1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển khoa học quân sự việt nam từ kháng chiến chống tống lần thứ nhất đến khởi nghĩa lam sơn (981 1428)

85 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 559,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau cách mạng tháng tám, giới sử học lần đầu tiên công bố một số công trình sử học về các cuộc khởi nghĩa, cuộc chiến tranh lớn trong lịch sử như : kháng chiến chống Tống; kháng chiến ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐÀO THU HÀ SV.ngành Lịch Sử Khóa 2006-2010 NGUYỄN KHÁNH HÒA

SV.ngành Lịch Sử Khóa 2006-2010 NGUYỄN THỊ NHUNG SV.ngành Lịch Sử

Khóa 2006-2010 PHẠM MINH HUYỀN SV.ngành Lịch Sử

Khóa 2006-2010

Người hướng dẫn khoa học:

Đại tá TS HỒ SƠN ĐÀI

TP.HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP TRƯỜNG – 2008

SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC QUÂN SỰ VIỆT NAM TỪ KHÁNG CHIẾN CHỐNG TỐNG LẦN THỨ NHẤT ĐẾN

KHỞI NGHĨA LAM SƠN (981 – 1428)

Người hướng dẫn khoa học:

Đ ạ i tá TS H Ồ SƠN ĐÀI

Chủ nhiệm đề tài:

VŨ THỊ TỈNH

SV ngành Lịch Sử Khóa 2006 – 2010 Các thành viên:

NGUYỄN KHÁNH HÒA

SV ngành Lịch Sử Khóa 2006 - 2010

ĐÀO THU HÀ

SV ngành Lịch Sử Khóa 2006-2010 NGUYỄN THỊ NHUNG

SV ngành Lịch Sử Khóa 2006 – 2010

PHẠM MINH HUYỀN

SV ngành Lịch Sử Khóa 2006 – 2010

TP.HỒ CHÍ MINH - 2008

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA HỌC QUÂN SỰ 6

1.1 Khái niệm về khoa học quân sự 6

1.2 : Vài nét về khoa học quân sự Đại Việt từ thế kỉ III TCN đến trước thế kỉ X 10

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠNTỪ 980 ĐẾN 1428 23

2.1 Từ Đại Cổ Việt nhà Đinh - Tiền Lê (thế kỷ X) đến nhà Lý (thế kỷ XIII) 23

2.2 : Nhà Trần (1226 – 1400) 42

2.3 Đại Việt thời Lê Sơ 60

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG 72

3.1 Những thành tựu và hạn chế 72

3.2 Vai trò và tác dụng của khoa học quân sự đối với công cuộc chống ngoại xâm của nhân dân ta trong những giai đoạn tiếp theo 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân tộc Việt Nam có truyền thống quân sự rất đáng tự hào, được hun đúc từ lâu đời và truyền lại qua bao thế hệ nối tiếp Đó là truyền thống lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, một truyền thống anh hùng bất khuất, thông minh sáng tạo, tài thao lược kiệt xuất, quyết chiến quyết thắng vì tự do độc lập Nhờ đó mà nhân dân ta giữ gìn được quê hương, đất nước, bảo vệ giống nòi và bản sắc của mình sau hàng nghìn năm với nhiều lần bị phong kiến phương Bắc và các đế quốc lớn đô hộ

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua những bước thăng trầm thịnh suy nhưng ở thế kỷ nào, triều đại nào cũng có chiến công, chưa bao giờ vắng người hào kiệt Trải qua nhiều biến cố với bao sự kiện lớn lao, lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam đã hun đúc lên những phẩm giá cao đẹp và vĩ đại, ý chí kiên cường và trí tuệ sáng tạo của một dân tộc anh hùng

Không chỉ riêng chúng ta tự hào mà cả anh em bạn bè đều khâm phục truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam Một đất nước có lịch sử lâu đời đã trải qua một chặng đường dài hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đầy chông gai nhưng rất vinh quang Một đất nước mà điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử đã đặt ra quá nhiều thử thách gian nguy phải thường xuyên đối phó với những thiên tai, địch hoạ mà nhất là chống lại những thế lực xâm lược lớn mạnh và hung bạo

để bảo vệ tự do độc lập Tuy nhiên, khi lãnh đạo dựng nước cũng như khi chiến đấu giữ nước, nhân dân ta luôn đoàn kết, hợp quần trong tình làng nghĩa xóm, trong khối cộng đồng quốc gia dân tộc Dân tộc Việt Nam chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm bằng cả tinh thần và ý chí của một dân tộc anh hùng

Việt Nam là một dân tộc có truyền thống và tư chất quân sự đặc biệt Có dân tộc nào yêu quý hoà bình và độc lập dân tộc như dân tộc Việt Nam? Chính nó đã thôi thúc nhân dân cả nước đứng lên chiến đấu giữ nước, không để cho kẻ thù

Trang 5

khuất phục Trước những kẻ thù to lớn, quân đông và thiện chiến, cuộc chiến đấu của dân tộc ta thường mang tính toàn dân, toàn diện, cả nước đánh giặc Những cuộc đọ sức ấy biểu hiện trên tất cả mọi mặt xã hội mà trong đó đấu tranh quân sự

là lĩnh vực chủ yếu tập trung nhiều tinh lực nhất và diễn ra quyết liệt nhất Thất bại chỉ là tạm thời và không bao giờ bị thất bại mà chùn chân, nản chí, dân tộc ta cuối cùng đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, kể cả những đế quốc hùng mạnh nhất thời đại Qua hàng chục thế kỷ thường xuyên phải sống trong sự tủi hờn nước mất nhà tan, trong bão lửa của cuộc chiến tranh chống xâm lược, nhân dân Việt Nam ngày càng hiểu rõ những giá trị truyền thống của mình Truyền thống quân sự với bao bài học quý giá ấy là báu vật của tổ tiên được xây đắp bằng mồ hôi, nưóc mắt, máu xương của bao thế hệ Lịch sử Việt Nam trải qua bao gian nan thử thách nhưng “lửa thử vàng gian nan thử sức” Thực tế lịch sử đã chứng minh rắng “dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” như Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng nói Nghiên cứu, tìm hiểu toàn diện các lĩnh vực khoa học quân sự vừa là một nhu cầu vừa là một nhiệm vụ sử học to lớn Nhất là khi đất nước đang trong thời kì đổi mới và nền sử học nói chung, sử học quân sự nói riêng đã có nhiều biến chuyển và đạt những thành tựu quan trọng

Mặc dù chỉ là một giai đoạn ngắn trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta (980 – 1428) nhưng chúng tôi muốn tìm hiểu một cách sâu sắc hơn nữa những thành tựu về khoa học quân sự trong giai đoạn này Từ đó giúp cho quân sự Việt Nam được xúc tiến mạnh mẽ, xứng đáng với tầm vóc lịch sử dân tộc và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới

Bên cạnh đó còn giúp cho chúng ta đánh giá và nhận xét về thành tựu, sự phát triển của khoa học quân sự đồng thời đánh giá vai trò, sự sáng tạo của ông cha ta đối với các thành tựu khoa học quân sự

Trang 6

2- Tình hình nghiên cứu đề tài

Lịch sử quân sự Việt Nam đã để lại nhiều kinh nghiệm quý giá Vì thế từ trước tới nay sử học trong nước cũng như ngoài nước rất quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình khoa học được công bố

Sau cách mạng tháng tám, giới sử học lần đầu tiên công bố một số công trình

sử học về các cuộc khởi nghĩa, cuộc chiến tranh lớn trong lịch sử như : kháng chiến chống Tống; kháng chiến chống Nguyên-Mông; khởi nghĩa Lam Sơn Nguyễn Trãi đánh giặc; cách mạng Tây Sơn; 80 năm chống Pháp; chống xâm lăng; lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp; lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước… Với việc nghiên cứu về các anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh

Giới sử học nước ngoài như Trung Quốc, Pháp, Nhật, Mỹ, Anh… cũng nghiên cứu và công bố một số công trình lịch sử Việt Nam, về các cuộc chiến tranh và một số nhân vật quân sự tiêu biểu nhằm trả lời cho câu hỏi lớn tại sao dân tộc Việt Nam có sức sống mãnh liệt và có truyền thống quân sự đặc biệt như vậy? Tại sao một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam lại có thể chiến thắng những kẻ thù to lớn

và hùng mạnh?

Sau khi viện lịch sử quân sự Việt Nam ra đời (1981) đã xuất bản hàng trăm công trình nghiên cứu lịch sử và tổng kết về quân sự như : lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam (2 tập); lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam (2 tập); giáo trình lịch sử quân sự (5 tập); nghệ thuật quân sự Việt Nam cổ trung đại (2 tập); lịch sử quân sự Việt Nam (14 tập); bên cạnh đó còn có tạp chí lịch sử quân sự được xuất bản từ 1982 đến nay đã công bố nhiều chuyên luận khoa học về truyền thống quân

sự

Tuy nhiên các tác phẩm này phần lớn chỉ nói một cách khái quát chung nhất về lịch sử quân sự Việt Nam chứ chưa có đề tài nào về khoa học quân sự và tác dụng của nó trong một giai đoạn cụ thể Vì vậy nhằm bổ sung tư liệu về khoa học quân

Trang 7

sự và tác dụng của nó trong giai đoạn (980-1428) nhóm thực hiện chúng tôi đã quyết định làm đề tài này

3- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ cho công tác nghiên cứu khác như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin…

4- Giới hạn của đề tài

Không gian nghiên cứu đề tài : Đại Việt từ thế kỉ X đến thế kỉ XV

Thời gian thực hiện : từ năm 980 đến 1428

Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Trước hết với việc nghiên cứu đề tài này giúp nhóm thực hiện chúng tôi có điều kiện học tập và nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao trình độ của bản thân, làm tiền đề cho các đề tài nghiên cứu sau này Đồng thời cũng bổ sung tư liệu về lịch sử nghiên cứu nước ta, bổ sung nguồn tài liệu cho khoa học lịch sử nói chung

và khoa học quân sự nói riêng

Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm sẽ cố gắng tìm hiểu nghiên cứu ở nhiều khía cạnh để đưa ra những luận cứ, luận chứng lịch sử mới làm phong phú cho nguồn

tư liệu

5- Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA HỌC QUÂN SỰ

1.1 : Khái niệm về khoa học quân sự

1.2 : Vài nét về khoa học quân sự Đại Việt từ thế kỷ III TCN đến trước thế kỉ

X

Trang 8

CHƯƠNG 2 : SỰ PHÁT TRIểN CỦA KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐẠI VIệT

Trang 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA HỌC QUÂN SỰ

1.1 Khái niệm về khoa học quân sự

Khoa học quân sự là hệ thống tri thức về các quy luật đấu tranh vũ trang, về các phương pháp chuẩn bị và tiến hành các cuộc đấu tranh vũ trang đó Nó nghiên cứu các quá trình phát triển khách quan của các trang bị và nghệ thuật quân sự, các nguyên lý xây dựng, huấn luyện và giáo dục các lực lượng vũ trang, trang bị kĩ thuật quân sự và đảm bảo toàn diện cho các lực lượng vũ trang tổng kết kinh nghiệm lịch sử quân sự, đồng thời sử dụng những thành quả và những kết luận của các môn khoa học khác, có tác dụng quan trọng trong việc đối với sự củng cố khả năng quốc phòng của đất nước Những quan điểm lí luận quân sự đầu tiên được hình thành cùng với sự ra đời của chiến tranh Những công trình lí luận quân sự đầu tiên xuất hiện vào cuối thời chiếm hữu nô lệ “Binh pháp Tôn Tử” (thế kỉ V TCN) là binh pháp cổ nhất thế giới Ở thời cổ Hy Lạp, những vấn đề cơ bản về lí luận quân sự được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng lịch sử quân sự của Hêrôđôtos và Xênôphôn (khoảng 425 và 354 TCN)… Đi đầu trong việc hình thành và phát triển nền khoa học quân sự xã hội chủ nghĩa là khoa học quân sự Xô Viết mà người đặt nền móng cho nó là V.I Lênin

Khoa hoc quân sự Việt Nam nghiên cứu quy luật của chiến tranh và khởi nghĩa

vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân chuẩn bị lực lượng vũ trang và đất nước cho chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh, khởi nghĩa vũ trang, chủ yếu là đấu tranh vũ trang trong chiến tranh Khoa học quân sự Việt Nam trải qua quá trình hình thành của các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước của dân tộc ta trong mấy ngàn năm lịch sử, từ tổng kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa quân sự của nhân loại

Những tri thức về chiến tranh và khởi nghĩa ở nước ta được đúc kết trong các binh thư cổ, tiêu biểu là: “Binh thư yếu lược” (thế kỉ XIII) Ngoài ra còn được

Trang 10

phản ánh trong một số tác phẩm khác như “Bình Ngô đại cáo”, “Quân trung từ mệnh tập” (thế kỉ XV)

Đặc điểm của khoa học quân sự Việt Nam là nền khoa học quân sự phục vụ cho mục đích giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, nền khoa học quân sự của một nước tương đối nhỏ đã liên tiếp đánh thắng những nước lớn mạnh xâm lược, khoa học quân sự toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh, vận dụng sáng tạo linh hoạt các hình thức và phương thức tiến hành chiến tranh và đấu tranh Khoa học quân sự là

hệ thống tri thức về các quy luật đấu tranh vũ trang, về các phương pháp chuẩn bị

và tiến hành các cuộc đấu tranh vũ trang đó Nó nghiên cứu các quá trình phát triển khách quan của các trang bị và nghệ thuật quân sự, các nguyên lý xây dựng, huấn luyện và giáo dục các lực lượng vũ trang, trang bị kĩ thuật quân sự và đảm bảo toàn diện cho các lực lượng vũ trang tổng kết kinh nghiệm lịch sử quân sự, đồng thời sử dụng những thành quả và những kết luận của các môn khoa học khác,

có tác dụng quan trọng trong việc đối với sự củng cố khả năng quốc phòng của đất nước Những quan điểm lí luận quân sự đầu tiên được hình thành cùng với sự ra đời của chiến tranh Những công trình lí luận quân sự đầu tiên xuất hiện vào cuối thời chiếm hữu nô lệ “Binh pháp Tôn Tử” (thế kỉ V TCN) – là binh thư cổ nhất thế giới Ở thời cổ Hi Lạp, những vấn đề cơ bản về lí luận quân sự được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng lịch sử quân sự của Hêrôđôtos và Xênôphôn (khoảng 425 và 354 TCN)… Đi đầu trong việc hình thành và phát triển nền khoa học quân sự xã hội chủ nghĩa là khoa học quân sự Xô Viết mà người đặt nền móng cho nó là V.I.Lênin

Khoa học quân sự Việt Nam nghiên cứu quy luật của chiến tranh và khởi nghĩa

vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị lực lượng vũ trang và đất nước cho chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh, khởi nghĩa vũ trang, chủ yếu là đấu tranh vũ trang trong chiến tranh Khoa học quân sự Việt Nam trải qua quá trình hình thành của các cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước của dân tộc ta

Trang 11

trong mấy ngàn năm lịch sử, từ tổng kết kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa quân sự của nhân loại

Những tri thức về chiến tranh và khởi nghĩa ở Việt Nam được đúc kết trong các binh thư cổ, tiêu biểu là vũ trang phù hợp với đặc điểm nước ta

Những biện pháp quan trọng của khoa học quân sự Việt Nam là : lí luận chung khoa học quân sự, lí luận nghệ thuật quân sự, lí luận tổ chức, xây dựng lực lượng

vũ trang, lực lượng giáo dục và huấn luyện quân sự… Ngoài ra còn có các chuyên ngành trong các khoa học có liên quan và phục vụ cho quân sự như lực lượng trang bị, địa lý quân sư…

Khoa học quân sự bao gồm tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự và kĩ thuật quân sự Nghệ thuật quân sự, lịch sử quân sự, những nguyên lý xây dựng các lưc lượng vũ trang, những lý luận của việc huấn luyện và giáo dục bộ đội là những bộ phận hợp thành của khoa học quân sự

Tư tưởng quân sự là lịch sử hình thành và phát triển hệ thống quan điểm về quân sự và các vân đề liên quan đến quân sự của các nhà quân sự, các giai cấp, chính đảng trong lịch sử Tư tưởng quân sự Việt Nam hình thành trong quá trình đấu tranh chống xâm lược của phong kiến phương Bắc, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, đặc biệt được phát triển phong phú từ khi Đảng Cộng sản ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam Thời trung đại nước ta xuất hiện những tư tưởng quân sự nổi tiếng như tư tưởng quân sự Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông… Trong thời hiện đại, tư tưởng Hồ Chí Minh là hạt nhân của

tư tưởng và đường lối quân sự của Đảng ta

Tư tưởng quân sự có nội dung rộng lớn, mang tính toàn diện và tổng hợp cao

Nó không chỉ đề cập đến lĩnh vực quân sự mà gồm cả mọi hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại có liên quan đến quân sự Do đó, nghiên cứu

tư tưởng quân sự không chỉ giới hạn trong việc xem xét quá trình tổ chức, chuẩn bị

và tiến hành chiến tranh àm còn phải có cái nhìn bao quát từ mục đích chính trị, an

Trang 12

ninh – quốc phong Nghiên cứu lịch sử tư tưởng quân sự phải làm rõ nội dung, bản chất, đặc trưng của các quan điểm, học thuyết quân sự

Nghệ thuật quân sự là lĩnh vực bậc nhất của khoa học quân sự Nó được ra đời cùng với sự nảy sinh các cuộc chiến tranh và phát triển tuỳ thuộc vào phương thức sản xuất, các hình thức tiến hành chiến tranh (chiến lược) và các hoạt động quân

sự (nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật) Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nói chung, tiến hành các chiến dịch và trận đánh đó là nghệ thuật sử dụng các lực lượng và các phương tiện để đạt được thắng lợi, là tài thao lược của các cán bộ chỉ huy và của tất cả binh sĩ nhằm đánh bại kẻ thù

Kĩ thuật quân sự bao gồm vũ khí, các phương tiện trang bị kĩ thuật của lực lượng vũ trang Vũ khí, kĩ thuật quân sự Việt Nam ra đời sớm chủ yếu do nhu cầu đánh giặc giữ nước Nó trải qua một quá trình phát triển từ thô sơ đến hiện đại, từ bạch khí đến hoả khí Vũ khí trong các cuộc chiến tranh nhân dân chủ yếu do nhân dân tự chế tạo, tự trang bị Đối với vũ khí kĩ thuật quân sự thời hiện đại, trong ba mươi năm chống Pháp một phần lấy được của địch phần quan trọng được các nước xã hội chủ nghĩa anh em chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc viện trợ những loại tương đối hiện đại và hiện đại

Sự phát triển của kĩ thuật quân sự gắn liền với sự phát triển của trình độ sản xuất và trí tuệ con người Nghiên cứu lịch sử kĩ thuật quân sự luôn luôn đặt trong mối quan hệ của nó với trình độ sản xuất xã hội, giữa con người và vũ khí, giữa kĩ thuật và chiến thuật, giữa cơ sở vật chất kĩ thuật với sự phát triển của nghệ thuật quân sự

Trang 13

1.2 : Vài nét về khoa học quân sự Đại Việt từ thế kỉ III TCN đến trước thế

Cũng có thể nói đây là giai đoạn hình thành và bắt đầu phát triển của khoa học quân sự Việt Nam trong đó chủ yếu là nghệ thuật quân sự của khởi nghĩa, chiến tranh giữ nước và được thể hiện một cách khá rõ qua nghệ thuật tổ chức chiến tranh du kích và chiến tranh toàn dân

1.2.1 Tư tưởng và nghệ thuật quân sự

1.2.1.1 Chiến lược

Đối tượng tác chiến của dân tộc ta lúc này là chủ nghĩa phong kiến phương Bắc, thế lực lớn mạnh nhất của phương Đông có trình độ văn minh cao, quân đội hùng mạnh và dạn dày kinh nghiệm chiến thuật trong đấu tranh giành quyền lực nội bộ và chinh phục bên ngoài Trong điều kiện lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều, không còn cách nào khác ông cha ta phải dùng kế đánh địch lâu dài, lấy đánh du kích làm phương thức tác chiến chủ yếu, bước đầu hình thành nghệ thuật

tổ chức và thực hành khởi nghĩa toàn dân, chú trọng tổ chức lực lượng và địa bàn khỏi nghĩa, lợi dụng địa bàn hiểm yếu để đánh trận quyết chiến chiến lược Và các cuộc chiến tranh du kích lâu dài chống lại kẻ thù xâm lược mạnh dù là chủ động

Trang 14

tiến hành ngay từ khi bắt đầu kháng chiến hay chuyến sang tiến hành sau một thời gian áp dụng đánh lớn, đánh chính quy bị thất bại, dù tình huống nào thì nó chỉ đi đến thắng lợi khi quần chúng nhân dân tham gia chiến tranh có được ý chí quyết chiến quyết thắng giặc thù mãnh liệt Và dân tộc ta là một dân tộc như vậy

Lạc Việt và Âu Việt là cộng đồng dân cư có nguồn gốc bản địa lâu đời trên lưu vực sông Hồng với chiều dài hơn 1000 năm Trên địa vực cư trú của hai bộ tộc trên vào thời Hùng Vương – An Dương Vương đã hình thành một nền văn minh

cổ đại-văn minh sông Hồng với đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn rực rỡ mà nền tảng kinh tế của nó là sự kết hợp giữa nông nghiệp trồng lúa nước khá phát triển và thủ công nghiệp chế tạo công cụ vũ khí đồng thau khá tinh xảo, phong phú, đa dạng với hơn vạn mũi tên ở chân thành Cổ Loa Và trên nền tảng kinh tế ấy đã hình thành nên một cuộc sống văn hóa tinh thần phong phú mang bản sắc riêng

Do là cộng đồng dân cư có nguồn gốc bản địa lâu đời với một nền văn minh

cổ đại nên nhân dân Lạc Việt ngay từ thời kì đầu đã cố kết lại với nhau trong quốc gia Văn Lang và có ý thức tự chủ tự cường mạnh mẽ Đó chính là nguyên nhân chủ quan khiến tổ tiên ta cầm vũ khí đánh giặc và dần chuyển sang đánh du kích lâu dài trong cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược trở lại ngay sau khi khởi nghĩa thắng lợi được vài năm Để duy trì cuộc chiến tranh du kích lâu dài trong điều kiện tương quan lực lượng quân sự ban đầu rất bất lợi cho nhân dân ta

và để đưa cuộc chiến tranh đó đi tới thắng lợi cuối cùng, thực tiễn lịch sử chống ngoại xâm cuối thế kỉ III TCN và giữa thế kỉ VI cho thấy tổ thiên ta thời An Dương Vương và thời Triệu Quang Phục không chỉ có quyết tâm chiến đấu cao

mà còn có nghệ thuật đánh giặc tài giỏi

Về cuộc đấu tranh du kích chống Tần, sử sách cũ có ghi:

Sách Hoài Nam Tử của Lưu An viết:

“Trong ba năm quân Tần không cởi giáp, giãn nỏ… nhưng người Việt đều vào trong rừng ở với cầm thú, không ai chịu để quân Tần bắt Họ cùng nhau đặt người

Trang 15

tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đánh phá quân Tần và giết được Đồ Thư (quân Tần) thây phơi máu chảy hàng chục vạn người”

Về cuộc chiến tranh du kích chống quân Lương, các sách cũ còn lại cũng cho biết đại lược như sau:

Sách Đại Việt Sử kí toàn thư viết:

“Đinh Mão (Thiên Đức), năm thứ 4 (547), xuân, tháng giêng…Triệu Quang Phục cầm cự với Trần Bá Tiên, chưa phân thắng bại nhưng quân của Bá Tiên rất đông, Quang Phục liệu thế không chống nổi, bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch Đầm này không biết chu vi bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bồn lầy, người ngựa khó đi chỉ có thể dùng thuyền độc mộc đi lướt trên cỏ nước mới có thể đến được Nhưng nếu không quen biết đường lối thì lạc, không biết là đâu lỡ rơi xuống nước sẽ bị rắn độc cắn chết Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đêm hơn 2 vạn người đóng vào đóng ở nền đất trong đầm, ban ngày tuyệt không để lộ khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại quân Bá Tiên giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không đánh được…”

 Về lực lượng và địa bàn tác chiến

Năm 218 TCN, 50 vạn quân Tần, do uý Đồ Thư cầm đầu, chia làm năm đạo từ Trung Nguyên đánh xuống miền châu Giang của các tộc Việt Từ năm 214 TCN quân Tần tiếp tục mở rộng xâm lược xuống phương Nam, tràn sâu vào đất Tây Âu của người Âu Việt, rồi cắt đất vào Văn Lang của người Lạc Việt Lực lượng quân Tần đánh vào Âu Lạc, do Đồ Thư trực tiếp chỉ huy, hẳn phải đông tới vài chục vạn tên Để đương đầu với thế lực xâm lược to lớn mà số quân của chúng của chúng bằng một phần mấy tổng số dân nước mình, các thủ lĩnh Âu Việt, Lạc Việt đứng đầu là người anh hùng Thục Phán đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích rộng lớn Toàn thể dân chúng đều tham gia chống giặc hoặc trực tiếp cầm vũ khí chiến

Trang 16

đấu hoặc rút bỏ vào rừng khiến quân giặc không thể cướp được sức người, sức của cung phụng cho cuộc chiến tranh của chúng Để tiến hành một cuộc chiến tranh du kích rộng lớn chống lại cuộc xâm lược ồ ạt của giặc, người Việt đã biết lợi dụng nơi có đại hình, địa thế thuận lợi là các núi rừng trên các ngả đường hoặc tràn qua Núi rừng nước Việt đã thành nơi che dấu, bảo vệ lực lượng kháng chiến của người Việt và thành trận địa bao vây, trận địa xuất phát tiến công quân xâm lược

So với lực lượng và địa bàn tác chiến thời chiến tranh du kích chống Tần trên đây, lực lượng và địa bàn tác chiến thời chiến tranh du kích chống Lương hồi giữa thế kỉ VI có những điểm phát triển:

Đạo quân Lương xâm lược tuy không đông tới vài chục vạn tên nhưng được tổ chức chính quy, được trang bị và huấn luyện hơn hẳn quân Tần xâm lược trước kia Còn lực lượng đánh du kích thời chống Lương tuy không bao gồm các trai tráng trên mọi miền của đất nước có giặc tràn tới mà chỉ chủ yếu gồm một đạo quân hai vạn người nhưng lại là một đạo quân tập trung mạnh Đạo quân này vốn

là một bộ phận trong quân đội của nhà nước Vạn Xuân một quân đội thường trực bước đầu được xây dựng theo thể chế chính quy trước chiến tranh và đã được mở rộng nhanh chóng bằng việc tuyển sung các trai tráng khi bước vào cuộc kháng chiến chống Lương Cuộc chiến tranh du kích chống Lương không được chủ động tiến hành trước hết ngay tại các vùng rừng núi, trung du phía Bắc và Đông Bắc đất nước khi quân giặc mới tràn sang mà nó diễn ra trên một khu vực nhất định thuộc miền đồng bằng nằm sâu giữa nội địa khi quân giặc đã đánh chiếm được hầu khắp đất nước Khu vực tác chiến đó là một vùng đầm lầy rất rộng lớn nằm ở tả ngạn hạ lưu sông Hồng

 Về xây dựng căn cứ :

Cũng như các giai cấp bị áp bức khác nổi dậy đánh du kích chống lại kẻ thù

áp bức mình, hoặc các tộc người, các dân tộc bị xâm lược khác đứng lên đánh du kích chống lại kẻ thù xâm lược đất nước mình, Tổ tiên ta những năm tiến hành chiến tranh du kích chống Tần và chống Lương tất yếu đều đã phải xây dựng đất

Trang 17

đứng chân cho lực lượng vũ trang của mình hoặc nói cách khác đều đã phải xây dựng căn cứ du kích của mình Nội dung việc xây dựng căn cứ du kích có nhiều điểm trong đó thông thường có hai điểm phải được đặt ra và giải quyết là : xây dựng căn cứ ở đâu và xây dựng căn cứ như thế nào?

Qua một số sử liệu về cuộc kháng chiến chống Tần, chúng ta chỉ có thể đoán định một cách chung nhất về việc xây dựng căn cứ du kích thời đó như sau:

tổ tiên ta hẳn đã xây dựng nhiều khu căn cứ lớn, nhỏ ở những nơi rừng núi hiểm trở làm đất đứng chân cho các đội thân binh của các thủ lĩnh quân sự Âu Việt hoặc của các lạc tướng mà lớn nhất phải là khu căn cứ lực lượng thân binh do người thủ lĩnh cao nhất là Thục Phán chỉ huy Tại các khu căn cứ, để có thể duy trì và không ngừng phát triển lực lượng của mình, các đội thân binh kia hẳn đã có được sự ủng

hộ, đóng góp sức người sức của thường xuyên của đông đảo dân chúng trong vùng

và đã phải thực hiện kết hợp vừa chiến đấu vừa trồng trọt hoặc chăn nuôi, săn bắn

tự cấp tự túc một phần lương ăn

Trong giai đoạn chống quân Lương, đạo quân của Lý Nam Đế chia làm hai, một bộ phận khoảng 3 vạn quân do Lý Thiên Bảo chỉ huy tiến vào Cửu Chân Tại đây quân đội sau trận thắng ban đầu ở Đức Châu (Nghệ An) thì bị quân của Trần

Bá Tiên đánh bại ở Ái Châu và phải rút lên náu mình ở động Dã Năng Trong khi đội quân của Triệu Quang Phục lại tiến xuống đồng bằng Giao Chỉ và xây dựng căn cứ ở đầm Dạ Trạch Đó là một nơi có địa hình hiểm trở nhưng lại nằm sâu trong nội địa, ngay tại miền đồng bằng đông dân, giàu lúa gạo, thuận lợi cho tác chiến du kích và nhanh chóng nhận được sự chi viện sức người sức của Hơn thế nữa, việc xây dựng căn cứ ở vùng đầm Dạ Trạch đã phát huy được sở trường quân

ta, hạn chế sở trường quân giặc

 Về phương thức tác chiến

Với những lực lượng, địa bàn tác chiến và căn cứ đại như trên, tổ tiên ta trong các cuộc chiến tranh du kích chống Tần, chống Lương đã đánh địch như thế nào?

Trang 18

Trước thế tiến công ồ ạt ban đầu của hàng vạn, hàng chục vạn quân Tần, để tránh bị tổn thất trong điều kiện đối sánh lực lượng hai bên chưa cho phép có thể chặn đứng bước tiến của giặc bằng những trận tập trung đánh lớn, lực lượng kháng chiến Âu Lạc ở các địa phương quân giặc tràn tới đã chủ động rút vào rừng sâu nhưng không phải là bỏ đất chạy dài mặc cho quân giặc hoành hành Họ đã tổ chức những trận tiến công địch ở những nơi chúng vừa tới, có thể là những trận phục kích địch hành quân qua, có thể là những trận tập kích trại quân địch Họ thường tấn công địch vào ban đêm tức là vào lúc chúng bị bất ngờ, sơ hở, khó phòng giữ nhất Những trận tiến công liên tục của người Việt ở những nơi địch chiếm đóng làm cho chúng không thể chỉ có “đánh” (tiến công) mà buộc phải co vào “giữ” (phòng ngự) làm cho chúng không những bị tiêu hao sinh lực, bị triệt hạ lương thực mà còn bị mệt mỏi tinh thần Phải đối phó với những cuộc chiến tranh

du kích rộng lớn, lâu dài của người Việt, giặc Tần ngày càng lâm vào thế phòng ngự bị động Bằng cuộc chiến tranh du kích đó ông cha ta đã đẩy quân thù vào tính thế khốn quẫn và cuối cùng đã chuyển lên phản công lớn Đánh bại hoàn toàn thế lực xâm lược to lớn kia

1.2.1.2 Chiến thuật

Mỗi cuộc khởi nghĩa dân tộc thực chất đều là sự đối trả bằng bạo lực một cách có hệ thống của dân tộc bị áp bức đối với thế lực xâm lược ngoại bang nhằm đánh đổ chính quyền đô hộ của chúng, giành lại quyền tự chủ của mình Sự đối trả bằng bạo lực của một dân tộc bị áp bức được biểu hiện như thế nào nó có phải là một cuộc nổi dậy của toàn dân không? Nó có đi tới kết cục lật đổ cơ đồ thống trị của thế lực xâm lược ngoại bang không? Điều đó tùy thuộc ở những điều kiện lịch

sử, những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định Những điều kiện khách quan đó là sự đối sánh lực lượng giữa dân tộc bị áp bức với thế lực xâm lược thống trị và sự cố kết chống ngoại xâm của dân tộc ấy, điều kiện chủ quan đó là tài thao lược của bộ chỉ huy, nghĩa quân trong việc phát động khởi nghĩa và đưa cuộc khởi nghĩa tới thắng lợi

Trang 19

Sau khi bị nhà Triệu thôn tính, sát nhập vào Nam Việt (năm 180TCN), rồi đến đế chế Hán thôn tính (năm 111TCN) và tiếp đến những thế kỉ sau là chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc, đối với các nước bị chúng xâm lược tuy có những biểu hiện cụ thể khác nhau, nhưng xu thế chung của lịch

sử là thế lực bành trướng Trung Quốc ngày càng tăng cường bóc lột nhân dân ta, đồng thời cũng ngày càng tăng cường bộ máy áp bức, lực lượng quân sự trấn giữ trên đất nước ta Trải qua các thời Đông Hán, thuộc Ngô, thuộc Tấn, thuộc Tề, thuộc Lương… tình hình chung đều chứng tỏ cho chúng ta thấy rõ như vậy Bị thống trị bởi một thế lực xâm lược của một nước lớn nằm ngay sát liền biên giới phía Bắc tổ quốc và có cả một bộ máy đô hộ bằng bạo lực như trên, người nước ta một khi nổi dậy đấu tranh giành quyền tự chủ tất yếu sẽ gặp phải sự trấn áp bằng bạo lực hết sức rộng lớn, mạnh mẽ của chúng Do vậy, để có thể đánh đuổi được

kẻ thù xâm lược to lớn đang thống trị trên đất nước ta, lực lượng khởi nghĩa phải

là lực lượng của toàn dân được liên kết dưới một sự lãnh đạo thống nhất của bộ chỉ huy nghĩa quân

Một trong những đặc điểm của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là việc nảy sinh từ rất sớm và phát triển rất mạnh mẽ sự cố kết dân tộc

Có thể nói quá trình hình thành của dân tộc ta bắt đầu diễn ra ngay từ những thiên niên kỉ II – I TCN, khi các bộ lạc Lạc Việt liên kết lại trong nhà nước Văn Lang và tiếp đó là hai tộc người Lạc Việt và Âu Lạc liên kết lại trong nhà nước Âu Lac Nguồn gốc, bản địa lâu đời và việc quần cư tập trung, việc từ rất sớm đã lấy nghề trồng lúa nước làm phương thức sinh hoạt chủ yếu và định cư thành các làng, bản, đó là tiền đề vật chất đầu tiên, xét về mặt địa vực cư trú và phương thức sinh hoạt cho sự cố kết của cộng đồng dân cư người Việt ở trên lưu vực hệ thống sông Hồng này Việc thành lập quốc gia Văn Lang và tiếp đó là quốc gia Âu Lạc vừa là kết quả của sự phát triển khuynh hướng thống nhất, tập trung của cộng đồng dân cư người Việt, lại vừa trở thành tiền đề vật chất mới, xét về mặt tổ chức xã hội, tăng cường hơn nữa khuynh hướng thống nhất, tập trung ấy

Trang 20

Cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta càng phát triển mạnh thì càng củng cố, tăng cường sự cố kết dân tộc Ngược lại, sự cố kết dân tộc càng bền chặt thì càng tạo thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta: nó là cơ sở chính trị - tinh thần cho sự đoàn kết chiến đấu của đông đảo các tầng lớp nhân dân vì mục đích cứu nước chung

Tính chất toàn dân của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa

Lý Bí đã được sản sinh ra như một tính tất yếu của lịch sử từ trong điều kiện khách quan đó về sự cố kết chống ngoại xâm của dân tộc ta

Qua một số sử liệu ít ỏi, chúng ta có thể thấy được một số điểm về nghệ thuật quân sự trong chiến tranh toàn dân của tổ tiên ta những thế kỉ ấy như sau:

 Về lực lượng và địa bàn khởi nghĩa

Từ cuối thế kỉ II TCN cho tới nửa đầu thế đầu thế kỉ I, chính quyền đô hộ của nhà Hán ở nước ta vẫn chưa trực tiếp cai trị được xuống tận các làng xã mà chỉ

có thể cai trị ở bên trên, ở cấp quận và cấp huyện rồi thông qua các lạc tướng, các thủ lĩnh địa phương mà kiểm soát, áp bức bóc lột dân chúng Thế nhưng tất cả các tầng lớp kể cả lạc tướng, thủ lĩnh địa phương đến những người nhân dân lao động làm nghề nông, làm các nghề thủ công, từ Giao Chỉ tới Cửu Chân đều bị trói buộc bởi bộ máy đô hộ Hán với những thể chế khắc nghiệt do chúng áp đặt Mâu thuẫn dân tộc càng trở nên gay gắt thì tinh thần quật khởi của nhân dân ta càng được khơi dậy

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 đã trở thành cuộc khởi nghĩa của toàn dân chính là trong bối cảnh đó của sự phát triển mâu thuẫn dân tộc

Tham gia vào cuộc khởi nghĩa này gồm đông đảo các thành viên thuộc tầng lớp trên người Việt là các lạc tướng, các thủ lĩnh địa phương và dân chúng các vùng, các địa phương dưới sự quản lý của các lạc tướng thủ lĩnh ấy Cuộc khởi nghĩa bùng nổ từ đất Mê Linh nhưng chẳng bao lâu đã trở thành phong trào nổi dậy rộng trên khắp các huyện thuộc Giao Chỉ rồi khắp các huyện thuộc Cửu Chân

Trang 21

Phong trào tỏa rộng xuống cả phía Nam và lên cả phía Bắc, lôi cuốn nhân dân các quận Nhật Nam, Hợp Phố cùng nhất tề vùng lên quật đổ ách đô hộ của thế lực phong kiến Hán tộc Trên khắp các miền đô hộ của đế chế Hán suốt bốn thế kỉ, có thể nói cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên đất Âu Lạc là một sự kiện lịch sử tiêu biêu nhất về sức mạnh quật khởi của toàn dân trong cuộc chống ngoại xâm giải phóng đất nước

Đúng năm thế kỉ sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên đất Âu Lạc lại một lần nữa diễn ra sự kiện diễn hình về sức mạnh chống ngoại xâm ấy của toàn dân

ta, đó là cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542 – 543)

Từ nửa cuối thế kỉ I, sau khi nhà Đông Hán đem quân xâm lược trở lại và một lần nữa áp đặt ách đô hộ của chúng, cho đến nửa đầu thế kỉ VI, khi đất nước

ta bị đè nặng dưới ách đô hộ của giặc Lương, do mâu thuẫn dân tộc ngày càng mở rộng và trở nên gay gắt hơn bởi chính sách nô dịch tàn bạo và chính sách đồng hóa thâm độc của thế lực phong kiến xâm lược, nhân dân ta không ngừng nổi dậy đấu tranh giải phóng để rồi đi tới cuộc khởi nghĩa to lớn vào đầu thập kỉ thứ 4 của thế

kỉ VI này Lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa này Lý Bí, vốn xuất thân từ một hào trưởng địa phương quê ở Thái Bình đã từng một thời gian giữ chức giám quân tại Đức Châu (Nam Nghệ Tĩnh) Song vì căm ghét chính quyền đô hộ nên bỏ về quê tập hợp lực lượng mưu việc cứu nước

Tham gia vào việc tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa còn có nhiều đồng bào yêu nước thuộc các tầng lớp khác nhau như : Triệu Túc, Triệu Quang Phục…

Từ đất Thái Bình, Lý Bôn đã mở rộng liên kết với các hào kiệt tại các châu, huyện trên hầu khắp đất nước, được sự hưởng ứng của các đại phương Triệu Túc khi về với Lý Bôn ở Thái Bình để chuẩn bị khởi nghĩa đã đem theo cả đội quân bản bộ dưới quyền mình Các thủ lĩnh, các địa phương khác nhau khác nhau khi hưởng ứng cuộc dấy binh của Lý Bôn chắc hẳn cũng đem quân bản bộ và lôi kéo dân chúng thuộc vùng mình cai quản nổi dậy đánh địch

Trang 22

Chính bằng sức mạnh nổi dậy của đông đảo các tầng lớp nhân dân ta trên hầu khắp đất nước như vậy, Lý Bí và bộ chỉ huy nghĩa quân không những nhanh chóng đánh bại được các cuộc phản công ngay sau đấy của quân Lương từ Trung Quốc sang

 Về phương thức khởi nghĩa

- Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã cho ta thấy một mặt nữa của nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta, đó là phương thức thực hành tiến công của một cuộc khởi nghĩa toàn dân

Dựa vào các sử liệu kết hợp với việc tham khảo các truyền thuyết dân gian nói về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tại các địa phương thuộc địa bàn trung tâm của cuộc khởi nghĩa (như Hà Nội, Hà Bắc, Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú…) chúng ta có thể chia quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa thành hai giai đoạn

Sử sách cũ không cho biết cụ thể rằng trước khi phát động khởi nghĩa và tiếp đó sau khi phất cờ nổi dậy ở đất Mê Linh, Hai Bà Trưng đã tiến hành liên kết với thủ lĩnh các địa phương khác để cùng nổi dậy phối hợp ra sao Nhưng qua sự kiện các lạc tướng các nơi đều theo nghĩa quân, dân chúng các quận, huyện đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng Như thế, chúng ta có thể biết chắc rằng giữa căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa Mê Linh và tiếp đó là phủ thành Luy Lâu đã chuyển sang thay

bộ chỉ huy nghĩa quân của Hai Bà Với các địa phương khác trên cả nước tất có một sự liên kết tự giác mà trong đó trung tâm lãnh đạo là bộ chỉ huy khởi nghĩa của Hai Bà Nói cách khác, việc phát triển từ cuộc nổi dậy ban đầu của đất Mê Linh thành cuộc đồng loạt nổi dậy trên khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam San, các quận Nhật Nam ở phía Nam, Hợp Phố ở phía Bắc, không phải là một việc phát triển ngẫu nhiên, tự phát mà là một sự phản ánh một mặt của phương thức khởi nghĩa của tổ tiên ta thời ấy

Khác với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng buổi đầu công nguyên cuộc khởi nghĩa

Lý Bí khoảng thế kỉ VI không chấm dứt bằng việc đánh đổ được bọn quan lại đô

Trang 23

hộ về nước, mà kết thúc toàn thắng vào lúc đánh bại hoàn toàn các cuộc phản công tiếp ngay sau đấy của giặc Lương

Cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm 542 khi Lý Bí đã tổ chức được lực lượng nghĩa quân nòng cốt do mình trực tiếp chỉ huy tại đất căn cứ Thái Bình, đồng thời cũng đã liên kết với các hào kiệt thủ lĩnh ở nhiều châu và thông qua các hào trưởng địa phương ấy mà tổ chức dân chúng các châu cũng sẵn sàng nổi dây phối hợp Bởi vậy, ngay sau khi Lý Bí phát động khởi nghĩ tại Thái Bình, các huyện khác ở Giao Châu và tiếp đó là mấy châu khác nữa đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng Việc triều Lương sau đây chỉ còn hạ lệnh cho thứ sử một châu duy nhất ở phía Nam là Ái Châu phối hợp với các châu phía Bắc thuộc Trung Quốc mở cuộc phản công lực lượng khởi nghĩa chứng tỏ ách đô hộ của chúng đã bị đánh đổ trên hầu khắp nước ta bởi cuộc nổi dậy trên các châu kia

Phát động khởi nghĩa tại đất căn cứ ban đầu rồi nhanh chóng chuyển lên thành phong trào nổi dậy đồng loạt trên hầu khắp các châu, huyện, rồi lại từ phong trào nổi dậy của dân chúng đánh đuổi bon quan lại đô hộ chuyển lên thành tác chiến lớn của nghĩa quân đánh bại các cuộc phản công của giặc Đó là một mặt của phương thức tiến hành khởi nghĩa của tổ tiên ta thời kì lịch sử này

1.2.2 Kĩ thuật quân sự

Nếu những chiến công giữ nước là chói lọi thì cũng chỉ nổi lên ở từng giai đoạn, còn những thành công dựng nước lại là liên tục trường kì, xuyên suốt qua các thế kỉ Các thành tựu về kĩ thuật quân sự trước thế kỉ X còn ít ỏi và hạn chế nhưng được coi là những vật dụng đầu tiên chứng tỏ khả năng sáng tạo của ông cha ta trong việc phát triển khoa học kĩ thuật Đồng thời đó cũng là những tri thức

có nhân tố khoa học góp phần không nhỏ vào thắng lợi của các cuộc đấu tranh giữ nước thời kì này

Bắt đầu từ kỉ nguyên Văn Lang như chúng ta đã biết, trước di sản văn hóa rực rỡ này, bọn xâm lược và tay sai của chúng đã xuyên tạc lịch sử, coi đây không

Trang 24

phải là một nền văn hóa bản địa mà từ nơi khác đưa đến Nhưng ngày nay, các nhà khảo cổ học và sử học Việt Nam đã nghiên cứu tổng kết và xác định rõ đây là một

di sản hoàn toàn bản địa Việt Nam với những trống đồng loại cổ nhất tinh túy nhất, với số lượng nhiều nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Từ các hiện vật như trống đồng, thạp đồng, rìu đồng, mũi tên đồng, lưỡi giáo đồng…chúng ta có thể khẳng định rằng kĩ thuật luyện kim của các thế hệ đi trước đã phát triển tới một trình độ cao

Nhưng cái gì đã thúc đẩy ông cha ta tiến công vào khoa học kĩ thuật? Theo Anghen thì đó là do nhu cầu kinh tế, mà ở ta là do nhu cầu phát triển kinh tế để đảm bảo cho cả giữ nước thắng lợi, dựng nước thành công

Đi đôi với trống đồng – một nhạc cụ tạo nên niềm lạc quan cho con người

và cổ vũ lòng người khi chiến đấu, thạp đồng và nhiều dụng cụ sinh hoạt bằng đồng, còn là những mũi tên đồng Cổ Loa, lưỡi giáo đồng Thiệu Dương – những vũ khí đáp ứng với yêu cầu khoa học quân sự của chiến tranh Với tên đồng, chúng ta

đã cải tiến từ cung sang nỏ đó là một bước phát triển lớn của kĩ thuật quân sự độc đáo ở Việt Nam

Có thể nói hơn 1000 năm đấu tranh bền bỉ, gian khổ anh dũng chống Bắc thuộc, phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã trải qua nhiều thử thách và được trưởng thành về mọi mặt, đã xây đắp lên một cơ sở văn hóa quan trọng cho một nền văn hóa cứu nước, những nền tảng của truyền thống quân sự quý báu của dân tộc ta

Ông cha ta đã đi từ khởi nghĩa dân tộc đến chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, từ “kế trì hoãn” – lâu dài cho đến chiến lược đánh một trận là thắng Bằng việc kết hợp nhiều hình thức đấu tranh, mọi cách đánh và cuối cùng

đã giành thắng lợi Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống Đông Hán thời Hai Bà Trưng (năm 40) và khởi nghĩa chống Lương thời Lý Bí (năm 542 -543) Những phong trào quật khởi của toàn dân giành thắng lợi oanh liệt nhất Đó là những cuộc

Trang 25

khởi nghĩa và chiến tranh mang tính dân tộc và tính toàn dân rất cao, nó đã xác lập một phương thức đấu tranh mới đúng đắn cho sức mạnh giải phóng đất nước, đoàn kết toàn dân đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập dân tộc Vì vậy, dù cho bọn thống trị ngoại bang xóa bỏ tên nước chia cắt để biến lãnh thổ nước ta thành quận huyện, âm mưu hủy hoại những cơ sở tạo nên sức mạnh đấu tranh của dân tộc Nhân dân ta vẫn nuôi dưỡng và phát huy ý thức coi đất nước mình là một khối thống nhất là giang sơn của người Việt và người Việt quyết chung sức chung lòng đấu tranh để giành giữ lấy nó

Dưới sự thống trị của phong kiến phương Bắc, nhân dân ta đã vùng lên khởi nghĩa liên tiếp Quy mô, mức độ và hình thức đấu tranh tuy khác nhau nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều thể hiện xu hướng phát triển tất yếu của phong trào đấu tranh giành độc lập Các phong trào yêu nước chân chính của dân tộc ta không

có ý đồ cát cứ địa phương, tuy nổi dậy từ một địa bàn nhất định nhưng sau khi giành thắng lợi cục bộ đã xây dựng căn cứ phát triển lực lượng chọn thời cơ mở rộng cuộc tiến công quyết định vào phủ thành đô hộ, tiến tới giải phóng cả nước Phong trào ngày càng dâng cao càng lan rông khắp nơi càng tập hợp đông đảo mọi lực lượng yêu nước nhằm lật đổ ách thống trị ngoại bang, giành độc lập tự chủ Lịch sử quân sự dân tộc giai đoạn từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X, là những trang đầy đau thương tủi nhục nhưng cũng đầy anh hùng bất khuất Chiến thắng Bạch Đằng quân dân ta do Ngô Quyền lãnh đạo đã kết thúc họa mất nước kéo dài trên 11 thế kỉ, đã khép lại trang sử quân sự giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của dân tộc ta Lịch sử quân sự dân tộc lai tiếp tục diễn trình của nó, sau chiến công này nhiều trang sử mới bắt đầu Từ thế kỉ X – XV là thời kì dân tộc độc lập và thịnh vượng, thời kì quân và dân ta xây dựng tiềm lực quốc phòng tiến hành các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập và chủ quyền đất nước Nhân dân ta viết tiếp những trang sử mới của kỉ nguyên văn minh – kỉ nguyên Đại Việt với những thành tựu lớn lao trên cả hai lĩnh vực xây dựng và bảo

vệ đất nước rực rỡ văn trị, chói lọi võ cô

Trang 26

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUÂN SỰ TRONG

GIAI ĐOẠNTỪ 980 ĐẾN 1428

2.1 Từ Đại Cổ Việt nhà Đinh - Tiền Lê (thế kỷ X) đến nhà Lý (thế kỷ XIII) 2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử:

Sang thế kỉ X mặc dù phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Tống (980

và 1075-1077) nhưng cũng đã đánh dấu một thời kì phát triển mới của nước ta Trên cơ sở một nền kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ đạo

Nhận thức được tầm quan trọng của nghề nông nhà nước quân chủ thời kì này đã có nhiều biện pháp, chính sách nhằm khuyến khích nông nghiệp như vào mỗi buổi đầu xuân vua thường tổ chức lễ cày tịch điền Lê Đại Hành cày tịch điền

ở Đọi Sơn (Nam Hà) năm 987; năm 1038, Lý Thái Tông xem cày tịch điền ở Cửa

Bố (Thái Bình) Năm 1065, vua Lý Thánh Tông xem cày ruộng ở Cửa Bố (Thái Bình)… Ngoài ra nhà vua còn hạ thêm chiếu “khuyến nông” thực hiên đắp đê ở các con sông lớn nhằm ngăn chặn lũ, bảo vệ sức kéo… Tất cả đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển với năng suất cao Nó không chỉ đáp ứng cho nhu cầu đời sống nhân dân, nuôi quân mà còn tạo ra nguồn dự trữ lương thực dồi dào Đây chính là cơ sở khá quan trọng để có được một lực lượng vũ trang hùng mạnh theo phương châm : “quốc phú binh cường”, “thực túc binh cường”

Thủ công nghiêp, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp nên thủ công nghiệp nước ta xuất hiện khá sớm Cho đến những thế kỉ đầu của thời độc lập tự chủ, thủ công nghiệp nước ta có điều kiện phát triển hơn

Chỉ riêng ở kinh đô Hoa Lư các nghề như : đục đá, thổ mộc qua việc đắp thành, xây cất cung điện, chùa chiền, kho tàng, đóng chiến thuyền Nghề khai thác

và chế biến kim loại quý hẳn đã phát triển qua việc dựng cột điện Bách Bảo thiên tuế có dát vàng, dát bạc, các lầu Đại Viên, điện Trường Xuân lợp ngói bạc Để đúc lên hàng vạn mũi tên đồng, chế tạo đầu mâu bằng kim loại, đúc tiền, rèn chiến cụ,

Trang 27

vũ khí trang bị cho quân đội thì nghề rèn đúc kim loại phải hiện diện phổ biến và đạt đến trình độ khá hoàn thiện Ngoài ra còn một số nghề khác như làm gốm, sứ, dệt, đan lát …

Bên cạnh đó là việc tổ chức các mặt hàng phục vụ cho đời sống chốn cung đình và các tầng lớp đời sống nhân dân Riêng nghề dệt tại Thăng Long đã dệt được gấm vóc thay cho gấm vóc nhà Tấn Tuy nhiên, những ngành nghề thủ công nghiệp này vẫn còn kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp đang được mở mang thêm

về diện tích canh tác cũng như thâm canh Đó là đặc điểm của thủ công nghiệp ở nước ta đồng thời cũng là tác nhân khá quan trọng làm cho thủ công nghiệp nước

ta không vượt khỏi hàng rào nước ta để hình thành một nền kinh tế độc lập, có sức mạnh thúc đẩy đến bước mở đường cho những bước phát triển đột biến của xã hội

Thương nghiệp : cũng diễn ra khá chậm chạp Tiền tệ với tư cách là một vật ngang giá trong trao đổi thị trường cũng xuất hiện phổ biến trong thời kì này Thời Đinh có tiền Thái Bình, Lê Đại Hành có tiền Thiên Phúc Chấn Bảo Lý Thái Tổ (1010 -1028) có tiền Thuận Thiên Đại Bảo, Lý Thái Tông (1028 - 1054) có Minh Đạo Thông Bảo… Hiện tượng tiền tệ xuất hiện với mật độ dày hơn cho phép nghĩ đến sự mở rộng của thị trường Tuy nhiên hoạt động nông nghiệp có sự mở mang trên cơ sở nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp vào thời này vẫn mang tính nhỏ hẹp tự cấp, tự túc của một xã hội lấy công xã nông thôn làm cơ sở

Do có vị trí thuận lợi trong giao lưu tiếp xúc với các nước nên mối quan hệ trao đổi với bên ngoài tuy còn hạn chế nhưng cũng đã xuất hiện các quan hệ buôn bán

ở chợ vùng biên giới Việt trung như : Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Tô Mậu, Hoành Sơn… Tuy nhiên nhà nước vẫn luôn cảnh giác trước những con mắt dòm ngó, các hoạt động thăm dò nội tình của người nước ngoài vì mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc

Về chính trị: Trước khi đất nước hoàn toàn dành độc lập, nước ta vẫn còn tồn tại chế độ Tiết độ sứ Tuy nhiên sang đến triều Ngô (939) bộ máy nhà nước quân chủ đã thực sự được khởi dựng Đó là nhà nước Đại Cổ Việt (Đinh -

Trang 28

Tiền Lê) và nhà nước Đại Việt (nhà Lý) Bộ máy bao gồm một triều đình do nhà vua đứng đầu và hệ thống quan lại các cấp Mọi quyền hành tập trung vào tay nhà vua, giúp việc vua là triều đình lấy vương hầu, quý tộc làm hạt nhân gồm các quan văn, võ được phân công nhiệm vụ rõ ràng Ngoài các chức quan trong triều còn có các chức quan làm việc bên ngoài như tri phủ, phán phủ, tri châu… Tất cả chứng

tỏ bộ máy nhà nước quân chủ thời kì này đã khá hoàn thiện nhất là cấp trung ương Quan lại ở đây có lẽ cũng do đội ngũ vương hầu, tông thất nắm giữ chức vụ chủ chốt Tuy nhiên đến một giai đoạn nào đó khi đất nước ngày càng phát triển thì nhà nước chủ trương tuyển chọn thêm người hiền tài có học hành, đỗ đạt

Ở các cấp cơ sở, các chức lệnh trưởng, tá lệnh trưởng, giáp trưởng, quản giáp… có lẽ vẫn là các tầng lớp già cả có uy tín theo truyền thống tự quản dưới sự kiểm soát của nhà nước

Ở các vùng biên giới, núi rừng thuộc các dân tộc thiểu số cư trú thì nhà nước chỉ quản lí lỏng lẻo bằng cách ban chức tước hoặc dùng quan hệ hôn nhân để ràng buộc các thủ lĩnh Như vua Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho Thân Thiệu Thái ở Lạng Châu (1029); gả công chúa Kim Thành cho châu mục Châu Phong Lê Tông Thuận…

Tất cả chứng tỏ bộ máy quản lý nhà nước đã được mở rộng ở tầm vĩ mô, nhưng chưa cồng kềnh và có biểu hiện thân dân, gần dân Chính vì vậy dưới sự quản lí của nhà nước quân chủ nhân dân ta đã làm nên kì tích đưa đất nước vượt qua thời kì quá độ của thế kỉ bản lề (thế kỉ X) sang bước đầu của nền văn minh Đại Việt (thế kỉ XI) Và giúp ta có thể đánh thắng mọi thế lực xâm lăng lớn nhỏ, xây dựng một nước Đại Việt phát triển vững vàng trong khu vực

2.1.2 Tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự

2.1.2.1 Tư tưởng quân sự

Trong gần ba thế kỉ (938 – 1226), kể từ khi giành lại quyền độc lập, quốc gia Đại Cổ Việt – Đại Việt vừa phải xây dựng một cơ đồ hoàn toàn mới, vừa phải

Trang 29

chống giặc phương Bắc, phương Nam nhằm bảo vệ toàn vẹn cương vực, lãnh thổ của mình Từ nhu cầu và thực tế dựng nước và giữ nước đó, cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang và tổ chức hoạt động chiến đấu chống giặc, những nội dung về tư tưởng và nghệ thuật quân sự của quốc gia độc lập tự chủ đã ra đời ngày một hoàn chỉnh và phong phú

Như đã biết đương thời, dân số nước ta ít Vấn đề đặt ra là xây dựng quân đội như thế nào để đảm bảo có thể huy động đủ số cần thiết vào thời chiến và có nhân lực đảm bảo sản xuất trong thời bình

Thời Lý, binh chế nước ta bước đầu được xác định, trong đó có chính sách

“ngụ binh ư nông” gồm những quy chế về quân biên sổ và quân chia phiên Nhà nước lập ra sổ hộ tịch, trong đó, những đinh nam khỏe mạnh đến tuổi trưởng thành đều có nghĩa vụ quân dịch, được ghi tên vào cuốn sổ bìa vàng mà thời Lý gọi là sổ hoàng nam Hằng năm, chính quyền chiếu sổ chọn những đinh tráng sung vào quân ngũ theo yêu cầu, số còn lại ở nhà sản xuất, tham gia dân binh, sẵn sàng nhập ngũ khi cần thiết

Đến thời Trần và Lê sơ tư tưởng và chính sách “ngụ binh ư nông” mới hoàn thiện, nhưng trong xây dựng lực lượng quân đội từ thời Ngô cho đến thời Lý đã có thể thấy rõ một phương thức tổ chức lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước Như thế

“ngụ binh ư nông” (gửi binh ở nông) bao gồm các nội dung về quân đội, chiến tranh, quân sự và quốc phòng

Trong cuộc tuyển quân chống Tống xâm lược lần hai (1075 - 1077), riêng

số quân do Lý Thường Kiệt và Tôn Đản thống lĩnh, đánh phá căn cứ xuất phát tiến công của đối phương đã là khoảng 10 vạn Như vậy tổng số quân thời Lý được động viên ở thời điểm kể trên là rất lớn so với số dân Đại Việt lúc đó khoảng 4 triệu người Mặt khác, chất lượng quân đội nhà Lý cũng cao họ không những có tinh thần yêu nước, căm thù giặc àm còn giỏi võ nghệ, thạo binh khí, kĩ thuật, nắm chiến thuật, hợp đồng bộ binh và thủy binh tài giỏi Kết quả của đợt tác chiến tại Ung – Khâm – Liêm, của tác chiến chặn giặc phòng tuyến dọc sông Như Nguyệt

Trang 30

đã khẳng định điều đó Đây cũng thể hiện tính ưu việt, hiệu quả của tư tưởng “ngụ binh ư nông”

“Ngụ binh ư nông”, đã giúp nhà nước quản lý tốt nhân đinh, mọi đinh nam

từ 18 tuổi trở lên, khi cần đều được huy động theo nghĩa vụ binh dịch Mọi đinh tráng, nhờ chính sách này mà đều được huấn luyện quân sự, có hiểu biết thông thường về quân sự, và khi hữu sự, ai nấy đều biết rõ quân ngũ của mình Nhờ việc thay phiên về sản xuất, nghĩa vụ binh dịch do đó có thể thực hiện công bằng xã hội, giảm chi phí quốc phòng, đảm bảo sản xuất không ngưng trệ

Như vậy, trải qua các thời Ngô – Đinh – Tiền Lê đến Lý, nhận thức về xây dựng quân đội, lực lượng vũ trang, dân binh ngày càng sáng tỏ Tổ tiên ta thời đó luôn coi “việc quân là việc thiết yếu của quốc gia”, “quân đội là thiết bị giữ nước không thể thiếu được” đồng thời với việc xây dựng dân binh sẵn sàng được huy động khi hữu sự Nhận thức đó càng trở nên sáng suốt khi nước ta đương thời dân

số ít và luôn phải chiến đấu với quân xâm lược lớn mạnh Nhận thức, tư tưởng đó

đã biến thành phương lược cụ thể trong xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng – kế sách giữ nước hiệu quả, đánh bại nhiều đội quân xâm lược, bảo

vệ vững chắc quốc gia Đại Việt

2.1.2.2 Về nghệ thuật quân sự

 Về chiến lược:

Ở các thời Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý, dù chiến tranh xảy ra chưa nhiều nhưng yêu cầu bức xúc của sự việc đã đặt ra cho các vương triều những vấn đề về nghệ thuật quân sự Căn cứ vào hoạt động quân sự của quốc gia Đại Việt qua các thời

kể trên, có thể phác thảo những nét chính về nghệ thuật quân sự

 Biết mình biết người, chủ động xây dựng lực lượng và kế sách bảo vệ đất nước

Từ khởi nguyên, trong quá trình hình thành quốc gia Văn Lang – Âu Lạc, mà sau này là Đại Cổ Việt - Đại Việt đã ở vào vị trí địa lý khá đặc biệt có những đồng

Trang 31

bằng má mỡ, cĩ rừng với lâm thổ sản, thú lạ và cây thuốc quý, cĩ biển với hải sản và ngọc trai; nĩ cịn là tụ điểm giao lưu giữa Đại Việt với bên ngồi bằng đường biển và đường bộ Nhờ vị trí đĩ, nước ta cĩ điều kiện tiếp xúc, hấp thụ tinh hoa của các nguồn văn hố văn minh của nhân loại Nhưng cũng do vị trí đĩ Đại Việt luơn là mục tiêu thơn tính, xâm lược của các thế lực ngoại bang Vì thế cùng với việc tổ chức đất nước sẵn sàng đối phĩ với các cuộc chiến tranh xâm lược, chúng ta cịn luơn phải giải quyết các vấn đề nảy sinh ở biên giới bảo vệ biên cương trong thời bình Ở phía nam, Tây Nam cĩ sự quấy rối của Chiêm Thành, Chân Lạp Ở phía Bắc là nhà Nam Hán và nhà Tống Từ thực tế trên, các nhà cầm quyền Đại Cổ Việt - Đại Việt luơn chú trọng xây dựng đất nước về nhiều mặt, đặc biệt là lượng vũ trang, củng cố quốc phịng, hoạch định kế sách bảo vệ đất nước, sẵn sàng chống xâm lược

Nhận thức rõ về vị thế và tiềm năng của đất nước với những mặt mạnh mặt yếu tức “biết mình” là điều cực kỳ quan trọng, cũng như “biết người” vậy Để “biết người” các vương triều Đại Cổ Việt - Đại Việt luơn chú trọng cơng tác nắm địch, tìm mọi cách để hiểu ý đồ đối phương

Vào thời Đinh, thừa dịp Hoa Lư cĩ loạn, nhà Tống tính chuyện xâm lăng Đại Cổ Việt theo đề nghị của thể tướng Lư Đa Tốn: “An Nam bên trong rối loạn, đĩ là lúc trời làm mất, triều đình nên bất ngờ đem quân sang đánh úp, như người ta nĩi: “sét đánh khơng kịp bịt tai” (Tồn Thư)” Do đã theo dõi nắm bắt động tĩnh của nhà Tống nên các biên quan đã kịp thời báo về Sử chép: “Bấy giờ Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang liền làm tờ tâu báo về” (Tồn Thư) Nhờ vậy triều đình Hoa Lư đã kịp thời chấn chỉnh, cắt cử Phạm Cự Lạng làm đại tướng, tơn thập đạo tướng quân Lê Hồn lên ngơi, ổn định tình hình chuẩn bị đối phĩ với giặc mạnh

Thời Lý cũng vậy Thơng qua nhiều mối quan hệ, đặc biệt quan hệ giao lưu trao đổi với vùng biên giới Trung Hoa của cư dân biên thuỳ phía Bắc dưới quyền quản lý của thổ tù châu mục, mọi âm mưu và hành động của nhà Tống đối với Đại Việt đều khơng qua mắt được triều đình Thăng Long Ngay từ năm 1073, qua thư

Trang 32

của một tiến sĩ nhà Tống, tên là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với vua Lý: “Hiện nay Trung Quốc muốn cử binh diệt Giao Chỉ” Nhờ biết rõ hành động chuẩn bị xâm lăng của nhà Tống với việc tập trung binh lính, lương thảo ở thành Ung Châu và các căn cứ dồn trại gần biên giới Đại Việt cho nên Lý Thường Kiệt đã kịp thời thực hiện kế sách “tiên phát chế nhân” thắng lợi

Cảnh giác trước các thế lực ngoại xâm là ý thức thường trực của nhiều vị vua đương thời Ngay trong lúc đất nước thanh bình, nhiều nhà vua vẫn thường xuyên xuống chiếu nhắc nhở tướng sĩ không được lơ là phòng thủ, phải chăm lo rèn luyện binh sĩ, sắm sửa chiến thuyền và rèn đúc vũ khí Lý Nhân Tông trước khi mất đã dặn dò các đại thần: “Nên sửa sang giáo mác để đề phòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh lệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận” (Toàn Thư) Vua Lý Anh Tông trước lúc lâm chung cũng căn dặn thái tử: “Nước ta non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, đất thiêng, châu ngọc bảo bối không cái gì là không

có, nước khác không thể nào ví được Con nên giữ gìn cẩn thận” (Việt sử lược) Nhà nước được xây dựng theo cơ cấu và chế định như thế cùng những nhà vua biết chăm lo giữ nước như vậy đã là tiền đề thắng lợi cho công cuộc chống ngoại xâm

Nhiều lĩnh vực khác cũng đóng vai trò quyết định trong công cuộc phòng giữ đất nước và trực tiếp tác động tới chiến lược quân sự được giải quyết tốt Các nhà cầm quyền luôn chăm lo xây dựng khối đoàn kết dân tộc Ở các vùng biên giới, triều Lý vẫn áp dụng chính sách “kimi” qua những biện pháp mềm dẻo như phong quan tước, giao quyền quản lý địa phương giữ gìn an ninh bảo vệ lãnh thổ biên cương và quan sát nhân dân Mặt khác, nhà nước còn dùng quan hệ hôn nhân

gả công chúa cho các tù trưởng nhằm tập hợp thành một khối xung quanh nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Chính vì thế khi cuộc kháng chiến chống Tống diễn ra ở các châu mục, các tù trưởng như Thân Thiệu Thái, Thân Thiệu Nguyên, Nùng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ… đã có những đóng góp tích cực huy động quân, dân các dân tộc thiểu số chung sức cùng triều đình đánh giặc

Trang 33

Trên cơ sở “biết mình biết người”, các vương triều Tiền Lê – Lý đã chủ động xây dựng lực lượng và đề ra kế sách chống giặc thích hợp trong chống giặc Tống lần thứ nhất, Lê Hoàn đã chủ động bố trí lực lượng phòng thủ và kết hợp quân sự với ngoại giao để hoà hoãn tình hình, tranh thủ thời gian chuẩn bị đánh giặc Do có thời gian chủ động lập kế chống giặc nên khi quân Tống tràn vào bờ cõi đã bị quân và dân ta đánh ở cửa sông Bạch Đằng ở Hoa Bộ, ở Đồ Lỗ (vùng sông Lục Đầu), ở trận Lục Giang- Bình Lỗ, Tây Kết Đặc biệt Lê Hoàn đã dùng kế trá hàng đánh lừa quân Tống để phá giặc trên sông Bạch Đằng, giết chết tướng Hầu Nhân Bảo tại trận, buộc giặc phải rút chạy về nước giành thắng lợi hoàn toàn

Trong cuộc kháng chiến chống Tống lần hai, Lý Thường Kiệt sau khi đã nắm vững tình hình chuẩn bị xâm lược của địch đã chủ động thực hiện “Tiên thoát chế nhân”, xuất quân đánh phá các đồn trại ở nhà Tống ở biên giới, từ đó tiến lên bao vây và tiến công Ung Châu Bị tiến công bất ngờ, quân Tống không kịp trở tay Căn cứ hậu cần của địch ở Ung Châu và các đồn trại quân Tống ở biên giới bị san phẳng Từ chủ động tiến công kiềm chế địch sau 42 ngày đêm trên đất Tống,

Lý Thường Kiệt lại kịp thời rút quân về chủ động lập phòng tuyến sông Như Nguyệt, bố trí lực lượng chặn đánh thuỷ quân Tống ở Vĩnh An, Vân Đồn, Ung Dung sẵn sàng đợi giặc Đưa quân vào đại Việt, mặc dù có binh hùng tướng mạnh, nhưng giặc Tống từ chủ động tiến công xâm lược rơi vào thế bị động chống đỡ Thuỷ quân bị đánh phá, kìm chân ở dòng Đông Kênh Quân bộ bị chặn đứng bên

tả ngạn sông Như Nguyệt Sau vài lần đưa quân vượt phòng tuyến nhằm tiến về Thăng Long bị thất bại, giặc Tống chỉ còn cách cố thủ chờ thuỷ quân một cách vô vọng Lý Thường Kiệt tổ chức tiến công vào bản doanh của Quách Quỳ, Triệu Tiết bên tả ngạn, đẩy giặc lâm vào thế khó khăn tuyệt vọng Nắm bắt được tâm lý hoang mang với thế cùng của gịăc, Lý Thường Kiệt lại đưa ra kế giảng hoà, Quách Quỳ, Triệu Tiết lại chủ động rút quân về nước Cuộc kháng chiến chống giặc Tống lần thứ hai thắng lợi hoàn toàn

Trang 34

Qua hai cuộc khámg chiến chống Tống vào thời Tiền Lê và Lý, quân đội của quốc gia Đại Cổ Việt - Đại Việt dưới sự chỉ đạo của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đã trưởng thành nhanh chóng và thể hiện sức mạnh trong chiến đấu giữ nước Qua quá trình hoạt động tổ chức và đánh giặc, chiến lược biết mình biết người và chủ động xây dựng lực lượng, kế sách bảo vệ đất nước đã hình thành sắc nét Ngay từ chiến lược đó đã phát huy hiệu lực đánh thắng giặc, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước

 Kết hợp chặt chẽ, sáng tạo giữa tiến công và phòng ngự, phòng ngự và phản công

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Tống vào 981, Lê Hoàn cùng các tướng lĩnh tổ chức hệ thống phòng thủ nhiều lớp liên hoàn, trên cả đường bộ và đường sông ở hướng tiến đến kinh đô Hoa Lư Đó là tuyến phòng thủ quanh Hoa Lư, gồm hệ thống đồn và thành (luỹ) Lê Hoàn còn sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng, lập trận địa ngăn cản địch Để có trận Bạch Đằng giành thắng lợi lớn, vua

Lê Đại Hành đã dùng kế trá hàng, bên trong bí mật củng cố lực lượng, bài binh bố trận, phòng vệ cẩn mật, bên ngoài tạm án binh, nới vây hãm, giảm canh phòng Mặt khác nhà vua gửi thư từ, thông điệp cho phía Tống, dùng lời lẽ nhún nhường

tỏ vẻ e sợ uy “Thiên triều”, ngỏ lời cầu xin quy tụ để bảo toàn tính mạng… Quả nhiên quân Tống mắc mưu Tuy nhiên để đối chọi và làm giảm thế mạnh ban đầu của quân Tống, thực hiện kế trá hàng, quân đội Tiền Lê phải thực hành thế trận chiến lược trong thời gian trên dưới 70 ngày Thế trận phòng ngự chiến lược diễn

ra xung quanh khu vực sông Bạch Đằng từ khoảng tháng 2 đến tháng 4 năm 981 mới tổ chức trận phản công giết được tướng địch là Hầu Nhân Bảo, đánh tan lực lượng thuỷ quân và khiến quân bộ do Tôn Toàn Hưng tự tan rút chạy Vậy là từ nhiều thế trận phòng ngự nhà Tiền Lê đã thực hiện nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt làm giảm dần thế mạnh của địch Những trận đánh đó đạt được mục đích và tạo ra điều kiện thuận lợi, tạo ra thế chiến lược mới và thế trận mới để thực hiện phản công truy kích đuổi quân Tống ra khỏi bờ cõi

Trang 35

Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược dưới triều Lý vào những năm 1075 đến 1077, tuy quy mô và diễn biến có khác xong về chiến lược quân sự cũng có nét tương đồng

Cuối năm 1075 Lý Thường Kiệt chỉ huy đại quân bất ngờ tập kích vào các căn

cứ quân sự, hậu cần của quân Tống ở Ung, Khâm, Liêm Sau 42 ngày vây hãm và công phá giải quyết được mục tiêu căn cứ xuất phát của đối phương, Lý Thường Kiệt thu quân về nước Hoạt động quân sự tiến công kể trên nằm trong chiến lược tiến công của Lý Thường Kiệt

Sau khi rút đại quân về nước, Lý Thường Kiệt cho bố trí các trận địa phòng ngự chống, mặt đường thuỷ ông cho đóng cọc dọc sông Đông Kênh và đặt thuỷ bình nhằm ngăn chặn việc hợp bình giữa quân thuỷ - bộ của địch Mặt đường bộ, ông sử dụng các châu, động, giáp miền thượng du, bố trí chặn địch theo hướng Đông- Bắc: Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hạ Liên- Cổ Động (Bắc Cạn), Giáp Khẩu (Chi Lăng),Tiên Yên, Đình Lộc, …đặc biệt Lý Thường Kiệt tập trung lực lượng lập phòng tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu) Dựa vào thế hiểm trở của sông, ông cho đóng cọc tre nhiều lớp nằm dậu, dựng luỹ, đào chông,… biến nơi đây là một chiến tuyến có giá trị rất lớn về quân sự có thể phòng ngự vững chắc đồng thời cũng có thể bố trí kín đáo đội dự bị chiến lược phía sau sẵn sàng chuyển sang tiến công Chiến tuyến Như Nguyện kết hợp chặt chẽ với hệ thống thành quách, đồn ải ở phía bắc và lực lượng thuỷ bình Đông Kênh tạo thành một thế trận vững, có chiều sâu,

có thuỷ bộ hỗ trợ được cho nhau và đồng bằng chi viện được cho miền núi

Chặn được quân Tống bên bờ bắc sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt chủ động điều binh đánh địch Đó là trận chặn quân Miêu Lý ở vùng Thuỵ Lôi, Yên Phụ (Đông Anh ngày nay) Bị tổn thất nặng, Miêu Lý thu tàn quân chạy thoát qua sông đây là thắng lợi mở màn quân ta trên chiến tuyến sông Như Nguyệt Quân Tống dùng bè tiến sang bờ Nam thì bị quân Lý liên tiếp bẻ gãy các cuộc tiến công của địch Khả năng tiếp tục đột phá quân ta không còn lại thường xuyên bị các dân tộc thiểu số và các dân binh và các đội quân nhỏ của ta đánh nén đánh vào lực lượng

Trang 36

tiếp viện, quấy rối Quách Quỳ rơi vào thế lúng túng tiến lui đều khó Quân Tống buộc phải chuyển sang hẳn phòng ngự bị động về chiến lược Tiến lược tiến công đánh nhanh thắng nhanh của chúng bị thất bại hoàn toàn

Sau khi làm cho địch không còn khả năng tiến công, phải co vào phòng ngự

Lý Thường Kiệt tổ chức các trận đánh lớn vào các cụm quân của Quách Quỳ và Triệu Tiết ở sông Như Nguyệt Cụm quân của Quách Quỳ bị tổn thất nặng, còn cụm quân của Triệu Tiết “mười phần chết đến năm, sáu”, với hai đòn đánh lớn kể trên, ta đã làm nhụt ý chí xâm lược của địch Sau đó Lý Thường Kiệt phái biện sỹ đến bản doanh Quách Quỳ đề nghị “giảng hoà” kết thúc chiến tranh

Vậy là trong kháng chiến lần thứ hai, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy hiệp đồng ăn ý giữa lực lượng bộ binh và thuỷ binh, giữa tác chiến trên sông và trên biển, phá vỡ việc hợp bình giữa hai lực lượng này của địch, tạo ra thuận lợi chiến thắng sông Cầu

Cũng như cuộc chống Tống thời Tiền Lê các nhà cầm quyền đã ý thức được đầy đủ và phối hợp giữa quân triều đình và quân địa phương và dân binh, thổ binh các làng xã, động bản Đó chính là một trong những nhân tó cơ bản khiến các

ý định kể trên có hiệu quả trong thực tiễn

Một khía cạnh khác thuộc phạm trù chỉ đạo chiến tranh và cũng thuộc chiến lược chỉ đạo chiến lược quân sự, đó là kết hợp giữa chiến đấu trên chiến trường với bàn bạc, thương lượng

Sau thời gian dài tiến hành xâm lược bị chặn lại ở bắc ngạn sông Cầu, gặp nhiều khó khăn,Quách Quỳ rời vào thế tiến thoái lưỡng nam Ở vào tình thế như vậy Quách Quỳ đã sẵn sàng nắm đầu gậy ngoại giao mà Lý Thường Kiệt đưa ra chấp nhận điều kiện giảng hoà rút quân về nước Quách Quỳ phải lui quân khởi hành ban đêm Hình ảnh cuộc rút quân như một cuộc tháo chạy, mạnh ai lấy chạy, hàng ngũ không còn chỉnh tề, dẫm xéo lên nhau như chính sự Tống miêu tả Khi

Trang 37

Tống rút quân, Lý Thường Kiệt đã tổ chức hoạt động quân sự giành lại đất đai trên hướng rút chạy của địch

 Đánh vào lòng người

Đánh vào lòng người là một hoạt động ngày càng mở rộng và phát triển theo thời gian đã xuất hiện và phát huy hiệu lực trong chiến tranh ở thời điểm này Đó thực chất là hoạt động tác động tư tưởng và tâm lý nhằm xây dựng đoàn kết và quyết tâm chiến đấu trong nội bộ quân và dân nước mình, đồng thời tuyên truyền

về sự nghiệp về sự nghiệp chính nghĩa của quân và dân nước mình, phân hoá, chia

rẽ, làm giảm sức mạnh của địch

Trước cuộc xâm lược của nhà Tống (981), các đại thần triều Đinh, Tiền Lê đã biết dẹp mâu thuẫn khi Đinh Tiên Hoàng bị hành thích, chung sức tổ chức chống ngoại xâm Lê Hoàn sau khi nên ngôi vua đã đề ra chính sách nhằm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ sức mạnh chống giặc Tống Phương sách

đó đã làm phá sản âm mưu chia rẽ nội bộ Đại cổ Việt của nhà Tống

Giải quyến thống nhất được vấn đề chính trị- tư tưởng khiến chính trị quốc gia

ổn định, vững mạnh, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố Đây chính là cơ sở tạo nên sức mạnh của nước Đại Cổ Việt trong cuộc kháng chiến quân xâm lược của nhà Tống (981)

Nhận rõ nhà Tống có quân đông, tướng mạnh, chiến đấu với quân đội xâm lược của chúng hẳn sẽ rất gay go, quyết liệt, bởi vậy vua Lê Đại Hành mưu tính dùng kế trá hàng để có thể giết được chủ tướng cùng bộ phận chỉ huy quân địch Bên trong, vua Lê ra sức củng cố lực lượng, bài binh bố trận, phòng vệ cẩn mật; bên ngoài tạm án binh, nới vây hãm, giảm canh phòng, đồng thời đưa thư, thông điệp sang phía Tống tỏ vẻ run sợ trước quân binh hùng hậu của “thiên triều”, với lời lẽ nhún nhường ngỏ lời xin quy phục để bảo toàn tính mạng… Cách nghi binh, đánh vào tâm lý kiêu ngạo của bộ chỉ huy quân Tống như vậy khiến chúng mắc

Trang 38

lừa Kế nghi binh, “đánh vào lòng người” đó của lê Hoàn khiến đối phương mắc lừa, thuỷ quân Tống bị đánh bại và Hầu Nhân Bảo tử trận

Trong lần xuất quân đánh sang cơ sở xuất phát tiến công xâm lược của nhà Tống, sau khi chiếm đựơc hai cảng Khâm, Liêm, Lý Thường Kiệt cho quân tiến vào nội địa Lúc đó, quân Tống dường như không còn đủ sức quản quân Lý Tuy nhiên, Lý Thường Kiệt đã tính đến thái độ phản ứng của dân chúng Ông phải nêu danh nghĩa của cuộc hành quân, và “phạt Tống lộ bố văn” ra đời Bản lộ bố chỉ gồm 144 chữ Hán, nhưng là một bản tuyên cáo đánh Tống rất rõ ràng, được yết ở những nơi có nhiều người qua lại, nhanh chóng nhận được nhân dân vùng biên tiếp thu và lan truyền tới binh lính đối phương

Tương tự như vậy, vào năm 1077, hai bên Lý – Tống đối ngạn trên hai bờ sông Như Nguyệt Quân Tống có thế mạnh, Miêu Lý từng mở mũi tiến công sang bờ nam, nhưng bị quân ta đánh cho thua đau, phải lùi Nhưng quân Lý cũng gặp nhiều khó khăn, tổn thất, chưa phá được giặc Để cổ vũ binh sĩ, Lý Thường Kiệt đọc bài thơ vừa uy hiếp tinh thần quân địch, vừa kích động tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu của quân ta:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Sách trên chép tiếp: “đang đêm nghe tiếng vang trong đọc bài thơ ấy, quân

ta đều phấn khởi Quân Tống sợ táng đởm, không đánh đã tan Nhân dân địa phương vẫn truyền tụng nhiều chi tiết ghi lại chiến công oanh liệt này, khu vực doanh trại biến thành bãi chiến trường Hàng vạn xác giặc nằm ngổn ngang khắp cánh đồng, gò đất nhân dân địa phương gọi là cánh đồng xác chết hoang”

Như thế phép “đánh vào lòng người” mà có thể nói ngày nay đã phát triển thành lĩnh vực hoạt động đặc biệt quan trọng - hoạt động chính trị - tư tưởng, đã

Trang 39

xuất hiện và mang lại hiệu quả lớn từ những cuộc chiến tranh khi nhân dân ta vừa dành lại quyền độc lập tự chủ

 Về chiến thuật

Để tính toán chiến lược trở thành hiện thực, giành thắng lợi trên chiến trường, phải

có cách đánh, chiến thuật thích hợp Các nhà cầm quân thời Tiền Lê và Lý đã giải quyết tốt vấn đề này Ở những mức độ khác nhau, nhiều hình thức chiến thuật đã xuất hiện và được vận dụng hiệu quả

 Công thành diệt viện

Trên thực tế chiến đấu, đội quân nhà Tiền Lê và Lý phải đánh vào các đồn, trại nơi đóng quân và thành trì căn cứ của đối phương Các hình thức chiến đấu với địch trong điều kiện kể trên được hiểu là công thành Trong lần chống Tống năm

981, sau khi diệt địch ở sông Bạch Đằng, Lê Hoàn kéo quân về bao vây đạo quân chủ lực của địch ở Tây Kết Trận này, quân ta bắt sống tướng địch, diệt nhiều tên khiến chúng phải tháo chạy về nước

Trong cuộc chống Tống những năm 1075 – 1077, thực hiện “tiên phát chế nhân”, Lý Thường Kiệt cho quân đánh sang Ung, Khâm, Liêm bằng cả đường thuỷ và đường bộ Tuy nhiên, lúc đầu ông cho quân đại phương vây đánh, quấy rối các đồn, trại biên giới, làm cho quân Tống tưởng rằng ta sẽ kéo vào Ung Châu bằng đường bộ Trong khi đó, quân ta theo đường thuỷ đánh vào Khâm Châu rồi tiến thẳng tới Ung Châu Quân Tống bị đánh ở hai đầu, bị chia cắt, không thể ứng cứu nhau Quân ta đã đánh phá các trại Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình và Cổ Vạn Ở đây, hẳn rằng các hình thức bao vây chia cắt, chặn đánh, tập kích, đột kích

đã được vận dụng

Tiêu biểu về chiến thuật công thành trong cuộc chiến kể trên là trận đánh thành Ung Sau khi hạ được thành Khâm, Lý Thường Kiệt chia quân làm hai đạo : một mặt từ Liêm Châu theo hướng đông, mặt kia từ Khâm Châu kéo thẳng lên, hợp

Trang 40

vây Ung Châu Cùng với biện pháp chất bao đất theo tường thành làm bậc thang

để leo lên, quân Lý lấy được thành Ung

Quân Lý đã vận dụng các cách là các thủ đoạn chiến đấu vây thành, diệt viên, đột phá, vu hồi… và như thế với việc đánh chiếm các đồn, trại địch và phá thành Ung, quân Lý đã sáng tạo và vận dụng hiệu quả chiến thuật công thành diệt viện

 Dựa vào chiến luỹ phòng thủ và chuyển sang tiến công

Hình thức chiến đấu dựa vào chiến luỹ, phải kể đến chiến tuyến sông Cầu trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai là tiêu biểu

Như đã trình bày ở trên, Lý Thường Kiệt cho đắp luỹ chạy dài theo nam ngạn sông Như Nguyệt Ở bãi sông, ông cho đóng cọc tre làm dậu dày mấy tầng kết hợp với những hố chông ngầm làm cho địch không qua sông được để tiến về Thăng Long Đây thực chất là lối phòng ngự trận địa Và sau một thời gian, quân Tống phải chấp nhận hoà, rút quân về nước

Trong lịch sử dân tộc ta nói chung và lịch sử các cuộc kháng chiến thời Tiền

Lê và Lý nói riêng, quân và dân ta thường phải đương đầu với kẻ xâm lược đông hơn ta nhiều lần Bởi thế, đánh địch bằng bí mật, bất ngờ, đánh địch ngoài đồn trại, trong hành tiến là đắc sách hơn cả Bởi thế, lối đánh bằng mai phục cả trên đường bộ và trên sông đã xuất hiện khá sớm

Nước ta có nhiều sông, biển Đó cũng là chiến trường diễn ra nhiều trận thuỷ chiến lớn chống xâm lược như năm 938 Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, các trận thuỷ lần thứ nhất và lần thứ hai diễn ra vào đầu năm

981 trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất Thuỷ binh kết hợp với bộ binh dưới sự bài binh bố trận của Lê Hoàn chiến đấu trên chiến trường sông nước

đã lần lượt từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Sang thế kỉ XI, trong lúc đánh giặc Tống vào năm 1077 thời Lý, lại một lần nữa thuỷ chiến diễn ra trên sông Đông Kênh

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Binh thư yếu lược, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 1977 Khác
2. Biên niên lịch sử trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 1987 3. Chiến tranh của nhà Trần chống lại sự xâm lược của nhà Nguyên (bảndịch), Tư liệu lưu tại khoa lịch sử - ĐHKHXH&NV Khác
4. Cuộc kháng chiến chống Nguyên (bản dịch), tư liệu lưu tại khoa lịch sử trường ĐHKHXH&NV, 1963 Khác
5. Đào Duy Anh : Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội,1964 Khác
6. Đào Duy Anh : Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội Khác
7. Đỗ Văn Ninh (chủ biên) : Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy cho đến thế kỉ X, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 2000 Khác
8. Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm : Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỉ XIII, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 1986 Khác
9. Hoàng Đ́ình Phu (chủ biên) : Mấy nét về sự phát triển kĩ thuật quân sự, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976 Khác
10. Hoàng Minh : T́m hiểu tổ tiên ta đánh giặc, in lần thứ ba, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977 Khác
11. Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên) : Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội,1984 Khác
12. Khoa học quân sự Việt Nam, chương II, NXB Học viện quân sự cấp cao, Hà Nội, 1983 Khác
13. Lịch sử Việt Nam, t.1, NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w