TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2008 LỆCH LẠC NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY Nghiên cứu trường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG NĂM 2008
LỆCH LẠC NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp của sinh viên ĐHQG HCM)
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Thủy (CN) Đoàn Trung Hiếu
Lê Vũ Dụ Lương Thị Vinh
Người hướng dẫn khoa học:
TS Trương Văn Vỹ
Tp Hồ Chí Minh, 2008
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1 1 Lý thuyết áp dụng 8
1 2 Một số khái niệm 10
1 3 Giả thuyết nghiên cứu 13
1 4 Khung lý thuyết 14
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 15
2 1 Nét truyền thống trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt 15
2 2 Tổng quan về thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên hiện nay 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3 1 Khái niệm về lệch lạc ngôn ngữ của sinh viên 23
3 2 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu hiện tượng lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên 24
3 3 Thực trạng sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp của sinh viên hiện nay 27
3 4 Nguyên nhân sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp của sinh viên hiện nay 33
3 5 Những ảnh hưởng của việc sử dụng ngôn ngữ lệch lạc tới sự trong sáng của tiếng Việt 48
CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ 50
4 1 Đối với xã hội 50
4 2 Đối với nhà trường 51
4 3 Đối với sinh viên 51
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 55
Trang 3Mặt khác, xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ
và tiếp xúc văn hoá ngày càng rộng mở, một cách sinh động hơn, phong phú hơn với thế giới, thì ngôn ngữ giao tiếp có những biến động, thay đổi mạnh mẽ Bên cạnh những biến động, thay đổi theo hướng tích cực của ngôn ngữ trong giao tiếp thì cũng có những mặt tiêu cực của nó Trong số đó thì một bộ phận lớn sinh viên đang có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều những lời ăn tiếng nói “lệch lạc”, làm biến thể, mất đi sự trong sáng của tiếng Việt
Trong truyền thống, ông bà ta vẫn thường răn dạy con cháu phải “học ăn, học nói, học gói, học mở” Chính là ông bà ta đã một phần nhấn mạnh tới nghi thức lời nói giao tiếp hàng ngày giữa mọi người với nhau Cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, xưng hô của con người với nhau không đơn thuần chỉ là một hành vi ngôn ngữ
mà còn là hành vi xã hội học và đạo đức, nó cũng thể hiện trình độ, nhân cách văn hóa của một con người Vậy thì, sinh viên – những người của tri thức, những người chủ tương lai của đất nước sao không tô đẹp cho mình, cho xã hội bằng những ngôn ngữ giao tiếp “đẹp” Nguyên nhân từ đâu? Làm thế nào để trong giao tiếp hàng ngày, sinh viên vẫn có thể nói thoải mái, dễ hiểu mà vẫn lịch sự và không gây ảnh hưởng hay làm “xấu” đi ngôn ngữ của tiếng Việt ? Làm thế nào để mỗi chúng ta luôn giữ gìn, bảo tồn và phát huy nét đẹp truyền thống trong ngôn ngữ giao tiếp ?
C
Trang 4Hiện nay, trong giao tiếp hàng ngày cách xưng hô, sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp như thế nào được coi là chuẩn mực ? Đây là vấn đề đang gây tranh luận không chỉ trong giới ngôn ngữ học, quản lý giáo dục mà cả trong dư luận xã hội
Cũng từ những băn khoăn và suy nghĩ đó mà chúng tôi muốn nghiên cứu, đi
sâu tìm hiểu về đề tài “Lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên Việt Nam hiện nay” (Trường hợp Đại học Quốc gia Tp Hcm) Hơn nữa, qua việc nghiên cứu
đề tài này, chúng tôi một lần nữa nhìn lại chính tác phong, cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của mình sao cho xứng là những người Việt trẻ thanh lịch
2 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu của đề tài
2 1 Đối tượng
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thì giữa hình thức giao tiếp nói ở phạm vi sinh hoạt và hình thức giao tiếp nói ở hội nghị hoặc giảng đường, lớp học đều có sự phân biệt và khác nhau cơ bản Với đề tài này, chúng tôi đi tìm hiểu cách sử dụng những từ ngữ, lời nói trong giao tiếp hằng ngày của sinh viên nhưng đối tượng chính mà đề tài hướng đến là lệch lạc ngôn ngữ nói trong giao tiếp của sinh viên (ĐH Quốc gia TP HCM) hiện nay
2 2 Khách thể nghiên cứu
Với đề tài này, khách thể nghiên cứu của đề tài là sinh viên nam nữ thuộc ba trường ĐHQG TP HCM (ĐH KHXH & Nhân Văn, ĐH Tự Nhiên, ĐH Bách Khoa)
2 3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài sẽ được áp dụng nghiên cứu tại ĐHQG Tp HCM Và trong điều kiện cho phép chúng tôi sẽ áp dụng với 3 trường đại diện của ĐHQG Tp HCM Đó là : Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Khoa Học Tự Nhiên và Đại Học Bách Khoa
3 Mục tiêu của đề tài:
Thông qua việc nghiên cứu về ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên Việt Nam hiện nay, mục tiêu mà chúng tôi đặt ra trong quá trình nghiên cứu là :
3 1 Mục tiêu chung
Đưa ra cái nhìn chung khái quát, cụ thể về hiện trạng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên hiện nay
Trang 53 2 Mục tiêu cụ thể
- Nêu ra thực trạng việc sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp của sinh viên ĐHQG Tp HCM hiện nay
- Tìm hiểu về nguyên nhân của thực trạng đó
- Góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy nét đẹp trong ngôn ngữ giao tiếp
- Đóng góp những giải pháp nhằm cải thiện thực trạng sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong sinh viên ĐHQG Tp HCM nói riêng và sinh viên Việt Nam nói chung, trong xã hội ngày nay
4 Nhiệm vụ của đề tài
Khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định nhiệm vụ chính của đề tài là:
- Nêu ra thực trạng việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên ĐHQG Tp HCM hiện nay Từ đó, đưa ra nhận cái nhìn về thực trạng chung của sinh viên trong vấn đề này
- Phân tích tài liệu và các số liệu đã được xử lý và tìm hiểu về nguyên nhân của thực trạng, thực trạng này bắt nguồn từ nguyên nhân nào, vì sao mà sinh viên lại sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong hoạt động giao tiếp của mình
- Nghiên cứu một số lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa nét truyền thống trong việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của người việt và sinh viên
- Đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện thực trạng sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong sinh viên ĐHQG Tp HCM nói riêng và sinh viên Việt Nam nói chung, trong xã hội ngày nay
5 Ý nghĩa của đề tài
5 1 Ý nghĩa lý luận
Thông qua hoạt động nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi có cơ hội được kiểm chứng lại những lý thuyết xã hội học đã được học Hơn thế nữa, chúng tôi hy vọng thông qua công trình nghiên cứu của mình sẽ góp phần minh họa rõ nét hơn những lý thuyết đó
Trang 65 2 Ý nghĩa thực tiễn
Tham gia nghiên cứu đề tài này, đây là cơ hội rất tốt cho cả nhóm chúng tôi thực hành kỹ năng nghiên cứu khoa học Đặc biệt là bộ môn phương pháp nghiên cứu xã hội học Và đề tài này cũng là kết quả đánh giá kỹ năng nghiên cứu, và khả năng áp dụng lý thuyết vào quá trình thực hành của chúng tôi Thông qua đó chúng tôi sẽ rút ra được những kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết cho hoạt động thực tế sau này
Kết quả của công trình nghiên cứu này sẽ đóng góp vào nguồn tài liệu khoa học Nó sẽ là những tài liệu cần thiết cho các hoạt động nghiên cứu khoa học có chung đối tượng với đề tài của chúng tôi
6 Mô tả mẫu nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện Nghĩa là nhóm đề tài chọn những sinh viên thuộc ba trường ĐHQG TP HCM (Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Khoa Học Tự Nhiên và Đại Học Bách Khoa) không phân biệt số năm học, học khoa nào… nhóm đã sử dụng bảng hỏi để khảo sát 150 bạn sinh viên nam, nũ thuộc 3 trường trên, mỗi trường là 50 bản
Trang 7cuốn “Văn hoá và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt” của Hữu Đạt (2000), ngôn
ngữ đóng vai trò là nơi lưu trữ và bảo tồn văn hoá, lại vừa có vai trò sáng tạo và phát triển văn hoá Tiếng Việt và văn hoá giao tiếp (trong đó có giao tiếp bằng ngôn ngữ) của người Việt Nam được hình thành trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, tiếp xúc văn hoá nhưng lại mang nét đặc trưng riêng của nền văn hoá dân tộc Cũng bàn
về vấn đề này phải kể đến “Bản sắc văn hoá- tiếp cận từ ngôn ngữ học” của Bùi Khánh Thế (1999) hay “Đi tìm ngôn ngữ của văn hoá và đặc trưng văn hoá của ngôn ngữ” của Trần Ngọc Thêm (1993) Trong quá trình đổi mới và phát triển của
đất nước thì ngôn ngữ quốc gia nói chung, ngôn ngữ tiếng Việt nói riêng chịu nhiều tác động và có sự thay đổi Trong bối cảnh đó thì công cuộc giữ gìn sự trong sáng
và chuẩn hoá tiếng Việt lại càng quan trọng và cấp bách, đó là nội dung được nói
đến trong “Tiếng Việt trong tiến trình văn hoá Việt Nam” của Bùi Khánh Thế (2001), “Ngôn ngữ- vấn đề văn hoá đương đại” của Huỳnh Khánh Vinh (2001) Và chúng tôi còn tham khảo luận văn thạc sĩ bàn về “Một số vấn đề ngôn ngữ trong thời kì toàn cầu hoá” của Nguyễn Thị Quỳnh Như, luận văn nhấn mạnh mối quan
hệ giũa ngôn ngữ và văn hoá, đồng thời khẳng định vai trò của ngôn ngữ đối với việc lưu trữ, bảo vệ văn hoá dân tộc Luận văn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu tiếng Indonesia ở Indonesia và tiếng Việt ở Việt Nam, qua đó nêu rõ những thành tựu đạt được của hai ngôn ngữ này trong quá trình biến đổi và phát triển, đồng thời nhấn mạnh những thách thức mà toàn cầu hoá mang lại đối với ngôn ngữ quốc gia nói chung, ngôn ngữ tiếng Việt nói riêng và luận văn của Tạ Thị Thanh Tâm với đề tài :
“Lịch sự ngôn ngữ trong một số nghi thức giao tiếp tiếng Việt” Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí như: “Việt hoá tiếng nước ngoài hay quốc tế hoá tiếng Việt”, Nguyễn Ngọc Lam (2000), số 7, TC ngôn ngữ, “Vị trí ngôn ngữ quốc gia – ngôn ngữ dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế” của Nguyễn Huy Cẩn (1993), số 10, TC TTKHXH, “Gìn giữ và phát triển tiếng Việt- ngôn ngữ chung của các dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Quang Hồng, số 1+2, TC ngôn ngữ
và Đời sống
Vị trí ngôn ngữ trong giao tiếp Giao tiếp là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt loài người và loài vật Chúng ta có thể diễn đạt rất nhiều điều bằng rất nhiều cách: bằng khuôn mặt, bàn tay, thân thể… và đặc biệt quan
Trang 8trọng là ngôn ngữ nói Có thể nói rằng giao tiếp thành công sẽ dẫn đến tất cả những thành công khác Nhưng làm sao để giao tiếp thành công, làm sao để sử dụng ngôn ngữ một cách có hiệu quả trong cuộc sống là một câu hỏi khó Chúng ta không thể chỉ giao tiếp theo thói quen mà phải có khoa học dẫn đường, đó là nội dung được
nói đến trong cuốn “Giáo trình kĩ năng giao tiếp” của Chu Văn Đức (2005), trong
“Vai xã hội và ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp” của Như Ý, (1990), TC ngôn ngữ,
“Vấn đề ngôn ngữ giao tiếp và giao tiếp lịch sự” của Thuỳ Hương trong TC KHXH
số 9+10, và “Về việc nghiên cứu lịch sự trong giao tiếp” của Nguyễn Văn Độ, (1995), Số 1, TC ngôn ngữ, “giao tiếp ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp xã hội” của Đặng Quang Hoàng, số 4, tạp chí KHXH
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt, tiếp bước tấm gương đó của Người, các vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước cũng quan tâm và trực tiếp phát biểu về những vấn đề của tiếng Việt Tiêu biểu là những bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng Bài “Thủ tướng
Phạm Văn Đồng với công tác : giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của Phạm Văn
Hảo, số 9, TC ngôn ngữ và Đời sống (2007) đã điểm qua về nội dung chính và các vấn đề có liên quan trong các bài nói và viết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công tác giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Ngoài ra, các bài viết trên các báo điện tử cũng là tài liệu mà chúng tôi tham
khảo, đó là “Lại nói về sự trong sáng của tiếng Việt” bài viết của Nhật Quang trong http://www vovnews vn, ra ngày 31/03/2006, “Sự trong sáng của tiếng Việt”,
trong http://vietbao
vn/Trang-ban-doc/Can-giu-su-trong-sang-cua-tieng-Viet/10990377/484/, “Ngôn ngữ là niềm tự hào dân tộc” bài viết trong báo Vietbao
“Teen Việt: Nói tục, chửi thề, hành xử giang hồ” ra ngày 06/12/2007-Vietnamnet…
8 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có
Trong quá trình sưu tầm tài liệu, nhóm chúng tôi nhận thấy có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ, giao tiếp và ngôn ngữ giao tiếp Tuy nhiên, những tài liệu thuộc chuyên ngành xã hội học bàn về vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu lại rất ít ỏi Bởi vậy, ngoài những tư liệu chuyên ngành làm cơ sở
lý luận, chúng tôi còn sưu tầm những tài liệu của các chuyên ngành khác và những
Trang 9vụ cho đề tài
Phương pháp quan sát tham dự
Kỹ năng giao tiếp là môn học về lối sống, cuộc sống đời thường đang diễn ra hàng ngày xung quanh chúng ta về quan hệ người với người, về ứng xử con người với nhau Chính vì vậy, việc quan sát lời ăn, tiếng nói, cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày của sinh viên cũng chính là một trong những cơ sở để nhóm hoàn thành đề tài này
Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Nhóm tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi, được thực hiện với 150 bạn sinh viên nam nữ tại ba trường ĐHKHXH và Nhân Văn, ĐH Bách Khoa và ĐHKH Tự Nhiên, mỗi trường là 50 phiếu
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Các nhà lý thuyết hành vi cho rằng phần lớn hay tất cả các hành động của con người đều có thể giái thích bằng công thức : từ kích thích đến phản ứng Điều
đó có nghĩa là : con người sẽ có những phản ứng nhất định khi có sự kích thích
Lý thuyết này là sự biến thái từ lý thuyết hành vi của Colenan khởi xướng
Lý thuyết này cũng dựa trên nguyên tắc hộp đen nhưng Coleman lại không quan tâm lắm đến đầu vào và đầu ra mà ông lại đi tìm hiểu cơ chế bên trong điều khiển
các quá trình diễn ra bên trong hộp đen Cơ chế đó chính là sự lựa chọn hợp lý Và
cơ chế này thì đều giống nhau ở mọi người Khi một cá nhân nhận được một loạt các kích thích từ bên ngoài thì không phải cá nhân ngay lập tức sẽ phản ứng lại tất
cả mà tiến hành lựa chọn những kích thích nào phù hợp với bản thân, còn những kích thích nào cảm thấy không phù hợp, không mang lai lợi ích thì sẽ bị khước từ, loại bỏ
Trên thực tế thì lý thuyết này được áp dụng khá rộng rãi Và trường hợp nghiên cứu về lệch lạc ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên cũng vậy Từ sự phát triển của kinh tế, biến đổi văn hoá, xã hội, môi trường sống xung quanh thực sự là những kích thích rất mạnh đối với sinh viên chúng ta Rõ ràng, trong những kích thích đó
sẽ có những kích thích tích cực nhưng cũng có những kích thích tiêu cực
Với những kích thích đó thì sinh viên đã phản ứng như thế nào? Với những kích thích đó cũng có những sinh viên phản ứng lại theo chiều hướng tích cực đó thực sự là sự lựa chọn hợp lý Thế nhưng, cũng có một bộ phận không nhỏ sinh
Trang 11lý chút nào cả Đó là hiện tượng sinh viên sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong hoạt động giao tiếp đơn giản của mình và cho đó là phù hợp với thời đại, được xem là
“mốt” Sự lựa chọn của họ đã và đang có những ảnh hưởng không tốt đến xã hội, văn hoá và con người…
1 1 2 Lý thuyết hành động hợp mục đích
Lý thuyết hành động được Max Weber nhà xã hội học Đức khởi xướng vào đầu thế kỷ XX Trên cơ sở xem xét cá nhân thông qua các hành động của họ Ông cho rằng trong hành động của con người luôn mang ý nghĩa chủ quan và khi hành động bao giờ cũng bao giờ cũng hành động theo một quyết định nội tại Ông có chia hành động ra nhiều dạng khác nhau : hành động mang tính cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động mang tính định hướng giá trị Trong vấn đề của mình chúng tôi lựa chọn hành động hợp mục đích để là cơ sở lý luận cho đề tài
Đây là loại hành động mà khi thực hiện người ta sẽ hướng tới mục đích nào
đó và cần phải quyết định xem nên dùng phương tiện nào để đạt tới mục đích đó Trong xã hội hiện đại không phải bao giờ mục đích và phương tiện cũng thuận chiều nhau mà không it những trường hợp nghịch nhau Có thể mục đích rất tốt đẹp nhưng phương tiện để đạt đến chúng thì không hẳn là tốt đẹp, và ngược lại Trong trường hợp nghiên cứu về hiện tượng lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên Mặc dù sinh viên sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong những trường hợp nhằm đạt đến mục đích hoàn toàn tươi sáng Thế nhưng họ lại vẫn sử dụng những phương tiện là ngôn ngữ lệch lạc, lệch chuẩn Sinh viên đã lựa chọn phương tiện đó để phục
vụ cho hành động hợp mục đích của mình
1 1 3 Lý thuyết về hành vi lệch lạc
Có rất nhiều lý thuyết giải thích cho hành vi lệch lạc Và trong trường hợp vấn đề của chúng tôi đã lựa chọn lý thuyết môi trường xã hội để giải thích cho hành
vi lệch lạc ngôn ngữ của sinh viên
Các nhà xã hội học, tâm lý học, luật học có khá nhiều những quan đểim khác nhau về lệch lạc xã hội Nhưng họ lại thống nhất với nhau khi cho rằng môi trường
xã hội là một tác nhân đóng vai trò quan trọng đưa đến các hành vi lệch lạc
Trang 12Lệch lạc xã hội là hiện tượng phổ biến cả ở nông thôn, thành thị, nhưng có một điều không ai có thể phủ nhận được là tỉ lệ phạm pháp, bị lệch lạc ở đô thị bao giờ cũng cao hơn ở nông thôn Đây là một vấn đề dễ hiểu, vì trên thực tế thì đô thị chính là nơi tập trung kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Là một nơi đông đúc dân
cư sẽ dẫn đến nhiều mối quan hệ, có quan hệ tốt và quan hệ xấu Một mối quan hệ xấu sẽ có nguy cơ đi đến hành vi lệch lạc là rất cao
Sinh viên cũng vậy, sinh viên được sinh sống học tập và làm việc tại các đô thị lớn, chính điếu này đã có rất nhiều tác động đến sinh viên: tác động của kinh tế,
xã hội, văn hoá, mội trường xung quanh đã rễ ràng làm cho sinh viên rơi vào tình trạng lệch lạc Một thể hiện cho sự lệch lạc của sinh viên chính là việc sinh viên đang sử dụng các ngôn ngữ lệch lạc, lệch chuẩn vào trong hoạt động giao tiếp thường ngày của mình…
1 2 Một số khái niệm
1 2 1 Tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc nhóm nhôn ngữ Việt – Mường, họ ngôn ngữ Nam Á Trước đây, có ý kiến cho rằng tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Thái Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc của Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt nam Tiếng việt còn sử dụng trong cộng đồng người Việt nam
ở các nước Cămpuchia, Lào, Thái lan, Pháp, Hoa kỳ, có lẽ hơn 70 triệu người sử
dụng (Từ điển Bách khoa, Hà Nội – 2005)
1 2 2 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu quan trọng và độc đáo nhất trong giao tiếp của loài người; là phương tiện biểu hiện và phát triển tư duy, bảo lưu và chuyển giao có hiệu lực nhất các truyền thống lịch sử – văn hoá của một dân tộc
Ngôn ngữ là vốn tri thức, tầm hiểu biết về tiếng mẹ đẻ và sự am hiểu văn hoá của một cá nhân thể hiện qua cách dùng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày và trong tác phẩm văn học
Ngôn ngữ lời nói là phương tiện giao tiếp trong các cảnh huống, môi trường
sống (Từ điển Bách khoa, Hà Nội – 2005)
Lênin cho rằng: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu trong sự phát triển của loài người
Trang 13hoàn thiện con người… và “ngôn ngữ là một phương tiện quan trọng nhất trong sự giao thiệp giữa người với người”
Ngôn ngữ được tổ chức UNESCO đánh giá “là văn hoá của mỗi cá nhân, cộng đồng và là tài nguyên của mỗi quốc gia”
Trong mối quan hệ với văn hoá, ngôn ngữ vừa có vai trò lưu trữ và bảo tồn văn hoá, lại vừa có vai trò sáng tạo và phát triển văn hoá
1 2 3 Giao tiếp
Giao tiếp là sự trao đổi, truyền đạt giữa con người với con người các nội dung tư tưởng, tình cảm, kinh nghiệm và các tri thức, thông tin khác nhờ ngôn ngữ
và các quy tắc, quy ước hay một hệ thống tín hiệu nào đó
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình thức khác nhau :
- Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân
- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm
- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng
Có nhiều cách để phân loại giao tiếp, theo phương diện giao tiếp, có thể chia giao tiếp thành 3 loại sau:
- Giao tiếp vật chất: giao tiếp thông qua hành động với vật thể
- Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ như giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…
- Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cho con người, xác lập và vận hành mối quan hệ người – người trong xã hội Dựa trên sự phân loại này, chúng tôi xác định trong phạm vi của đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu ngôn ngữ nói- ngôn ngữ được sử dụng trong hoạt động giao tiếp bằng lời nói
1 2 4 Ngôn ngữ giao tiếp
Về một phương diện nào đó, có thể xem giao tiếp là một quá trình phát và nhận thông tin giữa những người giao tiếp với nhau Và ngôn ngữ giao tiếp chính là một công cụ trong hoạt động giao tiếp Ngôn ngữ được sử dụng trong hoạt động
Trang 14giao tiếp được chia thành ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (Trích theo “giao tiếp tình huống trong các tình huống giao tiếp xã hội” của Đặng Quang Hoàng, tr 42, tạp chí văn hoá xã hội số 04-2007)
Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập chung nghiên cứu về lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp Và lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp cũng là một dạng của sự lệch lạc xã hội Theo chúng tôi, mọi ngôn ngữ sử dụng mà không được định hướng chính quy từ trước, không nằm trong một quy định nào thì nó đều bị coi
là ngôn ngữ lệch lạc Có thể đưa ra một số dạng ngôn ngữ lệch lạc không đúng chuẩn mực : nói tục chửi thề, tiếng lóng, pha trộn ngôn ngữ, sử dụng từ lệch chuẩn,
sử dụng ngoại ngữ khi tham gia giao tiếp bình thường của người Việt
Trang 151 2 6 Lệch lạc ngôn ngữ
Lệch lạc ngôn ngữ là một hiện tượng lệch lạc trong xã hội con người Và ở trong đề tài này chúng tôi hiểu lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp là hành vi vi phạm những tiêu chuẩn trong việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của con người như: việc lạm dụng tiếng nước ngoài, sử dụng tiếng lóng, những từ lệch chuẩn, pha trộn ngôn
ngữ, nói tục chửi thề…
1 3 Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện tượng lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên hiện nay có mối quan hệ với tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội Cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên hiện nay có sự thay đổi và diễn ra với nhiều xu hướng khác với trước kia
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp của sinh viên nhưng nguyên nhân chính là do sự tác động của môi trường xung quanh (đó là sự phát triển của xã hội, sự tiếp xúc văn hoá, sự biến đổi hệ thống giá trị chuẩn mực và những ảnh hưởng của bạn bè) và do thói quen
- Nếu thực trạng sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong sinh viên kéo dài có thể dẫn tới những hậu quả không tốt : có thể làm mất đi sự trong sáng của Tiếng Việt, ảnh hưởng lớn tới nét đẹp trong văn hóa giao tiếp truyền thống của người Việt Nam
Trang 16
Nhận thức của sinh viên
Lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh
viên Quá trình giao tiếp của
sinh viên
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2 1 Nét truyền thống trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt
Đúng như Lênin nói, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Khi ngôn ngữ loài người phát triển thì nó không chỉ còn là công cụ để trao đổi thông tin thuần tuý mà nó còn là sự phản những thói quen, tập quán, những đặc trưng thẩm mỹ của mỗi cộng đồng cùng những cách thức hoạt động giao tiếp ở những hoàn cảnh nhất định Nói một cách khái quát thì ngôn ngữ khi thực hành chức năng giao tiếp nó còn là biểu hiện cụ thể của đặc trưng văn hoá và trình độ của phát triển văn hoá Khi văn hoá càng phát triển thì ngôn ngữ giao tiếp càng trở nên tinh tế và mang tính loại biệt cao Bởi vậy mà văn hoá giao tiếp là yếu tố quy định ngôn ngữ giao tiếp Việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của người Việt cũng không nằm ngoài quy luật đó
Nước ta vốn là một nước nông nghiệp với nền văn minh lúa nước xuất hiện khá sớm, lại chịu sự tiếp xúc, ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác trên thế giới, cùng với một hệ thống chữ viết được sáng tạo trong quá trình lịch sử, nên ngôn ngữ giao tiếp của người Việt rất phong phú và đa dạng Nhờ vậy mà trong các mối quan
hệ giao tiếp người Việt sử dụng được nhiều vốn từ, diễn đạt được nhiều tâm tình, ý tưởng và việc diễn đạt cũng rất uyển chuyển, linh hoạt Cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của người Việt mang nét đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt, điều này thể hiện rất cụ thể qua nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao…
+ Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc mở rộng và giữ gìn các mối quan hệ: “Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen” hay “lời chào cao hơn mâm cỗ” Sự giao tiếp củng cố tình thân : “Ao năng may thì mới, người năng tới thì thân”
+ Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ nên có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây Truyền thống giao tiếp của người Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải “Vấn xá cầu điền”, để tạo không khí giao tiếp Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý
tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy coi trọng các mối quan hệ Nó
Trang 18tạo nên một thói quen suy nghĩ cân nhắc, kỹ càng trước khi nói năng, tránh kiểu nói văng mạnh làm ảnh hưởng đến người khác
“An phải nhai, nói phải nghĩ”
“Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”
“Trượt chân thì dẽ, trượt miệng thì khó”
Trong các mối quan hệ, người Việt rất coi trọng sự đoàn kết, nhất trí, cho cuộc sống hoà thuận, vui vẻ nên luôn giáo dục con cháu phải:
“Một điều nhịn chín sự lành”
(Thành ngữ)
“Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
(Ca dao)
Hơn nữa, năng lực giao tiếp, cách sử dụng lời ăn, tiếng nói được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn để đánh giá con người : “Vàng thì thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”
+ Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú, thể hiện trong
hệ thống xưng hô bằng các từ chỉ quan hệ họ hàng Hệ thống xưng hô này có đặc điểm:
* Có tính chất thân mật hóa coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình
* Có tính xã hội hóa, cộng đồng hóa cao Trong hệ thống xưng hô này có cái
“Tôi” chung chung Quan hệ xưng hô phụ thuộc vàn tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian và không gian giao tiếp
* Thể hiện tính tôn ti kỹ lưỡng: Người Việt Nam xưng hô theo nguyên tắc
“xưng khiêm hô tốt”, gọi mình thì khiêm nhường, đối tượng giao tiếp thì tôn kính
Tiếng Việt của chúng ta trong sáng và vô cùng phong phú Nghi thức lời nói trong cách nói cũng rất phong phú Đó là cách vận dụng linh hoạt vốn tục ngữ, ca dao và thành ngữ vào trong hoạt động giao tiếp
Như vậy cách xưng hô, sử dụng ngôn từ, lời nói trong giao tiếp của người Việt rất đa dạng, phong phú Nó vừa thể hiện nét đẹp truyền thống trong tâm hồn người việt vừa thể hiện phép lịch sự tôn trọng giữa mỗi người với nhau
Trang 19những nét đẹp truyền thống đó Mà thay vào là những lối nói thực dụng, thiếu sự trau chuốt mang đậm nét đặc trưng của nền kinh tế thị trường Đó là sự xuất hiện hiện tượng sính ngoại ngữ qua cách sử dụng tiếng lóng, nửa tây nửa ta, sự pha trộn ngôn ngữ và những cách nói năng làm cho ngôn ngữ bị biến tướng, méo mó, giảm
đi sự trong sáng vốn có của tiếng Việt
2 2 Tổng quan về thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên hiện nay
Trong sự phát triển của mình, xã hội đã và đang đưa con người vào vòng xoáy của nó Có thể đó là những tác động rất tích cực, nhưng cũng sẽ là những tiêu cực không đáng có nếu con người không vận động để phù hợp với sự phát triển đó
Và trong thực tế, thì đối tượng khá nhạy cảm với những biến động này chính là giới trẻ Có thể nói rằng: giới trẻ chính là bộ mặt của một xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn sinh viên là khách thể nghiên cứu Vì sinh viên cũng là một đại diện tiêu biểu của giới trẻ
Từ lâu, trở thành sinh viên đã là ước mơ và mục tiêu phấn đấu của nhiều người trẻ Trong mắt của mọi người, sinh viên là những người học cao, biết rộng,
ăn nói lịch sự, có văn hóa Mọi người xung quanh luôn nhìn sinh viên với ánh mắt coi trọng và đầy tin tưởng, vì sinh viên là tầng lớp trí thức của đất nước Thế nhưng trên thực tế thì sao, sinh viên đã và đang làm những gì để nâng cao tầm vóc, vị thế của mình? Đây thực sự là một câu hỏi khó cho rất nhiều người, và kể cả chúng tôi – những sinh viên đương đại
Một vấn đề mà được rất nhiều người quan tâm, đó chính là ngôn ngữ sử dụng của sinh viên trong hoạt động giao tiếp Một đại diện của xã hội, tầng lớp tri thức, đối tượng nhạy cảm, họ nói với nhau như thế nào? Và họ làm gì để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt?
Một thứ ngôn ngữ khác hẳn được phát ra từ những cái miệng xinh xinh của những cô cậu sinh viên, khiến không ít người phải ái ngại Đã có rất nhiều ý kiến cho rằng: có phải sinh viên đang “cài số lùi” trong môn học văn hóa giao tiếp hay
cụ thể hơn là ngôn ngữ giao tiếp Trong bản tin Đại Học Quốc Gia Hà Nội có nêu
một ví dụ về ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên Xin được dẫn ra: “Em ơi! Anh bảo này…Trời ơi xinh thế mà vừa câm vừa điếc” Đó là lời của mấy bạn sinh viên nói
Trang 20với một bạn gái chưa hề quen biết Và họ cho đó chỉ là: “Đùa cho vui ấy mà” Sinh
viên bây giờ, nói tục, chửi bậy khá phổ biến Các sinh viên nam không ngại lôi tên ông bà, cha mẹ của nhau ra để mà giao tiếp Một lần đến xóm trọ của sinh viên, tôi thấy mọi người toàn gọi nhau bằng tên húy của bố mẹ, nhất là khi tên chữ của các
cụ có gì đó đặc biệt Ngay cả phái được coi là ăn nói dịu dàng thì cũng nói bậy thả
phanh chẳng chút ngượng miệng: “Mẹ … con ấy “chim lợn” thế không biết, dám cắm xe của bạn thân tao chứ!” Nói tục chửi bậy, thậm chí đã nói là đệm văng mạng
những từ rất tục đã trở thành thói quen xấu và không thể sửa của một bộ phận sinh
viên Và họ vô tư cho rằng: “Phải ăn nói vô tư thì sống với nhau mới thoải mái được”
Nhìn từ góc độ khác, vấn đề ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên cần phải bàn
đó là tình trạng “sinh viên hóa từ ngữ” Những kiểu ăn nói tiếng lóng mà rất nhiều
“ét-vê” hay dùng đó là: “ổn áp”- thi qua, “tắt đèn”- “vào vòng hai”- “thi trượt” Khi
“ca phê” hay “sunsilk bồ kết” em nào thì phải “kiểm tra hàng” để rồi “shut down” luôn Nếu nàng thuộc dạng “cành cao” thì phải “đầu tư” và “nạp điện” Còn lúc bị người yêu cho “leo cây” thì đích thị là “seven love”- “thất tình”… kiểu ngôn ngữ
đó của sinh viên đã khiến không ít ông bố, bà mẹ cũng như rất nhiều người phải lắc
đầu: “chịu chẳng biết chúng ăn nói thứ ngôn ngữ gì ?!” Phải chăng đang có “một
thứ ngôn ngữ thời @” đang xâm nhập vào những người trẻ hiện nay
Ngôn ngữ tồn tại và phát triển trong xã hội loài người với tư cách là vỏ vật chất của tư duy Nó mang chức năng quan trọng là giao tiếp và phản ánh tư duy của con người Xã hội càng phát triển thì ngôn ngữ cũng cần phải hoàn thiện hơn để phục vụ cho nhu cầu xã hội Ngày nay, mặc dù người ta có thể thông tin cho nhau bằng các loại phương tiện, dưới mọi hình thức nhưng vẫn không thể tách rời ngôn ngữ Ngôn ngữ như một yếu tố gắn kết để xã hội có thể tồn tại và phát triển
Tầm quan trọng của ngôn ngữ là như thế, nhưng việc sử dụng nó như thế nào cho đúng chuẩn mực ngữ pháp, đúng phong cách tiếng Việt và phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam là vấn đề không đơn giản Xét ngôn ngữ trong tầng lớp sinh viên – lớp trí thức tiêu biểu, tươg lai của đất nước để có thể đưa ra một chuẩn mực về Tiếng Việt Một yêu cầu hàng đầu đặt ra đối với ngôn ngữ của sinh viên đó là sự trong sáng, lành mạnh, giàu tính giáo dục và tri thức
Trang 21hiện giữa sinh viên với nhau và giữa sinh viên với thầy cô phải đảm bảo được sự gần gũi, thân thiện thân mật nhưng giới hạn trong một khuôn khổ nhất định và luôn giữ được bản chất tôn sư trọng đạo của sinh viên Việt Nam Nên tránh những hiện tượng giao tiếp có tính chất suồng sã, trong cách sử dụng ngôn ngữ Hiện nay, các sinh viên đều xưng hô với nhau bằng các đại từ nhân xưng: tao, mày, mi, … Theo một điều tra về xã hội học, có đến 75% sinh viên sử dụng cách xưng hô này Đúng
là rất thân mật, rất suồng xã và trong một phạm vi nào đấy như là trong căn tin, quán giải khát thì có thể chấp nhận được Nhưng nếu mà trong giảng đường, trong lớp học thì sự thân mật, suồng xã đó cần phải cân nhắc…
Một hiện tượng cũng hay gặp trong giao tiếp của sinh viên, mặc dù không nhiều nhưng không phải là hiếm, đó là hiện tượng nói tục, chửi thề, không thể chấp nhận được ngôn ngữ của sinh viên lại như ngôn ngữ của những người đầu đường-
xó chợ Có thể nói đó là những lỗi nhạc trong bản giao hưởng ngôn ngữ Chúng ta cần phải kiên quyết loại trừ nó ra khỏi ngôn ngữ của sinh viên nói riêng và của toàn
xã hội nói chung
Những năm gần đây, nhờ chính sách mở cửa, thanh niên Việt Nam có điều kiện hội nhập với thế giới Nhu cầu sử dụng ngoại ngữ là tất yếu và tình trạng sinh viên sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp với nhau là phổ biến Phải nói rằng đó là một cách học ngoại ngữ nhanh và hiệu quả Nhưng nếu chúng ta không sử dụng nó một cách đúng lúc, đúng chỗ thì nó sẽ gây ra khá nhiều hậu quả phiền phức Một ví dụ: nếu chúng ta sử dụng ngoại ngữ nói chuyện với nhau trước mặt một người thứ 3 không biết ngoại ngữ thì chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những suy nghĩ mình là người ngoài cuộc và tất nhiên họ sẽ nghĩ mình không được tôn trọng Dù là vô tình hay cố ý thì bạn vẫn bị coi là người mất lịch sự trong giao tiếp
Cũng là ngoại ngữ, nhưng trong một trường hợp khác: sự lệch lạc về sử dụng ngôn ngữ lại càng đươc biểu hiện rõ nét Đó là trong trường hợp giao tiếp bình thường giũa sinh viên Việt Nam với nhau, nhưng thỉnh thoảng lại thấy pha thêm một vài từ ngoại ngữ vào nhằm thể hiện một cái gì đó rất sinh viên Chính đó, đôi khi làm cho việc giao tiếp không còn đạt được hiệu quả như ta mong đợi do người nói chuyện với mình không hiểu mình nói gì
Trang 22Luồng văn hóa thế giới có ảnh hưởng rất nhiều tới thanh niên Việt Nam, đặc biệt là sinh viên Nhưng dường như chúng ta chưa có sự chọn lọc để biết tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ và đào thải, không tiếp nhận những cái không tốt
Gần đây, người ta đã thấy được tầm quan trọng của những giá trị văn hóa truyền thống và có xu hướng tìm về cuội nguồn Đó là dấu hiệu đáng mừng cho văn hóa Việt Nam nói chung và ngôn ngữ nói riêng Vì ngôn ngữ suy cho cùng cũng là một khía cạnh của văn hóa dân tộc Văn hóa biểu hiện trong ngôn ngữ và ngôn ngữ
là mặt biểu hiện của văn hóa Đó chính là mối quan hệ biện chứng
Là những sinh viên thời đại mới, chủ nhân tương lai của nước nhà, ngoài những hành trang, kiến thức để tiến vào thế kỷ 21 như tin học ngoại ngữ…thì mỗi người trong chúng ta phải trang bị cho mình một vốn ngôn ngữ, vốn ngôn ngữ đó phải được lựa chọn, chắt lọc Và nó không phải là thứ ngôn ngữ xa lạ mà chính là tiếng Việt- ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta, ngôn ngữ là tài sản chung, là kho báu vô giá của dân tộc Nó cần được bảo tồn, giữ gìn và phát huy vẻ đẹp vốn có Làm thế nào để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt – như lời cố thủ tướng Phạm Văn Đồng căn dặn là trách nhiệm lớn lao, vinh quang đối với mỗi sinh viên chúng ta
- Tiêu cực:
+ Một bộ phận không nhỏ trong giới sinh viên đã và đang làm biến thể ngôn ngữ giao tiếp, và sự biến thể này thể hiện trên cả hai mặt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết + Ngôn ngữ nói trong giao tiếp
Trang 23và phổ biến các ngôn từ “xấu” phi văn hóa (văng tục, chửi thề…) và dường như nó
đã trở thành một căn bệnh truyền nhiễm
* Một sự thật đáng buồn đang diễn ra hàng ngày mà xã hội phải chịu đựng
đó là việc văng tục chửi bậy đã đi quá xa giới hạn của việc giải tỏa những bức xúc Một bộ phận sinh viên xem đó là phong cách để thể hiện mình
* Pha trộn ngôn ngữ trong giao tiếp đã trở thành “Mốt” trong cách nói của sinh viên Việc lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài vào trong hoạt động giao tiếp đã gây nến sự phản cảm và làm giảm sự trong sáng của tiếng Việt, những cách nói này đang làm cho tiếng Việt của chúng ta méo mó, đáng thương hơn bao giờ hết
* Việc “chèn”, “chêm” một vài tiếng lóng, ngôn ngữ địa phương đã trở nên phổ biến trong hoạt động giao tiếp của giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng Điều này đã phần nào làm cho ngôn ngữ giao tiếp bị biến tướng gây sự khó hiểu cho người nghe và làm giảm hiệu quả giao tiếp
* Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ địa phương, phát âm sai cũng là một trở ngại không nhỏ trong giao tiếp của sinh viên Nhận ra điều đó nhưng nhiều sinh viên vẫn bảo thủ, cố hữu cái sai của mình
Trang 24CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Không phải bất cứ mỗi dân tộc tồn tại trên thế giới đều có thứ ngôn ngữ riêng của mình Việc tạo nên một ngôn ngữ đều phải trải qua quá trình hình thành, phát triển và biến đổi lâu dài, và để trở thành ngôn ngữ chính thống của dân tộc cũng phải mất bao nhiêu công sức xây dựng, phát triển và gìn giữ của bao thế hệ
Trong nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Đức-W V Humboldt đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là nơi bảo tồn tinh thần, văn hoá, sức mạnh liên minh
của dân tộc- tất cả đều để lại dấu ấn một cách tài tình trong từng âm thanh” (Trích dẫn theo Nguyễn Thị Quỳnh Như, 2004) May mắn và biết ơn thay, ông bà ta cũng
đã để lại cho chúng ta tiếng Việt- một ngôn ngữ giàu và đẹp, mang bản sắc rất riêng của người Việt và ngôn ngữ tiếng Việt cũng đã lưu giữ, lưu truyền được những giá trị tinh thần và văn hoá của dân tộc Việt Nam Bởi vậy, việc gìn giữ và phát huy nét đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt là một thiết yếu
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn chú trọng việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục nhân dân ta phải làm cho tiếng nói, chữ viết ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú, hiện đại Đây cũng là nhiệm vụ, trách nhiệm không chỉ riêng ai
Trong xu thế hiện nay, việc sử dụng ngôn ngữ nói trong giao tiếp của sinh viên cũng trở nên phong phú, đa dạng Bên cạnh đó cũng có nhiều điều phải bàn cãi Thiết nghĩ nghiên cứu về “lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên hiện nay” là hết sức cần thiết và rất có ý nghĩa trong thực tế Tuy nhiên, đây lại là vấn đề không phải ai cũng quân tâm
Để tìm hiểu về nhận thức và thái độ của sinh viên về vấn đề này, nhóm dề tài
đã tiến hành khảo sát 150 bạn sinh viên nam, nữ thuộc ba trường ĐH Quốc gia TP
Trang 25quả nhận định và đánh giá
3 1 Khái niệm về lệch lạc ngôn ngữ của sinh viên
Lệch lạc ngôn ngữ là một khái niệm khá trừu tượng Trước khi đi vào nghiên cứu, nhóm đề tài cũng tham khảo một số ý kiến của các bạn sinh viên, cũng có những ý kiến khác nhau được đưa ra, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp thắc mắc
“lệch lạc ngôn ngữ” là gì? Không hiểu? Trong phiếu điều tra của mình, chúng tôi cũng không tiện đưa ra định nghĩa về : lệch lạc ngôn ngữ là gì? Thế nhưng với câu
hỏi: Bạn hiểu thế nào về lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên? Chúng
tôi muốn chính những bạn sinh viên bày tỏ những suy nghĩ, cách hiểu của mình về khái niệm này, đây cũng là cơ sở để chúng tôi có những nhận xét, đánh giá việc sinh viên lựa chọn những ngôn từ, lời nói trong giao tiếp hàng ngày
ta thực sự am hiếu ngoại ngữ thì hãy nói chuyên vói nhau bằng ngoại ngữ Còn không thì hãy nói chuyện bằng 100% Tiếng Việt, để người nghe hiểu và Tiếng Việt
Trang 26giữ được vai trò chính thống của mình Không nên pha trộn sẽ ảnh hưởng không tốt
26/150 ý kiến lai hiểu lệch lạc ngôn ngữ là việc sinh viên nói tục, chửi bậy
Có lẽ đây là hạt sạn trong ngôn ngữ Việt Nam Sinh viên của chúng ta khi muốn giải toả bức xúc, bực bội hay những cuộc nói chuyện bình thường cũng sẵn sàng
“văng” những câu nói mà trong từ điển ngôn ngữ không có Chỉ có những tầng lớp
xã hội kém phát triển mới sử dụng
61/150 số bạn sinh viên chọn đáp án : lệch lạc ngôn ngữ là sử dụng tiếng lóng, pha trộn ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn Tiếng Việt Hoạt động này của sinh viên cũng đã và đang là vấn đề đáng chú ý Còn lại 45/150 ý kiến sinh viên chọn tất cả các ý kiến trên Tức là : lệch lạc ngôn ngữ là hành vi sử dụng ngôn ngữ lạm dụng ngoại ngữ, từ lệch chuẩn, pha trộn ngôn ngữ và sử dụng tiếng lóng…
3 2 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu hiện tượng lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên
3 2 1 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu
Trong bài phát biểu “Trở lại vấn đề : vì sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt” của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, được trích dẫn từ TC Ngôn ngữ, số 6,
1999 có nêu: “Ngôn ngữ nào tư duy ấy, tư duy nào ngôn ngữ ấy Sự gắn bó giữa ngôn ngữ và tư duy như hình với bóng” Đúng là ngoài chức năng là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất thì ngôn ngữ cũng chính là công cụ của tư duy Sinh viên
là những con người của tri thức, việc trau dồi kiến thức rất quan trọng, tuy nhiên việc bổ sung cho mình vốn kỹ năng giao tiếp, vốn văn nói của mình cũng không thể thiếu, bởi dựa vào lời ăn, tiếng nói của mỗi cá nhân có thể đánh giá sự lịch sự, sự khéo léo, tế nhị, nhưng cũng thể hiện trình độ nhận thức, văn hoá của người đó Đồng thời, cũng thể hiện sự hiểu biết và lòng yêu quý của bản thân đối với nét đẹp của ngôn ngữ dân tộc Những nghiên cứu hiện tượng sử dụng những ngôn ngữ lệch chuẩn, thiếu trong sáng trong giao tiếp của sinh viên là rất quan trọng để góp tiếng nói thức tỉnh sinh viên quan tâm hơn tới lời nói của mình, ý thức hơn việc gìn giữ nét đẹp của tiếng Việt Khi thu thập kết quả khảo sát sinh viên, có 90 trường hợp (chiếm 60, 1%) nhận thấy việc nghiên cứu lệch lạc ngôn ngữ của sinh viên là rất quan trong, rất cần thiết, bên cạnh đó 22, 7% bạn cho ý kiến là quan trọng Điều này cho thấy hầu hết sinh viên đều quan tâm tới việc “học ăn, học nói” của mình, nhưng
Trang 27vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu Ngoài ra, số còn lại 18% cho là bình thường và 8% là không quan trọng
3 2 2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Theo ý kiến của PGS- TS ngôn ngữ học Đặng Ngọc Lệ đăng trên báo Người lao động có đoạn viết: hiện nay có khá nhiều sinh viên, học sinh lạm dụng ngoại ngữ, thuật ngữ vào hoạt động giao tiếp, cho như thế là phù hợp với tuổi học trò Điều đó là hoàn toàn sai, bởi nó làm lu mờ Tiếng Việt vốn độc đáo và giàu biểu cảm, làm hỏng ngôn ngữ, tạo ra tiền lệ không tốt đối với lứa tuổi học sinh Do sự tiến bộ của xã hội, kinh tế mà các thuật ngữ rễ ràng được đưa vào các hoạt động giao tiếp đơn giản Nếu cứ để học trò “lậm” vào cách giao tiếp theo kiểu như thế ở chốn học đường, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sự trong sáng của Tiếng Việt
Đây là một trong số rất nhiều ý kiến quan tâm đến vấn đề lệch lạc ngôn ngữ Thực sự thì sinh viên, học sinh đang dần đánh mất đi hình ảnh của mình chỉ vì cách
họ sử dụng ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Nhận thấy tính bức thiết của vấn đề này, chúng tôi đã quyết định tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn Đó là chúng tôi thế còn các bạn khác thì sao? Họ hiểu về việc nghiên cứu này như thế nào?
Trang 28Trong phiếu điều tra của mình, chúng tôi có mạnh dạn đưa ra câu hỏi: Việc nghiên cứu về hiện tượng sinh viên sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp có
ý nghĩa gì?
Bảng 3:
Frequency Percent Valid Góp phần giữ gìn sự
trong sáng của Tiếng Việt
Nâng cao vă hoá học
Cải thiện tình trạng sử dụng ngôn ngữ lệch lạc 14 9 3 Tất cả các ý kiến trên 78 52 0
Kết quả mà chúng tôi thu được là : có 25 ý kiến sinh viên định; Việc nghiên cứu về hiện tượng sinh viên sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp có ý nghĩa góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt 16 7% số sinh viên này đã thực sự quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt Sinh viên sử dụng ngôn ngữ lệch lạc sẽ làm mờ hình ảnh của tiếng Việt và làm giảm vai trò của nó 18/150 ý kiến khác thì cho rằng: Việc nghiên cứu về hiện tượng sinh viên sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp có ý nghĩa nâng cao văn hoá học đường Nếu tình trạng trên cứ xảy ra thì không biết môi trường học đường sẽ đi đến đâu Và mọi người sẽ nghĩ gì về sinh viên-học sinh chúng ta Chúng ta cần phải giữ gìn và bảo vệ môi trường học đường thực sự văn minh lịch sự Có 9 3% ý kiến sinh viên, hiểu việc nghiên cứu là nhằm cải thiện tình trạng sử dụng ngôn ngữ lệch lạc Tình trạng đó cần được cải thiện vì sinh viên là tầng lớp tri thức, có học vấn, được đào tạo cơ bản thì không nên sử dụng ngôn ngữ lệch lạc, nên sử dụng ngôn ngữ chính thống, đã được chuẩn hoá Có tới 74/150 tức là 52% ý kiến của các bạn sinh viên lựa đáp án nhiều ý kiến trên Việc nhiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt, nâng cao văn hóa học đường, cải thiện tình hình sử dụng ngôn ngữ lệch lạc Ngoài ra thì
Trang 29ngôn ngữ lệch lạc nhằm nêu lên một thực tế của sinh viên Và cần đề ra các chương trình nhằm cải thiện thực trạng đó
3 3 Thực trạng sử dụng ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp của sinh viên hiện nay
3 3 1 Đánh giá của sinh viên về thực trạng này
Có thể nói, chưa có một văn bản quy định hay chế tài nào đối với giao tiếp
và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày của mọi người nói chung và sinh viên nói riêng Và cũng không có một con số thống kê nào cho thấy mức độ, thực trạng phát ngôn bừa bãi hay thiếu thận trọng của sinh viên cả Tuy nhiên, có nhiều chuyên mục đã ra đời trên một số tạp chí, sách báo góp nhặt những từ, những lời nói thiếu trong sáng nhằm kêu gọi sự quan tâm của mọi người trong việc sử dụng ngôn ngữ, bên cạnh đó còn có những nhận xét : “Chuyện học ăn bây giờ có vẻ được xem trọng hơn là học nói Trong cuộc sống hàng ngày, thứ của cải “vô cùng quý báu” của dân tộc đang bị làm biến dạng méo mó, không chỉ ở các cuộc ăn nhậu
mà cả trong những cuộc trao đổi, chuyện trò, giao lưu vốn đòi hỏi nghiêm túc,
chuẩn mực” (Nhật Quang- http://www vovnews vn, ra ngày 31/3/2006) Đó là
nhận xét của các bài báo, còn đối với sinh viên, các bạn đánh giá gì về vấn đề này
Khi được hỏi “Bạn có khi nào sử dụng những ngôn ngữ lệch lạc trong giao tiếp không?” thì có tới 65 sinh viên thừa nhận thường xuyên sử dụng (chiếm
36, 9%) Trong khi đó chỉ có 57, 1% bạn cho rằng mình “thỉnh thoảng” dùng những
từ ngữ ấy, số người chưa bao giờ sử dụng chỉ chiếm 9% trong tổng số người được hỏi Nhóm nhận thấy đây là một kết quả đáng ngạc nhiên, bởi đây cũng là một vấn
đề mang tính tế nhị, và cũng không phải ai cũng tự nhận mình có những lời nói như
vậy, Trong quá trình khảo sát nhóm cũng đã ghi lại một số ý kiến chung của các
bạn sinh viên: sử dụng những ngôn ngữ này làm cho chúng tôi cảm thấy thoải mái, câu chuyện trở nên sinh động hơn, mọi người cảm thấy vui vẻ, thân thiện hơn
Bảng 4: Bạn có khi nào sử dụng những ngôn ngữ lệc lạc trong giao tiếp
không?
Trang 30chưa bao giờ 9 6 0
Nhóm lại tiếp tục đi sâu tìm hiểu vấn đề, một trong những tiêu chí đánh giá
về thực trạng sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày của sinh viên, đó là nhận xét của chính các bạn về bạn của mình và chúng tôi đã nhận được kết quả sau:
từ “biến tướng”, “lệch chuẩn” một xíu sẽ giúp cho câu chuyện vui hơn, giúp người
ta cảm thấy thoải mái, giảm đi sự căng thẳng… Tuy nhiên, sự lạm dụng những ngôn từ “xấu” đó trong giao tiếp sẽ trở thành những “hạt sạn của văn hoá” Thật là đáng buồn nếu như ai đó đánh giá sinh viên chúng ta phát ngôn thật bừa bãi, suồng
sã và thiếu thận trọng
Như Lênin đã nói: “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất giữa người với người” nhưng mặt khác ngôn là nơi “đánh dấu” các sự kiện, hiện tượng
và tường minh lại các sự tình và cũng là công sức xây dựng, truyền tải của bao thế
hệ ông cha Sự thay đổi của ngôn ngữ ở mỗi thời điểm tương xứng với mức độ phát triển của xã hội chính là đảm đương chức năng xã hội của bản thân ngôn ngữ Nhưng sự tác động làm cho ngôn ngữ “méo mó”, “biến dạng” là một việc rất đáng trách, tuy nhiên lại có nhiều người không nhận thấy được điều đó Trong bài phát