Quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX tuy rời rạc, lẻ tẻ nhưng đã đóng vai trò là những lý luận đồng hành, ảnh hưởng sâu sắc đến thực tiễn sáng tác tiểu thuyết đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Người hướng dẫn: TS Võ Văn Nhơn
Bộ môn Văn học Việt Nam Khoa Văn học và Ngôn ngữ
Trang 2TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: NHỮNG BƯỚC ĐẦU CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 8 1.1 Tiểu thuyết Nam bộ: từ khởi đầu đến 1932 8
1.2 Sự thể hiện quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX 16
CHƯƠNG II: QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ VĂN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX VỀ BẢN CHẤT THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT 21
2.1 Quan niệm về nội dung và phạm vi phản ánh của tiểu thuyết 21
2.2 Quan niệm về ngôn ngữ tiểu thuyết 32
CHƯƠNG III : QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ VĂN NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX VỀ CHỨC NĂNG CỦA TIỂU THUYẾT 41
3.1 Quan niệm về chức năng nhận thức – giáo dục của tiểu thuyết 41
3.2 Quan niệm về chức năng giải trí của tiểu thuyết 49
TỔNG KẾT 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Tình hình nghiên cứu về văn học Nam bộ còn nhiều mảng trống, nhiều mảng còn chưa đựợc xem xét một cách hệ thống và tập trung Quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX là một vấn đề thú vị nhưng vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức Công trình này mong muốn bổ khuyết phần nào vào tình hình nghiên cứu ấy
Quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX tuy rời rạc,
lẻ tẻ nhưng đã đóng vai trò là những lý luận đồng hành, ảnh hưởng sâu sắc đến thực tiễn sáng tác tiểu thuyết đương thời Qua báo chí và những tác phẩm được xuất bản, quan niệm về tiểu thuyết được công bố với nhiều hình thức: bài phê bình, giới thiệu sách, lời tựa, lời bạt…
Tập hợp các quan niệm này, có thể thấy tư duy văn học của các nhà văn Nam
bộ đầu thế kỷ XX là sự kết hợp giữa phương pháp sáng tác phương Tây và truyền thống văn hóa – văn học phương Đông Ở mức độ sơ giản, các nhà văn Nam bộ đã động chạm đến những vấn đề thuộc về bản chất thể loại tiểu thuyết Do tình hình tài liệu không cho phép khảo sát sâu hơn, công trình chỉ tập trung vào các luận điểm về khái niệm thể loại, nội dung phản ánh hiện thực, ngôn ngữ, chức năng giáo dục – nhận thức và chức năng giải trí
Kết quả khảo sát cho thấy quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX có nhiều hạn chế, tuy vậy nó có ý nghĩa không chỉ với ngành nghiên cứu văn học mà còn có ý nghĩa khi tìm hiểu về văn hóa Nam bộ thời kỳ này
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Khi xem xét sự phát triển của một nền văn học bất kỳ, người ta thường chú ý đến thành tựu của tiểu thuyết và lấy nó làm một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá nền văn học đó Những tác phẩm văn học đầu tiên của nhân loại
ra đời trước công nguyên hàng mấy thế kỷ, nhưng mãi đến lúc Don Quichotte
được xuất bản tại Tây Ban Nha, tiểu thuyết mới được có tư cách một thể loại độc lập Tiểu thuyết như một đứa con muộn của văn học, vừa chào đời đã chứng kiến những gương mặt đàn anh đàn chị đông đảo và sung sức: thơ, kịch, sử thi… Tiểu thuyết thậm chí bị ghẻ lạnh ở từng nơi, từng lúc; bị coi là thể loại thấp kém, hạ đẳng Thế mà không lâu sau đó, nó trở thành “ông hoàng” của các thể loại, là phần quan trọng không thể thiếu đối với một nền văn học Cho đến nay, đường đi của thể loại tiểu thuyết vẫn không ngừng tiến về trước với một nội lực mạnh mẽ, thay đổi không ngờ gây nhiều ngạc nhiên cho cả giới phê bình và độc giả Tiểu thuyết
mở ra một thế giới đầy thú vị, đòi hỏi khám phá không ngừng
Văn học không chỉ là thực tiễn sáng tác mà còn có sự phản hồi của người đọc, thể hiện rõ và tập trung nhất ở công việc lý luận phê bình Thực tế cho thấy rằng nền văn học nào có nền tảng lý luận phê bình vững chắc, tinh nhạy sẽ dễ dàng gặt hái được mùa vàng thành tựu, thay cho những thành công lẻ tẻ mang tính cá nhân Đối với thể loại tiểu thuyết nối riêng cũng vậy Người viết tiểu thuyết nếu có một
ý thức về thể loại mà mình đang hoạt động tức là đã làm việc một cách nghiêm túc
và chuyên nghiệp Bởi vậy mà người ta thường chú ý đến quan niệm của nhà viết tiểu thuyết về tiểu thuyết, như một con đường đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời đánh giá tư duy nghệ thuật của nhà văn
Tình hình nghiên cứu văn học ở nước ta đang có một thực tế đáng lưu ý: nhiều khu vực văn học bị cày xới quá nhiều trong khi một bộ phận lớn khác lại chìm vào
Trang 5quên lãng Thực tế đó đã làm nảy sinh nhu cầu bổ sung, hoàn thiện tình hình nghiên cứu văn học trong nước Đối với việc tìm hiểu quan niệm của nhà văn về tiểu thuyết cũng vậy, có một sự chênh lệch giữa thành tựu nghiên cứu về quan niệm của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX so với thành tựu tương tự về khu vực Bắc – Trung bộ Văn học Nam bộ từ lâu đã được công nhận là nơi khởi đầu cho rất nhiều cái mới trong văn học Song, tính chất non trẻ về lịch sử cũng như văn hóa không cho phép vùng đất này phát triển những bước tiên phong tới những thành tựu rực rỡ mà đành phải nhường lại sứ mệnh đó cho miền Bắc – cái nôi văn hóa Việt Tính chất mau lẹ ngắn ngủi làm cho văn học Nam bộ không được quan tâm chú ý nhiều bởi một tâm lý rất bình thường: các hiện tượng chín muồi vẫn được chú ý hơn là những quả bói đầu mùa Nói đến tiểu thuyết Việt Nam đầu thế
kỷ XX, người ta nghĩ ngay đến tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, tiểu thuyết hiện thực
phê phán với phần lớn tác giả là các nhà văn Bắc – Trung bộ Trong khi đó, một
bộ phận đông đảo các nhà văn và tác phẩm tiểu thuyết Nam bộ ít được biết đến Nói về quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ lại càng ít Người viết công trình này muốn tìm hiểu mảng khuất đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Mặc dù còn ít ỏi, cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến quan niệm tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX, cụ thể như sau:
Bằng Giang trong Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865 – 1930 (NXB Trẻ,
Tp.HCM, 1992) đã biên khảo khá công phu nhiều tác giả có tiếng hoạt động tại Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đồng thời xác minh lại một số vấn đề tồn nghi về tác giả, tác phẩm văn học Nam bộ Khi viết về Nguyễn Trọng Quản, Bằng Giang đã tổng kết sơ lược quan niệm sáng tác của nhà văn này về các phương diện: phong cách ngôn ngữ, mục đích và đối tượng sáng tác, khuynh hướng sáng tác Sự tổng kết của Bằng Giang chỉ từ một tài liệu duy nhất là lời tựa đầu cuốn
Truyện thầy Lazaro Phiền và cũng rất sơ sài, không phân tích nhiều, chủ yếu là
trích dẫn nguyên văn Ở phần cuối công trình, Bằng Giang đã khảo sát quan niệm
Trang 6của các nhà văn Nam bộ về phong cách ngôn ngữ văn xuôi, đưa ra nhiều nhận xét sâu sắc thông qua việc xâu chuỗi các chủ trương cũng như thực tiễn sáng tác của các nhà văn Nam bộ từ buổi đầu của văn học quốc ngữ đến sau 1975 Tất nhiên, đối tượng khảo sát này trải dài trong thời gian và không phân biệt về thể loại như trong đề tài của chúng tôi
Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (NXB ĐHQG, Tp.HCM,
2004) của một nhóm tác giả do Nguyễn Kim Anh chủ biên đã phác thảo diện mạo của tiểu thuyết Nam bộ trong những năm 1875 – 1932 và chân dung văn học của
30 tiểu thuyết gia cũng như điểm qua một số tác phẩm của họ Trong phần thứ
nhất: Tổng quan về một số vấn đề, Hà Thanh Vân khảo sát Quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX về thể loại,
phương pháp và mục đích sáng tác trong sự đối chiếu với khái niệm “tiểu thuyết” của phê bình hiện đại cũng như của Trung Quốc thời Minh – Thanh
Năm 2006, Trương Thị Linh thực hiện luận văn Thạc sĩ Ngữ văn có đề tài Tìm hiều sự ra đời của nền văn học mới qua một số báo và tạp chí Nam bộ đầu thế
kỷ XX (thập niên 20) Tác giả đã khảo sát các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học trên 4 tờ báo: Đông Pháp thời báo, Nam kỳ Kinh tế báo, Tân thế kỷ, Thần chung Trương Thị Linh khẳng định “giới thiệu sách mới” là hình
thức quảng cáo nhưng qua đó các nhà văn, nhà báo cũng đã thể hiện quan niệm về hoạt động sáng tác (trang 46) Ngoài ra, luận văn cũng dành một mục nhỏ để viết
về Quan niệm về tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết ở Nam bộ đầu thế kỷ XX
(mục 3.1.3) trong đó tác giả kết luận rằng không nhiều người có sự phân biệt giữa hai thể loại này, những chủ trương về cách viết, mục đích sáng tác và nội dung tác phẩm cũng chỉ được đề cập “một cách dè dặt” (trang 122)
Một công trình khác cũng có đề cập đến vấn đề này là Tiểu thuyết quốc ngữ Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Võ Văn Nhơn, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn,
ĐH KHXH & NV Tp HCM, 2008) Tác giả đã khảo sát quan niệm của các nhà văn Nam bộ về chức năng giáo dục, phản ánh hiện thực, thể loại, thủ pháp nghệ
Trang 7thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết (mục 3.1.4: Quan niệm về tiểu thuyết) và kết luận:
“những ý kiến này còn lẻ tẻ, chưa nhiều, chưa thành hệ thống (…) chịu sự ảnh hưởng sâu đậm bởi quan niệm văn học Trung Quốc truyền thống, nhưng bước đầu
khá đơn giản” (trang 115)
Ngoài ra còn có các bài viết của Lê Tú Anh (Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học giai đoạn 1900 – 1930, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2007) và Bùi Đức Tịnh (Chuyển biến của thể loại tiểu thuyết trong văn học Việt Nam, in trong Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1930, NXB Văn hóa Thông tin,
H, 2000) cũng đã nhắc đến một số ý kiến về thể loại tiểu thuyết của các nhà văn
3.2 Nhiệm vụ của đề tài:
Để phục vụ các mục đích trên, chúng tôi tiến hành khảo sát quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX về các phương diện: quan niệm về bản chất thể loại tiểu thuyết và quan niệm về chức năng của tiểu thuyết Dựa trên những tài liệu thu thập được, chúng tôi chỉ tập trung vào một số phương diện chứ không khảo sát đầy đủ theo những phương diện mà lý luận văn học hiện nay đã xác định
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau vào việc nghiên cứu: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
so sánh, phương pháp thống kê
5 Giới hạn của đề tài:
Đề tài tập trung khảo sát các lời tựa tiểu thuyết, các bài viết, bài phát biểu của các nhà văn Nam bộ về thể loại tiểu thuyết đăng trên các báo Nam bộ xuất bản từ năm 1900 đến năm 1932 Ngoài ra chúng tôi khảo sát thêm một số lời tựa tiểu thuyết, bài viết, bài phát biểu trong hai thập niên cuối thế kỷ XIX
Về cụm từ “nhà văn Nam bộ”: chúng tôi xác định nội hàm của khái niệm này bao gồm các nhà văn sinh trưởng và có phần lớn thời gian hoạt động văn học là tại Nam bộ Đầu thế kỷ XX tại Nam bộ, báo chí rất phát triển, trở thành cái nôi của văn học, là nơi các nhà văn trẻ tiếp xúc và ra mắt tác phẩm với công chúng một cách dễ dàng Đội ngũ làm báo đông đảo và hầu hết cũng đồng thời là nhà văn, đương thời, khái niệm “nhà văn” và “nhà báo” có nhiều tương đồng, khó xác định
rõ ràng Do đó tất cả những bài viết thu thập được trên báo chí Nam bộ đầu thế kỷ
XX về thể loại tiểu thuyết, chúng tôi đều đưa vào phạm vi khảo sát mà không phân biệt tác giả bài báo là nhà báo hay nhà văn
Về cụm từ “đầu thế kỷ XX”: chúng tôi xác định trong khoảng thời gian từ năm
1900 đến năm 1932 Đây là khoảng thời gian đã được giới nghiên cứu, phê bình văn học ở nước ta chấp nhận khi nói đến giai đoạn đầu thế kỷ XX – giai đoạn văn học giao thời, hay còn gọi là giai đoạn văn học cận đại Việc mở rộng tham khảo thêm các lời tựa tiểu thuyết, bài viết, bài phát biểu cuối thế kỷ XIX là cần thiết vì trong 20 năm này, văn học cũng đã có những thay đổi để bước vào giai đoạn chuyển giao giữa trung đại và hiện đại Phần tham khảo mở rộng này chỉ được tiến hành khi thật cần thiết và rất hạn chế về dung lượng nên tên đề tài vẫn được giới hạn ở “đầu thế kỷ XX”
Trang 96 Đóng góp mới của đề tài:
Khảo sát quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX một cách hệ thống và tập trung
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
7.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài:
Tìm hiểu hệ thống quan niệm về thể loại của chủ thể sáng tác
Chỉ ra các yếu tổ ảnh hưởng đến việc hình thành quan niệm về thể loại văn học
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Phục vụ việc tìm hiểu quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX của sinh viên ngành văn học
Đề tài có thể sử dụng để so sánh giữa quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX với quan niệm về tiểu thuyết của các đối tượng khác, ở một thời điểm khác
8 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và tổng kết, đề tài được triển khai gồm 3 chương:
Chương I: Những bước đầu của tiểu thuyết Nam bộ trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
Chương II: Quan niệm của các nhà văn Nam bộ về bản chất thể loại tiểu thuyết Chương III: Quan niệm của các nhà văn Nam bộ về chức năng của tiểu thuyết
Trang 10CHƯƠNG I: NHỮNG BƯỚC ĐẦU CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
1.1 Tiểu thuyết Nam bộ: từ khởi đầu đến 1932
Nói về sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam ở giai đoạn đầu có lẽ ấn tượng nổi bật nhất là giai đoạn đỉnh cao 1932 – 1945, khi mà khuynh hướng lãng mạn và hiện thực đều có những tiểu thuyết thành công vang dội Nhiều tác phẩm, tác giả được độc giả hoan nghênh, đón chờ và có sức lan tỏa rộng rãi Thế nhưng tiểu thuyết hiện đại Việt Nam cho đến thời điểm đó mới có lịch sử chưa đầy 100 năm Trước 1975, giới nghiên cứu văn học cho rằng Hoàng Ngọc
Phách đã mở đường cho tiểu thuyết hiện đại ở nước ta với Tố Tâm (1925) Khi
Bùi Đức Tịnh công bố công trình Phần đóng góp của văn học miền Nam: Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1975)
và Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên: Truyện thầy Lazaro Phiền của
Nguyễn Văn Trung được Ban xuất bản Đại học Sư phạm Tp.HCM in roneo vào năm 1987 thì cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên được xác định là một tác phẩm của Nguyễn Trọng Quản (1887) Cho đến nay, mặc dù vẫn còn tranh cãi trong giới nghiên cứu văn học ở nước ta, kết luận này được nhiều ý kiến tán đồng về một điểm mốc cho sự khởi đầu của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Khoảng thời gian
1887 – 1945 không dài nhưng có thể phân chia một cách tương đối quá trình phát triển của tiểu thuyết trong 58 năm này ra hai giai đoạn: giai đoạn khởi đầu ở Nam
bộ (1887 – 1932) và giai đoạn thành tựu ở Bắc bộ (1932 – 1945)
Dấu mốc đầu tiên là sự ra đời của Truyện thầy Lazaro Phiền, tuy tác phẩm
này có ý nghĩa lớn đối với văn học sử nước nhà nhưng trong thực tế nó không gây được tiếng vang trong công chúng mà cũng không tạo được một trào lưu sáng tác
nào trong giới cầm bút Trên Nông Cổ Mín Đàm những năm 1901 – 1906 có
nhiều bài viết ngắn bằng chữ quốc ngữ, thuật lại những việc xảy ra thường ngày bằng lời lẽ giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu – được Nguyễn Kim Anh kể đến như mầm
Trang 11mống của tiểu thuyết hiện đại – ra đời sau nhưng thực ra cũng không chịu ảnh
hưởng của Truyện thầy Lazaro Phiền mà được viết do sự cổ vũ của tòa báo nhằm mục đích thông tin thời sự những việc xảy ra trong xứ Đến 1910, Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Chánh Chiếu)1 và Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân (Trương Duy Toản) mới ra đời và cùng với Truyện thầy Lazaro Phiền được công nhận là
ba tiểu thuyết hiện đại đầu tiên Tuy vậy, so sánh văn phong giữa các tác phẩm này
sẽ thấy một khoảng cách rõ rệt Tác phẩm của Nguyễn Trọng Quản câu văn sáng
rõ, ít dùng từ Hán Việt; kết cấu truyện trong truyện và lối trần thuật hai ngôi hiện đại Trong khi đó, ra đời sau 23 năm nhưng hai tiểu thuyết của Trần Chánh Chiếu
và Trương Duy Toản vẫn sử dụng lối kết cấu chương hồi; câu văn biền ngẫu, thành ngữ Hán Việt và cách tả ước lệ vẫn còn Vậy mà so với những tác phẩm xuất bản cùng thời thì hai tiểu thuyết này có nhiều màu sắc hiện đại hơn
Vào thời điểm Truyện thầy Lazaro Phiền ra đời, phần lớn công chúng Nam bộ
chưa biết tiểu thuyết là gì, họ còn say mê với truyện Nôm, thơ, tuồng Tâm lý của một dân tộc vừa mất nước làm người dân Nam bộ kỳ thị, xa lánh những sản phẩm văn hóa của người Công giáo, trong đó có chữ quốc ngữ và tác phẩm văn học do người Công giáo sáng tác Hơn nữa, lối viết theo kiểu Tây hoàn toàn trơn tuột, không có vần vè, biền ngẫu, lên bổng xuống trầm là quá xa lạ với truyền thống thưởng thức văn chương Nam bộ Sự xuất hiện đột ngột và nhanh chóng im hơi
lặng tiếng của Truyện thầy Lazaro Phiền có thể lý giải như vậy Điều đó cho thấy
rằng Nguyễn Trọng Quản đã viết trong một tư thế rất khác, ông không bị câu thúc bởi thị hiếu của độc giả như các cây bút hàng chục năm sau đó Có thể nói rằng khoảng cách 1887 – 1910 trong sự phát triển của tiểu thuyết Nam bộ là một sự đứt gãy, đáng tiếc rằng nó không có sự kế thừa mà thậm chí đã bước lùi Ngay từ khởi đầu, tiểu thuyết Nam bộ đã đánh mất cơ hội để tiến nhanh trên quá trình hiện đại
1
Trên đầu cuốn tiểu thuyết khi xuất bản ghi tên tác giả là Trần Thiên Trung – một bút danh của Trần Chánh Chiếu Để thống nhất trong phạm vi công trình, kể từ đây, khi nhắc đến tác phẩm này, chúng tôi ghi tên tác giả là Trần Chánh Chiếu
Trang 12hóa Đây là một trong những lý do dẫn tới sự tụt hậu so với tiểu thuyết Bắc bộ mà chúng tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần sau
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có lập một lược đồ sự phát triển của tiểu thuyết cho tới 1945 như sau:
1887: Truyện thầy Lazaro Phiền (Nguyễn Trọng Quản)
1910: Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân (Trương Duy Toản)
1910: Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Chánh Chiếu)
1912: Ai làm được (Hồ Biểu Chánh)
1918: Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn)
1921: Cành hoa điểm tuyết (Đặng Trần Phất)1
1921: Câu chuyện một tối của người tân hôn (Nguyễn Bá Học)
1923: Cay đắng mùi đời (Hồ Biểu Chánh)
1924: Kim Anh lệ sử (Trọng Khiêm)
1925: Quả dưa đỏ (Nguyễn Trọng Thuật)
1925: Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách)
1926: Giấc mộng lớn (Tản Đà)
… [13;405]
Về cơ bản, chúng tôi đồng ý với lược đồ của Vương Trí Nhàn Song, với mốc
1912 thì có những thông tin khá thú vị trong thực tế sáng tác của các tiểu thuyết gia Nam bộ bấy giờ Trong khi còn nhiều ý kiến tranh cãi xoay quanh thời điểm ra
đời của cuốn Ai làm được – tiểu thuyết đầu tiên của Hồ Biểu Chánh: 1912 như khẳng định của Vương Trí Nhàn, 1919 như bản đăng trên Nông Cổ Mín Đàm hay
1926 như các bản in đã tìm được; thì nếu nói rằng tiểu thuyết nào ăn khách nhất,
1
Vai trò của Sống chết mặc bay và Cành hoa điểm tuyết với sự phát triển của tiểu thuyết Bắc bộ cũng
tương tự như bộ ba tác phẩm vừa nói ở trên với tiểu thuyết Nam bộ
Trang 13nổi tiếng nhất, đưa tác giả của nó lên vị trí nhà văn hàng đầu ở Nam bộ ở thập niên
10 của thế kỷ XX, câu trả lời duy nhất nhận được sẽ là Hà Hương phong nguyệt
(Lê Hoằng Mưu)
Đăng liên tiếp nhiều kỳ trên Nông Cổ Mín Đàm từ số 19/1912 với tên Truyện nàng Hà Hương, tác phẩm này nhanh chóng trở thành một hiện tượng Lúc đăng
báo đã được đông đảo bạn đọc theo dõi say mê, đến khi xuất bản thì bán rất chạy
Tác phẩm này được xuất bản lần đầu năm 1915 (đổi tên thành Hà Hương phong nguyệt), lần thứ hai năm 1920, và đến khi bị chính quyền tịch thu năm 1923 vì bị
cho là đồi trụy vẫn được độc giả tìm mua dù không được tái bản nữa Ở trên đã lý
giải tại sao Thầy Lazaro Phiền không gây được phản ứng tích cực với công chúng Đến khi Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân và Hoàng Tố Anh hàm oan ra đời, độc giả cũng cần thời gian để thích nghi với một thể loại văn xuôi dài
hơi như vậy Ban đầu, những mẩu truyện đăng trên báo chỉ có độ dài khoảng nửa cột báo, rồi dần dần mới nâng lên thành vài ba cột… để rồi năm 1910 chúng ta có
hai tiểu thuyết trên với độ dài lần lượt là 48 và 54 trang Đến khi Hà Hương phong nguyệt ra mắt thì ở Nam bộ mới chính thức hình thành lớp công chúng của
tiểu thuyết quốc ngữ
Không chỉ nổi tiếng trong công chúng, Hà Hương phong nguyệt còn gây ra
những cuộc bút chiến sôi nổi đến mức gay gắt trong giới cầm bút, kết quả là tác phẩm bị chính quyền tịch thu Lê Hoằng Mưu bị chỉ trích thậm tệ nhưng đồng thời cũng có được tiếng tăm vượt trội hơn cả các tác giả đình đám đương thời là Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toản… Nếu nhớ lại sự tồn tại im ắng của bộ ba tiểu thuyết đầu tiên thì đây quả là một sự kiện “xưa nay chưa từng có” Tính mới
mẻ của tác phẩm này còn thể hiện ở nhiều cái “đầu tiên” nữa: tác phẩm đầu tiên được ghi chú rõ về thể loại là “roman fantastique”, tiểu thuyết đầu tiên viết theo lối feuilleton (tiểu thuyết đăng báo nhiều kỳ), tiểu thuyết đầu tiên đề cập và miêu
tả về tình dục Nói tác phẩm này là hiện tượng dự báo cho thời kỳ khởi sắc của tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ XX cũng không quá
Trang 14Trong lược đồ của Vương Trí Nhàn, từ 1913 trở đi tiểu thuyết Nam bộ hầu như vắng bóng trong việc đóng góp cho sự phát triển thể loại mới này, nhưng thực tế thì 10 năm từ 1922 – 1932 mới là khoảng thời gian tiểu thuyết Nam bộ trở nên thông dụng và có một thực tiễn sáng tác sôi động Chúng tôi tiến hành thống kê số tiểu thuyết xuất bản từng năm từ năm 1910 – 1932 và có kết quả như sau1:
Năm Số tiểu thuyết Năm Số tiểu thuyết
1921 tiểu thuyết Nam bộ vẫn có tác phẩm mới khá đều đặn qua từng năm, chỉ có điều các tác phẩm này không gây được tiếng vang trong công chúng và tác giả của
nó cũng không phải là tên tuổi nổi bật Nhưng nếu nói “trong khoảng thời gian đó
và rất lâu sau đó, văn học sáng tác bằng chữ quốc ngữ ở Nam kỳ là một khoảng trống” [10;222] thì quả là sai lầm trong khi chỉ tính riêng tiểu thuyết đã có 13 tác
phẩm mới phân bố đều trong 9 năm, chưa kể các tác phẩm tái bản và có thể vẫn còn những tác phẩm chúng ta chưa biết tới
Khoảng thời gian 1913 – 1921 sự phát triển của tiểu thuyết Nam bộ như vậy là khá bình lặng, nó giống như giai đoạn “tĩnh dưỡng”, kết tinh để rồi vận động một cách mạnh mẽ Bằng chứng là trong những năm 1922 – 1932 số lượng tiểu thuyết mới ra mắt công chúng tăng vượt bậc Tại sao giai đoạn “thai nghén” lại lâu đến
1
Thống kê dựa trên Thư mục về tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết Nam bộ (1887 – 1932) trong Tiểu
thuyết Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX [3;944-977]; chỉ tính các tác phẩm ghi rõ năm xuất
bản/đăng báo, tính lần xuất bản/đăng báo đầu tiên và không tính các lần tái bản
Trang 15vậy? Chúng ta thấy rằng trong những năm 1912 – 1918 ở Nam bộ có nhiều sự kiện đáng chú ý Đó là những cuộc khởi nghĩa, đình công của nhiều tầng lớp nhân dân đòi quyền dân chủ, chống lại ách đô hộ thực dân, mà tiêu biểu là cuộc đình công của công nhân Ba Son (1912) và khởi nghĩa Phan Xích Long (1913) Bên cạnh đó, những ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ nhất cũng đã khuấy đảo mạnh mẽ tình hình kinh tế – xã hội ở Nam bộ Có lẽ vì thế mà thực tiễn sáng tác mới khởi đầu chưa tìm được thời điểm thuận lợi, hơn nữa các nhà văn cũng cần có quá trình nhận thức hiện thực để từ đó có những tác phẩm phù hợp (bằng chứng là khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử nổi bật ở các năm từ 1924 đến 1932) Một điều đáng chú
ý nữa là một loạt tác giả nổi danh vào khoảng 1922 – 1932 đều sinh vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX – tức trong thời gian diễn ra các phong trào Minh Tân, Duy Tân – nghĩa là họ có điều kiện thực tập và trau dồi ngòi bút khi chữ quốc ngữ
đã được chấp nhận rộng rãi; khác với thế hệ nhà văn tiên phong Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản
Gây ấn tượng về số lượng tác phẩm xuất bản nhưng trong 10 năm này (1922 – 1932) tiểu thuyết Nam bộ không tạo được đột phá về chất lượng nghệ thuật Nội dung cơ bản vẫn là sự minh họa cho truyền thống đạo lý của người Nam bộ Hình thức cũng không có những thay đổi đáng kể, có chăng là sự phát triển về dung lượng tác phẩm, còn kết cấu, ngôn ngữ vẫn được xây dựng để chiều theo trình độ bình dân Những năm 1931 – 1932 có hiện tượng tiểu thuyết được dùng làm “sách khuyến mãi của hiệu bánh” hay “sách cho không của hãng rượu”1 Điều đó chứng
tỏ tiểu thuyết tuy đã rất phổ biến nhưng dần đi đến tình trạng bão hòa Trong khi
đó, tiểu thuyết Bắc bộ sau bước mở đầu 1920 – 1930 đã tiến vào thời kỳ phát triển đỉnh cao, phân hóa rõ ràng theo chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, gặt hái những thành tựu tiêu biểu nhất cho tiểu thuyết nửa đầu thế kỷ XX Tại sao tiểu thuyết Nam bộ lại có tình trạng “đi trước về sau” như vậy?
1
Thư mục tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết Nam bộ (1887-1932), tài liệu đã dẫn, tr.950-951
Trang 16Trước hết là sự bỏ lỡ đáng tiếc đối với các tác phẩm mang tính khai phá
Trường hợp Truyện thầy Lazaro Phiền đã nói ở trên Trường hợp thứ hai là Hà Hương phong nguyệt Nghe có vẻ vô lý nhưng thực tế là như vậy Theo nhận định
của Nguyễn Kim Anh: “sau những chương đầu viết bằng văn phong lưu loát, đĩnh đạc, hiện đại bằng văn xuôi quốc ngữ ông đã chuyển qua lối văn biền ngẫu có đối
có vần quen thuộc (…) nhiều chương về sau Lê Hoằng Mưu viết hoàn toàn theo lối văn vần ghép lại Lần theo trí nhớ của những bậc cao niên, thì có nhiều độc giả thời đó đọc tiểu thuyết của ông đã thuộc lòng” [3;122-124] Rõ ràng với lối viết
feulleton, Lê Hoằng Mưu bị chi phối mạnh mẽ bởi nhu cầu đọc hay nói chính xác
là khả năng tiếp nhận của độc giả Thêm nữa, dù được công chúng hưởng ứng nhưng đối với các đồng nghiệp trí thức thì ông bị phê phán nặng nề trên nhiều báo chí đương thời, và sự phê phán nhiều khi hướng vào hạ bệ cá nhân hơn là phê bình tác phẩm Những tác động này vô hình đã kìm hãm sự phát triển của tiểu thuyết Nam bộ cả về nghệ thuật và cả nội dung ngay ở thời kỳ mở đầu
Nguyên nhân thứ hai là do chính sách giáo dục của thực dân Pháp Sau khi đặt ách đô hộ lên toàn Đông Dương, Pháp đã tiến hành các hoạt động nhằm chuyển thủ đô Đông Dương từ Sài Gòn ra Hà Nội, trong đó có việc xây dựng hệ thống trường cao đẳng và đại học Từ 1900 – 1925, trên 10 trường đã được thành lập mà không có trường nào đặt trụ sở tại Sài Gòn cũng như toàn Nam bộ, tất cả đều ở Hà Nội [3;135-137] Do đó, vào thập niên 20 của thế kỷ XX, Hà Nội cũng như Bắc – Trung bộ đã có những thế hệ trí thức tân học chính thống, bao gồm học sinh, sinh viên, công chức có trình độ cao hơn nhiều so với trí thức Nam bộ bấy giờ hầu hết chỉ tốt nghiệp tiểu học, trung học Pháp Việt Hệ quả là trong khi văn học Nam bộ, trong đó có tiểu thuyết, còn đang duy trì lối viết sao cho dễ đọc thì ở Bắc bộ văn học được thúc đẩy phát triển bằng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng tiến bộ của công chúng
Xét về nội dung phản ánh, tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ XX có nhiều khuynh hướng khó phân định rõ rệt, vì vậy cho đến nay sự phân loại tiểu thuyết Nam bộ
Trang 17đầu thế kỷ XX ở các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất Võ Văn Nhơn chia làm
4 loại: tiểu thuyết tâm lý – tình cảm, tiểu thuyết hành động, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế sự [14;126] Lê Tú Anh chia thành 7 loại: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết
xã hội, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết giáo huấn, tiểu thuyết nghĩa hiệp, tiểu thuyết tự thuật [2;48-61]… Các đề xuất này đều chưa giải quyết thỏa đáng yêu cầu song đối tượng phân loại quá phức tạp nên đó cũng là điều dễ hiểu Nói chung, tiểu thuyết Nam bộ giai đoạn này phản ánh được nhiều khía cạnh của đời sống Nam bộ đương thời, từ những nét sinh hoạt đặc trưng của vùng miền đến những thay đổi do ảnh hưởng của văn minh phương Tây, cả về vật chất lẫn tình cảm, suy nghĩ; không gian tác phẩm trải dài từ Chợ Lớn, Sài Gòn đến những vùng đất lân bang; thế giới nhân vật phong phú: từ những con người lý tưởng đúng chuẩn trung hiếu tiết nghĩa, những anh hùng hành hiệp đầy phóng khoáng, những chàng trai cô gái táo bạo đi đến tận cùng cảm xúc yêu đương, những kẻ bạc tình cạn nghĩa, những nhân vật lịch sử có thật… tất cả đều có thể tìm thấy trong khối lượng đồ sộ của tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ XX
Về giá trị nghệ thuật, tiểu thuyết Nam bộ giai đoạn này đã tiến được một bước đáng kể là xây dựng câu văn từ lối biền ngẫu mang đậm dấu vết của văn học trung đại sang câu văn xuôi như lời nói thường ngày Bên cạnh đó, nhà văn cũng đã bắt đầu chú ý đến việc phân tích tâm lý nhân vật, đặt nhân vật giữa hai mặt tốt – xấu nhằm nắm bắt thế giới bên trong vừa sâu kín vừa đa dạng của của con người Thêm vào đó là sự manh nha những phương thức kết cấu khác kết cấu theo thời gian tuyến tính như kết cấu lồng khung, kết cấu theo tâm lý nhân vật… Đáng tiếc rằng những thành tựu này chưa đi đến điểm cùng của nó, thậm chí sau đó do không nắm bắt kịp sự tiến bộ của tiểu thuyết Bắc bộ nên những thành công bước đầu này trở nên cũ kỹ, lạc hậu Đến khoảng 1932, tiểu thuyết Nam bộ đã kết thúc vai trò của nó trong việc mở đường và nhường lại công cuộc phát triển tiểu thuyết hiện đại cho các sáng tác ở Bắc bộ
Trang 181.2 Sự thể hiện quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ
tài liệu hiện nay, chúng ta có Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng ở Bắc bộ và Lược khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết của Trúc Hà (đăng trên Nam Phong tạp chí, 1932), Phê bình
và cảo luận của Thiếu Sơn, Đời của tôi – 2 Về văn nghệ của Hồ Biểu Chánh ở
Nam bộ1 Tuy vậy tác phẩm quan trọng nhất trong số đó là cuốn của Phạm Quỳnh
đã được viết song song với quá trình hình thành của thể loại tiểu thuyết tại Bắc bộ,
rất hệ thống và hiện đại Ngoài ra Nam phong tạp chí trong khi đăng các tác phẩm
dịch cũng đã giới thiệu về các lối văn xuôi hiện đại phương Tây rất bài bản Cuốn
của Vũ Bằng viết sau 1945 nhưng cũng dày dặn, công phu Trong khi đó Lược khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết chỉ bao quát sự phát triển của tiểu thuyết Bắc bộ từ 1919 đến 1932, Phê bình và cảo luận (1933) có
một độ lùi thời gian và chủ yếu là sách phê bình tác phẩm, tác giả; còn sách của
Hồ Biểu Chánh là cuốn hồi ký sau 1945 chỉ đề cập sơ qua về tiểu thuyết của ông Các bài trực tiếp thể hiện quan niệm về thể loại tiểu thuyết của nhà văn Nam bộ còn khá hạn chế về cả dung lượng và chất lượng
1
“Bắc bộ” và “Nam bộ” ở đây được xét theo nơi hoạt động văn học trong khoảng thời gian 1900-1932 chứ không căn cứ vào quê quán của tác giả
Trang 19Phương thức thể hiện quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX có hai con đường chính: qua báo chí và qua tác phẩm được xuất bản Báo chí đã theo chân người Pháp vào Việt Nam Bước đầu chỉ có vài tờ báo do Pháp đứng ra chủ trương nhằm công bố các sắc lệnh của chính phủ thực dân và đăng tin tức Sau này có thêm các tờ báo do người Việt sáng lập và trực tiếp đứng
ra làm chủ bút Các đầu báo mới xuất hiện ngày càng nhiều, điều đặc biệt là hầu như tờ báo nào cũng có riêng một mục về văn chương, hoặc là đăng sáng tác của các văn sĩ trong nước, hoặc là dịch Hán văn cũng như Pháp văn, có báo ra hẳn một phụ trương về văn chương Báo chí phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ, tạo nên không khí văn chương trong xã hội Báo chí phát triển mạnh mẽ, rầm rộ, trở thành con đường chính đưa các văn sĩ mới khởi nghiệp đến với độc giả Nhiều nhà văn Nam
bộ đồng thời là nhà báo hoặc có một thời gian hoạt động trong ngành báo (Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Ý Bửu, Biến Ngũ Nhy, Phạm Minh Kiên, Phú Đức, Bửu Đình…) Quãng thời gian làm báo đã hỗ trợ không ít cho sự nghiệp văn chương của họ Không chỉ đăng thơ văn, báo chí còn góp phần lớn vào công việc phê bình văn học Các cuộc tranh luận văn học lấy báo chí làm nơi luận chiến, các bên đều dùng báo chí để đáp trả lẫn nhau Các cuộc diễn thuyết về văn chương đều được tường thuật chi tiết trên các báo Báo chí đã thúc đẩy sự phát triển của văn học cả về lĩnh vực sáng tác và phê bình
Với tiểu thuyết ở Nam bộ đầu thế kỷ XX ít thấy các cuộc tranh luận trên báo chí như với Thơ Mới, đáng kể chỉ có cuộc tranh luận về tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu, song đáng tiếc là kết quả của nó lại khiến tác giả phiền lòng và sa sút tinh thần sáng tác Sự thể hiện quan niệm về tiểu thuyết trên báo chí chủ yếu là qua các bài viết mang tính bàn luận, nêu ý kiến một cách sơ lược
Văn học là một mảng quan trọng trên báo chí bấy giờ, hầu như tờ báo nào cũng
có mục riêng cho văn học Theo thống kê của Đoàn Lê Giang, trước 1945 ở Nam
bộ có khoảng 50 tờ báo hoạt động, và gần một nửa trong số đó dành nhiều dung
Trang 20lượng cho văn học [8;9] Quan niệm về tiểu thuyết có thể được thể hiện ở các bài trong mục cố định về văn chương và cũng có thể được thể hiện rải rác không có quy tắc nào cả Các loại bài đăng trên báo có đề cập đến quan niệm về tiểu thuyết gồm những loại sau: bàn luận về văn học, giới thiệu sách, quảng cáo sách, tranh luận, thể lệ cuộc thi viết văn
Tác giả của các bài viết này có hai đối tượng Các bài giới thiệu sách, quảng cáo sách hay thể lệ cuộc thi viết văn là do chính tòa báo đảm nhận, khác với mục
chuyên đăng tác phẩm văn học – thường có tên Văn uyển – được dành cho những
phần diện tích riêng, cố định, thường xuyên trên tờ báo thì các bài này được đăng xen lẫn với nhiều loại bài mà không có tiêu chí nào, chẳng qua là tận dụng một phần mặt báo còn trống Vì thế chúng ta thấy có những cuộc thi sáng tác tiểu thuyết rất ít người tham gia, một phần là do vào lúc cuộc thi được tổ chức thì lực lượng sáng tác chưa phát triển, nhưng cũng có một lý do là cách trình bày thể lệ cuộc thi làm người ta không chú ý đến nó, nếu có đọc cũng dễ quên Trên báo
Đồng Nai số 16 ngày 01/10/1932 có thể lệ cuộc thi đoản thiên tiểu thuyết, trình
bày chỉ vài dòng trong một ô nhỏ, chỉ đăng trong một số duy nhất, từ đó đến hết
năm không thấy nhắc lại nữa Tương tự, trên Đông Pháp thời báo ở mục quảng
cáo, nếu những mục của nhà nghỉ, nhà thuốc, tiệm bạc… số nào cũng thấy đăng,
in trong khung to, thậm chí có hình minh họa rất sinh động thì quảng cáo sách chỉ
có vài dòng khiêm tốn, vài số mới đăng một lần dù đó là tác giả rất nổi tiếng đương thời như Lê Hoằng Mưu hay Tân Dân Tử Tuy vậy, các bài tưởng như không có ý nghĩa này lại có tác dụng định hướng cho công việc sáng tác, bởi muốn tác phẩm được đăng báo thì nhà văn phải biết tòa báo muốn gì Xuất phát từ nội dung truyền đạt, các bài này thường ngắn, văn phong rõ ràng Do dung lượng hạn chế của chúng nên chúng tôi xác định đối tượng khảo sát chính vẫn là các bài tranh luận, phê bình văn học và các lời tựa vì ở đó quan điểm của nhà văn thể hiện
rõ ràng hơn
Trang 21Tòa báo và cả các trí thức ngoài tờ báo đều có thể viết các bài bàn luận văn học
và tranh luận Các bài này khá dài, hầu hết dài khoảng một trang báo lớn, nhiều lập luận, khá hấp dẫn
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, công nghệ in ấn hiện đại du nhập từ phương Tây làm cho số nhà in phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng Khởi đầu là những nhà in nhỏ chỉ có vài công nhân đưa từ Pháp sang, do người Pháp làm chủ,
từ những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều nhà in chữ quốc ngữ được thành lập (Nghiêm Hàm, Phúc Vĩnh Thành, Tân Dân, Đông Kinh, Ngô Tử Hạ… – ở Bắc bộ; Châu Tịnh… – ở Trung bộ; Typo, Hoàng gia, Xưa nay, Nguyễn Hảo Vĩnh… – ở Nam bộ, trong số này có nhiều nhà in của tư nhân người Việt) Đáng chú ý là có
cả những dãy phố chuyên về in ấn như phố Hàng Bông, Hàng Gai ở Hà Nội, đường Catinat ở Sài Gòn… Ban đầu kỹ thuật in ấn khá thô sơ: in chữ chì đúc nổi bằng máy in typo khổ nhỏ, sau chuyển sang phương pháp in lồi với máy in khổ lớn, chữ in đúc ngược bằng chì, ngoài ra còn có phương pháp in lõm qua bản kẽm, gọi là in Offset (in hai lần), vừa nhanh, đẹp lại có màu Thế nhưng từ khi mới du nhập, công nghệ in ấn dựa trên cách sắp chữ nhanh chóng, tiện lợi thay thế việc khắc bản in bằng gỗ vừa nặng nề khó nhọc vừa dễ sai sót trước đó đã tạo điều kiện cho ngành xuất bản Nhiều nhà xuất bản ra đời và chuyên về văn học, từ đó các tác phẩm văn học được phát hành dưới dạng sách in, tồn tại song song bên cạnh hình thức đăng báo Tất nhiên các nhà xuất bản thời đó chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà tác phẩm mang lại mà thôi, vì thế tiểu thuyết thời kỳ này được in thành nhiều cuốn nhỏ, mỗi cuốn có giá rất rẻ, dễ dàng nằm trong những gánh hàng của người buôn thúng bán bưng để đến với độc giả khắp nơi trong xứ Nam bộ Song chúng ta có thể khảo sát các lời tựa, lời tự, phần tiểu dẫn, lời rao quảng cáo sách mới – tức là một phần viết thêm nho nhỏ được in kèm, thường là ở đầu sách Các bài viết này mang tính chất tự bạch, như một lời chia sẻ của tác giả đối với công chúng nên lời
lẽ thường nhún nhường, thân mật; tính lý luận không cao bằng các bài viết trên
Trang 22báo Dẫu sao, khi viết bài đăng báo người viết đã có ý thức đối thoại với công chúng nên họ sử dụng văn phong trang trọng hơn
Lời tự, lời tựa… ở đây không phải lúc nào cũng do chính tác giả viết mặc dù
đó là hiện tượng phổ biến Rất nhiều tác phẩm có lời tựa tác giả tự viết, như:
Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Chánh Chiếu), Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân (Trương Duy Toản), Việt Nam Lý Trung Hưng (Phạm Minh Kiên), Giọt máu chung tình (Tân Dân Tử), Trường sanh (Lê Mai), Tiếng súng lục liên (Việt Đông), Thù nhà nợ nước (Dương Quang Nhiều)… Bên cạnh đó còn có lời tựa, lời tự do một người thân quen của tác giả viết, như các tác phẩm: Tam Yên di hận (Nguyễn Văn Vinh), Gia Long tẩu quốc (Tân Dân Tử) Trái với thái độ nhún
nhường của nhà văn, mong được lượng thứ cho những vụng về, thiếu sót thì những người được tác giả tin tưởng nhờ viết lời tựa thường khen ngợi tài văn của tác giả và khuyến khích độc giả đọc tác phẩm Tuy vậy, có thể thấy quan niệm của
họ là khá tương đồng Về điểm này chúng tôi sẽ nói rõ hơn trong những phần sau
Trang 23CHƯƠNG II: QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ VĂN NAM BỘ ĐẦU THẾ
KỶ XX VỀ BẢN CHẤT THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT
2.1 Quan niệm về nội dung và phạm vi phản ánh của tiểu thuyết
2.1.1 Về khái niệm thể loại
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Tiểu thuyết là “Tác phẩm tự sự cỡ lớn
có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian”
[9;277] Khi nói về tiểu thuyết, có thể có những ý kiến khác nhau nhưng những đặc điểm như dung lượng lớn, chất văn xuôi, khả năng tái hiện toàn vẹn đời sống
và tính dân chủ được tất cả các nhà nghiên cứu thống nhất là những đặc trưng của tiểu thuyết Thực tế cho thấy rằng để đi tới cách hiểu hiện đại, hòa vào tinh thần chung của lý thuyết văn học thế giới như ngày nay, khái niệm “tiểu thuyết” ở Nam
bộ đầu thế kỷ XX được sử dụng không nhất quán, thường có những danh từ hoặc tính từ kèm theo, mà kết quả là hiện tượng chồng chéo khái niệm Theo khảo sát của Lê Tú Anh [2;48] thì ở giai đoạn 1900-1930 có tới 43 tên gọi khác nhau về thể loại tiểu thuyết Võ Văn Nhơn trong luận án tiến sĩ của ông đã thống kê cụ thể 43 tên gọi này1 [13;117] Số lượng quá lớn trên có thể gây “ngợp” đối với chúng ta, song có hàng loạt tên gọi chỉ khác nhau về từ ngữ còn đối tượng hướng tới là giống nhau, nhiều tên gọi không phải là tên loại tiểu thuyết vì không chỉ ra được đặc trưng để có thể phân loại tác phẩm Dẫu sao chúng đã thể hiện ý thức của nhà văn Nam bộ về bản chất thể loại Dựa vào thống kê của Võ Văn Nhơn, chúng tôi nhận thấy các nhà văn Nam bộ đã gọi tên thể loại tiểu thuyết trên những cơ sở như sau:
- Dựa trên nội dung của tác phẩm có các tên gọi: thời sự tiểu thuyết, kim thời tiểu thuyết, gia đình tiểu thuyết, tâm lý tiểu thuyết, phiêu lưu tiểu thuyết, ái tình
1
Ngoài danh sách này, trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi tìm thấy thêm 2 tên gọi: “tiểu thuyết vắn”
(Liệt nữ bất giá nhị phu, Lý Văn Đường, Công Luận báo số 55 ngày 02/4/1925) và “Việt Nam Nghĩa hiệp
Ái quốc phiêu linh tiểu thuyết” (Thơ của ai?, Mademoiselte Chí Linh, mục Quảng cáo, Thần Chung số 66
ngày 09/4/1929)
Trang 24tiểu thuyết, trinh thám tiểu thuyết, lịch sử tiểu thuyết, kim thời dị sử, hiện thời tiểu thuyết, ái tình gia đình tiểu thuyết, ái tình xã hội tiểu thuyết, diễm tình tiểu thuyết,
ẩn tình tiểu thuyết, nghiệt tình tiểu thuyết, gia đình xã hội tiểu thuyết, xã hội tiểu thuyết, xã hội thảm tình tiểu thuyết, nhơn tình tiểu thuyết, cảnh thế tiểu thuyết, thế tình tiểu thuyết, thế sự tiểu thuyết, viêm lương tiểu thuyết, tâm lý xã hội tiểu thuyết, xã hội – văn tập – tâm lý tiểu thuyết, bí mật – ly kỳ – thảm tình tiểu thuyết, tiểu thuyết mật nhiệm phi thường, kiếm hiệp tiểu thuyết, võ hiệp tiểu thuyết, võ hiệp bi tình tiểu thuyết, mật thám tiểu thuyết, trinh liệt thảm tình tiểu thuyết, khoa học tiểu thuyết
- Dựa trên nghệ thuật của tác phẩm có các tên gọi: tả chân tiểu thuyết, hoạt kê tiểu thuyết, phóng sự tiểu thuyết
- Dựa trên chức năng của tác phẩm có các tên gọi: đạo đức tiểu thuyết, luân lý tiểu thuyết, kỳ vọng tiểu thuyết, lý tưởng tiểu thuyết
- Dựa trên đối tượng độc giả của tiểu thuyết có các tên gọi: nhi đồng tiểu thuyết
Bên cạnh đó cũng có những tên gọi gây phân vân, không hiểu tác giả gọi theo tiêu chí nào, như: tiểu thuyết lạ mà quen, tiểu thuyết mới… Có lẽ đây chỉ là một chiêu thức của nhà văn để thu hút sự chú ý của nhà in và độc giả
Hệ thống tên gọi trên cho chúng ta thấy một thực tế là giữa tương quan nội dung và hình thức, các nhà văn Nam bộ nghiêng hẳn sự chú ý sang phần nội dung, các tên gọi xuất phát từ nội dung tiểu thuyết chiếm hầu hết Vấn đề này có liên quan đến quan niệm về chức năng của tiểu thuyết mà chúng tôi sẽ nói đến ở phần sau Nhiều tên gọi khác nhau về câu chữ nhưng thực chất chỉ cùng một đối tượng,
ví dụ như các tên: kim thời tiểu thuyết, hiện thời tiểu thuyết, thời sự tiểu thuyết đều nhấn mạnh sự phản ánh tức thời, chân thực những sự việc đang diễn ra trong đời sống Nhiều tên gọi cho đến nay vẫn còn được sử dụng như trinh thám tiểu thuyết, lịch sử tiểu thuyết, kiếm hiệp tiểu thuyết; nhưng hầu hết số còn lại đã trở
Trang 25nên xa lạ và không còn được dùng nữa Điều đó cho thấy rằng mặc dù ý thức về tên gọi thể loại đã có ở các nhà văn Nam bộ, nhưng nó chỉ mới ở dạng sơ khai, còn rất đơn giản, tùy hứng Nhà văn muốn gọi tác phẩm mình viết là gì cũng được, định danh “tiểu thuyết” có thể đi kèm với hàng loạt định ngữ khác nhau Điểm nổi bật là các định ngữ này đều khá hoa mỹ, nó vừa cho thấy sự nghiêm túc của nhà văn trong việc gọi tên thể loại, đồng thời cũng chứng tỏ dụng ý lôi kéo độc giả ngay từ những dòng chữ ngoài trang bìa của cuốn tiểu thuyết Bước đầu, cũng đã
có một vài nhà văn chú ý đến nghệ thuật tiểu thuyết như một đặc trưng có thể lấy làm tên gọi thể loại, nhưng số lượng không nhiều và cũng không thể khẳng định các tên gọi đó có phù hợp với tác phẩm hay không
Tuy vậy, những tên gọi được kể trên đây chỉ mới là các tên nêu đích danh “tiểu thuyết” Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng có nhiều khái niệm hoàn toàn khác nhau được sử dụng đồng thời mà không có sự phân biệt rõ ràng, đó là các khái
niệm: “truyện” (lời tựa Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh Chiếu, Lê Triều
Lý Thị của Phạm Minh Kiên…), “chuyện” (lời tựa Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản), “tiểu thuyết”, “đoản thiên tiểu thuyết” Hai
khái niệm đầu có thể được sử dụng theo thói quen trong đời sống văn nghệ dân gian Nam bộ Hai khái niệm sau là chịu ảnh hưởng từ quan niệm văn học Trung Quốc
Tiểu thuyết, khi mới xuất hiện trong văn học Trung Quốc được dùng để phân biệt với trung thuyết và đại thuyết Trung thuyết là các sách vở do sử gia hoặc các quan lại thực hiện; đại thuyết là kinh sách của thánh nhân như bộ Ngũ Kinh của Khổng Tử, mang tính khuôn mẫu, chân lý Đặt trong tương quan đó, tên gọi “tiểu thuyết” mang hàm ý khinh rẻ vì nghĩa đen của nó là “những chuyện vụn vặt”, kiểu như các mẩu chuyện được lưu truyền trong dân gian vốn không được công nhận là văn chương chính thống trong chế độ quân chủ phương Đông Tiểu thuyết lại được chia làm 3 loại: đoản thiên tiểu thuyết, trung thiên tiểu thuyết và trường thiên tiểu thuyết, chủ yếu căn cứ vào dung lượng tác phẩm Khi sử dụng từ “tiểu
Trang 26thuyết”, các nhà văn Nam bộ đã loại bỏ hàm ý xem thường trong tên gọi thể loại
Mặc dù hầu hết các nhà văn đều có thái độ rất nhún nhường: “Tôi mơ ước cho
quyển tiểu thuyết nhỏ mọn này đặng khán giả hoan nghênh” (Lời tựa Cô Ba Tràh,
Nguyễn Ý Bửu), song đó chỉ là sự khiêm tốn trong tư thế chờ đợi phản ứng của độc giả chứ không phải là việc đánh giá đẳng cấp thể loại như ở nguyên nghĩa của
nó
Mặt khác, theo tư liệu chúng tôi có được thì các nhà văn Nam bộ chỉ dùng
“đoản thiên tiểu thuyết”, “tiểu thuyết” (đôi lúc họ dùng cụm từ “trường thiên tiểu thuyết” với nghĩa tương đồng với “tiểu thuyết” như trong lời tựa cuối cùng cuốn
Tây phương mỹ nhơn: “Tôi rất lấy làm vui lòng vì bà Vương Khả Lãm mà chăm
lo cho tiểu thuyết Tây phương mỹ nhân này được sớm xuất bản Lại tỏng sự xuất bản, tôi xin trái với lời dặn của bà Vương Khả Lãm mà không thêm bớt sửa đổi một chút nào, là có ý không muốn làm mất cái vẻ tự nhiên của một bộ trường thiên
tiểu thuyết như bộ Tây phương mỹ nhân này vậy” [3;853]) Tên gọi “trung thiên tiểu thuyết” không còn thấy nữa Theo Phụ lục các tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết Nam bộ (1887 – 1932) trong công trình của Nguyễn Kim Anh chủ biên thì
cách gọi đoản thiên tiểu thuyết được dùng cho các tác phẩm trên dưới hai – ba mươi trang, số lượng trang lớn hơn thì gọi là tiểu thuyết Nếu hiểu một cách cơ học thì “tiểu thuyết” thay cho cả “trung thiên” và “trường thiên tiểu thuyết” trong thế tương quan với “đoản thiên tiểu thuyết” về mặt dung lượng Tiểu thuyết phân biệt với đoản thiên tiểu thuyết cơ bản dựa trên dung lượng dài ngắn Trong bài
Bàn về đoản thiên tiểu thuyết trên Đông Pháp thời báo số 752 ngày 04/8/1928,
tác giả T.D đã có một cái nhìn rất khoa học về đặc trưng của hai thể loại này:
“đoản thiên với trường thiên khác nhau bởi dài ngắn, ấy mới là phần hình thức thôi; còn khác nhau về tinh thần nữa, mà phần này lại trọng yếu hơn (…) Cái tinh thần của tiểu thuyết đoản thiên, khi đem so với trường thiên thì mới thấy Đại để: trường thiên tả cái “phần nguyên”, còn đoản thiên tiểu thuyết chỉ tả một phần lẻ
Tả phần nguyên nghĩa là chung cả, hoặc về sự biến động của một thời kỳ, hoặc về
Trang 27thân thế của một người (…) tả phần lẻ nghĩa là chỉ chú ý vào một sự gì đó mà phô bày nó ra cho hết vẻ” [3;65] T.D đã chỉ ra bản chất “khoảnh khắc” của đoản thiên
tiểu thuyết – mà ngày nay chúng ta goi là “truyện ngắn”; đồng thời nhấn mạnh quy
mô hiện thực phong phú trong sự nguyên vẹn, phức tạp của nó được tiểu thuyết
mô tả Nhưng không phải ai cũng có quan điểm tiến bộ như T.D Cách phân biệt
thông dụng nhất ở giai đoạn này vẫn là dung lượng Báo Đồng Nai số 16 ngày 01/10/1932 có đăng thông báo Ai muốn thi đoản thiên tiểu thuyết, trong đó quy định rõ “bài gởi lại không được quá 4 trang giấy đánh máy” Đông Pháp thời báo
số 72 ngày 23/4/1925 có bài Cái giải thưởng 400 đồng có treo giải thưởng cho
tiểu thuyết và cũng quy định dung lượng “ước trên dưới 200 trang chữ viết”
Tuy nhiên, thực tế cho thấy cách sử dụng hai khái niệm “đoản thiên tiểu thuyết” và “tiểu thuyết” của các nhà văn Nam bộ không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào dung lượng tác phẩm Có những trường hợp tác phẩm dài hơn được gọi
là “đoản thiên tiểu thuyết” và tác phẩm ngắn hơn được gọi là “tiểu thuyết” Ví dụ
như tác phẩm Vì thất nghiệp của Phạm Văn Hai, xuất bản tại Gò Công năm 1931 chỉ có 12 trang nhưng vẫn được gọi là tiểu thuyết; cùng năm đó, tác phẩm Đứa mồ côi của Trần Thị Đông Huê xuất bản cũng tại Gò Công dài 46 trang lại được gọi là
đoản thiên tiểu thuyết Năm 1931 tiểu thuyết Nam bộ đã có lịch sử hơn 40 năm, vậy mà tên gọi thể loại vẫn chưa thống nhất giữa các tác giả
Trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi bắt gặp một khái niệm rất lạ: “tiểu
thuyết vắn” trên Đông Pháp thời báo số 55 ngày 02/4/1925, dành cho tác phẩm Liệt nữ bất giá nhị phu của Lý Văn Đường Tác phẩm này được đăng trọn 1 cột
báo trong 19 số rải rác từ số 55 đến số 76 So sánh với đoản thiên tiểu thuyết
Chiếc bá giữa dòng của Nam Hồ và tiểu thuyết Lưỡng tình nan của Phi Vân cùng đăng trong báo này thì Liệt nữ bất giá nhị phu có dung lượng ở vào khoảng giữa Chiếc bá giữa dòng đăng 2 cột báo trong 4 số: 18, 20, 23, 24 Lưỡng tình nan đăng 2 cột báo trong 22 số liên tục từ số 25 ngày 24/02/1925 đến số 46 ngày
22/3/1925 Trong thói quen ngôn ngữ của người Nam bộ, “vắn” đồng nghĩa với
Trang 28“ngắn”, có phải Lý Văn Đường dùng định danh “tiểu thuyết vắn” căn cứ vào dung lượng mang tính trung gian giữa đoản thiên tiểu thuyết và tiểu thuyết? Chúng tôi không chưa tìm thấy cách gọi này ở một văn bản nào khác nên không thể kết luận điều gì Nhưng nếu thực sự như vậy thì “tiểu thuyết vắn” tương đồng với khái niệm “trung thiên tiểu thuyết” trong lý luận văn học Trung Quốc thời trung đại và khái niệm “truyện dài” của chúng ta ngày nay
Về khái niệm tiểu thuyết còn có một hiện tượng đáng chú ý nữa là các dòng
chú thích nhỏ bằng tiếng Pháp ngay dưới tên thể loại Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy đăng trên Công Luận báo năm 1917 có chú “conte du journal” (câu chuyện/ truyện kể của tạp chí), Hà Hương phong nguyệt đăng trên Nông Cổ Mín Đàm năm 1912 có chú “roman fantastique” Đây là biểu hiện của việc các nhà văn
Nam bộ đã học tập lối viết phương Tây, đồng thời sử dụng tên gọi thể loại của phương Tây cho tác phẩm của mình Tuy vậy cách sử dụng không hoàn toàn chính xác “Conte” tương đương với “tale” trong tiếng Anh, chỉ những câu chuyện ngắn mang tính dân gian Có lẽ ở đây Biến Ngũ Nhy muốn nhấn mạnh tính chất feulleiton của tác phẩm chăng?
Qua những khảo sát trên, có thể thấy rằng ngay từ yếu tố đầu tiên là tên gọi thể loại, các nhà văn Nam bộ đã có những quan điểm rất khác nhau Trong tinh thần chung là phân loại sản phẩm tinh thần của mình, nhà văn Nam bộ khá thoải mái trong việc định danh, trong đó họ chú ý cả tính chuyên môn nghề nghiệp lẫn nhu cầu độc giả, tiếp thu cả cách gọi truyền thống phương Đông và thuật ngữ hiện đại phương Tây Tất cả tạo tên mấy chục tên gọi khác nhau, không có hệ thống cả trong việc phân biệt thể loại này với thể loại kia và việc phân loại trong nội bộ thể loại tiểu thuyết Những quan điểm hiện đại, đi sâu vào bản chất để gọi tên thể loại như quan điểm của T.D còn quá ít để xác định rõ ràng một thể loại đã phát triển mạnh Đó quả là điều đáng tiếc
Trang 292.1.2 Về nội dung phản ánh hiện thực
Tiểu thuyết được đánh giá cao ở tầm bao quát hiện thực của nó Với dung lượng có thể kéo dài không giới hạn, tiểu thuyết chứa trong nó muôn mặt đời sống đang vận động với toàn bộ những biểu hiện phong phú và phức tạp Độc giả đến với tiểu thuyết không chỉ để hiểu biết thêm những khía cạnh cuộc sống mà còn để tìm thấy mình, cảnh huống của mình trên trang sách Mọi người đều có thể nhìn thấy một phần bản thân trong tiểu thuyết, bởi khả năng phản ánh hiện thực khách quan của thể loại này là rất lớn Điều thú vị là ở chỗ, hiện thực tiểu thuyết chạm đến những quy luật phổ quát của đời sống, nhưng không phải là thứ sự thực coppy nguyên vẹn Cái thực của tiểu thuyết, cũng như các thể loại văn học khác, là cái thực đã khúc xạ qua lăng kính sáng tạo của người nghệ sĩ, nó được độc giả chấp nhận là có thể xảy ra trong đời sống, nhưng không phải là sự thực “trăm phần trăm”, đó là bản chất hư cấu của tiểu thuyết
Khảo sát báo chí và các tác phẩm xuất bản ở Nam bộ trong khoảng 1887 –
1932, chúng ta thấy rằng đông đảo nhà văn Nam bộ vào thời điểm ấy đã chú ý đến hai đặc điểm này của tiểu thuyết: khả năng bao quát hiện thực và bản chất hư cấu
Ngoài phát biểu của T.D trên Đông Pháp thời báo đã dẫn ở trên, còn một số
nhà văn khác cũng nói về tính phong phú của hiện thực được phản ánh trong tiểu
thuyết Trong lời tựa cuốn Lê Triều Lý Thị, Phạm Minh Kiên viết: “Trong bộ
truyện này lớp lang đủ điệu, có khi hoạn nạn, có lúc hiển vinh, có hồi ai bi, có khi chinh chiến” Tiểu thuyết này dài 250 trang, thuật lại lịch sử một triều đại Lời tựa
nói lên nội dung tác phẩm nhưng đồng thời nó cũng phản ánh một nhu cầu của độc giả khi đến với tiểu thuyết mà nhà văn đã rất lưu ý để giới thiệu ngay những trang đầu cuốn sách Phạm Minh Kiên đã nhấn mạnh đến những trạng huống cảm xúc phong phú trong tác phẩm, đó cũng chính là những thời đoạn thăng trầm của đời người và rộng hơn là của cả một xã hội Tương đồng với Phạm Minh Kiên, Tân
Dân Tử cũng đã viết trong lời tựa Giọt máu chung tình: “Trong quyển tiểu thuyết
này, những lời nói giọng tình, câu chuyện đặt để kỹ càng, có lối văn chương, có
Trang 30mùi tao nhã, có chỗ thì cao đàm hùng biện mà làm ngọn roi kích bác cho phong tục đương thời, chỗ thì nghị luật khuyên trừng, làm một phương thức bổ ích tinh thần cho kẻ hậu sanh hậu tấn, chỗ lại bi hoan, ly hiệp tình tứ thâm trầm khiến cho độc giả cũng có lúc xúc động tâm thần mà nheo mày chắt lưỡi, cũng có lúc vui lòng hứng chí, mà được giải khuây một ít cơn sầu, cũng có khi dựa gối cúi đầu, ngẫm nghĩ cuộc đời mà thương người nhớ cảnh”
Tân Dân Tử là người bàn nhiều đến khả năng bao quát hiện thực của tiểu
thuyết Trong lời tựa Gia Long tẩu quốc, ông viết: “Lịch sử đại lược chỉ tóm tắt
những sự lớn lao mà không nói cặn kẻ những sự mảy múng Còn lịch sử tiểu thuyết thì nói đủ cả, vừa chuyện lớn lao, vừa chuyện mảy múng đều trải ra như một cảnh tự nhiên, hiển hiện trước mắt Lịch sử đại lược có nói nhân vật sơn xuyên, quốc gia hưng phế, mà không tả tranh mạo ngôn ngữ, không tả tính tình phong cảnh, còn lại lịch sử tiểu thuyết thì nói đủ các nhân vật sơn xuyên, tính tình ngôn ngữ, tả tới hỉ nộ ái ố, trí não tinh thần, tả tới phong cảnh cỏ non, của các nhà đài các, nhành chim lá gió, nhạc suối kèn ve, làm cho độc giả ngồi xem quyển sách miệng đọc câu văn mà dường như mình đã hoá thân đi du lịch, xem thấy một phong cảnh, một nhân vật nào đó, khiến cho kẻ đọc ấy dễ cảm xúc vào lòng dễ quan niệm vào trí…” Tác giả đã giải thích sự khác nhau giữa tiểu thuyết lịch sử và
sách sử nhằm giúp độc giả hiểu rõ về cách viết của tác phẩm họ sắp đọc Nhưng đặc điểm mà Tân Dân Tử đưa ra cũng là đặc điểm chung của thể loại Ông chỉ rõ, tiểu thuyết “nói đủ” như vậy là để người đọc xem sách mà có cảm tưởng như đang hòa nhập vào cuộc sống thực, bởi những gì có trong thực tế thì tiểu thuyết thâu nhận tất cả Quan niệm về phạm vi phản ánh của tiểu thuyết không chỉ được nói
đến ở thể loại tiểu thuyết lịch sử mà còn là đặc điểm chung mà Đông Pháp thời báo đã lấy đó làm thể lệ cho cuộc thi tiểu thuyết của mình: “Những sách gởi đến
dự khảo phải viết bằng tiếng quốc văn, hoặc văn vần (vận văn) hoặc văn xuôi (tân văn) theo điệu sau đây:
Tiểu thuyết về lịch sử, sự tích rút trong Nam Việt sử ký