1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử hình thành và công tác tổ chức quản lý khoa học tài liệu mộc bản triều nguyễn tại trung tâm lưu trữ quốc gia iv (đà lạt, lâm đồng)

46 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Hình Thành Và Công Tác Tổ Chức Quản Lý Khoa Học Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn Tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia IV (Đà Lạt, Lâm Đồng)
Tác giả Hà Minh Minh Đức
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Đỗ Văn Học
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 549,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV Đà Lạt – Lâm Đồng hiện đang là nơi bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng Mộc bản triều Nguyễn để có thể phát huy được hết giá trị lịch sử của tài liệu độc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm : Hà Minh Minh Đức Lớp: Lưu trữ - Quản trị văn phòng Khóa: 2010 -

2014

Người hướng dẫn: Thạc sĩ Đỗ Văn Học

Trang 2

Tóm tắt đề tài 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 6

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1945) CHO ĐẾN KHI ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA IV HIỆN NAY 6

1.1 Sơ lược về triều Nguyễn 6

1.2 Sự hình thành và phát triển của Mộc bản triều Nguyễn (1802 – 1945) 9

1.3 Tài liệu mộc bản từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay 14

CHƯƠNG 2 23

CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ KHOA HỌC TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA IV 23

2.1 Công tác bảo quản và chỉnh lý khoa học tài liệu Mộc bản triều Nguyễn 23

2.2 Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV - hiện đại hóa công tác quản lý khoa học tài liệu Mộc bản 28

2.3 Phát huy giá trị khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV 30

CHƯƠNG 3 36

NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA IV 36

3.1 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý tài liệu Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV 36

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý tài liệu Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV 37

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 3

Tóm tắt đề tài

Mộc bản triều Nguyễn là bản gỗ khắc chữ Hán hoặc chữ Nôm ngược để in thành sách, mô tả mọi mặt về hoạt động chính trị và đời sống xã hội của nước ta dưới triều đại nhà Nguyễn Khối tài liệu này là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu khoa học, lịch

sử, xã hội và địa lý Việt Nam từ đầu thế XIX đến giữa thế kỷ XX

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt – Lâm Đồng) hiện đang là nơi bảo quản và

tổ chức khai thác, sử dụng Mộc bản triều Nguyễn để có thể phát huy được hết giá trị lịch

sử của tài liệu độc đáo này Mặc dù được công nhận là Di sản tư liệu thế giới và nằm

trong Chương trình ký ức của thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhưng Mộc

bản triều Nguyễn vẫn chưa được Nhà nước và công chúng quan tâm một cách đúng mức,

cả về nghiệp vụ lưu trữ bên ngoài và nội dung bên trong Nguyên nhân là do công tác lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV vẫn còn khó khăn về điều kiện, kỹ thuật và hạn chế về nguồn nhân lực

Từ thực trạng trên, tôi đã chọn đề tài: “Lịch sử hình thành và công tác tổ chức quản

lý khoa học tài liệu Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt – Lâm Đồng)” Đề tài này được thực hiện tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, nhằm giải quyết 3 công việc chính sau đây:

- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Mộc bản triều Nguyễn từ năm 1802 đến nay

- Tìm hiểu và mô tả công tác bảo quản và tổ chức sử dụng Mộc bản triều Nguyễn ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt – Lâm Đồng)

- Bước đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá về công tác bảo quản và tổ chức sử dụng Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hiệu quả tài liệu Mộc bản triều Nguyễn

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mộc bản triều Nguyễn là bản gỗ khắc chữ Hán hoặc chữ Nôm ngược để in thành sách vào đầu thế kỷ XIX cho đến giữa thế kỷ XX ở nước ta Nội dung của khối tài liệu mộc bản này rất phong phú, đa dạng phản ánh mọi mặt hoạt động quản lý của bộ máy chính quyền trung ương cũng như xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1945) Trải qua quá trình hình thành và nhiều lần di chuyển địa điểm bảo quản, hiện nay tài liệu mộc bản triều Nguyễn đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) với mục đích là bảo quản an toàn, hoàn chỉnh và phục vụ khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả nhất của xã hội hiện nay cũng như mai sau đối với khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn - di sản tư liệu thế giới

Mặc dù được công nhận là Di sản tư liệu thế giới và nằm trong Chương trình ký ức của thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương vào , nhưng Mộc bản triều Nguyễn vẫn

chưa được Nhà nước và công chúng quan tâm một cách đúng mức.Nguyên nhân là do công tác bảo quản và tổ chức sử dụng của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV vẫn còn khó khăn về điều kiện, kỹ thuật bảo quản và hạn chế về nguồn nhân lực

Đề tài Lịch sử hình thành và công tác tổ chức quản lý khoa học tài liệu mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng) nhằm mục

đích nghiên cứu có hệ thống lịch sử hình thành khối tài liệu mộc bản trong suốt quá trình phát triển của vương triều Nguyễn (1802 - 1945) cho đến ngày nay được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV Từ đó, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu công tác tổ chức quản lý khoa học khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV hiện nay Kết quả nghiên cứu sẽ giúp tác giả bước đầu có những nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác quản lý tài liệu mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV trong bối cảnh Luật Lưu trữ của Việt Nam đã được ban hành và có hiệu lực

Trang 5

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài gồm 3 mục tiêu:

Thứ nhất, khái quát được sự hình thành và phát triển của Mộc bản trong triều đại nhà Nguyễn (1802 – 1945) và từ 1945 cho đến hiện nay được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

Thứ hai, tìm hiểu được công tác quản lý khoa học (chủ yếu bao gồm bảo quản và

tổ chức sử dụng) tài liệu Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV hiện nay

Thứ ba, đưa ra được những nhận xét cơ bản về công tác quản lý khoa học Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và đề xuất những hướng giải pháp hoàn thiện công tác này hơn

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là khối tài liệu Mộc bản hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt – Lâm Đồng)

Khách thể nghiên cứu là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và các cán bộ, nhân viên làm việc tại Trung tâm

Phạm vi không gian của đề tài là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

Phạm vi thời gian của đề tài là từ năm 1802 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính để thực hiện đề tài là phương pháp thu thập thông tin Thêm vào đó, phương pháp nghiên cứu tài liệu giúp tôi tổng hợp được những thông tin quan trọng và hữu ích để giải quyết vấn đề Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn, khảo sát thực tiễn nhằm làm rõ và giải quyết vấn đề

5 Sơ lược tình hình nghiên cứu

Trang 6

Qua khảo sát cho thấy, các đề tài liên quan đến Mộc bản triều Nguyễn và công tác nghiệp vụ về Mộc bản triều Nguyễn rất ít, đặc biệt là trong giới sinh viên không thấy xuất hiện Phần nhiều trong số ít đó chủ yếu là các đề tài có liên quan về nghiệp vụ bảo quản,

ví dụ như đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học bảo quản tài liệu Mộc bản của Thạc sĩ

Nguyễn Thị Hà Mục tiêu của đề tài là khảo sát hiện trạng tài liệu mộc bản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV; phân tích cơ sở khoa học, ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ, độ ẩm tới quá trình bảo quản; đề xuất các giải pháp để bảo vệ an toàn tài liệu Mộc bản Ngoài ra, vẫn còn thiếu nhiều đề tài về các nghiệp vụ khác như sưu tầm, chỉnh lý, tổ chức sử dụng, khai thác, v.v

6 Đóng góp của đề tài

Với những thiếu sót đã nêu ra, tuy không đầy đủ và hoàn thiện nhưng đề tài sẽ góp phần bổ sung vào khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu này, nhằm làm giàu thêm nguồn tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu sau Đồng thời, với mục đích đã

đề ra, đề tài sẽ đưa ra những đề xuất, giải pháp cho cơ quan nhà nước và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV cân nhắc để có hoàn thiện hơn công tác tổ chức quản lý và sử dụng Mộc bản triều Nguyễn

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương Cụ thể là:

Chương 1 Lịch sử hình thành và phát triển tài liệu mộc bản triều Nguyễn (1802 - 1945) cho đến khi được quản lý tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV hiện nay

Chương này sẽ khái quát chung về lịch sử triều đại nhà Nguyễn (1802 – 1945) và

sự hình thành Mộc bản dưới thời này Sau đó là quá trình di chuyển và bảo quản của Mộc bản triều Nguyễn từ năm 1945 đến nay

Chương 2 Công tác tổ chức quản lý khoa học tài liệu mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

Trang 7

Đầu tiên là tìm hiểu công tác chỉnh lý, bảo quản khoa học Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV Từ đó, tìm hiểu được công tác khai thác, sử dụng, quảng bá Mộc bản triều Nguyễn cho công chúng

Chương 3 Nhận xét, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác

quản lý tài liệu mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

Chương cuối này tổng kết lại và đưa ra những nhận xét chung về mặt tích cực và mặt hạn chế Từ đó rút ra kết luận và đề xuất phương án giải quyết

Trang 8

CHƯƠNG 1

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1945) CHO ĐẾN KHI ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI TRUNG

TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA IV HIỆN NAY

1.1 Sơ lược về triều Nguyễn

Vương triều Nguyễn (1802-1945) được tính từ vua Gia Long - người sáng lập nên triều Nguyễn, đến vua Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng ở Việt Nam Tuy nhiên, khi nói đến vương triều Nguyễn, người ta không thể không nói đến 9 đời chúa Nguyễn - tổ tiên của các vị vua Nguyễn sau này, và cũng là những người đã có công khai phá, mở mang

bờ cõi về phương Nam

Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), vị chúa đầu tiên - Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, mở ra một trang sử mới cho vùng đất này Cùng với

sự phát triển và củng cố quyền lực của họ Nguyễn ở Đàng Trong, mâu thuẫn với họ Trịnh

ở Đàng Ngoài cũng ngày càng gay gắt, gây nên cuộc chiến tranh chia cắt đất nước trong suốt hơn 200 năm Bên cạnh đó, công cuộc Nam tiến để mở rộng bờ cõi cũng được đẩy mạnh Đến năm 1757, các chúa Nguyễn đã xác lập chủ quyền trên toàn bộ vùng đất Nam

bộ như chúng ta thấy ngày nay1

Cùng với quá trình xây dựng và phát triển chính quyền xứ Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã nhiều lần dời lập thủ phủ từ Ái Tử (1558-1570) đến Trà Bát (1570-1600), Dinh Cát (1600-1626), Phước Yên (1626-1636), Kim Long (1636-1687), Phú Xuân (1687-1712), Bác Vọng (1712-1738) để rồi trở về dừng chân ở Phú Xuân một lần nữa (1738-1775)2 Năm 1775, dưới nhiều tác động của bối cảnh chính trị-xã hội, vị chúa Nguyễn cuối cùng đã để mất Phú Xuân vào tay quân Trịnh, tiếp đó là sự sụp đổ hoàn toàn trước sức mạnh của quân Tây Sơn cho đến khi một hậu duệ của họ Nguyễn khôi phục lại

cơ đồ, dựng nên vương triều Nguyễn sau này

Trang 9

Trước đó, ngay từ năm 1788, lợi dụng sự bất hòa trong anh em Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã bí mật đưa lực lượng trở lại Gia Định Thất vọng trước sự bất lực của quân Xiêm, Nguyễn Ánh tăng cường tìm kiếm sự giúp đỡ của người Pháp Dựa vào sự giúp đỡ của Pháp và các thế lực đại địa chủ ở Gia Định, lực lượng của Nguyễn Ánh ngày càng mạnh lên Năm 1793, Nguyễn Ánh tấn công ra Quy Nhơn Lực lượng của Nguyễn Nhạc bị tổn thất nặng nề, buộc phải cầu cứu quân Phú Xuân Quân Quang Toản vào giải cứu, nhưng sau đó lại chiếm lấy Quy Nhơn khiến Nguyễn Nhạc uất ức mà chết, nội bộ nhà Tây Sơn

bị rạn nứt nghiêm trọng Lực lượng Tây Sơn ngày càng rệu rã Năm 1801, lực lượng nòng cốt của thủy quân Tây Sơn bị đánh ở cửa Thị Nại Tháng 6 năm đó, Nguyễn Ánh chiếm được thành Phú Xuân, quân Tây Sơn tan vỡ, Quang Toản phải bỏ chạy ra Thăng Long Tháng 7 – 1802, thành Thăng Long rơi vào tay Nguyễn Ánh

Năm 1802, sau khi đánh bại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh - hậu duệ của các chúa Nguyễn đã thâu tóm giang sơn về một mối, lập nên vương triều Nguyễn, lấy niên hiệu là Gia Long Phú Xuân trở thành kinh đô của cả nước trong suốt 143 năm tồn tại của triều đại này

Kế tục sự nghiệp của ông, lần lượt 12 vị vua Nguyễn sau đó đã xây dựng Phú Xuân thành trung tâm chính trị, văn hóa, quyền lực của một nhà nước Việt Nam thống nhất từ Bắc đến Nam, phản ánh bước phát triển cao hơn của lãnh thổ quốc gia, quy tụ được các giá trị văn hóa của cả lãnh thổ rộng lớn

Là triều đại phong kiến cuối cùng của lịch sử phong kiến Việt Nam Có thể nói, trong các triều đại thì triều Nguyễn là triều đại đã gây ra nhiều tranh luận nhất trong giới

sử học về cách đánh giá triều đại này Nếu như hầu hết các nhà sử học đều công nhận và đánh giá công lao của các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê sơ thì riêng đối với triều Nguyễn, những nhận định lại không đồng nhất, thậm chí trong cùng một vấn đề thì lại có

sự đối lập hoàn toàn nhau giữa những người tham gia công tác nghiên cứu sử học Tuy nhiên, cũng có một sự thật là theo thời gian, với độ lùi của tâm lý nhận thức của nhiều người, xu hướng giảm nhẹ sự bất đồng để xích lại gần nhau trong cách đánh giá triều Nguyễn cũng diễn ra đáng kể

Trang 10

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau khi đánh gia về triều Nguyễn, tuy nhiên có một thực tế cần nhìn nhận đó là trong quá trình tồn tại, vương triều Nguyễn đã để lại di sản lớn lao nhất là một giang sơn đất nước trải rộng trên lãnh thổ thống nhất từ bắc chí nam gần như tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại, bao gồm cả đất liền và hải đảo trên Biển Đông Lãnh thổ đó là sản phẩm của cả tiến trình lịch sử bắt đầu từ lúc hình thành Nhà nước đầu tiên, nước Văn Lang-Âu Lạc thời Hùng Vương, An Dương Vương, rồi tiếp tục với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước qua các thời kỳ lịch sử cho đến giữa thế kỷ XVI đã mở rộng vào đến vùng Thuận Quảng Thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn kế thừa thành quả đó và mở mang vào đến tận đồng bằng sông Cửu Long

Trên lãnh thổ đó là một di sản văn hóa đồ sộ bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Di sản đó một phần đang hiện hữu trên đất nước Việt Nam với những di tích kiến trúc, thành lũy, lăng mộ… và tất cả đã hòa đồng với toàn bộ di sản dân tộc cùng đồng hành với nhân dân, với dân tộc trong cuộc sống hôm nay và mãi mãi về sau, góp phần tạo nên bản sắc và bản lĩnh dân tộc, sức sống và sự phát triển bền vững của đất nước

Triều Nguyễn cũng đã để lại một di sản cực kỳ đồ sộ bao gồm một khối lượng lớn các bộ quốc sử, địa chí, hội điển, văn bia, châu bản, địa bạ, gia phả Cống hiến to lớn nhất của thời Nguyễn nói chung chính là những thành tựu văn hóa mang giá trị nổi bật toàn cầu với những di sản văn hóa đã được UNESCO công nhận

Trong di sản văn hóa vật thể, có thể nói rất nhiều đình, đền, miếu, nhà thờ họ trong tín ngưỡng dân gian, chùa tháp của Phật giáo, đạo quán của Đạo giáo…, còn lại đến nay phần lớn đều được xây dựng hay ít ra là trung tu trong thời nhà Nguyễn Tất cả di sản này rải ra trên phạm vi cả nước từ bắc chí nam

Về di sản chữ viết, triều Nguyễn để lại một kho tàng rất lớn với những bộ chính

sử, những công trình biên khảo trên nhiều lĩnh vực, những sáng tác thơ văn của nhiều nhà văn hóa lớn, những tư liệu về Châu bản triều nguyễn, văn bia, địa bạ, gia phả, hương ước, những sắc phong, câu đối trong các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, những văn khắc trên hang núi, vách đá… Nổi bật khối tài liệu Mộc bản với nội dung rất phong phú, đa dạng, phản ánh mọi mặt của xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn như: lịch sử, địa lý, chính trị -

Trang 11

xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa giáo dục, tôn giáo – tư tưởng – triết học, văn thơ, ngôn ngữ - văn tự Giá trị của khối tài liệu mộc bản này đã được thừa nhận khi năm 2007, thông qua Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đã trình UNESCO hồ sơ "Mộc bản triều Nguyễn" để đăng ký di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO Sau nhiều phiên họp thẩm định, đánh giá, ngày 30-7-2009, hồ sơ "Mộc bản triều Nguyễn" đã được UNESCO công nhận là Di sản

tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới và chính thức được công bố trong danh sách 35

Di sản tư liệu thế giới được UNESCO công nhận năm 2009 trên trang tin điện tử của Chương trình Ký ức thế giới (http://portal.unesco.org) Đây là tài liệu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là "Di sản tư liệu thế giới"

Có thể nói vương triều Nguyễn đã đi vào lịch sử, nhưng di sản văn hóa mà thời kỳ lịch sử đó đã tạo dựng nên, kết tinh những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc, thì mãi mãi trường tồn cùng non sông đất nước Đó là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc luôn luôn giữ vai trò động lực tinh thần nội tại của công cuộc phục hưng dân tộc, của

sự phát triển bền vững của đất nước, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập của đất nước hiện nay

1.2 Sự hình thành và phát triển của Mộc bản triều Nguyễn (1802 – 1945)

Mộc bản Triều Nguyễn là di sản vă hóa, lịch sử và khoa học vô giá của Việt Nam

Là nguồn tư liệu đồ sồ về nhiều công trình lịch sử, địa lý, văn học, pháp luật Việt Nam Mộc bản, là những tấm gỗ chứa các văn bản chữ Hán và chữ Nôm được khắc ngược trên mặt gỗ để in ra thành các văn bản, các sách Quốc sử thời Nhà Nguyễn Mộc bản Triều Nguyễn là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu khoa học, xã hội, lịch sử và địa lý Việt Nam Mộc bản được khắc “chữ khắc ngược” là bởi vì được dùng để nhân bản ra thành các phiên bản tài liệu của cơ quan Quốc Sử Quán nhằm phổ biến rộng rãi ra công chúng về các điều luật, sắc lệnh, chỉ dụ, chuẫn mực xã hội, các dữ kiện, sự kiện lịch sử… Các tư liệu lịch sử của Quốc sử quán được xem là một nguồn tư liệu đồ sộ, bao gồm nhiều dạng, như: Châu bản, Mộc bản, sách chính văn, chính sử, địa chí, thực lục, ví dụ như Hoàng Việt Nhất Thống địa chí của Lê Quang Định soạn năm 1806, Đại Nam nhất thống chí do nhóm các Quan – văn sĩ Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình

Trang 12

Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường soạn, Đại Nam Thực Lục do các Sử Quan thời Minh Mạng và Thiệu Trị biên soạn, Quốc Triều sử toát yếu.v.v Trong số tư liệu đó, kho tàng Mộc bản triều Nguyễn sau khi được ủy ban Tư vấn quốc tế thuộc Chương trình Ký

ức thế giới của UNESCO thẩm định khoa học công nhận là Di sản tư liệu thế giới, đã được xếp vào danh mục Chương trình “Ký ức thế giới” (Memory of the world), được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 30-7-2009 Là “Di sản tư liệu Văn hóa – Lịch

sử Việt Nam”, “Di sản tư liệu thế giới”; Mộc bản, tổng cộng gồm 34.618 tấm gỗ Di sản

tư liệu Mộc bản, hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam

Dưới triều Nguyễn, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử , triều đình đã cho khắc nhiều bộ sách sử và các tác phẩm văn chương để ban cấp cho các nơi Trong quá trình hoạt động đó đã sản sinh ra một loại hình tài liệu đặc biệt, đó là mộc bản Tất cả các bản thảo nói trên đều được đích danh hoàng đế ngự lãm, phê duyệt bằng bút tích trước khi giao cho những người thợ tài hoa nhất trong cung đình khắc lên gỗ quý

Dưới triều Nguyễn, sách quốc sử, thực lục của các triều vua và các sách chuyên khảo về giáo dục, địa chí, văn học… được biên soạn ở Quốc Sử quán Cơ quan này được thành lập năm Minh mạng thứ I (1820) Cơ sở được dựng ở phường Phú Văn trong kinh thành Huế, gồm Nhà Chính để làm việc và hai dãy Nhà Phụ hai bên để nhân viên tu thư trong quán cư trú Năm Tự Đức thứ II (1849) dựng thêm Tàng bản đường ở phía sau Sử quán để chứa Mộc bản Quốc Sử quán có nhiệm vụ biên soạn quốc sử, thực lục các triều vua và những sách chuyên khảo về giáo dục, địa chí, văn học v.v…Quốc Sử quán làm việc trên các sách cổ và những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của nhà vua và các bộ, nha, trấn, thành v.v…Đó là những chiếu, dụ, chỉ của Hoàng đế đã được đưa ra thi hành, còn các phiến, tấu, sớ, sách của các cơ quan thuộc các bộ ở triều đình và địa phương đã được Vua phê duyệt và hầu bửu (bản chính của các văn bản này gọi là Châu bản)

Trang 13

Tài liệu mộc bản triều Nguyễn được hình thành chủ yếu trong quá trình hoạt động của Quốc sử quán triều Nguyễn (thành lập năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng) tại Huế Ngoài ra, tài liệu này còn bao gồm cả những ván khắc in được tập hợp từ Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) được đưa vào Huế và lưu trữ ở Quốc Tử Giám (Huế) dưới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị Từ năm 1960, Mộc bản triều Nguyễn được chuyển vào Đà Lạt

Mộc bản là khối tài liệu đặc biệt quý hiếm, do giá trị về mặt nội dung, đặc tính về phương pháp chế tác và những quy định rất nghiêm ngặt của triều đình phong kiến về việc ấn hành và san khắc Những tài liệu này được coi là quốc bảo, chỉ những người có trách nhiệm và thẩm quyền làm việc tại Quốc sử quán mới được tiếp xúc và làm việc với chúng

Để chế tác tài liệu này phải trải qua một quy trình chặt chẽ tốn nhiều thời gian công sức Trước hết, vua ban dụ cho phép biên soạn sách Sau đó cơ quan biên soạn dâng tấu xin được nghiên cứu châu bản để biên soạn sách bản thảo hoàn thành dâng lên vua ngự lãm Bản thảo được giao trở lại cơ quan biên soạn bổ sung chỉnh sửa theo ý của vua Bản thảo được chép rõ ràng Cơ quan biên soạn lập biểu dâng sách lên vua ngự phê Sách sau khi được ngự phê chuyển xuống giao cho cơ quan san khắc dưới sự kiểm soát của các quan theo chỉ dụ của vua Mộc bản sau khi khắc xong các quan dâng biểu xin cho in thành sách Mỗi bộ sách chỉ được khắc in khi có lệnh của vua

Để chế tác tài liệu mộc bản, Quốc sử quán đã phải tuyển nhiều thợ chạm khắc giỏi Thợ khắc mộc bản được lựa chọn từ các địa phương trong cả nước có nghề chạm khắc gỗ nổi tiếng, và kỹ thuật khắc được sử dụng thì hoàn toàn là thủ công Những chữ được khắc lên mộc bản như chứa đựng tất cả tâm huyết của mỗi người thợ Mỗi chữ Hán - Nôm trên mộc bản được khắc rất tinh xảo, sắc nét Mỗi tấm mộc bản không những là một trang tài liệu quý giá mà còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo

Theo một số tài liệu, những bản khắc mộc bản chủ yếu sử dụng gỗ thị và gỗ cây nha đồng để khắc, bởi 2 loại gỗ có màu trắng, thớ gỗ mịn, nhẹ, thường được dùng để khắc dấu không nứt mẻ, không cong vênh Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Gỗ cây

Trang 14

nha đồng tục danh là Sống mật có sớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi…”3 Vì thế trải qua mấy trăm năm mà đến nay mộc bản vẫn có tình trạng tốt Ngoài ra gỗ lê, gỗ táo cũng được dùng để khắc mộc bản Nét chữ khắc trên tài liệu Mộc bản rất điêu luyện, tinh xảo

và sắc nét Mỗi nét chữ như rồng bay phượng múa, chuyển tải tâm tư, tình cảm và tâm huyết của người thợ khắc in Có thể nói, Mộc bản triều Nguyễn không chỉ là tài liệu quý

có giá trị lịch sử mà còn là một tác phẩm nghệ thuật

Mộc bản triều Nguyễn gồm 34.619 tấm mộc bản, với 55.318 mặt khắc, chứa đựng

nội dung của 152 đầu sách với 1.935 quyển do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn

trong giai đoạn 1802 – 19454 Kho tàng mộc bản triều Nguyễn có nội dung đa dạng, phản ánh mọi mặt xã hội Việt Nam dưới thời Nguyễn, ghi chép về lịch sử và ngôn ngữ văn tự, chính trị xã hội cho đến các vấn đê về pháp chế, về văn hóa – giáo dục, về tư tưởng triết học – tôn giáo cho đến các thể loại văn thơ truyện ký và về lịch sử quan hệ quốc tế, phản ánh mọi mặt trong đời sống xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn Nội dung, bao hàm nội hàm các giá trị có ảnh hưởng lớn mang tính lịch sử tới đời sống xã hội

Về lịch sử: có 30 bộ sách, gồm 836 quyển; ghi chép về lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước cho đến triều Nguyễn

Về địa lý: có 2 bộ sách, gồm 20 quyển; ghi chép về địa lý đã thống nhất ở Việt Nam và ghi chép về Hoàng thành Huế

Về chính trị - xã hội: có 5 bộ sách, gồm 16 quyển; ghi chép về sách lược của các triều đại phong kiến Việt Nam

Về quân sự: có 5 bộ sách, gồm 151 quyển; ghi chép về việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Bình Thuận và một số nơi khác

Về pháp chế: có 12 bộ sách gồm 500 quyển; ghi chép về các điển chế và pháp luật triều Nguyễn

Về tư tưởng, triết học, tôn giáo: có 13 bộ sách, gồm 22 quyển; ghi chép về phương pháp tiếp cận kinh điển Nho gia

Trang 15

Về văn thơ: có 39 bộ, gồm 265 quyển; ghi chép thơ văn của các bậc đế vương và Nho gia nổi tiếng Việt Nam

Về ngôn ngữ văn tự: có 14 bộ sách, gồm 50 quyển; giải nghĩa Luận ngữ bằng thơ Nôm

Về quan hệ quốc tế: tài liệu mộc bản triều Nguyễn còn có giá trị khi tìm hiểu lịch

sử và văn hóa các nước khác trên thế giới như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Pháp 5

Mộc bản tời kỳ này được đưa về bảo quản ở Nhà Giám (bên trong kinh thành Huế), do nhân viên Quốc Tử giám coi giữ và thường xuyên kiểm tra, xem xét, đồng thời cho sinh viên học ở quán xét xem những sách công cũ, những chữ in có chữ nào mất nét, sai lầm, cần phải khắc lại, thì lấy của công ra viết lại giao cho Viên Đốc công Vũ khố, đốc sức cho thợ khắc lại bản in Qua đó, cho thấy việc lưu trữ Mộc bản của Quốc Tử giám được thực hiện khá chu đáo, từ khâu thu thập, lưu trữ đến bảo quản, tu bổ (đôi khi phục chế bằng cách khắc lại các bản bị hư hỏng) và in ấn để phục vụ nhu cầu giảng dạy

và học tập của nhà trường và xã hội

Năm 1933, Quốc Tử giám (Huế) bị bãi bỏ, nhà trường được dùng làm trụ sở thư viện đầu tiên của Nam triều Sau đó, cơ sở này được tiến hành sửa chữa, nâng cấp với quy mô lớn, biến nơi đây thành một Tổng Thư viện Trung ương Năm 1937, công việc hoàn thành, thư viện được đặt tên Thư viện Bảo Đại, tập trung tất cả những sách vở, những tài liệu của các khố văn thư lớn nhỏ, từng được thiết lập tại Huế, kể cả kho sách và tài liệu của Nội các Về sau, thư viện này một lần nữa được đổi tên là Viện Văn hóa Trung phần

Như vậy, trải qua 143 năm dưới triều Nguyễn, Mộc bản đã được hình thành, bảo quản, lưu trữ và đưa vào khai thác như một nguồn tài liệu để tham khảo và nghiên cứu phục vụ cho tầng lớp quan lại trong triều và các sĩ tử tham gia vào các kì thi do triều đình

tổ chức Mộc bản triều Nguyễn là khối tài liệu chính văn gốc, độc bản, không chỉ có giá

5 Trung tâm lưu trữ quốc gia IV, Mộc bản triều Nguyễn, Đà Lạt năm 2007

Trang 16

trị về mặt lịch sử văn hóa mà còn có giá trị lớn về mặt nghệ thuật thư pháp và kĩ thuật in

ấn thời bấy giờ Đây là kho tư liệu quý hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu lịch sử nước ta thời cận đại và là kho tư liệu khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với biển đảo Hoàng Sa

1.3 Tài liệu mộc bản từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay

Năm 1945, sau khi triều Nguyễn cáo chung, toàn bộ các thư tịch, tài liệu châu bản, mộc bản đã trải qua nhiều lần di dời Do đó, một phần đã bị mất mát hư hỏng, cộng với thiên nhiên khắc nghiệt ở Huế đã làm mai một nhiều Nhận thấy việc mộc bản và các thư tịch có nguy cơ bị hủy hoại, nếu không di chuyển sớm sẽ có nguy cơ mất hoàn toàn Năm

1959, một ban dự thảo quyết định di chuyển khối mộc bản đồ sộ ra khỏi Huế Địa điểm được lựa chọn là thành phố Đà Lạt - nơi có điều kiện lý tưởng về khí hậu, địa hình

Năm 1960, trước tình hình chiến sự căng thẳng và để tránh những sự xung đột có thể xảy ra gần vĩ tuyến 17, cùng với Châu bản, Địa bạ… Mộc bản triều Nguyễn ở Cố đô Huế đã được chuyển vào Đà Lạt Việc di chuyển Mộc bản triều Nguyễn và các thùng tài liệu lưu trữ từ Huế về Đà Lạt bằng xe lửa được thi hành một cách kín đáo và mau lẹ Để

có thể vận chuyển tài liệu lưu trữ từ Viện Bảo thàng Huế ra ga xe lửa phải sử dụng xe của quân đội Việt Nam Cộng hòa (quân khu II) và quân nhân để bốc dỡ cho nhanh gọn (4 chiếc G.M.C và 24 quân nhân)

Ngày 27/6/1960, toàn bộ Mộc bản và 69 thùng tài liệu được xếp lên 3 toa xe lửa, mỗi toa với trọng tải 25 tấn, đều có mui, đóng cửa kín, có cặp chì Ngày 28/6/1960, chuyến tàu đặc biệt trên được khởi hành và về tới Đà Lạt vào ngày 2/7/1960 Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã cử 18 quân nhân đi hộ tống bảo vệ số tài liệu quý hiếm này Công việc vận chuyển được hoàn tất vào ngày 5/7/1960 Ngày 18/7/1960 việc kiểm đếm, giao nhận tại Đà Lạt mới hoàn thành6

Theo biên bản giao nhận ngày 15/6/1960 giữa Viện Bảo tàng Huế và Ủy ban phụ trách chuyên chở các cổ thư và tài liệu có tính lịch sử, số lượng Mộc bản giao nhận lập tại

6

Trích: Tạp chí Văn thư Lưu trữ, số 3 – 2008, Ths Phạm Thị Huệ, Ba lần thiên di Mộc bản triều Nguyễn và tài liệu,

tư liệu lưu trữ từ Huế về Đà Lạt, tr.3

Trang 17

Huế là 15.045 tấm Nhưng theo bản xác nhận sau khi kiểm đếm ngày 18/6/1960 có ông Phạm Như Phiên, đặc phái viên Bộ Quốc gia Giáo dục tại Đà Lạt xác nhận ngày 18/7/1960, số Mộc bản tăng thêm 800 tấm (có thể do đánh máy sai) Tổng cộng số Mộc bản hiện có lúc đó là 15.845 tấm, bó thành 2.085 bó7

Sau khi chuyển đợt 1 tài liệu Mộc bản và các tài liệu lưu trữ từ Huế về Đà Lạt với

số lượng như trên, phái đoàn gồm ông: Phạm Như Phiên, Nguyễn Gia Phương, Nguyễn Văn Thu có kiến nghị phải thực hiện việc kiểm kê, phân loại, dán nhãn hiệu số Mộc bản hiện còn ở Huế trước khi gửi về Đà Lạt ngay trong năm 1960

Ngày 22/12/1960, đợt 2 của quá trình di chuyển số Mộc bản và tài liệu lưu trữ còn lại được thực hiện Theo công văn “mật” “khẩn” số 85 ngày 15/12/1960 của Chi nhánh Văn khố Đà Lạt gửi Đại úy Chỉ huy trưởng cơ quan Quân sự Đà Lạt đã yêu cầu phương tiện vận chuyển bằng hỏa xa và tăng cường 5 xe quân sự và 10 binh sĩ để phục vụ việc vận chuyển Mộc bản từ Huế về Đà Lạt

Số lượng Mộc bản vận chuyển trong đợt 2 có 3.909 bó Mộc bản (trong đó có 52

bó mục, mối), 528 quyển Châu bản, từ triều Gia Long đến triều Bảo Đại (riêng triều Minh Mạng không có quyển nào) và 6 tập Châu bản không đóng thành quyển

Theo bản thống kê ngày 1/8/1964 về những tài liệu từ huế gửi vào Chi nhánh Văn khố Đà Lạt thì được biết đợt thứ 3 vận chuyển tài liệu vào ngày 14/6/1961, tuy nhiên chưa tìm thấy tài liệu đầy đủ nói về vấn đề này8

Năm 1961, chính quyền Việt Nam cộng hòa do Ngô Đình Diệm đứng đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng, các cuộc đảo chính liên tiếp xảy ra, đỉnh điểm là cuộc đảo chính ngày 01/11/1963, chấm dứt sự tồn tại của chính quyền Ngô Đình Diệm Trong thời gian này và những năm tiếp theo dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, tài liệu Châu bản, Mộc bản

và các tài liệu lưu trữ khác không được quan tâm đúng mức Theo biên bản bàn giao ngày 20/7/1964, số lượng tài liệu Mộc bản triều Nguyễn là 5.967 bó và châu bản là 636 tập, tất

7

Trích: Tạp chí Văn thư Lưu trữ, số 3 – 2008, Ths Phạm Thị Huệ, Ba lần thiên di Mộc bản triều Nguyễn và tài liệu,

tư liệu lưu trữ từ Huế về Đà Lạt, tr.17

8 Trích: Tạp chí Văn thư Lưu trữ, số 3 – 2008, Ths Phạm Thị Huệ, Ba lần thiên di Mộc bản triều Nguyễn và tài liệu,

tư liệu lưu trữ từ Huế về Đà Lạt, tr.17

Trang 18

cả đều đang được bảo quản tại Chi nhánh Văn khố Đà Lạt thuộc Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia (sau đổi thành Nha Văn khố Quốc gia)

Năm 1968, sau biến cố Mậu Thân, tình trạng tài liệu lưu trữ bắt đầu bị hư hỏng do điều kiện bảo quản không tốt (kho tàng bị phân tán, dột nát, tài liệu bị ẩm ướt) Tài liệu Mộc bản phải để phân tán tại 3 nơi: 24 Yersin, số 3 Trần Hưng Đạo và 14 Yersin (Trụ sở Tòa thị chính Đà Lạt) Tình trạng kho tàng, trong công văn số 60/VKTV ngày

25/10/1968 của Chi nhánh Văn khố Đà Lạt có ghi rõ: Trụ sở Chi nhánh Văn khố Đà Lạt hiện nay là ngôi nhà số 24 Yersin Đà Lạt, một biệt thự cũ, mái ngón một phần vì lâu ngày quá, một phần vì biến cố Mậu Thân bị đạn thủng 2 nơi, nay bị dột nhiều nơi; hệ thống nước quá cũ nên khi nước mạnh bị chảy ra ngoài, nhất là về đêm, cửa kiếng bị vỡ và hư hỏng khóa; máng xối hư hỏng, nhiều chỗ bị thiếu, mất đèn điện (toàn đèn ống) lâu ngày

bị hư; sàn gỗ nhiều nơi bị mục… Số lượng tài liệu Châu bản và Mộc bản bắt đầu có nhiều

biến động Số Mộc bản triều Nguyễn là 5.967 bó, số Châu bản là 633 tập (mất 3 tập), hầu hết đều trong tình trạng ẩm mốc9

Năm 1974, tình trạng kho ngày càng tồi tệ, tài liệu lưu trữ bị xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là tài liệu Mộc bản Tại Công văn số 14/VKTV ngày 8/3/1974 của Chi nhánh Đà Lạt gửi Giám đốc Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia về tình trạng kho lưu trữ Mộc bản tại trụ sở Ngân hàng Quốc gia 14 Yersin cũ ghi rõ: sở dĩ muốn mượn những căn

nhà tiền chế là vì: “để có chỗ dời những tấm Mộc bản lưu trữ tại tầng hầm của Ngân hàng Quốc gia 14 Yersin Đà Lạt vì tàng trữ ở đó nhiều hơi ẩm và trụ sở ấy từ ngày bị đặt chất nổ hư hại đến nay coi như bỏ phế, lối đi gần như bị gạch ngói đổ nát lấp đi, nước nhỉ từ lòng đất thấm ra và không có phương pháp nào cho thoát ra ngoài được…, e rằng lâu ngày thì sợ hư mất số Mộc bản ở dưới thấp”10

Mãi 5 tháng sau, từ ngày phát hiện ra tình trạng bảo quản tồi tệ của tài liệu Mộc bản, vào ngày 10/8/1974, Nha Văn khố Quốc gia mới có Công văn số 368-VKQG/KT

Trang 19

gửi Chi nhánh Văn khố Đà Lạt về việc di chuyển Mộc bản và Châu bản có ghi: đã có những chỉ thị sau:

1 Rời bàn giấy ông Chủ sự tầng dưới lên tầng xếp chỗ Mộc bản;

2 Rời các vật liệu linh tinh của ông gác dan (bảo vệ) ra phía ngoài hiên sau để có chỗ xếp thêm Mộc bản;

3 Di chuyển một số Mộc bản hiện để ở hầm Tòa Thị chính cũ về sắp xếp tại tầng trệt Chi nhánh;

4 Liên lạc với Tòa Thị chính để, nếu có thể, xin cấp 1 phòng tại trụ sở Tòa này, hầu có chỗ di chuyển hết số Mộc bản còn lại ở hầm Tòa Thị chính cũ;

5 Chuẩn bị di chuyển một số Châu bản về Sài Gòn để chụp vi phim

Tại Công văn này, Nha Văn khố Quốc gia đã yêu cầu Chi nhánh Văn khố Đà Lạt báo cáo bằng văn bản về việc thực hiện các chỉ trên

Sau 3 tháng kể từ khi có công văn nhắc nhở của Nha Văn khố Quốc gia, tài liệu Mộc bản đã bắt đầu bị hư hỏng thì Chi nhánh Văn khố Đà Lạt mới có Công văn 70/VKTV ngày 20/11/1974 gửi Đại tá Tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm Thị trưởng Thị xã

Đà Lạt xin sử dụng nhà chứa xe của Trung tâm Giáo dục Hùng Vương, mục đích là để

lưu trữ Mộc bản “vì một số Mộc bản đã bị hư do mối xông và ẩm ướt”11

Tại Công văn số 931/CCD/KYT ngày 12/12/1974 của Ty Công chánh Thị xã Đà Lạt gửi Chi nhánh Văn khố Quốc gia về việc di chuyển Mộc bản, đã nêu rõ tình trạng bảo

quản quá tồi tệ với Mộc bản: “Sau khi xem xét hầm chứa Mộc bản, Ty tôi nhận thấy hầm

bị ngập nước cao 0,45m Với khối nước ngập tại hầm này cần phải có máy bơm rút ra ngoài khô ráo mới có thể vào khuân vác di chuyển Mộc bản đưa ra ngoài"12

Và tại Công văn số 75/VKTV ngày 17/12/1974 của Chi nhánh Văn khố Đà Lạt gửi

Trung tâm cấp thủy Đà Lạt cũng xác nhận: “Hầm chứa Mộc bản bị ngập nước cao

Trang 20

0,45m Việc vận chuyển Mộc bản chỉ có thể thực hiện được sau khi nước được rút khỏi hầm”13

Ngày 18/01/1975 tại Công văn số 4/VKTV của Chi nhánh Văn khố Đà Lạt gửi Nha Văn khố Quốc gia về việc di chuyển Mộc bản cho biết Ty Công chính và Trung tâm cấp thủy Đà Lạt không đảm trách được việc rút nước tại hầm chứa Mộc bản vì không có dụng cụ thích nghi và đề nghị một tư nhân có bơm máy nước đảm trách việc này, số tiền chi phí là 80.000 USD

Nhu vậy, gần 1 năm sau khi tài liệu Mộc bản bị ngập nước, những biện pháp nhằm đưa tài liệu Mộc bản ra khỏi tình trạng tồi tệ vẫn chưa được thực hiện Trước thực trạng Mộc bản bị ngập nước gần nửa mét kéo dài cả năm trời, tài liệu Châu bản bị ẩm mốc, ngày 28/5/1974 Phụ tá đặc trách văn hóa gửi công văn cho Tổng trưởng Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh niên xin di chuyển Châu bản và Mộc bản về Thư viện Quốc gia để chụp vi

phim và bảo trì cẩn mật hơn Trong công văn này đã đánh giá: Châu bản và Mộc bản hiện cất giữ tại Chi nhánh Văn khố Đà Lạt là một tài liệu duy nhất của Quốc gia cũng như quốc tế…, vì công ích và tầm quan trọng của tài liệu, đề nghị cho chuyên chở các tài liệu trên về Sài Gòn càng sớm càng tốt” 14

Đến đầu năm 1975, trước tình hình chiến sự nổ ra tại miền Trung – Tây Nguyên trong Phiếu trình Hỏa tốc số 006-VKQG-PT ngày 20/3/1975 của Nha Văn khố Quốc gia gửi Tổng Tổng Thơ ký Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh niên về việc di chuyển toàn bộ

Châu bản triều Nguyễn từ Đà Lạt về Sài Gòn ghi rõ: “Thi hành chỉ thị của Thượng cấp, ông Chủ sự Phòng Hành chính và 2 nhân văn Văn khố Quốc gia sẽ đi công tác tại Đà Lạt bằng Hàng không Việt Nam sáng sớm ngày 21/3/1975 để di chuyển toàn bộ Châu bản triều Nguyễn từ Đà Lạt về Sài Gòn Công tác chuẩn bị sẽ hoàn tất trước 12 giờ trưa cùng

Trang 21

ngày…, và đề nghị cho trưng dụng một chuyến máy bay đặc biệt của Hàng không Việt Nam để di chuyển toàn bộ Châu bản nêu trên, nội trong ngày 21/3/1975”15

Tại Công văn Hỏa tốc số 213/VKQG/KT ngày 21/03/1975 của Nha Văn khố Quốc gia gửi Giám đốc Nha Tao tác và Tiếp vận, Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh niên về việc xin cung cấp phương tiện vận chuyển Châu bản và tài liệu văn khố từ phi trường về Nha,

trong đó có đề nghị: cho phương tiện vận chuyển và lao công để vận chuyển số lượng Châu bản và tài liệu văn khố từ phi trường Tân Sơn Nhất về Sở Lưu trữ công văn… xe và lao công có mặt tại phi trường ngay khi máy bay hạ cánh Ngày và giờ máy bay hạ cánh

sẽ cho biết sau 16

Việc chuyển tài liệu Châu bản về Sài Gòn được chuẩn bị rất chu đáo và cẩn trọng Ngày 22/03/1975, Giám đốc Nha Văn khố Quốc gia có Tiêu lệnh cho nhân viên trực đặc biệt tại Nha Trang về công tác chuẩn bị đón nhận tài liệu văn khố di chuyển từ Đà Lạt về

Sài gòn Tại Tiêu lệnh này ghi rõ: Khi nhận được tin có máy bay đặc biệt, phải yêu cầu giới chức thông tin chi tiết về loại máy bay; trọng tải bao nhiêu tấn, ngày giờ khởi hành

từ Sài Gòn; địa điểm hạ cánh tại Đà Lạt (Liên Khương hay Cam Ly); yêu cầu giới chức liên lạc với Tòa Thị chính Đà Lạt để báo cho Chi nhánh Văn khố Đà Lạt cho xe chở tài liệu lên phi trường và yểm trợ về an ninh Khi nhận được tin về ngày giờ máy bay về tới Sài Gòn, thông báo ngay cho Giám đốc tại Nha hoặc tư gia; thông báo cho Nha Tạo tác

và Tiếp vận cho xe vận tải và lao công lên phi trường; yêu cầu xin phép đặc biệt để xe vào đậu sát máy bay; thông báo Sở Lưu trữ công văn chuẩn bị đón nhận tài liệu; thông báo cho Thư viện Quốc gia mở cửa cho xe vào tận sát Sở Lưu trữ công văn 17

Vào cuối tháng 3/1975, tại Công văn Thượng khẩn số 229-VKQG/KT ngày 26/03/1975 của Giám đốc Nha Văn khố Quốc gia gửi Linh mục Viện trưởng Viện Đại

Trang 22

học Đà Lạt co ghi: Thiếm Nha được chỉ thị của Thượng cấp di tản tài liệu văn khố hiện lưu trữ tại Chi nhánh Văn khố Đà Lạt về Sài Gòn Đây là bộ tài liệi cổ nhất và quý giá nhất hiện còn giữ được của Việt Nam, việc lưu giữ an toàn là nhu cầu tối thiểu cần thiết…, và đề nghị Viện trưởng vui lòng yểm trợ nhân lực và phương tiện để đóng thùng cái tài liệu nói trên 18

Việc di chuyển tài liệi Châu bản và một số tài liệu lưu trữ khác từ Đà Lạt về Sài Gòn đã được thực hiện vào ngày 27 và 28/03/1975 Tại Phiếu trình Hỏa tốc số 242-VKQG/HC ngày 29/03/1975 của Nha Văn khố Quốc gia gửi Tổng trưởng Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh niên về việc di chuyển tài liệu văn khố từ Đà Lạt về Sài Gòn có báo cáo sơ bộ kết quả di chuyển tài liệu lưu trữ từ Đà Lạt về Sài Gòn Ngày 27 và 28/03/1975, mỗi ngày có một chuyến bay thuê bao chở tài liệu văn khố, mỗi chuyến 72 bao, tổng cộng khoảng 5 tấn cho cả 2 chuyến… Số tài liệu chuyển về Sài Gòn có toàn bộ

số Châu bản triều Nguyễn và các tài liệu khác

Sau khi di chuyển toàn bộ tài liệu Châu bản về Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chuẩn bị xúc tiến việc chuyển tài liệu Mộc bản từ Đà Lạt về Sài Gòn cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975 Trong Phiếu trình Hỏa tốc số 011-VKQG/PT ngày 31/03/1975 của Nha Văn khố Quốc gia gửi Tổng trưởng Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh

niênn về việc di chuyển Mộc bản từ Đà Lạt về Sài Gòn có ghi rõ: Phần lớn các tài liệu này đều không được trọn bộ vì bị hư hại, tổn thất nhiều trong biến cố 1945 – 1946 tại Huế Ngoài giá trị về nội dung văn hóa, Mộc bản còn có giá trị chứng tích văn minh Việt Nam Việc bảo tồn những chứng tích đó rất hữu ích… Trọng lượng tổng cộng của khối Mộc bản khoảng 135 tấn…, để nghị cho quyết định di chuyển hay không di chuyển Mộc bản về Sài Gòn 19

Trang 23

Tuy nhiên, việc di chuyển tài liệu Mộc bản từ Đà Lạt về Sài Gòn đã không thực hiện được do tình hình chiến sự, đường hàng không, đường bộ đều bị tắc nghẽn Đà Lạt trong tình trạng hỗn loạn

Sau năm 1975, Mộc bản triều Nguyễn do Sở Lưu trữ Phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý Từ năm 1976, Mộc bản được giao cho Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước)

Đến năm 1988, toàn bộ số mộc bản còn lại (khoảng hơn 32.000 bản đã mất mát, và

bị đem làm củi khoảng trên 20.000 bản) được chuyển về Biệt điện Trần Lệ Xuân (nay là Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV) tại số 2 Yết Kiêu – Phường 5 – Thành phố Đà Lạt

Từ năm 1976 đến tháng 8 năm 2006, Mộc bản triều Nguyễn được Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước giao cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia II quản lý Từ trước đến nay, Mộc bản triều Nguyễn luôn luôn được bảo vệ và bảo quản rất cẩn mật Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn được Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước – Bộ Nội vụ và các ban ngành liên quan rất quan tâm chỉ đạo thực hiện các khâu nghiệp vụ nhằm phát huy có hiệu quả giá trị của khối tài liệu đặc biệt quý hiếm này

Trung tâm Lưu trữ quốc gia II đã xây dựng nhà kho chuyên dụng hiện đại để bảo quản Mộc bản Mộc bản đã được in dập ra giấy dó, phân loại, chỉnh lý khoa học bản dập Ngoài ra Mộc bản cũng đã số hóa, có phần mềm quản lý và phục vụ khai thác sử dụng bản dập

Để phát huy giá trị tài liệu, năm 2004, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước cho phép

Trung tâm Lưu trữ quốc gia II biên soạn và xuất bản sách Mộc bản triều Nguyễn – Đề mục tổng quan để giới thiệu tổng quan nội dung khối tài liệu quý hiếm này

Từ tháng 8 năm 2006 đến nay, Mộc bản triều Nguyễn được giao cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV quản lý và tổ chức sử dụng Năm 2007, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đã làm hồ sơ trình UNESCO và ngày 30-7-2009, mộc bản triều Nguyễn đã được

UNESCO chính thức đưa vào "Chương trình Ký ức thế giới" Ðây là di sản tư liệu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là "Di sản tư liệu thế giới" Ðầu năm 2007,

Bộ Nội vụ đã quyết định đầu tư hơn 50 tỷ đồng để nâng cấp khu biệt điện Trần Lệ Xuân

cũ (số 5 Yết Kiêu, phường 5, Ðà Lạt) và sau một năm thi công trùng tu, dịp cuối năm

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia IV (2007), Mộc bản triều Nguyễn, Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộc bản triều Nguyễn
Tác giả: Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước, Trung tâm lưu trữ quốc gia IV
Năm: 2007
10. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2009), Các triều đại Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2009
11. Lê Nguyễn, Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử (2010), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử
Tác giả: Lê Nguyễn, Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2010
12. Vương Đình Quyền (2001), Văn bản quản lý Nhà nước và công tác công văn, giấy tờ thời phong kiến Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quản lý Nhà nước và công tác công văn, giấy tờ thời phong kiến Việt Nam
Tác giả: Vương Đình Quyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Vương Đình Quyền (2011), Lý luận và phương pháp công tác văn thư, tái bản lần 2, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp công tác văn thư
Tác giả: Vương Đình Quyền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
14. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên) (2009), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Xnb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I
Tác giả: Trương Hữu Quýnh (Chủ biên)
Năm: 2009
15. Lê Minh Tâm, Vũ Thị Nga (Chủ biên) (2006), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Tâm, Vũ Thị Nga (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2006
16. Nguyễn Văn Thâm, Nghiêm Kỳ Hồng (2006), Lưu trữ Việt Nam - những chặng đường phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trữ Việt Nam - những chặng đường phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm, Nghiêm Kỳ Hồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Thâm, Vương Đình Quyền, Đào Thị Diến, Nghiêm Kỳ Hồng (2010), Lịch sử lưu trữ Việt Nam, Nxb ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lưu trữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm, Vương Đình Quyền, Đào Thị Diến, Nghiêm Kỳ Hồng
Nhà XB: Nxb ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
18. Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam (1997), Tủ sách Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Năm: 1997
19. Mathilde Tuyết Trần (2011), Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, NXb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn
Tác giả: Mathilde Tuyết Trần
Năm: 2011
20. Nguyễn Đắc Xuân (2004), Kiến thức về triều Nguyễn Huế xưa, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức về triều Nguyễn Huế xưa
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2004
21. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, 8 tập, Nxb Sử học và Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên
Nhà XB: Nxb Sử học và Khoa học xã hội
22. Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, số 3 – 2008, số 1 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam
23. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (2011), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, nơi bảo quản di sản tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam (2006 – 2011), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, nơi bảo quản di sản tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam (2006 – 2011)
Tác giả: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
24. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (2011), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II 35 năm trên đường phát triển (1976 – 2011), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II 35 năm trên đường phát triển (1976 – 2011)
Tác giả: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
25. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (2004), Mộc bản triều Nguyễn đề mục tổng quan, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộc bản triều Nguyễn đề mục tổng quan
Tác giả: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
26. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (2010), Mộc bản triều Nguyễn, Chiếu dời đô và một số kiệt tác, Nxb Chính trị Quốc gia.LUẬN ÁN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộc bản triều Nguyễn, Chiếu dời đô và một số kiệt tác
Tác giả: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. LUẬN ÁN
Năm: 2010
28. Vũ Thị Phụng (1999), Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (1802 - 1884), Luận án tiến sĩ Lịch sử Việt Nam, tư liệu Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.TRANG WEB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (1802 - 1884)
Tác giả: Vũ Thị Phụng
Năm: 1999
1. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w