1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản quyền sách ở việt nam từ góc nhìn văn hóa học

178 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 5,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Mục tiêu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến bản quyền sách nhìn từ góc độ văn hóa học qua khía cạnh sự nhận thức về quyền sở hữu t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS QUÁCH THU NGUYỆT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN [\

Để luận văn này được hoàn thành, chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

- Người hướng dẫn khoa học, TS Quách Thu Nguyệt đã nhiệt tình hướng dẫn,

chỉ bảo, đóng góp những ý kiến thiết thực và bổ ích cho luận văn, bổ sung những phần thiếu sót, chỉnh sửa những phần hạn chế, đồng thời cũng giúp cho việc liên lạc với những nhà xuất bản, công ty sách và các cơ quan quản lý trong việc thu thập những tài liệu thực tế, qua đó giúp cho luận văn được hoàn thiện tốt hơn

- Các giảng viên khoa Văn hóa học đã tận tình truyền đạt những kiến thức bổ ích giúp học viên xây dựng được nền tảng lý luận và thực tiễn về văn hóa học làm cơ sở cho việc thực hiện luận văn

- Các cô chú, anh chị công tác ở bộ phận bản quyền của các nhà xuất bản, công

ty sách và cơ quan quản lý như: anh Bình – nhà xuất bản Giáo Dục, chị Kim Kiều - công ty sách Trí Việt, anh Hải Phương - công ty sách Phương Nam và chị Minh Phương - phòng báo chí xuất bản Sở Thông tin truyền thông Tp HCM đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ trong việc cung cấp những thông tin và tài liệu thực tế về hoạt động xuất bản – in – phát hành sách và hoạt động bản quyền ở Việt Nam hiện nay

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 10 năm 2014

Trần Thị Thu Đan

Trang 4

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11

6 Bố cục của luận văn 12

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢN QUYỀN SÁCH 13

1.1 Khái niệm Bản quyền sách 13

1.2 Bản quyền quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả 15

1.2.1 Công ước Berne 17

1.2.2 Hiệp định Trips về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ 19

1.2.3 Hiệp ước của Wipo về quyền tác giả (Hiệp ước WCT) 21

1.2.4 Công ước toàn cầu về bản quyền (Công ước UCC) 21

1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả 22 1.3.1 Tác phẩm 26

1.3.2 Tác giả và quyền tác giả 27

1.3.3 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu quyền tác giả 30

1.3.4 Hạn chế quyền tác giả 31

1.3.5 Quyền liên quan đến quyền tác giả 32

1.3.5 Khai thác quyền tác giả 34

1.3.6 Đăng kí quyền tác giả 34

1.3.7 Vi phạm quyền tác giả 35

1.4 Các cơ quan, tổ chức quản lý quyền tác giả 40

1.4.1 Các cơ quan quốc tế quản lý quyền tác giả 40

1.4.2 Các cơ quan quản lý quyền tác giả trong nước 40

Tiểu kết chương 1 43

Trang 5

CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC VỀ BẢN QUYỀN SÁCH TRONG XÃ HỘI TRUYỀN

THỐNG 44

2.1 Cội rễ của bản quyền trên thế giới 44

2.2Nhận thức về quyền tác giả ở Việt Nam thời kỳ Phong kiến 45

2.3 Nhận thức về quyền tác giả ở Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp xâm lược đến Cách mạng tháng Tám 1945 54

Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3 NHẬN THỨC VỀ BẢN QUYỀN SÁCH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 61

3.1 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển đối với hệ thống bản quyền quốc tế61 3.2 Các hiệp định song phương giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ các nước bạn liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả 67

3.2.1 Hiệp định song phương giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả (Hiệp định BCA) 67

3.2.2 Hiệp định song phương giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ liên bang Thụy Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ 67

3.2.3 Hiệp định thương mại giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại (Hiệp định BTA) 68

3.3 Hiện trạng nhận thức của xã hội đối với bản quyền sách 69

3.3.1 Vai trò của hoạt động xuất bản Việt Nam từ khi hội nhập 69

3.3.2 Nhận thức của tác giả đối với bản quyền sách 77

3.3.3 Nhận thức của các đơn vị xuất bản về bản quyền sách 81

3.3.4 Nhận thức của cơ quan quản lý văn hóa liên quan đến bản quyền sách 87

3.2.5 Nhận thức của người sử dụng đối với bản quyền sách 99

Tiểu kết chương 3 109

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 119

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 Bộ TT-TT: Bộ Thông tin Truyền thông

2 Bộ VHTT&DL: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

3 Công ty CP: Công ty cổ phần

4 Công ty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn

5 CHXHCH Việt Nam: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

6 HN: Hà Nội

7 NXB: nhà xuất bản

8 Sở TT-TT: Sở Thông tin Truyền thông

9 Sở VHTT&DL: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

10 Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

11 THCS: Trung học cơ sở

12 VHTT: Văn hóa Thông tin

Trang 7

sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Vì thế, nghiên cứu về bản quyền sách dưới góc độ văn hóa học là vấn đề cần thiết, nhằmđóng góp thiết thực cho hoạt động xuất bản và công tác bảo vệ bản quyền sách ở Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến bản quyền sách nhìn

từ góc độ văn hóa học qua khía cạnh sự nhận thức về quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả ở Việt Namtrong xã hội truyền thống và xã hội hiện đại, và ý nghĩa của giáo dục đối với việc bảo vệ bản quyền….để từ đó có những sự đóng góp tích cực hơn vào công tác bảo vệ bản quyền ở Việt Nam hiện nay

Câu hỏi chính của đề tài nghiên cứu là: Bản quyền sách ở Việt Nam qua góc độ

văn hóa học được biểu hiện như thế nào ?

Mục tiêu cụ thể

Để nghiên cứu bản quyền sách ở Việt Nam từ góc nhìn văn hóa học, học viên sẽ triển khai những luận điểm chính đi theo góc độ lịch đại là tìm hiểu sự nhận thức về quyền tác giả ở Việt Nam từ xã hội truyền thống đến xã hội hiện đại Phần bản quyền

sách trong xã hội truyền thống sẽ tập trung trả lời cho câu hỏi Trong xã hội Việt Nam

Trang 8

truyền thống vấn đề quyền tác giả được nhận thức như thế nào ?.Phần bản quyền sách

trong xã hội hiện đại sẽ trả lời cho câu hỏi Trong thời đại công nghệ thông tin và xu

thế hội nhập ngày nay, xã hội nhận thức về bản quyền sách như thế nào ?

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Quyền tác giả là vấn đề khá rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực ngành nghề như: xuất bản – phát hành sách, thư viện, kiến trúc, điện ảnh, âm nhạc, sân khấu, nhiếp ảnh, báo chí, mỹ thuật… Trong khuôn khổ của luận văn cao học, học viên xin tìm hiểu về quyền tác giả của các tác phẩm được thể hiện dưới hình thức là sách và trong hoạt động xuất bản – phát hành sách tại Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bản quyền tác phẩm thể hiện dưới hình thức là sách ở Việt Nam, nghiên cứu ở góc độ văn hóa học

Nghiên cứu bản quyền trong xã hội Việt Nam truyền thống, học viên sẽ nghiên cứu xã hội Việt Nam trong giai đoạn từ thời Phong kiến đến năm 1945 khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, vấn đề quyền tác giả được ghi nhận trong Hiến pháp đầu tiên 1946 Nghiên cứu bản quyền trong xã hội hiện đại là xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập từ năm 1986 đến nay

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ khi Công ước Berne ra đời năm 1886 tại Berne - Thụy Sĩ, vấn đề quyền tác giả

đã được nhiều quốc gia quan tâm chú ý Nhiều công trình và bài viết về bản quyền

xuất hiện như: Bản quyền dưới góc độ lịch sử của Lyman Ray Patterson, Bản quyền:

Sở hữu trí tuệ trong thời đại thông tin của Edward W Poloman và L.Clack Hamilton, Thực thi luật bản quyền trong và giữa các quốc gia của Katerina Czamecki, Xuất bản

và bản quyền ở Ấn Độ của tác giả Dian.N Malhotra, Bản quyền và phát triển: Bất bình đẳng trong thời đại thông tin do Altbach, Philip.G chủ biên, Xuất bản sách quốc tế: Bách khoa từ điển của Altbach Philip G và Edith S.Hoshino, Bản quyền: Sở hữu trí tuệ của tác giả Ploman và Hamilton, Công nghệ của tự do của Ithiel de Sola Pool, Những nguyên tắc cơ bản của bản quyền của tác giả Colombet, Bản quyền căn bản

của Tổ chức Liên hiệp quốc, Toàn cảnh kiến thức: Cách nhìn so sánh về phân phối

kiến thức của Philip G Altbach [1]

Trang 9

Mở đầu

Công trình Xuất bản và phát triển do Philip.G Altbach và Damtew Teferra chủ

biên giới thiệu chung về hoạt động xuất bản trên thế giới với những xu hướng phát triển trong thời đại mới, các tập đoàn xuất bản đa quốc gia, khâu phân phối sách, cơ cấu tổ chức quản lý xuất bản…, trong đó có đề cập đến tổng quan lịch sử ra đời và phát triển của bản quyền trên thế giới

Ở Việt Nam, trước thực trạng vi phạm bản quyền diễn ra công khai và phổ biến, đã

có nhiều tham luận, đề xuất được đưa ra tại các hội nghị, hội thảo nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác bản quyền Ngày 20/11/2014 Cục Bản quyền (Bộ

VHTT&DL) tổ chức Hội nghị tập huấn các quy định pháp luật về quyền tác giả,

quyền liên quan, Hội thảo về bản quyền tác giả Việt Nam – Hàn Quốc năm 2014được

tổ chức ngày 30/5/2014 tại Hà Nội, Hội thảo nâng cao hiệu quả của quản lý tập thể

quyền tác giả trong kỷ nguyên số ngày 15/4/2014, Hội thảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính ngày 6/11/2013, Hội thảo quốc gia về quyền tác giả năm 2012, Hội thảo chuyên đề “Chống in lậu và sách giả” ngày 13/11/2012 do Bộ

TT-TT, Cục Xuất bản và đại diện các nhà xuất bản phối hợp tổ chức Tháng

1/2005Cục Bản quyền tổ chứcHội thảo “Về vai trò quyền tác giả trong ngành công

nghiệp xuất bản” ở thành phố Hồ Chí Minh, Hội thảo bảo vệ bản quyền ở Việt Nam

do Trung tâm tư liệu về sở hữu trí tuệ phối hợp với Thư viện Khoa học tổng hợp

TP.HCM và các đơn vị khác thực hiện năm 2004, Hội nghị tập huấn và bồi dưỡng

nghiệp vụ phòng chống in lậu do Bộ TT-TT phối hợp với Bộ Công an được tổ chức

thường niên

Những hội thảo quốc tế về bản quyền do Cục Bản quyền tổ chức hoặc tham gia

như: Hội thảo quốc tế về sở hữu trí tuệ, cạnh tranh và thực thi quyền sở hữu trí tuệ:

kinh nghiệm của Việt Nam, Lào và Campuchia ngày 4, 5/6/2013, Hội thảo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về chính sách và chiến lược quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan ngày 10-12/9/2012, Khóa đào tạo “Tìm hiểu những thách thức hiện tại và trong tương lai về vấn đề sở hữu trí tuệ tại Hồng Kông (Trung Quốc) ngày 4-

8/8/2014

Trên phương diện pháp luật, văn hóa xã hội, có bài viết: Bảo vệ tác quyền: Chính

tác giả còn chưa nắm rõ quyền lợi của mình (Petro Times, 9/2013), Sách ngoại văn bị

Trang 10

vi phạm bản quyền nghiêm trọng (vlr.vn), Sách vi phạm bản quyền của các nhà xuất bản nước ngoài (Báo Lao động, 10/2012), Sách điện tử vi phạm bản quyền (Báo Lao

động, 8/2011), Sách ảo vi phạm bản quyền trắng trợn (baomoi, 2013)…

Nghiên cứu về quyền tác giả còn có các công trình của tiến sĩ Vũ Mạnh Chu, nguyên cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, nghiên cứu về bản quyền ở khía cạnh luật học

Từ góc độ hoạt động xuất bản - phát hành sách, đã có nhiều tham luận, bài viết, đóng góp từ các hội thảo về bản quyền được tổ chức bởi nhiều đơn vị trong ngành

như:Hội nghị chống in lậu do Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức tại thành phố Hồ Chí

Minh vào các năm 2004, 2007, 2010, được nhiều cơ quan chức năng và các nhà xuất bản tham dự Công ty Fahasa phối hợp với các nhà xuất bản Oxford, Pearson, Mac

Grawhill, Macmillan, Cengage, Cambridge tổ chức hội thảo Sách vi phạm bản quyền

của các nhà xuất bản nước ngoài – Thực trạng và các giải pháp phòng chống tháng

7/2008, công ty sách Thái Hà tổ chức tọa đàm về Nâng cao nhận thức về sách bản

quyền tại Việt Nam tháng 4/2010, bộ môn Luật thuộc khoa Quản trị kinh doanh đại

học Ngoại thươngphối hợp với câu lạc bộ Nhà tư vấn luật tổ chức hội thảo I hate fake

books – Sách giả sách thật ngày 20/ 3/2011.[1]

Có thể thấy, vấn đề quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu Ngoại trừ những văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành về quyền tác giả hoặc có liên quan đến quyền tác giả, những Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đa phần những bài viết trên các phương tiện truyền thông tập trung vào thực trạng

vi phạm bản quyền tràn lan và tinh vi như một thách thức đối với cơ quan quản lý và

xã hội, xác định những nguyên nhân của vi phạm bên cạnh đó đề xuất những biện pháp giải quyết Các bài viết từ cáchội thảo, hội nghị nhấn mạnh đến những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và thực thi bản quyền

Những công trình nghiên cứu về bản quyền có các đề tài như :

Bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam với việc Việt Nam gia nhập Công ước Berne,

luận văn thạc sĩ Luật học(khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội) của tác giả Ngô Ngọc Phương (2006) Đề tài chủ yếu tập trung vào cơ sở lý thuyết của luật bản quyền như

Trang 11

Mở đầu

Đề tài khóa luận của sinh viên khoa Xuất bản trường Đại học Văn hóa Tp.HCM:

Bảo vệ bản quyền sách công ty văn hóa sáng tạo Trí Việt (Firstnews), đề tài khai thác

vấn đề bảo vệ bản quyền tập trung vào hoạt động bản quyền của công ty sách Trí Việt

Đề tài Vấn đề bản quyền trong hoạt động xuất bản tại thành phố Hồ Chí Minh

(2012) Đề tài trình bày chi tiết về vấn đề bản quyền trong hoạt động xuất bản tại

thành phố Hồ Chí Minh qua các vấn đề cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền tác giả, thực trạng vi phạm bản quyền, giải pháp và kiến nghị

Các đề tài về bản quyền trên chủ yếu tập trung vào khía cạnh cơ sở pháp lý của luật bản quyền và thực trạng vi phạm bản quyền, đề xuất các biện pháp giải quyết chứ chưa nghiên cứu bản quyền ở góc độ văn hóa học Có thể tiếp thu ở các đề tài và tài liệu trên các vấn đề liên quan đến hoạt động thực tiễn của bản quyền ở Việt Nam nhưng sẽ phân tích để làm rõ bản quyền qua khía cạnh văn hóa học

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu theo trục lịch đại, nghiên cứu bản quyền từ xã hội truyền thống đến hiện đại, sử dụng cách tiếp cận sử - văn hóa để tìm hiểu lịch sử pháp luật về quyền tác giả của thế giới và Việt Nam cũng như lịch sử hoạt động xuất bản-phát hành sách trong mối tương quan với văn hóa Việt Nam

Đề tài nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận hệ thống, xem xét vấn đề bản quyền trong mối tương quan với các yếu tố văn hóa khác

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính qua việc nghiên cứu tư liệu tại chỗ

Nguồn tư liệu

Sử dụng nguồn tư liệu từ các văn bản pháp luật về bản quyền sách và có liên quan đến bản quyền sách như: Luật Sở hữu trí tuệ, luật Xuất bản, luật Dân sự, luật Hình sự, Công ước Berne, hiệp định TRIPS và các văn bản pháp luật khác như Nghị định, Thông tư liên tịch

Nguồn tài liệu khai thác từ Cục Bản quyền tác giả, Sở Thông tin Truyền thông Tp.HCM, các nhà xuất bản và các đơn vị làm sách có hoạt động bản quyền sách

Trang 12

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương Chương một trình bày

cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách Chương hai trình bày nhận thức về bản quyền sách trong xã hội truyền thống Chương ba trình bày nhận thức về bản quyền sách trong xã hội hiện đại và ý nghĩa của giáo dục đối với việc bảo vệ quyền tác giả

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận

Qua đề tài, tác giả muốn góp thêm một nguồn tư liệu mới trong lĩnh vực quyền tác giả khi xem xét bản quyền qua góc nhìn văn hóa học, qua đó góp phần làm rõ những đặc trưng của văn hóa Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn

Thực tiễn vấn đề bản quyền trong hoạt động xuất bản – phát hành sách đang diễn

ra ngày một sôi động và phức tạp với nhiều nan đề khó giải quyết, tác giả mong muốn khi được nghiên cứu từ góc độ văn hóa học, đề tài sẽ phần nào có những đóng góp hữu ích và thiết thực cho thực tiễn hoạt động xuất bản – phát hành sách và công tác bảo vệ bản quyền sách tại Việt Nam

Trang 13

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢN QUYỀN SÁCH 1.1 Khái niệm Bản quyền sách

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, Sở hữu trí tuệ theo nghĩa rộng là “các quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật” [20, tr.3] Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới được ký tại Stockholm ngày 14/7/1967 quy định: Sở hữu trí tuệ “bao gồm các quyền liên quan tới:tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học ; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình ; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người ; phát minh khoa học ; kiểu dáng công nghiệp ; nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, chỉ dẫn và tên thương mại

; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnhvà tất cả những quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”.[20, tr.3]

Sở hữu trí tuệ theo truyền thống được phân thành hai nhánh là sở hữu công nghiệp và bản quyền tác giả Những lĩnh vực đề cập liên quan tới các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học thuộc về nhánh bản quyền tác giả Luật bản quyền “là một nhánh của pháp luật đề cập đến quyền của người sáng tạo trí tuệ đối với các hình thức sáng tạo và phương pháp truyền đạt tới công chúng trong các lĩnh vực: xuất bản, phát thanh, truyền hình, phim ảnh, thậm chí cả hệ thống máy tính để lưu trữ và truy cập thông tin” [20, tr.3]

Theo khoản 2 điều 1 Hiệp định Trips về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu trí tuệ“bao gồm: bản quyền và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Luật bản quyền của các quốc gia quy định bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm: văn học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, bản đồ và các hình vẽ kỹ thuật, nhiếp ảnh, chương

trình máy tính” [6]

Theo quy định tại khoản 3 điều 2 chương 3 của Hiệp định thương mại Việt Hoa Kỳ, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: “quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, thiết kế bố trí mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được

Trang 14

Nam-mã hóa, bí mật thương mại, kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống thực vật”[6]

Theo quy định của Luật Dân sự Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền đặc thù “Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là các tài sản phi vật chất, là những sản phẩm có tính sáng tạo tinh thần, kết tinh trí tuệ của con người và do những lợi ích vật chất của chúng mà pháp luật thừa nhận chúng là tài sản” [6] Quyền sở hữu trí tuệ

có hai đặc tính cơ bản: quyền tài sản đối với tác phẩm và đối tượng sở hữu công nghiệp và quyền nhân thân của tác giả, chủ văn bằng, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp Theo Bộ luật Dân sự 2005, “đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và

không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào” [6]

Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2009, “quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Quyền tác giả là

quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền

liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được

mã hóa Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu” [6]

Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, “Bản quyền là quyền của tác giả hay nhà xuất bản về một tác phẩm, được luật pháp quy định” (vd: tôn trọng bản quyền của tác giả) [12]

Theo TS Vũ Mạnh Chu, sở hữu trí tuệ “là tài sản được tạo ra do lao động sáng tạo của con người, hàm lượng chất xám của lao động được kết tinh ở các loại hình

Trang 15

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của con người đối với tài sản này” [2]

Theo một định nghĩa khác, Bản quyền “là một thuật ngữ pháp lý mô tả quyền lợi kinh tế của người sáng tác ra các tác phẩm văn học và nghệ thuật, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và trình diễn hoặc trưng bày tác phẩm của mình trước công chúng Bản quyền chủ yếu nhằm bảo vệ tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, tiểu thuyết, thơ

ca, kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn hóa khác Khi nghệ sĩ và người sáng tác đưa ra những hình thức thể hiện khác thì những loại hình thể hiện mới này cũng được bao gồm trong những công trình được bảo hộ bản quyền” [11, tr.7]

Như vậy có thể hiểu bản quyền là quyền hợp pháp của người sáng tạo ra hoặc sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Bản quyền sách là quyền của người sáng tạo ra hoặc chủ sở hữu tác phẩm được thể hiện dưới hình thức sách

1.2 Bản quyền quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả

Điều 27 Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 có ghi “quyền của những

người sáng tạo được công nhận là quyền cá nhân, theo công ước Berne đó là các quyền độc quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học” [28].Với cách tiếp cận từ các quyền tự nhiên, quyền đối với tác phẩm được coi là loại

“quyền đặc biệt của các cá nhân là tác giả của tác phẩmđược sáng tạo từ lao động của

tư duy, là quyền sở hữu riêng tư và thiêng liêng đối với tác phẩm” [28] Ngày nay, trên khắp thế giới, các quyền của những người sáng tạo như nhà văn, nhạc sĩ, nghệ sĩ

đã được luật pháp quốc gia bảo hộ Để điều chỉnh mối quan hệ toàn cầu, các nội dung cơ bản về quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả đã được luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế quy định đồng nhất.Các quyền của tác giả được pháp luật thừa nhận, mỗi cá nhân tác giả phải tự quản lí lấy các quyền của mình, khai thác nó

để đạt được các lợi ích kinh tế, bù đắp các tiêu hao trong quá trình sáng tạo, đồng thời tiếp tục đầu tư cho hoạt động sáng tạo ra các giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học mới phục vụ được nhu cầu đa dạng, phong phú của xã hội loài người

Tuy nhiên thay vì tác giả tự quản lí quyền của mình trong nhiều trường hợp không hiệu quả bằng quản lí tập thể Nhu cầu nhanh chóng tiếp cận với tác phẩm và

sử dụng tác phẩm ở nhiều hình thức khác nhau là đòi hỏi thực tế trong khi việc tiếp

Trang 16

cận với tác giả không phải ở bất kì thời gian và địa điểm nào cũng được Cá nhân tác giả không có khả năng kiểm soát tất cả các hình thức sử dụng đó để thương lượng với người sử dụng và thu tiền thù lao, mặt khácvới tư cách là người sáng tạo, tác giả cần ưu tiên đầu tư thời gian và vật chất cho lao động tư duy của mình Sự xuất hiện của giải pháp quản lí tập thể mang lại hiệu quả cho cả người sáng tạo và nhà sử dụng cũng như nhu cầu của công chúng về việc được hưởng thụ sớm các tác phẩm Trong

cơ cấu của hệ thống quản lý tập thể, chủ sở hữu quyền tác giả ủy quyền cho các tổ chức quản lý tập thể giám sát việc sử dụng tác phẩm của họ, thương lượng với những người sử dụng, cấp phép cho họ với mức thù lao hợp lý dựa trên một hệ thống biểu giá và theo những điều kiện thích hợp, thu tiền thù lao và phân bổ khoản tiền ấy cho các chủ sở hữu quyền

Hệ thống quản lý tập thể phục vụ quyền lợi của chủ sở hữu quyền tác giả nhưng cũng có ích cho người sử dụng vì họ có thể tiếp cận với những tác phẩm họ cần theo một cách đơn giản từ một nguồn duy nhất với chi phí giao dịch thấp vì quản lý tập thể đơn giản hóa các cuộc thương lượng với người sử dụng, giám sát việc sử dụng và thu phí Chức năng văn hóa và xã hội của tổ chức quản lý tập thể đặc biệt quan trọng tại những nước đang phát triển, nơi thường xuyên cần nhiều nỗ lực hơn nhằm tăng cường năng lực sáng tạo Thông qua việc thực hiện các chức năng đó một cách hiệu quả, các tổ chức quản lý tập thể có thể đạt tới hai mục tiêu quan trọng: góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao sự thừa nhận của công chúng đối với quyền tác giả.Quản lí tập thể là kinh nghiệm lịch sử của nhân loại bắt nguồn từ các nước có nền công nghiệp bản quyền phát triển, đã mở đường để đạt được sự hài hòa về lợi ích trong quan hệ giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ [28]

Sự xuất hiện các công ước và hiệp định về bản quyền quốc tế

Các nước Châu Âu là những quốc gia đầu tiên nỗ lực trong việc đàm phán những điều ước bản quyền song phương nhằm bảo hộ quyền tác giả cho các tác phẩm của mình khi ở những nước khác, các hiệp ước này đều dựa trên cơ sở bảo hộ bản quyền

có đi có lại Từ những năm 1950, ý tưởng về khung bản quyền quốc tế xuất hiện Sau nhiều thảo luận sơ bộ, Hiệp hội văn học nghệ thuật quốc tế đã đưa ra dự thảo về công ước bản quyền Từ năm 1884 – 1886 sau nhiều phiên đàm phán liên chính phủ tại

Trang 17

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

Berne (Thụy Sỹ), Công ước Bernevề bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời [13,

tr.110]

1.2.1 Công ước Berne

Công ước Berne được ký ngày 9/9/1886 tại Berne,văn bản ngày 24-7-1971 tại Paris và sửa đổi ngày 28-9-1979 là văn bản đang được thi hành tại 164 quốc gia thành viên Từ khi ra đời đến nay, công ước Berne đã trải qua tám lần sửa đổi, bổ sung, xuất phát từ sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đồng thời là nhu cầu nội tại của việc công nhận quyền tinh thần, huỷ bỏ thủ tục hình thức, bảo hộ sáng tạo dân gian, tiếp cận tác phẩm cho việc giáo dục, nghiên cứu khoa học.(Lần đầu tiên tại Paris 1896, tại Berlin

1908, tại Berne 1914, tại Rome 1928, tại Brussels 1948, tại Stockholm 1967, tại Paris

1971 và bổ sung năm 1979) Các điều luật được điều chỉnh đã quy định chi tiết hơn về quyền được bảo hộ, ngoại lệ và giới hạn, thời hạn bảo hộ tối thiểu, chủ sở hữu nguyên thuỷ, qua đó Công ước Berne đã đạt mức hài hoà cao dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia kết hợp với những quy định về mức độ bảo hộ tối thiểu [28]

Công ước Berne hoạt động dựa trên ba nguyên tắc chính, ba nguyên tắc này phải được thực hiện tại tất cả các quốc gia thành viên nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng cho công dân và tổ chức có tác phẩm được bảo hộ, đó cũng là sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các nước thành viên Công ước

- Nguyên tắcđối xử quốc gia: các quốc gia thành viên phải bảo hộ tác phẩm có

nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác tương tự như bảo hộ tác phẩm của công dân nước mình

- Nguyên tắc bảo hộ đương nhiên: sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kì thủ tục

hình thức nào như việc đăng kí cấp giấy chứng nhận, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự khác

- Nguyên tắcbảo hộđộc lập: các quyền mà công dân và tổ chức được hưởng và

thực thi theo Công ước là độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm

Đối với tác phẩm: Công ước Berne bảo hộ tất cả các tác phẩm trong các lĩnh vực

văn học, nghệ thuật và khoa họckhông phân biệt hình thức và cách thức thể hiện,

Trang 18

không lệ thuộc bởi bất kì thủ tục hình thức nào Quy định này bắt nguồn từ triết lí

“quyền tự động phát sinh” của nguyên tắc bảo hộ đương nhiên Theo yêu cầu bảo hộ

từ các nước đang phát triển, Công ước Berne đã bổ sung loại hình văn học, nghệ thuật

dân gian tại Hội nghị Stockholm năm 1967 Với sự tiến bộ của khoa học và công

nghệ, Hiệp định Trips năm 1994 đã bổ sung chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu

vào loại hình tác phẩm được bảo hộ (Điều 10) Các loại hình không được bảo hộ cũng được quy định cụ thể để các quốc gia thành viên áp dụng [28]

Về quyền được bảo hộ: Công ước Berne bảo hộ quyền tài sản và quyền tinh thần

Quyền tài sảnlà “quyền kinh tế của tác giả, do tác giả trực tiếp thực hiện hoặc cho phép các tổ chức, cá nhân khác thực hiện từ việc khai thác các quyền độc quyền như: quyền sao chép, quyền phân phối, quyền dịch, quyền phóng tác, quyền biểu diễn công cộng, quyền kể lại trước công chúng, quyền phát sóng, quyền truyền thông tới công chúng, quyền bán lại tác phẩm nghệ thuật gốc” [28] Khi xuất hiện các hiệp ước về Internet (hiệp ước WCT và WPPT), khái niệm sao chép kĩ thuật số, các quyền truyền

kĩ thuật số, biện pháp công nghệ và thông tin quản lí quyền ra đời để có thể bảo vệ được quyền tác giả trong thời đại kĩ thuật số

Quyền tinh thần: bao gồm quyền đứng tên tác giả trên tác phẩm, quyền phản đối sự cắt xén, bóp méo, sửa đổi tác phẩm, quyền chống lại các hành vi làm phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Đồng thời với quyền độc quyền, Công ước còn đưa ra quy định về giới hạn và ngoại lệ Tuy nhiên, các giới hạn và ngoại lệ chỉ được thực hiện khi không ảnh hưởng tới việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây thiệt thòi về quyền lợi hợp pháp của tác giả

Thời hạn bảo hộ: Công ước quy địnhtheo hai nguyên tắc:

Thời hạn bảo hộ theo đời người: suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời

Thời hạn bảo hộ dựa vào thời điểm công bố: 50 năm đối với tác phẩm điện ảnh khi tác phẩm được công bố hoặc được sáng tạo, và tối thiểu 20 năm đối với tác phẩm

Trang 19

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

cầu bảo hộ tối thiểu, tuỳ theo từng quốc gia thành viên có thể quy định thời hạn bảo

hộ dài hơn như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, các nước Châu Âu, Nhật Bản, Singapore Những điều khoản đặc biệt về ưu đãi, miễn trừ dành cho các quốc gia đang phát triển được quy định tại phụ lục Công ước Berne Lợi ích này là thoả thuận của các nước phát triển để các quốc gia đang phát triển có thể tiếp cận việc dịch và xuất bản đối với một số loại hình tác phẩm

Đến 15-7-2009 đã có 164 nước là thành viên của Công ước Berne Ngày 26/7/2004, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả Công ước Berne có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004

1.2.2 Hiệp định Trips về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Trips là một hiệp định đa phương thuộc hệ thống các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới Hiệp định Trips là một hiệp định tổng thể nhất về sở hữu trí tuệ, bao hàm các chế độ đặc biệt về sở hữu trí tuệ mà một phần nội dung của nó dựa vào các quy định của các công ước do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới quản lí (chủ yếu là Công ước Berne, Công ước Paris, Công ước Rome và Hiệp ước Washington về thiết

kế bố trí mạng tích hợp) Đối tượng điều chỉnh của Hiệp định gồm: quyền tác giả và quyền liên quan, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bí mật và kiểm soát các hoạt động chống cạnh tranh không lành mạnh Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia Hiệp định gồm 7 phần với 73 điều, có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 7/11/2006 [28]

Về thực thi:Hiệp định Trips bao hàm các nghĩa vụ chung và các nghĩa vụ cụ thể

nhằm đảm bảo các quy định về bảo hộ được thực thi hoàn hảo Các nghĩa vụ chung là các thủ tục Thủ tục phải được quy định trong pháp luật quốc gia với các biện pháp thực thi hiệu quả, nhanh chóng, công bằng, hợp lí, không quá phức tạp, chi phí không quá cao, không gây chậm trễ bất hợp lí và đủ mạnh để ngăn chặn các vi phạm, đồng thời không được cản trở thương mại hợp pháp và phải có những biện pháp đảm bảo chống lạm dụng các thủ tục này Các nghĩa vụ cụ thể gồm các quy định về cung cấp chứng cứ, lệnh của cơ quan xét xử nhằm ngăn chặn việc đưa vào các kênh thương mại

Trang 20

hàng hóa nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bồi thường thiệt hại, quyền thông tin và quyền bảo đảm dành cho bị đơn chống lại việc lạm dụng các thủ tục Hiệp định còn bao gồm các biện pháp khẩn cấp tạm thời dành cho các cơ quan có thẩm quyền để lập tức chặn đứng vi phạm, ngăn cản hàng hóa vi phạm tham gia vào các kênh thương mại, bảo vệ chứng cứ, và yêu cầu về các biện pháp tại biên giới dành cho các cơ quan hải quan như quyền đình chỉ thông quan hàng hóa hoặc vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan ở quy mô thương mại

Về ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp: Hiệp định có các điều khoản ngăn ngừa

tranh chấp trong đó quy định tất cả các luật và văn bản pháp quy, các quyết định xét

xử trung thẩm và các văn bản quản lí phải được nộp tới Hội đồng Trips, và việc các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới cung cấp thông tin cho nhau theo yêu cầu về các tình huống áp dụng hiệp định Hiệp định quy định việc giải quyết tranh chấp được

áp dụng theo các quy định chung của Hiệp định Gatt về giải quyết tranh chấp trong bản thỏa thuận, về quy tắc và thủ tục điều chỉnh giải quyết tranh chấp năm 1994 Cơ quan giải quyết tranh chấp (gọi tắt là DSB)được lập ra theo Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới là cơ quan có thẩm quyền áp dụng bản thỏa thuận này để giải quyết tranh chấp

Về các thỏa thuận chuyển tiếp: Hiệp định cho phép các thành viên có một khoảng

thời gian chuyển đổi thích hợp, nhằm đảm bảo việc thực thi đầy đủ các nghĩa vụ, đối với các nước phát triển là 1 năm, các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 11 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (01-01-1995) Hiệp định cũng còn có những điều khoản hỗ trợ kĩ thuật và tài chính, ưu tiên dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển

Về thể chế: cơ quan quản lílà Hội đồng Trips được thành lập với nhiệm vụ: kiểm

soát các hoạt động của Trips đặc biệt là việc tuân thủ các nghĩa vụ, lập ra các thỏa thuận tương ứng về hợp tác với các cơ quan của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, tổ chức các hội nghị đánh giá việc thực hiện các nghĩa vụ theo hiệp định của các quốc gia thành viên

Trang 21

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

1.2.3 Hiệp ước của Wipo về quyền tác giả (Hiệp ước WCT)

Hiệp ước WCT được ký kết tại Geneva ngày 20/12/1996 Hiệp ước mở rộng việc phê chuẩn, chấp thuận gia nhập cho các quốc gia thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới và Cộng đồng Châu Âu (EC) Hiệp ước gồm phần mở đầu và 25 điều Hiệp ước quy định bảo hộ các loại hình tác phẩm gồm: chương trình máy tính, sưu tập

dữ liệu không phân biệt cách thức và hình thức thể hiện, với sự lựa chọn và sắp xếp nội dung tạo thành những sáng tạo trí tuệ [28]

Về các quyền tác giả, Hiệp ước đề cập đến ba quyền: quyền phân phối, quyền cho

thuê, quyền truyền thông công cộng, trừ các hạn chế và ngoại lệ cụ thể Quyền phân

phối là “quyền cho phép cung cấp bản gốc hoặc bản sao tác phẩm tới công chúng

thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu” Quyền cho thuê là “quyền

cho phép cho thuê thương mại các bản gốc và bản sao chương trình máy tính, tác

phẩm điện ảnh” Quyền truyền đạt tới công chúng là “quyền đưa tới công chúng thông

qua phương thức truyền cáp hoặc truyền sóng, bao hàm cả việc tạo ra sự sẵn có tác phẩm để công chúng có thể truy cập tại bất kì địa điểm, thời gian do họ lựa chọn” [28]

Hiệp ước ràng buộc các quốc gia thành viên quy định quyền áp dụng biện pháp tự bảo vệ quyền, chống lại việc dỡ bỏ, phá hủy các biện pháp công nghệ, các thông tin quản lí quyền Hiệp ước cũng ràng buộc quốc gia thành viên về việc thông qua các biện pháp cần thiết để bảo đảm áp dụng Hiệp ước, phù hợp với hệ thống pháp lí của quốc gia mình Đặc biệt quốc gia thành viên bảo đảm các thủ tục cưỡng chế phải được thực thi mau lẹ để ngăn chặn vi phạm và cản trở đối với những vi phạm tiếp theo Hiệp ước quy định lập Đại hội đồng của các quốc gia thành viên nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến việc duy trì và phát triển hiệp ước, và giao cho Văn phòng quốc

tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới nhiệm vụ quản lí liên quan đến Hiệp ước Hiện nay, Hiệp ước có 70 nước thành viên Tại thời điểm này Việt Nam chưa tham gia Hiệp ước WCT

1.2.4 Công ước toàn cầu về bản quyền (Công ước UCC)

Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC) bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật

và khoa học do Tổ chức các nước châu Mỹ quản lý được thông qua tại Geneva (Thụy

Trang 22

Sỹ) ngày 6-9-1952 và sửa đổi ngày 24-7-1971 tại Paris (Pháp) Công ước UCC gồm

có 21 điều, phần phụ lục, nghị quyết và biên bảnđể mở cho bất kì quốc gia nào đệ đơn gia nhập Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng Thư

kí Liên hợp quốc Công ước quy định các quốc gia thành viên quy định bảo hộ quyền tác giả phải đáp ứng điều kiện trên bản sao tác phẩm được công bố lần đầu tiên có dấu hiệu chữ “C” bên trong vòng tròn [28]

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả không ngắn hơn cuộc đời tác giả và 25 năm sau khi tác giả mất Công bố đồng thời ở hai hay nhiều nước là việc công bố trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố đầu tiên tại quốc gia.Công ước UCC đặc biệt quy định về quyền dịch, các hạn chế và ngoại lệ đối với quyền này Thời hạn xin cấp giấy phép dịch thuật đối với tác phẩm đã công bố là 7 năm với điều kiện người nắm giữ quyền dịch không công bố bản dịch của mình bằng ngôn ngữ phổ thông tại nước có liên quan Thời hạn này có thể giảm xuống còn 3 hoặc 1 nămtùy các trường hợp cụ thể Công ước quy định thành lập Ủy ban liên chính phủ để quản lí và điều hành Công ước Đến ngày 15-7-2009 Công ước UCC có 100 quốc gia thành viên Tại thời điểm này Việt Nam chưa nộp đơn tham gia Công ước UCC

1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả

Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận

những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả, thể hiện tư tưởng tiến

bộ nhân văn về quyền con người Đó là “quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân, Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức, tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản” [22, tr.8] Tư tưởng lập pháp đó đã tiếp tục được thể hiện tại Hiến pháp 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 đang có hiệu lực thi hành

Năm 1986 Chính phủ ban hành Nghị định 142/HĐBT, văn bản riêng biệt về quyền

tác giả đầu tiên ở Việt Nam với những quy định cơ bản ban đầu với sự giúp đỡ của hãng VAB (Hãng bảo hộ quyền tác giả của Liên Xô cũ) Nghị định 142/HĐBT đã tạo tiền đề pháp lý đáp ứng yêu cầu bảo hộ quyền và lợi ích của tác giả, là cơ sở pháp lý

để các cơ quan quản lý thực hiện việc đăng ký quyền tác giả và giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả Tuy nhiên Nghị định 142/HĐBT chưa quy định đầy đủ về đối

Trang 23

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

quyền tác giả còn ngắn (30 năm sau khi tác giả mất), chưa quy định về bảo hộ các quyền liên quan Về mặt hình thức, Nghị định 142/HĐBT là dạng văn bản dưới luật nên bị hạn chế hiệu lực thi hành và cũng chưa được coi là văn bản có giá trị pháp lý cao để Nhà nước làm cơ sở tham gia các hiệp định bản quyền quốc tế [22, tr.8]

Để khắc phục những nhược điểm của Nghị định 142/HĐBT, tháng 10/1994 Ủy

ban thường vụ quốc hội đã thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Pháp lệnh gồm

có 7 chương với 47 điều, so với Nghị định 142/HĐBT, Pháp lệnh quy định đầy đủ hơn

về các đối tượng được bảo hộ bao gồm chương trình phần mềm máy tính, quy định cụ thể các quyền của tác giả và thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quy định về mốc tính thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm đồng tác giả và tác phẩm di cảo, quy định về bảo hộ các quyền liên quan đến quyền tác giả

Năm 1995, Bộ luật Dân sự ra đời, trong đó lần đầu tiên quyền tác giả được quy

định tập trung tại chương một phần sáu, từ điều 745 đến điều 779 và tại một số điều khác có liên quan của bộ luật Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1996 cũng là lúc Pháp lệnh về quyền tác giả hết hiệu lực Bộ luật Dân sự năm 1995 đã kế thừa và phát triển những quy định còn phù hợp của Pháp lệnh quyền tác giả như: khái niệm tác giả, thời điểm phát sinh quyền tác giả, các loại hình tác phẩm được và không được Nhà nước bảo hộ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả và hợp đồng sử dụng tác phẩm, đồng thời cũng bổ sung một số điều mới như quy định cụ thể về chủ sở hữu tác phẩm, quy định về nghĩa vụ của người biểu diễn, của các tổ chức sản xuất băng đĩa ghi âm, ghi hình và của các tổ chức phát thanh, truyền hình Bộ luật cũng quy định việc tổ chức đăng ký quyền tác giả cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu [22, tr.10]

Bộ luật Dân sự năm 1995 nhấn mạnh đến quyền tác giả dưới góc độ của một quyền dân sự Những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về quyền tác giả như: thủ tục đăng ký quyền tác giả, các hình thức xử lý vi phạm… được quy định trong những văn bản pháp luật khác của các cơ quan nhà nước Bộ luật Dân sự 1995 là “cơ sở pháp

lý để Nhà nước bảo hộ quyền tác giả hợp pháp, đồng thời là cơ sở để Việt Nam thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền tác giả” [22, tr.12] Bộ luật Dân sự năm 1995 đã bước đầu xây dựng nền móng cho ý thức tôn trọng pháp luật

về quyền tác giả của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm, giáo dục ý thức tôn trọng quyền tác giả trong nhân dân đồng thời tạo niềm tin cho đội ngũ sáng tác

Trang 24

Trong Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2005 do Quốc hội khóa 11 kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2006, vấn đề quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả được đề cập trong phần thứ 6 chương XXXIV về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

Để thúc đẩy các bước phát triển mới trong hoạt động bảo hộ tại quốc gia và hội nhập

quốc tế, tại kì họp thứ 8 khóa XI ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu

trí tuệ Với 222 điều, Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh các quan hệ sáng tạo, bảo hộ tài sản

trí tuệ của ba đối tượng gồm quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp

và quyền đối với giống cây trồng Nhằm khắc phục kịp thời một số hạn chế, cản trở thực thi tại quốc gia và hội nhập quốc tế, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ

sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ - Luật Sở hữu trí tuệ 36/2009/QH12tại kì họp thứ 5

ngày 19-6-2009 với 33 điều sửa đổi, bổ sung

Ngày 21/9/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2006/NĐ-CP và số

85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định

100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân

sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Nghị định có 7 chương

Ngày 22/9/2006, Thủ tướng chính phủ ký ban hành Nghị định số 105/2006/NĐ-CP

và số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định

105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ Nghị định có 8 chương

Ngày 22/2/2007, Thủ tướng chính phủ ký Chỉ thị số 04/2007 CT-TTg về việc tăng

cường bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính

Ngày 31/12/2008, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân ký ban hành Chỉ thị 36/2008

nhằm tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

Ngày 29/2/2008, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công

an và Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch

số01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTC-BTP hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành

vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Bên cạnh đó Thông tư liên tịch số

02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP cũng được ban hành hướng dẫn áp dụng một số quy định

Trang 25

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại tòa án nhân dân

Ngày 12/5/2009 Bộ Thông tin truyền thông và Bộ Công an ban hành Thông tư liên

tịch số 16/2009/TTLT-BTTTT-BCA về phối hợp phòng, chống in lậu

Ngày 10/2/2009, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 29/2009/TT-BTC quy định về

mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, quyền liên quan

Ngày 16/10/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 131/2013/NĐ-CP quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan, thay thế hai Nghị định 47/2009/NĐ-CP (ngày 13/5/2009) và Nghị định 109/2011/NĐ-CP (ngày 2/12/2011)

Sở hữu trí tuệ đối với từng lĩnh vực ngành nghề cũng được quy định trong các điều luật cụ thể bao gồm:

Điều 3 Luật báo chí, luật sửa đổi bổ sung năm 1999

Luật xuất bản 19/2012/QH13 ngày 20/11/2012

Điều 7, 30, 31 Luật điện ảnh năm 2006, luật sửa đổi bổ sung năm 2009

Điều 4, 5, 23 Luật di sản văn hóa năm 2001, luật sửa đổi bổ sung năm 2009

Điều 23, 24 Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 ngày 16/11/2001 Điều 23 Pháp lệnh thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000

Điều 12, 67 Luật công nghệ thông tin năm 2006

Điều 57, 58, 59 Luật hải quan năm 2001, luật sửa đổi bổ sung năm 2005

Điều 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55 chương 4 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày

15/12/2005 do Thủ tướng chính phủ ký quy định chi tiết một số điều của luật hải quan

về thủ tục, kiểm tra giám sát hải quan

Điều 131, 170a Bộ luật hình sự 1999, luật sửa đổi bổ sung năm 2009

Điều 24, 25 Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi

phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản

Điều 24 khoản 1 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13ngày 20/6/2012

Trang 26

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Namquy định những nội dung cụ thể về quyền tác giả thể hiện ở các điểm như sau:

1.3.1 Tác phẩm

Đối tượng được pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền tác giả là tác phẩm Tác phẩm

“là sản phẩm sáng tạo, được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, thuộc các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học”[28] Theo luật Việt Nam, tác phẩm bao gồm các loại hình: văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự khác, bài phát biểu, bài giảng, tác phẩm sân khấu, điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, âm nhạc, tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

Ngoài ra tác phẩm được bảo hộ còn là tác phẩm phái sinh Đó là tác phẩm được

sáng tạo dựa vào tác phẩm đã có thông qua: dịch thuật, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ quyền tác giả khi không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để sáng tạo tác phẩm phái sinh Tuy nhiên chỉ những tác phẩm được tác giả trực tiếp sáng tạo, không sao chép từ tác phẩm khác mới thuộc loại hình được bảo hộ

Những tác phẩm không được bảo hộ là: tin tức thời sự đưa tin thuần túy ; văn bản

quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó ; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu

Tất cả tác phẩm nằm trong nhóm tác phẩm được bảo hộ chỉ được bảo hộ khi tác phẩm đó không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không có hại cho quốc phòng

an ninh Tác phẩm phải do công dân hoặc tổ chức Việt Nam là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả Nếu là tác phẩm do cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài là tác giả hoặc chủ

sở hữu quyền tác giả phải được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nó được công bố lần đầu tiên tại nước khác Đó cũng có thể là tác phẩm của tổ chức, cá nhân nước ngoài được bảo hộ

ở Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

Trang 27

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

1.3.2 Tác giả và quyền tác giả

“Tác giả là những người bằng lao động trí tuệ của mình, trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng vật chất nhất định” [28] Những người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh là tác giả của tác phẩm phái sinh đó Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp tham gia sáng tạo tác phẩm thì họ là đồng tác giả của tác phẩm

Khái niệm trên cho thấy chỉ “những người trực tiếp làm ra tác phẩm thông qua hoạt động của tư duy sáng tạo mới được coi là tác giả” [28] Kết quả của lao động do

tư duy sáng tạo mang lại phải định hình dưới dạng vật chất nhất định (trên giấy, phim nhựa, băng đĩa từ, băng đĩa lade, gỗ, kim loại hoặc bất kì loại hình vật chất nào đã có

và sẽ có trong tương lai), quyền tác giả không phát sinh đối với những ý tưởng sáng tạo, pháp luật không bảo hộ ý tưởng, pháp luật chỉ bảo hộ những ý tưởng về văn học, nghệ thuật và khoa học đã được hình thành bằng tác phẩm và định hình ở bất kì dạng vật chất nào

Các quyền của tác giảbao gồm:quyền nhân thân và quyền tài sản

Quyền nhân thânbao gồm:

- Quyền đứng tên tác giả trên bản gốc và bản sao tác phẩm: Tác giả có quyền

lựa chọn việc đứng tên thật, lấy bút danh hoặc có thể không đứng tên trên tác phẩm của mình Dựa vào quyền này, tác giả được quyền yêu cầu việc ghi tên tác giả trên bản gốc, bản sao tác phẩm và quyền được nêu tên khi biểu diễn, phát sóng tác phẩm

- Quyền đặt tên cho tác phẩm của mình

- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm: tác giả có quyền ngăn cấm hoặc cho phép

người khác khai thác, sửa chữa tác phẩm của mình, quyền ngăn chặn mọi sự xuyên tạc, xâm phạm tới uy tín và danh dự của mình

- Quyền công bố:tác giả có quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác

phẩm của mình vào thời điểm công bố do tác giả quyết định

Trong các quyền trên, quyền đứng tên, quyền đặt tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm được pháp luật quốc gia và quốc tế bảo hộ vô thời hạn và không được

Trang 28

chuyển giao Quyền công bố tác phẩm là quyền có thể để lại thừa kế hoặc chuyển giao cho người khác

Quyền tài sảnlà “các quyền độc quyền do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép

người khác khai thác, sử dụng hoặc chuyển giao” [28], bao gồm:

- Quyền làm tác phẩm phái sinh: do tác giả tự thực hiện hoặc cho phép người

khác sử dụng tác phẩm của mình để sáng tạo ra tác phẩm mới bằng các hình thức như: chuyển ngữ, chuyển thể, cải biên, phóng tác, phiên âm, chú giải

Tác giả của tác phẩm phái sinh chỉ có quyền tác giả khi không gây phương hại tới quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để sáng tạo ra tác phẩm phái sinh Điều này

có nghĩa, phải có sự thỏa thuận trước khi sử dụng để sáng tạo tác phẩm phái sinh

- Quyền sao chép tác phẩm: Quyền sao chép là một trong các quyền quan trọng

của tác giả Việc xuất bản một tác phẩm là một hình thức sao chép tác phẩm, nó là hình thức sao chép cổ điển nhất [28] Việc sao chép một phần hay toàn bộ tác phẩm phải được sự đồng ý của tác giả, không phân biệt hình thức, phương tiện được sử dụng để sao chép, kể cả sao chép dưới hình thức điện tử

- Quyền biểu diễn:Quyền biểu diễn tác phẩm theo luật nhiều quốc gia là “quyền

biểu diễn trước công chúng ở bất kì địa điểm và thời gian nào với số lượng quần chúng đủ lớn, ngoại trừ phạm vi gia đình, như biểu diễn nhạc kịch tại nhà hát, đọc truyện, ngâm thơ trên đài phát thanh, truyền hình Nó còn bao gồm cuộc biểu diễn gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình được phát qua các thiết bị tương thích ở các địa điểm kinh doanh, thương mại như trên máy bay, sàn nhảy, siêu thị, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ karaoke” [28]

- Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc bản sao tác phẩm:Quyền phân phối bản

gốc, bản sao tác phẩm do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện qua việc “sử dụng bất kì hình thức, phương tiện kĩ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê tác phẩm hoặc các hình thức chuyển nhượng khác” [28] Đối với tác phẩm tạo hình, tác phẩm nhiếp ảnh thì quyền phân phối còn bao gồm cả việc trưng bày, triển lãm trước công chúng

Trang 29

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

- Quyền truyền đạt tác phẩm:Là “quyền đưa tác phẩm đến công chúng bằng

phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, truyền qua vệ tinh, mạng thông tin điện tử hoặc bất

kì phương tiện kĩ thuật nào để công chúng có thể tiếp cận được tại bất kì địa điểm và thời gian nào” [28]

- Quyền cho thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính:Quyền cho thuê tác

phẩm điện ảnh, chương trình máy tính là quyền độc quyền của chủ sở hữu Nó là việc cho thuê để sử dụng có thời hạn, do chủ sở hữu quyền tác giả và bên sử dụng thỏa thuận theo hợp đồng

Điều 9 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng quy định tổ chức và cá nhân có quyền và trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bằng việc áp dụng các biện pháp

mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo quy định pháp luật Các biện pháp được hiểu bao gồm cả biện pháp điện tử

Các quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả nêu trên tự động phát sinh ngay sau khi tác phẩm được hình thành dưới dạng vật chất nhất định Theo luật Việt Nam, bài phát biểu, bài nói khác cũng phải được định hình mới được bảo hộ.Các tổ chức,

cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí với tác giả, chủ

sở hữu quyền tác giả

Nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì có đầy đủ các quyền Nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì chỉ có quyền nhân thân và quyền được hưởng thù lao từ việc viết ra tác phẩm hoặc chuyển nhượng tác phẩm

Trường hợp ngoại lệ đối với tác phẩm điện ảnh và tác phẩm sân khấu, luật Sở hữu trí tuệ quy định người làm công việc đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và những công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được hưởng các quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) và các quyền khác theo thỏa thuận

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Trang 30

Quyền nhân thân: được bảo hộ vô thời hạn trừ quyền công bố và cho phép người

khác công bố tác phẩm

Quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm: luật Việt Nam quy định thời hạn đó là

suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả mất Trong trường hợp đồng tác giả thì thời hạn 50 năm, tính từ khi tác giả cuối cùng mất Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm công bố lần đầu Trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, nếu tác phẩm loại này chưa công bố thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, tính từ khi tác phẩm được định hình.Đối với tác phẩm khuyết danh, khi danh tính của tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo nguyên tắc đời người Thời điểm kết thúc thời hạn bảo

hộ vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm kết thúc thời hạn bảo hộ

1.3.3 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu quyền tác giả

Chủ sở hữu quyền tác giả“là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định pháp luật”[28] Để phân biệt các dạng chủ sở hữu, luật Việt Nam đưa ra quy định như sau:

- Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả

- Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả Trong trường hợp có phần riêng biệt, có thể tách ra độc lập, không gây phương hại tới phần khác, các đồng tác giả không có thỏa thuận khác thì tác giả của phần riêng biệt là chủ sở hữu đối với phần riêng biệt đó

- Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả

- Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế di sảnlà tài sản trí tuệ

- Chủ sở hữu quyền tác giả là người nhận chuyển nhượng quyền tác giả (chuyển nhượng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo cam kết tại hợp đồng)

- Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước bao gồm các trường hợp: tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ nhưng chủ sở hữu quyền đã chết, không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc không được quyền hưởng di sản hoặc trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền tác giả cho Nhà nước Người quản lí tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả xuất

Trang 31

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

hiện Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh khi không thuộc các trường hợp nêu trên

Tác phẩm thuộc về công chúng là những tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ, điều đó có nghĩa không có tổ chức, cá nhân nào là chủ sở hữu các quyền tác giả Mọi

tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng nó, nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân theo quy định pháp luật

Chủ sở hữu quyền tác giả chỉ có quyền tài sản Chủ sở hữu quyền tác giả có nghĩa

vụ trả thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho tác giả.Chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng tiền nhuận bút, thù lao và lợi ích vật chất khác từ việc cho phép tổ chức,

cá nhân khác khai thác, sử dụng tác phẩm

Trong trường hợp đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, người dân bản địa lưu giữ tác phẩm không được thừa nhận là chủ sở hữu quyền tác giả mà chỉ được trả thù lao cho việc lưu giữ tác phẩm Người sưu tầm nghiên cứu giá trị tác phẩm là tác giả đối với phần nghiên cứu sưu tầm và giới thiệu của mình Đối với tác phẩm khuyếtdanh cho Nhà nước sở hữu nhưng được tổ chức hay cá nhân khác quản lý thì thì tổ chức hay cá nhân đó được hưởng quyền của chủ sở hữu

1.3.4 Hạn chế quyền tác giả

Trong một số trường hợp nhất định, quyền tác giả bị hạn chế Đó là các trường hợp

sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và trường hợp được phép sử dụng tác phẩm không trả tiền nhuận bút, thù lao nhưng vẫn phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả

Các trường hợp hạn chế quyền tác giả phải đảm bảo dựa trên những nguyên tắc chung như: việc sử dụng tác phẩm không nhằm mục đích thương mại, việc sử dụng tự

do tác phẩm không làm phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm ảnh hưởng đến các quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Việc khai thác,

sử dụng tác phẩm được quy định giới hạn trong các trường hợp sử dụng nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc chính sách xã hội, nhân đạo Các trường hợp giới hạn quyền tác giả chỉ áp dụng cho những tác phẩm đã được công bố và không liên quan đến các quyền nhân thân đối với tác phẩm

Trang 32

-Việc sử dụng tự do tác phẩm đã công bố không phải xin phép và không phải trả

tiềnnhư:việc sao chép không quá một bản, nhập khẩu không quá một bản cho mục

đích nghiên cứu cá nhân, giáo dục; chuyển sang chữ nổi cho người khiếm thị; trích dẫn hợp lý phục vụ cho phóng sự báo chí, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên trường hợp này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nghệ thuật tạo hình, chương trình máy tính Mọi trường hợp sử dụng đều phải ghi rõ nguồn gốc xuất xứ bao gồm tên tác phẩm, tác giả, năm xuất bản, nhà xuất bản đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn, trích dẫn phải đặt trong ngoặc kép

- Việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả

tiền:Luật Việt Nam cho phép các tổ chức phát sóng, các tổ chức cá nhân hoạt động

kinh doanh, thương mại được phép sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng tác phẩm Tuy nhiên việc

sử dụng tác phẩm trong trường hợp này cũng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm của chủ sở hữu, không gây phương hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Giới hạn về thời hạn bảo hộ là việc quy định thời hạn bảo hộ, với quan niệm quyền tác giả không thể là giá trị vô hạn [28] Luật pháp đưa ra thời hạn bảo hộ nhất định đối với từng loại hình cụ thể Đó là khoảng thời gian bắt đầu từ khi tác phẩm được định hình, đến lúc chấm dứt việc bảo hộ đối với quyền tài sản Chỉ trong thời gian đó quyền tác giả mới tồn tại, kể cả khi tác giả đã chết nhằm bảo đảm quyền lợi cho người thừa kế Sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ, tác phẩm thuộc về công cộng, việc khai thác sử dụng sẽ ở tình trạng tự do Tuy nhiên các tổ chức, cá nhân sử dụng phải tôn trọng quyền đứng tên, đặt tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm

1.3.5 Quyền liên quan đến quyền tác giả

Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là “quyền của

tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa” [28]

Quyền liên quan bao gồm: quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng

Trang 33

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

Quyền của người biểu diễn bao gồm:

Quyền nhân thân: được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn Quyền được bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn

Quyền tài sản: quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình Quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình Quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng Quyền phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê, hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được

Quyền của tổ chức phát sóng gồm: quyền phát sóng và tái phát sóng, quyền phân

phối đến công chúng, quyền định hình chương trình và quyền sao chép bản định hình

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình bao gồm: quyền sao chép trực tiếp

hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình, quyền phân phối đến công chúng bản sao hoặc bản gốc

Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải trả tiền và không phải xin phép với điều kiện không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng

Thời hạn bảo hộ đối với người biểu diễn: 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình Đối với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: 50 năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc 50 năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu chưa được công bố Đối với tổ chức phát sóng, thời hạn là 50 năm

kể từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện

Trang 34

1.3.5 Khai thác quyền tác giả

Chủ sở hữu có toàn quyền thực hiện việc cho phép người khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản.Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tài sản của mình cho tổ chức cá nhân khác Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là “việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu đối với một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản cho tổ chức, cá nhân khác trong một thời hạn nhất địnhtheo hợp đồng” [28] Trường hợp có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng và chuyển nhượng quyền tài sản phải được sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu Nếu có các phần riêng biệt có thể tách ra

để sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả có thể chuyển nhượng phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác

Các quyền nhân thân của tác giả, trừ quyền công bố tác phẩm và các quyền nhân thân của người biểu diễn không được chuyển nhượng Hợp đồng chuyển quyền sử dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản phải lập thành văn bản, ghi danh tính các bên, căn cứ chuyển nhượng, phạm vi đối tượng chuyển quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền tài sản, thời gian, giá cả, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng và phụ lục hợp đồng nếu có

1.3.6 Đăng kí quyền tác giả

Đăng kí quyền tác giả là việc tổ chức, cá nhân có quyền “nộp đơn theo quy định

pháp luật cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng

nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan” [28] Giấy

chứng nhận quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan do cơ quan nhà nước cấp, ghi nhận các thông tin về tác giả và tác phẩm, về người biểu diễn và cuộc biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và bản ghi âm, tổ chức phát sóng và chương trình phát sóng cùng các thông tin về chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan do các chủ thể quyền khai nhận theo các thủ tục quy định Tuy nhiên, đây không phải là thủ tục bắt buộc để được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan Những tổ chức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan sẽ không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc mình

Trang 35

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

1.3.7 Vi phạm quyền tác giả

Vi phạm quyền tác giả là việc thực hiện những hành vi gây phương hại đến quyền

hợp pháp của tác giả theo pháp luật quy định, bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân Đó là việc “thực hiện những hành vi mà chỉ có tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm được độc quyền thực hiện hoặc thực hiện hành vi thương mại với một tác phẩm đã bị xâm phạm quyền tác giả, nhập khẩu tác phẩm đã bị xâm phạm quyền tác giả ở một số nước”[30] Theo điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền nhân thân xảy

ra trong những trường hợp:

- Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học

- Mạo danh tác giả

- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả

- Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó

- Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Những hành vi xâm phạm quyền tài sản theo điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

- Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp quy định khác

- Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định khác

- Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp quy định khác

- Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả

- Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được

Trang 36

phép của chủ sở hữu quyền tác giả

- Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

- Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

- Cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm

- Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

- Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo

- Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ

sở hữu quyền tác giả

Quyền sao chép tác phẩm là một trong các quyền quan trọng của quyền tác giả Đây là quyền có vai trò cốt lõi, là “cơ sở để chủ sở hữu quyền tác giả kiểm soát và khai thác tác phẩm dưới hình thức làm bản sao, phân phối bản sao cũng như là cơ sở

để tác giả và nhà xuất bản kiểm soát và khai thác tác phẩm dưới hình thức sao chụp hoặc kỹ thuật số khi tác phẩm được đưa ra thị trường dưới dạng xuất bản phẩm”[30] Việc sử dụng một phần tác phẩm cũng có thể xem là hành vi vi phạm quyền tác giả nhất là khi đó là những phần quan trọng, cốt lõi của tác phẩm mà chủ sở hữu quyền tác giả được trao độc quyền thực hiện

Biểu hiện của hành vi vi phạm quyền tác giả

Ba biểu hiện vi phạm quyền tác giả phổ biến trong lĩnh vực xuất bản – in – phát hành hiện nay là: Xuất bản sách có giấy phép xuất bản của Cục Xuất bản nhưng không có bản quyền tác phẩm, sao chép hoàn toàn sách gốc gồm cả logo và trang bản quyền của nhà xuất bản, photo và buôn bán công khai tác phẩm mà không xin phép chủ sở hữu tác phẩm

Trong xuất bản

Trang 37

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

Vi phạm bản quyền trong xuất bản xảy ra khi nhà xuất bản xuất bản sách có giấy phép xuất bản của Cục Xuất bản nhưng không có hợp đồng thỏa thuận bản quyền với chủ sở hữu quyền tác giả

Trong in ấn

Các hành vi vi phạm quyền tác giả vốn đa dạng, phức tạptrong đó in lậu là dạng vi phạm phổ biến nhất liên quan đến quyền sao chép tác phẩm

Trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê không có giải nghĩa từ in lậu, tuy nhiên

từ lậu được giải thích là “có tính chất trái phép, lén lút trong ý nghĩa gắn với hành vi

đưa hàng qua biên giới hay trốn thuế” [23, tr.12] Trong hoạt động xuất bản, in, phát

hành sách, thuật ngữ in lậu được dùng khá phổ biến để chỉ về những hành vi bất hợp

pháp như làm sách lậu, trốn thuế, vi phạm quyền tác giả Một cách chung nhất có thể

định nghĩa in lậu“là hành vi sản xuất và lưu hành hoặc tiêu thụ các ấn phẩm không

tuân theo các quy định của pháp luật, là hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động in

và xuất bản, cụ thể là vi phạm các luật Xuất bản, luật Sở hữu trí tuệ, luật Doanh nghiệp, luật Thuế, luật Hình sự” [23, tr.13] Luật Xuất bản 2012, luật Dân sự 1995, luật Hình sự 1999 đều coi việc xuất bản, in và phát hành sách lậu là trái phép, tùy theo mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo Lê Văn Yên, cáccơ sở để xác định hành vi in lậu ở góc độ ngành in là[23, tr.13, 14]:

- Cơ sở in không có đủ tư cách pháp nhân Mọi cơ sở không có tối thiểu ba loại giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền cấp là in lậu và là đối tượng in lậu, bao gồm: giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép hoạt động ngành in, giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự

- In không có giấy phép hợp pháp do các cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định, đó là giấy phép do Cục Xuất bản, nhà xuất bản hoặc sở Thông tin truyền thông địa phương cấp

- In không đúng nội dung ghi trong giấy phép, in ấn phẩm không đúng với bản thảo đã được nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được phép xuất bản ký duyệt, biểu hiện là in không đúng tên sách, tự ý thay đổi tên, cấu trúc, nội dung, hình ảnh trong

Trang 38

bản thảo, cấp giấy phép cho cuốn này nhưng lại in cuốn khác, xin phép bản thảo này lại in bản thảo khác

- In không có hợp đồng hoặc in quá số lượng ghi trong giấy phép và hợp đồng,

in lại ấn phẩm mà tổ chức hoặc cá nhân khác đã được cấp phép hoặc giữ bản quyền, in nối bản hoặc tái bản không xin giấy phép mà thực chất là in mới mà trang lưu chiểu vẫn cũ

- In sách hoặc xuất bản phẩm khi giấy phép đã hết hạn, dùng một giấy phép để in

ở nhiều cơ sở in khác nhau, in những ấn phẩm đã có quyết định đình chỉ, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy, in ấn phẩm gia công cho nước ngoài không có giấy phép

in của cơ quan có thẩm quyền cấp

Trong phát hành

Hành vi phân phối tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi vi phạm bản quyền Từ yếu tố thương mại cho phép suy luận “ăn cắp bản quyền thường được tiến hành một cách có tổ chức bởi đây không chỉ là việc sao chép trái phép một tác phẩm mà còn là việc bán và phân phối tác phẩm được sao chép bất hợp pháp đó, đòi hỏi phải có mạng lưới phân phối có tổ chức hay mạng lưới giao dịch với người mua tiềm năng” [21, tr.51] Xuất bản – in – phát hành sách là ba khâu có mối quan hệ liên kết chặt chẽ tạo thành một hoạt động khép kín, vi phạm bản quyền sách cũng được tổ chức thực hiện trong một dây chuyền thống nhất, từ sản xuất đến tiêu thụ Vi phạm bản quyền trong phát hành biểu hiện ở sự tồn tại của những chợ sách lậu (gồm chợ thật và chợ ảo trên mạng) với những đơn vị phát hành sách lậu, sách vi phạm bản quyền và những trang mạng, diễn đàn, mạng xã hội đăng tải trái phép sách điện tử không bản quyền

Tính chất của vi phạm bản quyền

Ở góc độ pháp lý vi phạm bản quyền là hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí

tuệ.Ở góc độ kinh tế hành vi vi phạm quyền tác giả, nổi bật là làm sách lậu là hành vi

gian lận thương mại, một biểu hiện của mặt trái cơ chế thị trường Hành vi gian lận

thương mại là “hiện tượng mang tính lịch sử, là hệ quả tất yếu của nền sản xuất hàng hóa trong xã hội” [59] Khi sản phẩm được làm ra trở thành hàng hóa và được lưu

Trang 39

Chương 1 – Cơ sở lý luận và thực tiễn về bản quyền sách

tượng gian lận trong thương mại cũng xuất hiện Nền sản xuất hàng hóa càng phát triển, thị trường ngày càng được mở rộng đồng nghĩa với việc gian lận thương mại cũng phát triển về mức độ tinh vi cũng như phạm vi hoạt động Văn hóa truyền thống Việt Nam không coi trọng nghề buôn, xem nghề buôn bán thường gắn với những việc làm không tốt như gian lận, lừa đảo, mánh mun, tuy vậy hiện tượng gian lận thương

mại cũng đã xuất hiện từ lâu trong xã hội truyền thống Buôn gian bán lận, Treo đầu

dê bán thịt chó, Bán mướp đắng giả làm bầu, Bán mạt cưa giả làm cám

Tháng 12/1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần 6 đã xác định sự chuyển đổi cơ chế kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường hoạt động theo sự điều khiển của ba quy luật chính, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu Cạnh tranh là động lực để hoàn thiện và phát triển, tuy nhiên sự cạnh tranh gay gắt cũng là nguyên nhân của việc sử dụng những thủ đoạn, lừa lọc trong kinh doanh nhằm đạt được những mục đích nhất định Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường đã buộc các thành phần tham gia phải không ngừng hoạt động

và đôi khi vì thiếu năng lực cạnh tranh nhưng để được tồn tại hoặc vì muốn thuận lợi cho công việc họ phải dùng tới những thủ đoạn gian lận, từ đó làm nảy sinh nhiều mặt trái của kinh tế thị trường, đó là sự theo đuổi mục đích lợi nhuận đơn thuần mà chấp nhận bỏ qua những giá trị khác

Hoạt động xuất bản ngoài tính chất tư tưởng văn hóa còn mang tính kinh doanh nên cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt và phức tạp của nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia Gian lận thương mại trong hoạt động xuất bản liên quan đến lĩnh vực quyền tác giả biểu hiện ở những hành vi vi phạm quyền tác giả, trốn thuế,

Vì mục tiêu lợi nhuận, những kẻ vi phạm sẵn sàng lấy cắp sản phẩm trí tuệ của người khác để kiếm lợi cho mình và thực hiện cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Việc chạy theo lợi nhuận dẫn đến xu hướng thương mại hóa hoạt động xuất bản, coi đồng tiền là trên hết bất chấp đạo lý và pháp luật, không từ thủ đoạn nào miễn có lợi

mà không mất nhiều trí tuệ và công sức.Đối với hoạt động xuất bản mang tính văn hóa

tư tưởng, gian lận thương mại gây tác hại rất nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến việc lĩnh hội tri thức của đọc giả mà còn làm giảm đi nhiệt huyết sáng tác của tác giả, gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế đất nước

Trang 40

Vi phạm quyền tác giả còn là hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ Hành vi lấy tác

phẩm của người khác để sử dụng, sao chép, xuất bản, làm mới, phân phối, phổ biến nhằm mục đích thương mại mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ Theo ông Nguyễn Kiểm, Phó Chủ tịch thường trực Hội xuất bản Việt Nam, khi sao chép tác phẩm không được phép, người vi phạm

“không phải ăn cắp những cuốn sách cụ thể nhưng là ăn cắp quyền tác giả và quyền sản xuất ấn phẩm” []

1.4 Các cơ quan, tổ chức quản lý quyền tác giả

1.4.1 Các cơ quan quốc tế quản lý quyền tác giả

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (Wipo): được thành lập năm 1967 theo bản kí kết

thành lập tại Stockholm từ tổ chức tiền thân là BIRPI Năm 1974, Wipo trở thành tổ chức chuyên môn trong hệ thống tổ chức của Liên hợp quốc với nhiệm vụ quản lý các vấn đề sở hữu trí tuệ Wipo có sứ mệnh “thúc đẩy hợp tác quốc tế trong hoạt động sáng tạo, phổ biến, sử dụng và bảo hộ tài sản trí tuệ của con người nhằm phát triển kinh tế, văn hoá của xã hội của con người” [28] Wipo cũng quản lý nhiều liên hiệp và các tổ chức được thành lập trên cơ sở các hiệp định đa phương và soạn thảo các luật mẫu để các nước thông qua Hiện nay đã có 162 quốc gia là thành viên của Wipo, Việt Nam trở thành thành viên của Wipo vào ngày 2-7-1976

Ngoài ra còn có Liên đoàn các tổ chức quyền tái bản quốc tế (IFRRO)

1.4.2 Các cơ quan quản lý quyền tác giả trong nước

Bộ máy quản lý Nhà nước về quyền tác giả ở Việt Nam gồm có: hệ thống hành chính, hệ thống tòa án, các tổ chức quản lý tập thể và các tổ chức tư vấn dịch vụ

1 Hệ thống hành chính quản lý quyền tác giả gồm có:

Chính phủ: là cơ quan nhà nước cao nhất thống nhất quản lý về bảo hộ quyền tác

giả trong phạm vi cả nước

Bộ Văn hóa Thể thao& Du lịch: là cơ quan của chính phủ, chịu trách nhiệm quản

lý nhà nước về bảo hộ quyền tác giả Bộ VHTT&DL xây dựng các chủ trương chính sách về bảo hộ quyền tác giả, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ ban

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Bình (2012),Vấn đề bản quyền trong hoạt động xuất bản tại thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bản quyền trong hoạt động xuất bản tại thành phố "Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2012
2. Vũ Mạnh Chu (2005), Sáng tạo văn học nghệ thuật và quyền tác giả ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 382 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo văn học nghệ thuật và quyền tác giả ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Mạnh Chu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
4. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1997), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X – Nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo Dục, 619 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Thế kỷ X "– Nửa đầu thế kỷ XVIII)
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1997
5. Cục bản quyền tác giả (2012), Các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế về quyền tác giả và quyền liên quan, Cục Bản quyền tác giả, 555 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế về quyền "tác giả và quyền liên quan
Tác giả: Cục bản quyền tác giả
Năm: 2012
6. Nguyễn Bá Diễn (2010), Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học quốc gia HN, 418tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc "tế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Bá Diễn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia HN
Năm: 2010
7. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XX), Nxb Đại học Quốc gia HN, 382 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XX)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HN
Năm: 2001
8. Nguyễn Thừa Hỷ (2011), Văn hóa Việt Nam truyền thống: một góc nhìn, Nxb Thông tin truyền thông HN, 599 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam truyền thống: một góc nhìn
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Nhà XB: Nxb Thông tin truyền thông HN
Năm: 2011
9. Kamil Idris (2005), Sở hữu trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, 380 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế
Tác giả: Kamil Idris
Năm: 2005
10. Nguyễn Lộc (2007), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII – Hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo Dục, 872 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII – Hết thế kỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
11. Nhiều tác giả (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội
Năm: 2006
13. Altbach, Philip.G (1999), Xuất bản và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, 314 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất bản và phát triển
Tác giả: Altbach, Philip.G
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Quốc hội Việt Nam (2009), Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia, 225 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm "2009
Tác giả: Quốc hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
15. Quốc hội Việt Nam (2009), Luật Xuất bản năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2008, Nxb Chính trị quốc gia, 83 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xuất bản năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2008
Tác giả: Quốc hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
16. Đỗ Thị Quyên (2008),Nghiên cứu vấn đề quản lý thị trường xuất bản phẩm ở Việt Nam từ năm 1993 đến nay, Viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 165tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vấn đề quản lý thị trường xuất bản phẩm "ở Việt "Nam từ năm 1993 đến nay
Tác giả: Đỗ Thị Quyên
Năm: 2008
17. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tp.HCM, 690 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Tp.HCM
Năm: 2001
18. Trần Ngọc Thêm (2013), Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng, Nxb Văn hóa văn nghệ Tp.HCM, 675 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Văn hóa văn nghệ Tp.HCM
Năm: 2013
19. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 861 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
20. Phạm Thị Thu (2013), Lý luận nghiệp vụ xuất bản, Nxb TT-TT, 446 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nghiệp vụ xuất bản
Tác giả: Phạm Thị Thu
Nhà XB: Nxb TT-TT
Năm: 2013
21. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sở hữu trí tuệ
Tác giả: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Năm: 2005
22. Vụ pháp luật quốc tế (2005), Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, Nxb Tư Pháp, 197 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vụ pháp luật quốc tế
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
Năm: 2005

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w