dòng họ Qua khảo sát, chúng tôi phân loại các ngôi mộ thành 4 nhóm dựa trên văn bia, kiểu kiến trúc và hiện trạng.

Nhóm 1 gồm các mộ M8, M9, M13, có quy mô nhỏ, xây dựng bằng hợp chất toàn bộ với kiến trúc đơn giản hình chữ nhật Các mộ có 4 góc giật tam cấp, phần trên là nhà bia và nấm mồ Nhà bia nhỏ với bia chính và 2 cánh nhỏ hai bên, được trang trí bằng chỉ viền và chặt góc rõ nét, tuy hiện nay không còn dấu tích trang trí hoa văn Nấm mồ được đắp cao như hình dáng con voi nằm, với phần cổ và vai thấp, lưng nhô cao Những đường vẽ chỉ trên hông con voi tạo hình sóng nước và búp sen duyên dáng Phần tiếp giáp với đầu là hình vuông có 3 hình lồng vào nhau nhỏ dần Ngôi mộ đôi M13 có cấu trúc tương tự nhưng mỗi mộ đều có nhà bia riêng Dựa vào hiện trạng và kiểu kiến trúc, có thể xác định rằng đây là những ngôi mộ được xây dựng sớm hơn so với các ngôi mộ khác trong khu vực.

Nhóm 2 gồm các ngôi mộ M10AB và M11AB có quy mô và kiểu kiến trúc tương tự như nhóm 1, đều được xây dựng bằng hợp chất Điểm khác biệt là tại phần nhà bia, xuất hiện bia đá non nước được mài nhẵn, với chữ khắc dễ đọc Đặc biệt, lối viết trong văn bia của các ngôi mộ này rất giống nhau, tạo nên sự thú vị cho những ai tìm hiểu.

Hai ngôi mộ khắc quốc hiệu “Đại Nam” và “Minh Hương” cho thấy sự kết nối giữa người Việt gốc Hoa và các vùng đất như Trấn Biên và Gia Định vào cuối thế kỷ XVII Chữ "Hương" trong "Minh Hương" chỉ ra rằng hai ngôi mộ này được xây dựng sau thời kỳ Đại Nam – Minh Mệnh Cấu trúc của hai ngôi mộ có nhà bao chung, với các cánh bên được trang trí tinh xảo, bao gồm khung viền hình chữ nhật và họa tiết tam giác mô phỏng hình con phượng Đặc biệt, phía trước mộ bên trái có khối hợp chất vuông, có thể liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Mộ M13 có thể thuộc về người Việt gốc Hoa, với họ “Trần” trên bia mộ gợi ý về dòng họ Trần của nhóm người Hoa.

Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Định lãnh đạo, đã di cư về miền Nam khai phá năm xưa

Nhận định giá trị khoa học về kiến trúc và văn hóa mộ cổ hợp chất – giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng du lịch văn hóa lịch sử

Giải pháp để bảo tồn quần thể mộ cổ theo hướng phát triển thành khu du lịch văn hóa lịch sử

Cần bảo tồn quần thể mộ cổ của Thành phố, vì đây là nguồn tư liệu quý giá giúp nghiên cứu lịch sử và văn hóa.

TP Hồ Chí Minh đang trải qua sự phân hóa xã hội và sự ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo, cùng với quá trình cộng cư giữa các tộc người khác nhau Tuy nhiên, đa số các ngôi mộ cổ hiện đang trong tình trạng xuống cấp và bị xâm phạm nghiêm trọng do đô thị hóa Nhóm chúng tôi xin gửi đến Ủy Ban Nhân Dân TP HCM một số kiến nghị khẩn thiết để bảo vệ di sản văn hóa này.

Trong quá trình điền dã nghiên cứu mộ cổ tại TPHCM, chúng tôi nhận thấy sự quan tâm bảo vệ di tích văn hóa lịch sử, đặc biệt là các ngôi mộ và quần thể mộ cổ có giá trị Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều địa phương và ấp xã vẫn chưa chú trọng đến việc chăm sóc các di tích cổ của dân tộc.

2, các ngôi mộ ở Thạnh Mỹ Lợi và Gò Quéo đã được Ban Quản Lý Di tích

Danh lam thắng cảnh thuộc Sở Văn hóa – Thông tin TPHCM đưa vào danh sách cần được bảo vệ, đã bị người dân lấn chiếm, xâm hại

Vào ngày 10 tháng 05 năm 2007, UBND Phường Bình Trưng Tây đã tiến hành đào phá các ngôi mộ cổ, nhưng hoạt động này đã được ngăn chặn kịp thời nhờ sự can thiệp của cán bộ chuyên viên Phòng Văn hóa - Thông tin Quận 2.

Chúng tôi kêu gọi Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân TPHCM, Ban Quản Lý Di Tích & Danh lam Thắng cảnh, và Phòng Quản lý Di sản văn hóa thuộc Sở Văn Hóa – Thông tin TPHCM nhanh chóng ban hành chỉ thị bảo vệ di sản mộ cổ tại Quận 2, ngăn chặn các hành động xâm hại và phá hoại di tích, nhằm tuân thủ Luật Di sản Văn hóa tại TP.HCM.

Phát triển kinh tế cần gắn liền với sự bền vững, bảo tồn bản sắc văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần của con người Sự phát triển của TP HCM không nên quên đi những đóng góp của thế hệ trước, những người đã khai phá và xây dựng mảnh đất này Các phần mộ của những người đã hy sinh vì quê hương cần được ghi nhớ và tôn trọng, bởi họ đã góp phần quan trọng trong lịch sử phát triển của thành phố Do đó, tôi đề nghị TP cần nhanh chóng quy hoạch lại những ngôi mộ cổ, đặc biệt là ở quận 2, để gìn giữ di sản văn hóa và thể hiện lòng tri ân đối với những thế hệ đã đi trước.

TP cần quy hoạch và tu bổ các ngôi mộ có giá trị văn hóa lớn Việc di dời những ngôi mộ cổ tại các phường về khu mộ Gò Quéo sẽ thuận lợi cho công tác bảo tồn, bởi nơi đây có dân cư thưa thớt, đất rộng và cảnh quan phù hợp để phát triển du lịch lịch sử văn hóa, mang lại giá trị khoa học và kinh tế cao TP cũng nên học tập tỉnh Đồng Nai trong việc xây dựng các mô hình bảo tồn hiệu quả.

Trong bối cảnh đổi mới và công nghiệp hóa tại TP HCM và Nam Bộ, việc khảo sát và nghiên cứu các di tích mộ hợp chất cùng những di sản lịch sử - văn hóa - nghệ thuật là rất cần thiết Những di tích này không chỉ là bằng chứng sống động về quá khứ mà còn chứa đựng nhiều thông tin quý giá cho việc phục dựng giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước Chúng phản ánh bản sắc dân tộc và tinh thần lao động của người Việt, đồng thời thể hiện sự hòa hợp trong lối sống với các cộng đồng dân tộc khác Cùng với các di tích khảo cổ học khác như đình, chùa, và các khu vực thương mại, di tích mộ cổ hợp chất ở Gia Định và Nam Bộ cần được bảo tồn và khai thác một cách hệ thống và có pháp lý để phát huy giá trị di sản văn hóa.

Bộ cũng đóng góp quan trọng cho công cuộc phục hồi văn hóa Việt Nam, đặc biệt là tại Quận 2 với những ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Thiên Hậu, Chùa Thái Nguyên, Chùa Nguyên Thủy, Chùa Thanh Vân, Chùa Tôn và Chùa Ông Sự hình thành và tồn tại của các ngôi chùa lâu năm gắn liền với cộng đồng dân cư và những ngôi nhà cổ cùng phần mộ của những người có công với vùng đất Các đình chùa và ngôi mộ cổ có mối liên hệ chặt chẽ, tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc Việc kết hợp những yếu tố này để phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn di sản giữa TP HCM hiện đại là rất quan trọng và có ý nghĩa lớn lao Thông điệp của chúng tôi là: Hãy bảo vệ những ngôi mộ cổ!

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Thắng và nhiều tác giả, Khảo cổ học tiền sử và sơ sủ Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ,1998 Khác
2. Đỗ Đình Truật và Trần Văn Nghi, Một vài suy nghĩ về mộ hợp chất ở các tỉnh phía Nam, NPHMVKCH, 1989 Khác
3. Nguyễn Thi Hậu, Một thế kỉ nghiên cứu khảo cổ học Lịch sử TP HCM, Miền Đông Nam Bộ - Lịch sử và phát triển, tạp chí Xưa và nay Khác
4. Trần Văn Giàu chủ biên, Địa chí văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB TP HCM,1987 Khác
5. Phan Khoang, Việt xứ đàng trong, NXB Văn Học, 1970 Khác
6. Lê Xuân Diệm, Đỗ Đình Truật, khai quật Vườn Chuối TP HCM – KCH, số 4, 1977 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm