1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các yếu tố liên quan

88 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối tương quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức về THS làm giảm NĐ n=100 .... Mối tương quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức về n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THỊ TRÚC LINH

XỬ TRÍ CỦA CHA MẸ KHI TRẺ BỊ SỐT

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THỊ TRÚC LINH

XỬ TRÍ CỦA CHA MẸ KHI TRẺ BỊ SỐT

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số: 60.72.05.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BS Nguyễn Duy Phong

PGS ĐD Alison S Merrill

TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Sinh lý điều hòa thân nhiệt: 4

1.1.1 Định nghĩa thân nhiệt: 4

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ cơ thể: 4

1.1.3 Sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt 5

1.2 Sốt 5

1.2.1 Định nghĩa 5

1.2.2 Cơ chế gây sốt: 5

1.2.3 Các rối loạn chuyển hóa trong sốt 7

1.2.4 Nguyên nhân gây sốt: 8

1.2.5 Ý nghĩa của sốt 8

1.2.6 Vị trí lấy nhiệt độ 9

1.3 Điều trị 9

1.3.1 Phương pháp dùng thuốc 9

1.3.2 Phương pháp không dùng thuốc 11

1.3.3 Phương pháp dân gian 12

1.3.4 Các dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế 13

1.4 Giáo dục sức khỏe 14

1.5 Các nghiên cứu trước đây 16

1.5.1 Một số nghiên cứu nước ngoài 16

1.5.2 Một số nghiên cứu trong nước 18

1.6 Áp dụng lý thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu 19

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.2 Địa điểm nghiên cứu 22

Trang 4

2.3 Thời gian nghiên cứu 22

2.4 Dân số nghiên cứu 22

2.5 Cỡ mẫu: 22

2.6 Kỹ thuật chọn mẫu 22

2.7 Tiêu chí chọn mẫu 22

2.7.1 Tiêu chí chọn vào 22

2.7.2 Tiêu chí loại ra 23

2.7.3 Đặc điểm và bối cảnh nghiên cứu 23

2.8 Thu thập số liệu 23

2.8.1 Công cụ thu thập số liệu 23

2.8.2 Các bước thu thập số liệu 25

2.8.3 Xử lý và phân tích số liệu 25

2.8.4 Kiểm soát sai lệch 25

2.9 Định nghĩa biến số và phân loại biến số: 26

2.9.1 Biến số độc lập 26

2.9.2 Biến phụ thuộc 26

2.9.3 Biến số nền 26

2.9.4 Biến số kiến thức về sốt 26

2.9.5 Biến số về nhận thức của cha/mẹ 27

2.9.6 Biến số về xử trí sốt của cha/mẹ 27

2.9.7 Nguồn thông tin cha/mẹ nhận được 29

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 29

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 30

3.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học, kiến thức, nhận thức, xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt và nguồn thông tin cha/mẹ nhận được 30

3.2 Xác định các mối tương quan: 35

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 43

4.1 Đặc điểm nhân khẩu-xã hội học 43

Trang 5

4.2 Kiến thức về sốt của cha/mẹ trẻ 46

4.3 Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát 49

4.4 Xác định nguồn thông tin cha/mẹ chăm sóc trẻ sốt nhận được 51

4.5 Xử trí sốt của cha/mẹ và các mối tương quan 53

4.5.1 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp sử dụng thuốc 53

4.5.2 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp không sử dụng thuốc: 56

4.6 Nhận xét về đề tài 59

4.6.1 Điểm mạnh 59

4.6.2 Điểm yếu 60

4.7 Ứng dụng của nghiên cứu 60

KẾT LUẬN 61

KIẾN NGHỊ 62

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NICE National Institute for Health

and Care ExcellenceHPM Health Promotion Model Mô hình nâng cao sức khỏeCRT Capillary Refill Time Thời gian đổ đầy mao mạch

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 1 Sơ đồ cơ chế phát sinh cơn sốt của Rosendoff 6

Sơ đồ 1 2 Mô hình nâng cao sức khỏe 20

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học (n =100) 30

Bảng 3 2 Kiến thức về sốt của cha/mẹ (n=100) 31

Bảng 3 3 Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát (n=100) 32

Bảng 3 4 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp sử dụng thuốc 32

Bảng 3 5 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp không sử dụng thuốc (n =100) 34

Bảng 3 6 Nguồn cung cấp thông tin về kiến thức sử dụng thuốc hạ sốt và kháng sinh của cha/mẹ (n=100) 35

Bảng 3 7 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt của cha/ mẹ với đặc điểm dân tộc (n = 100) 36

Bảng 3 8 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt của cha/ mẹ với số con (n = 100) 36

Bảng 3 9 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt của cha/ mẹ với tuổi (n = 100) 37

Bảng 3 10 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức về NĐ bình thường (n=100) 37

Bảng 3 11 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức về THS làm giảm NĐ (n=100) 38

Bảng 3 12 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức THS làm giảm đau (n =100) 39

Bảng 3 13 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức THS làm hại gan, thận (n =100) 39

Bảng 3 14 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức THS hại gan, thận (n =100) 40

Bảng 3 15 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với kiến thức về nhiệt độ sốt (n = 100) 40

Bảng 3 16 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt của cha/ mẹ với nhận thức lau mát làm trẻ quấy khóc 41

Bảng 3 17 Mối tương quan giữa việc giảm nhiệt độ phòng của cha/ mẹ với nhận thức THS giúp trẻ dễ ngủ 42

Bảng 3 18 Mối tương quan giữa xử trí không dùng thuốc của cha/ mẹ với nhận thức lau mát làm trẻ quấy khóc 42

Bảng 4 1 So sánh trình độ học vấn 45

Bảng 4 2 Bảng so sánh giữa các nghiên cứu về nguồn cung cấp thông tin 52

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt được định nghĩa là nhiệt độ trực tràng trên 380C, nhiệt độ miệng trên37,80C và nhiệt độ nách trên 37,50C Sốt là một triệu chứng thường gặp trong thờithơ ấu, thường liên quan đến một bệnh nhưng nhanh chóng tự giới hạn Sốt làm chotrẻ cảm thấy khó chịu, quấy khóc, chán ăn và sốt là một trong những lý do phổ biếnnhất cha mẹ đưa con em mình đến cơ sở y tế [44] Cha mẹ lo ngại về cơn sốt 57%,

họ cho rằng sốt cao là một chỉ số về mức độ nghiêm trọng của bệnh Tuy nhiên, ởnhiệt độ 400C hoặc thấp hơn là một dấu hiệu phản ứng thích nghi của cơ thể do quátrình lây nhiễm hơn là mức độ nghiêm trọng của bệnh[42],[64],[41] Khi có sốt, hệ

đề kháng của cơ thể tăng do tăng hoạt động hệ miễn dịch, thực bào, tổng hợp khángthể, ngoài ra sốt làm giảm lượng sắt trong huyết thanh, giảm hấp thu sắt từ ruộtkhiến vi khuẩn không sinh sản được [20] Do vậy, sốt không phải luôn luôn cầnđược điều trị Sốt nên được giảm ở những trẻ em như bị bệnh tim từ trước, hô hấp,thần kinh và sốt có thể hỗ trợ trong việc chẩn đoán chính xác bệnh[40],[55],[66]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Hải Yến năm 2013 trong số các trẻ có sốt khinhập viện thì tỷ lệ trẻ sốt cao nhất ở lứa tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi chiếm 80,4%; tỷ

lệ trẻ sốt nhập viện thấp nhất ở lứa tuổi < 6 tháng là 2,5%[19] Qua nghiên cứu củatác giả Trần Thụy Khánh Linh [60], Bertille [39], Enarson [46], Chiappini E [41],Laura J [56] được công bố năm 2012, 2014 và 2015 cho ta thấy kiến thức của cha

mẹ có nhiều sự thay đổi, họ có sự hiểu biết và xử trí sốt tốt hơn các cha mẹ trongquá khứ: Thường xuyên đo nhiệt độ cho trẻ, sử dụng các biệt pháp hạ sốt khôngdùng thuốc như cho trẻ uống nhiều nước, mặt quần áo thoáng mát, lau mát bằngnước ấm Tuy nhiên cha mẹ vẫn thiếu kiến thức về nhiệt độ bình thường, nhiệt độsốt, nhiệt độ uống thuốc hạ sốt và lau mát Tất cả cha mẹ đều sử dụng thuốc hạ sốt

và lau mát khi nhiệt độ dao động từ 37 oC đến 38,5oC[46],[41],[60]; 38,1% cha mẹcho rằng sốt khi nhiệt độ 37oC[39] Nhận thức của cha mẹ về sốt có thể làm trẻ bị

co giật, hôn mê, tổn thương não và thậm chí là tử vong còn chiếm tỷ lệ khá cao 74%, nên cha mẹ luôn muốn được điều trị sốt cho trẻ (90,3%)[39] Các bà mẹ xử trí sai

là mặc thêm quần áo cho con chiếm 41,5% và 32% chườm đá, chanh, rượu, cạo gió,

Trang 10

cắt lễ[14], cha mẹ tin rằng việc kết hợp hai loại thuốc hạ sốt là có lợi hơn và sửdụng kháng sinh để hạ nhiệt cho trẻ[60] Việc xử trí sốt của cha/mẹ bị ảnh hưởngbởi đặc điểm nhân khẩu-xã hội học như trình độ học vấn, những cha mẹ hoàn thànhbậc cao đẳng, đại học cho rằng sốt không phải lúc nào cũng nguy hiểm nên họ ítđiều trị sốt hơn những cha mẹ khác[46] và bà mẹ có kiến thức đúng thì xử trí đúngcao hơn so với bà mẹ có kiến thức không đúng[19].

Cha mẹ là những người chăm sóc, chịu trách nhiệm về sức khỏe trẻ Nếu cha

mẹ thiếu kiến thức cũng như xử trí sốt ở trẻ thì sẽ có những sai lầm khi chăm sóc,ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng trẻ Qua nhiều thập kỷ đã cónhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề này, tuy nhiên kết quả thay đổi theo thời gian,địa điểm nghiên cứu cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tại tỉnh BìnhPhước nói chung, Bệnh viện Bình Long nói riêng chưa có nghiên cứu nào về chủ đềnày Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “ Xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và cácyếu tố liên quan”

Câu hỏi nghiên cứu: Mối liên quan giữa việc xử trí trẻ sốt của cha mẹ với đặc điểm

nhân khẩu - xã hội học, nhận thức và kiến thức như thế nào?

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tổng quát: Xác định cách thức xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các yếu tố liên

quan

Cụ thể:

1 Xác định đặc điểm nhân khẩu - xã hội học của cha/mẹ trẻ

2 Xác định tỷ lệ kiến thức, nhận thức và xử trí sốt của cha/mẹ trẻ

3 Xác định mối tương quan giữa việc xử trí trẻ sốt với các yếu tố: nhân khẩu &

xã hội học, kiến thức, nhận thức của cha/mẹ

Trang 12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sinh lý điều hòa thân nhiệt:

1.1.1 Định nghĩa thân nhiệt:

Người là loại động vật hằng nhiệt, sự điều hoà nhiệt độ trung tâm của cơ thểtrong một khoảng hẹp xung quanh 370C khi tiếp xúc với một khoảng biến đổi nhiệt

độ rộng của môi trường[13]

Thân nhiệt chia làm hai vùng, một là vùng nhiệt độ trung tâm nằm trong giớihạn 36 – 37,40C và có ba cách đo (trực tràng, dưới lưỡi và hõm nách)[13], hai làvùng nhiệt độ ngoại vi nằm trong giới hạn 290C - 350C (da vùng đầu, ngực, bụng,vùng cánh tay và cẳng chân, vùng bàn tay, bàn chân)[13]

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ cơ thể:

Thân nhiệt cơ thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi, nhịp ngày đêm,giới, vận động cơ, nhiệt độ môi trường, cảm xúc, ăn chay, sự suy yếu của hệ thầnkinh[13],[47],[68]

Trẻ em thường có thân nhiệt cao hơn người lớn do tăng các hoạt động vật lýlẫn chuyển hóa, sự hoạt động của cơ bắp dẫn đến sự gia tăng sự chuyển hóa[13],thân nhiệt khác nhau vào các thời điểm trong ngày, giảm tối thiểu vào buổi đêm khiđang ngủ và tăng nhẹ vào sáng sớm, đạt tối đa vào buổi chiều [13] Sự xúc động sẽkích thích thần kinh giao cảm giải phóng epinephrine and norepinephrine làm tăngchuyển hóa và tăng sản xuất nhiệt[68] Khi ăn chay việc cung cấp thức ăn không đủdẫn đến giảm sản xuất nhiệt, người tâm thần, trầm cảm, bất tỉnh, sử dụng ma túy thìtất cả hoạt động của cơ thể giảm do vậy dẫn đến giảm nhiệt độ[13],[47]

Nhiệt độ cơ thể còn bị ảnh hưởng bởi giới tính, nam có thân nhiệt cao hơn nữ

do khối lượng cơ nhiều hơn, nhưng khi nữ đến tuổi dậy thì do ảnh hưởng của lượnghormone nên khi rụng trứng hoặc mang thai trong ba, bốn tháng đầu thì nhiệt độtăng[47],[68] Nhiệt độ con người còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường bênngoài nhưng không nhiều do con người biết cách thay đổi như mặc thêm hoặc cởibớt quần áo, sưởi ấm

Trang 13

1.1.3 Sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt

1.1.3.1 Sự sinh nhiệt

Nhiệt là sản phẩm phụ của chuyển hoá và vận động cơ [21],[12] Sự sinhnhiệt chịu ảnh hưởng của hormone tuyến giáp thyroxin, hệ giao cảm và nhiệtđộ[12] Nhiệt độ sản xuất ra hàng ngày rất lớn nếu không có sự thải nhiệt thì trong

24 giờ nhiệt độ cơ thể có thể tăng lên 400C[12]

1.1.3.2 Sự thải nhiệt

Hầu hết lượng nhiệt sinh ra trong cơ thể được tạo thành từ các cơ quan ở sâunhư gan, não, tim và cơ (khi có vận cơ)[21], nhiệt được vận chuyển đến da là nơi cóthể thải nhiệt vào môi trường xung quanh Quá trình thải nhiệt là một quá trình vậtlý[21]

1.2.1 Định nghĩa

Ở người, thân nhiệt luôn luôn hằng định ở 370C mặc dù nhiệt độ môi trườngbên ngoài có nhiều biến động [31] Trong ngày thân nhiệt thay đổi, thấp nhất lúcsáng sớm và cao nhất lúc về chiều, biên độ biến đổi thân nhiệt trong ngày trungbình là 0,60C; Cao hơn biên độ này là sốt[31]

Hoặc sốt khi thân nhiệt cơ thể vượt quá giới hạn bình thường, nhiệt độ ởnách 37,50C[31]

1.2.2 Cơ chế gây sốt:

Sốt có thể do nhiều yếu tố gây ra gồm chất gây sốt ngoại sinh (pyrogens).Chất gây sốt ngoại sinh gây sốt thông qua một chất trung gian gọi là chất gâysốt nội sinh, đó là interleukin 1 (IL - 1) và interleukin -6 (IL-6)[12]

Trang 14

Sơ đồ 1 1 Sơ đồ cơ chế phát sinh cơn sốt của Rosendoff [12]

Điểm điều nhiệt

Tăng sản nhiệtGiảm thải nhiệt

Sốt

chất hoạt hóa nộisinh

Trang 15

1.2.3 Các rối loạn chuyển hóa trong sốt

1.2.3.1 Các rối loạn chuyển hóa trong sốt[20]

Rối loạn chuyển hóa năng lượng: Khi nhiệt độ gia tăng thì chuyển hóa nănglượng, sự tiêu thụ oxy gia tăng (khi nhiệt độ tăng 10C, chuyển hóa tăng 3,3%, tiêuthụ oxy tăng 13%)

Rối loạn chuyển hóa glucid: Khi sốt có tăng chuyển hóa glucid, giảm dự trữglycogen, tăng đường huyết, tăng lactic acid

Rối loạn chuyển hóa lipid: Khi sốt kéo dài, dự trữ glycogen giảm, tăng sửdụng lipid, tăng thể ketone trong máu

Rối loạn chuyển hóa protid: Gia tăng thoái hóa protein từ cơ, giảm tổng hợpprotein, cân bằng nitơ âm Chuyển hóa protid có thể tăng đến 30%

Tăng nhu cầu các vitamin, nhất là các vitamin thuộc nhóm B và C

Đang trong giai đoạn phát sốt thì có sự tăng các nội tiết tố như : Aldosterone

và ADH làm giảm sự bài tiết nước tiểu Khi sốt lui có sự tăng bài tiết nước tiểu, vã

mồ hôi để tăng sự thải nhiệt

1.2.3.2 Các rối loạn chức phận trong sốt [20].

Rối loạn thần kinh: Khi sốt có thể có những rối loạn ở hệ thần kinh với cácbiểu hiện như nhức đầu, chóng mặt, nhức mỏi toàn thân, mê sảng, ở trẻ con có thể

có co giật Các biểu hiện tùy thuộc vào tác nhân gây sốt và tính phản ứng cơ thể

Rối loạn tuần hoàn: Nhịp tim tăng, thường thân nhiệt tăng 10C thì tim tăng 10nhịp Khi bắt đầu sốt huyết áp tăng do co mạch ngoại vi, khi sốt giảm huyết áp giảm

do giãn mạch

Rối loạn hô hấp: Khi sốt có sự tăng thông khí do nhu cầu oxy tăng

Rối loạn tiêu hóa: Thông thường có các biểu hiện như đắng miệng, chán ăn,khô niêm mạc môi miệng, giảm tiết dịch và nhu động của ống tiêu hóa gây ăn chậmtiêu, táo bón

Ngoài ra ở hệ nội tiết người ta thấy có sự tăng tiết ACTH, Cortisol Đối vớichức năng gan, có sự tăng chuyển hóa đến 30-40%

Trang 16

1.2.4 Nguyên nhân gây sốt:

Vi trùng: Các vi trùng gây bệnh phần lớn đều gây sốt, có thể là do khángnguyên hay độc tố hoặc là các sản phẩm của vi khuẩn ly giải, cũng có thể là một sốchất gây sốt tiết ra từ các tổ chức bị tổn thương, hoại tử[20]

Ký sinh trùng: Thường ít khi gây sốt như nhiễm giun đường ruột, amip ruột,nấm Bệnh ký sinh trùng gây sốt đặc hiệu là bệnh sốt rét với sốt từng cơn, hàngngày hoặc cách nhật[20]

Virus: Bệnh do virus ít khi gây sốt kéo dài, trên lâm sàng thường gặp là cácvirus đường hô trên như hợp bào hô hấp, cúm Các virus khác gây bệnh đặc hiệuhơn có sốt cao cấp tính như: Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Sởi Đức, Quai bị, Thủyđậu, viêm gan A, B, C ,[20]

Nguyên nhân không do nhiễm khuẩn: Bệnh huyết thanh, bệnh tự miễn, bệnhung thư, bệnh do rối loạn chuyến hóa[20]

1.2.5 Ý nghĩa của sốt

1.2.5.1 Lợi ích

Sốt là một hiện tượng có lợi cho cơ thể Hiện tượng sốt đã có từ hàng triệunăm[20] Khi có sốt, hệ đề kháng của cơ thể tăng do tăng hoạt động của hệ miễndịch, tăng thực bào, tăng tổng hợp kháng thể [20]

Sốt làm giảm lượng sắt trong huyết thanh do có sự tăng thu sắt bởi hệ thống

tế bào đơn nhân thực bào, giảm hấp thu sắt từ ruột khiến vi khuẩn không sinh sảnđược [20]

1.2.5.2 Bất lợi của sốt

Bên cạnh những lợi ích mà sốt mang lại thì sốt cũng gây ra một số vấn đề:mất nước, chán ăn, đau đầu, co giật [20] và ở trẻ nhỏ cha/mẹ sợ ảnh hưởng của sốtnhất là co giật[38],[42],[69] Ở trẻ dưới 5 tuổi, co giật xảy ra khi tiền sử gia đình,bản thân bị co giật và thường lành tính[51] Sốt trên 410C có nguy cơ co giật và tổnthương não[4]

Trang 17

1.2.6 Vị trí lấy nhiệt độ

Để xác định mức độ sốt cần đo nhiệt độ chính xác bằng nhiệt kế Nhiệt kế cónhiều loại, chủ yếu là loại nhiệt kế thủy ngân, lấy nhiệt độ có thể ở nách, miệng vàhậu môn[31] Đối với những bé dưới 3 tháng tuổi thì cặp nhiệt độ ở hậu môn làphương pháp được sử dụng và cho kết quả chính xác nhất, tuy nhiên gây cảm giáckhó chịu[18] Đối với cặp nhiệt độ ở nách thường đơn giản, an toàn, thuận tiện nhất

vì ít phải đưa vào bên trong cơ thể và không gây kích thích cho trẻ nên đây là cách

mà các bà mẹ thường dùng Tuy nhiên, so với đo ở hậu môn thì đo ở nách kémchính xác hơn, vì nhiệt độ cơ thể chịu ảnh hưởng nhiều vào yếu tố môi trường bênngoài[18],[31],[2934] Đo nhiệt độ ở miệng chỉ nên dùng cho bé trên 5 tuổi[2934]

Ngoài ra còn có thể lấy nhiệt độ qua nhiệt kế băng dán ở trán trẻ hoặc nhiệt

độ cảm ứng nhiệt qua điện tử ở tai trẻ, cách lấy nhiệt độ này nhanh ít gây khó chịucho trẻ song cần có dụng cụ đo, mà dụng cụ thì chưa phổ biến hiện nay[31] Đonhiệt độ ở tai không được chỉ định cho bé dưới 3 tháng tuổi do thời điểm này, ốngtai của bé còn hẹp[18]

Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩnmặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyếtđịnh xem trẻ có cần được chữa trị hay không Thay vào đó là xem hành vi và vẻngoài của trẻ Sốt thường đi kèm các triệu chứng khác, những triệu chứng này cầnđược xem xét[10]

Trang 18

dụng thuốc hạ sốt khi thân nhiệt ≥ 390C do sốt cao trẻ dễ có biến chứng[4] Hiệnnay có nhiều loại thuốc hạ sốt cho trẻ: Acetaminophen là thuốc hạ nhiệt được chọn

vì hiệu quả và an toàn cho trẻ, liều dùng 10-15 mg/kg uống hay tọa dược mỗi 4-6giờ hoặc tối đa 60mg/kg/24 giờ [4],[31] Acetaminophen có tác dụng giảm đau,giảm sốt nhưng không có tác dụng kháng viêm, không sử dụng nhiều hơn khuyếncáo, sử dụng quá liều có thể gây hại cho gan[44] Ibuprofen là thuốc kháng viêmkhông Steroid có tác dụng hạ sốt, giảm đau và kháng viêm được sử dụng ở ngườilớn, trẻ em ít nhất trên 6 tháng tuổi, không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi mà không hỏi ýkiến bác sĩ và không sử dụng trong các trường hợp loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa,sốt xuất huyết, liều dùng 5-10 mg/kg/lần uống mỗi 6- 8 giờ [4],[10] Các thuốc nàygiúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 1 – 1,5º C, liều lượng củaAcetaminophen hay Ibuprofen nên được tính theo cân nặng của trẻ, không nên theotuổi[10], nên lấy lại nhiệt độ trước khi uống liều tiếp theo[31], không khuyến cáothường quy kết hợp hoặc dùng xen kẽ Acetaminophen và Ibuprofen vì hầu hết đápứng với một loại thuốc[4],[10] kết hợp đồng thời hoặc xen kẽ so với chỉ dùng đơn lẻmột loại thuốc đang còn trong giai đoạn đánh giá lại về hiệu quả và tính antoàn[4],[10] Trong trường hợp sốt cao không đáp ứng với Acetaminophen đơnthuần có thể phối hợp thêm Ibuprofen sau 1 đến 2 giờ nếu không có chống chỉ địnhIbuprofen[4] Aspirin hiện nay ít được sử dụng do biến chứng xuất huyết tiêu hóa,liên hệ đến hội chứng Reye’s[4], dùng lượng lớn thuốc giảm đau không kê toa nhưAspirin, Acetaminophen và Ibuprofen có thể gây tổn hại không chỉ cho gan mà cònlàm hại cho thận[26], vì chúng có thể làm giảm lượng máu cung cấp cho thận bằngcách làm hẹp mạch máu, gây cản trở dòng chảy của nước tiểu, trực tiếp gây thươngtích cho thận hoặc gây phản ứng dị ứng làm tổn thương đến thận[26] Thuốc hạ sốt

có thể sử dụng sớm hơn khi thân nhiệt trên 380C trong các trường hợp bệnh lý timmạch, viêm phổi để giảm nhu cầu oxy do tăng nhịp tim khi sốt, giảm nguy cơ suytim hoặc trẻ có tiền sử co giật do sốt[4] Các thuốc hạ sốt không có hiệu quả trongviệc ngăn ngừa sự tái phát của co giật do sốt cao, mặc dù thuốc hạ sốt có thể cảithiện sự dễ chịu cho trẻ[7]

Trang 19

Nếu trẻ sốt li bì, trẻ nôn ói nhiều, trẻ không thể uống được, nhất là những trẻđang ngủ say mà cha/mẹ không muốn đánh thức trẻ, cha mẹ sẽ cho trẻ dùng viênđạn nhét hậu môn để hạ sốt[27] Thuốc nhét hậu môn hoặc dùng qua đường uống cótác dụng hạ sốt tương đương nhau[71] Dùng thuốc nhét hậu môn nên ngắn hạn, sau

đó chuyển sang dạng uống vì nhét hậu môn có thể gây ngứa, kích thích trựctràng[27]

Sử dụng kháng sinh trong trường hợp có bằng chứng nhiễm khuẩn hoặc lâmsàng có dấu hiệu gợi ý hội chứng nhiễm trùng [5],[8],[11],[4] Sử dụng kháng sinhtheo toa bác sĩ có thể giúp trẻ mau lành bệnh hơn và giúp phòng ngừa vi khuẩn trởnên kháng thuốc[5],[8] nhiều bậc cha mẹ khi thấy con sốt, ho, chảy mũi liền hỏi bạn

bè hoặc tự ra hiệu thuốc mua kháng sinh cho con uống mà không biết việc làm này

vô cùng nguy hiểm, không dùng kháng sinh theo toa thuốc cũ hay toa của trẻ khác[5],[8],[11] Do vậy, để chữa bệnh cho trẻ an toàn, tránh các tác dụng phụ, giảm chiphí điều trị… cha mẹ nên đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế, bác sĩ chuyên khoa đểđược tư vấn về chăm sóc, theo dõi phát hiện dấu hiệu bệnh nặng, tình trạng nhiễmkhuẩn và sử dụng thuốc hợp lý[11]

1.3.2 Phương pháp không dùng thuốc

Uống nhiều nước, nằm chỗ thoáng, mặc quần áo mỏng, tiếp tục ăn uống bìnhthường và nghỉ ngơi[4],[10]

Lau mát: Khi trẻ sốt  39 0C- 400C[9] hoặc khi sốt cao kèm co giật hoặc saukhi uống thuốc hạ sốt 30 phút trẻ vẫn còn sốt cao[4] Mục đích của lau mát là làmgiảm nhiệt độ cơ thể, giảm kích thích và làm êm dịu thần kinh[6], lau bằng nước ấmthấp hơn thân nhiệt bệnh nhân 20C[6],[9],[4] không lau bằng cồn[9],[4] Lau ởnhững vùng da có mạch máu nông, lớn như nách, bẹn Bốn khăn đắp 2 bên nách, 2bên bẹn, 1 khăn lau khắp người như tay, chân, lưng, không đắp khăn lên trán vàngực[6] Lau trong 15 – 30 phút hoặc khi nhiệt độ trẻ ≤ 38,50C thì ngưng vì lau hơn

30 phút sẽ làm cho trẻ không thoải mái, quấy khóc, kích thích, rùngmình[6],[4],[50] Trong 15 -30 phút đầu việc lau mát kết hợp với thuốc hạ sốt thì cótác dụng hạ nhiệt tốt hơn so với chỉ dùng thuốc[50],[77] nhưng sau 30 -120 phút thì

Trang 20

nhóm chỉ dùng thuốc kiểm soát nhiệt độ tốt hơn nhóm lau mát kết hợp với dùngthuốc[50],[77] Lấy nhiệt độ trẻ ngay sau ngưng lau mát, sau đó 30 phút, và mỗi 2giờ kế, lặp lại lau mát mỗi 2 giờ nếu cần[6].

Lau mát bằng nước ấm cho trẻ được coi là một phương pháp hạ sốt làm tăngthải nhiệt của cơ thể Nhưng lau mát không tác động lên điểm điều nhiệt, tác dụngkhông kéo dài[12], gây khó chịu cho trẻ, tăng kích thích, làm trẻ quấy khóc, gây tốnthời gian cho nhân viên y tế, người chăm sóc Theo phác đồ điều trị của Bệnh việnNhi Đồng 1 việc lau mát cho trẻ bằng nước ấm khi trẻ sốt cao kèm đang co giậthoặc sau khi uống thuốc hạ nhiệt 30 phút trẻ vẫn còn sốt ≥ 400C [4]

Miếng dán hạ sốt: Không phải thuốc, không có tác dụng chữa trị bệnh Đa

số các miếng dán hoạt động theo cách dùng chênh lệch nhiệt độ để giúp vùng đượcdán giảm được nhiệt độ Cơ chế hạ nhiệt của miếng dán hạ nhiệt được quảng cáo làthu nhiệt và phân tán ra ngoài nhưng thực tế chưa có nghiên cứu khoa học nàochứng minh tác dụng của phương pháp này[16],[22] vì thế hầu hết các miếng dánchỉ đem đến cảm giác mát lạnh, thành phần chủ yếu là hydrogel Cách thức nàyđược xác định là không mang lại hiệu quả tối ưu vì chỉ có thể giảm nhiệt độ ởnhững vùng được dán Ngoài ra, sản phẩm chỉ dán ngoài da nên không có tác dụngtrị bệnh từ bên trong[22] Miếng dán có nguy cơ dị ứng da, ảnh hưởng hệ hô hấp vớicác trẻ sốt do viêm phổi, do miếng dán khiến hệ hô hấp của trẻ càng tổn thương dophải hoạt động nhiều hơn[22] Việc dùng miếng dán hạ sốt có thể khiến bệnh nặng

và nguy hiểm đến tính mạng vì cảm giác hạ nhiệt của thân thể trẻ nhỏ dễ khiến phụhuynh lầm tưởng con đang khỏi bệnh[16],[22]

1.3.3 Phương pháp dân gian

Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời trong việc dùng cây cỏ đểphòng và trị bệnh, nhờ những kinh nghiệm thực tiễn của cư dân bản địa và sự tiếpthu tinh hoa phòng và chữa bệnh của nền y học cổ truyền phương Đông Nhưngquan trọng nhất chính là sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiệnthổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đãdẫn tới sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử

Trang 21

dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh Theo sách “Cây thuốc ViệtNam và những bài thuốc thường dùng” tập 1 của tác giả Nguyễn Viết Thân và sách

“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của tác giả Võ Văn Chi, nhà xuất bản Y học Hà Nội

2012 thì:

Quả chanh được dùng làm thuốc giải nhiệt, giúp ăn ngon miệng, lợi tiêu

hóa, long đờm, trị ho, nôn ra mật Đơn thuốc từ chanh: Trị sốt rét dai dẳng, cảmcúm, hen phế quản, ho gà, rắn cắn[28]

Húng chanh: Lá và ngọn non thường được dùng trị cảm cúm, ho hen, ho ra

máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi, chữa viêm họng, khàn tiếng Liều dùng 10-15g,dạng thuốc sắc hoặc giã lấy nước uống Ở Malaixia dùng lá giã xoa lên người khi bịsốt [28],[17]

Diếp cá: Bài thuốc chữa viêm phế quản mãn, sốt nhẹ về chiều, ho hen, khó

ngủ: 12g diếp cá, 20g Thiên môn, 15g Kim ngân hoa, 20g Sa sâm, Mạch môn 20g(2) Chữa sởi-trẻ em sốt không rõ nguyên nhân: 15g diếp cá, 25g Cỏ nọc sởi, 15gKim ngân hoa, Kinh giới 15g, sắc uống mỗi ngày một thang [17]

Rau ngót: Công dụng chữa sót nhau, tưa lưỡi trẻ em, ban sởi, viêm phổi, bí

tiểu tiện, lợi tiểu, thông huyết[17]

Cha/mẹ sử dụng phương pháp dân gian từ quả chanh tươi cắt lát mỏng chàsống lưng, lòng bàn tay, chân hoặc rau nhọ nồi, diếp cá, húng chanh, rau ngót giãlấy nước uống và bã đắp lên trán Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào hoặcsách Đông Y viết về cách xử trí của cha mẹ từ các cây cỏ nói trên là an toàn và hiệuquả, như vậy việc sử dụng phương pháp dân gian là không dựa vào y học chứng cứ

1.3.4 Các dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế

Trong đa số trường hợp, sốt có thể được theo dõi và điều trị tại nhà Tuynhiên, điều quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đưa trẻ đi khám [10]

Trẻ có các dấu hiệu bất thường như: Không chơi, li bì, khó đánh thức, co giật,thở nhanh, thở khó, thở bất thường, tiêu chảy, phân có nhày máu, trẻ sốt kèm phátban da hoặc có bệnh nền: tim mạch, ung thư, lupus, hồng cầu liềm, [15],[10]

Trẻ < 3 tháng tuổi: Sốt ≥ 38ºC, ngay cả khi bề ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt[10]

Trang 22

Trẻ > 3 tháng tuổi: Sốt ≥ 38ºC hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt(bứt rứt, không chịu bú, …)[10].

Bảng 1.1 : Hệ thống đèn giao thông xác định nguy cơ mắc bệnh nặng ở trẻ của

NICE 2013

Đỏ - Nguy cơ cao Vàng – Nguy cơ vừa Xanh – Nguy cơ thấpMàu

sắc

 Nhạt/đốm/tái/màu xanh  Da xanh xao (do

cha/mẹ người chămsóc tường thuật lại)

 Màu sắc da, môi,lưỡi binh thường

 Có nhân viên y tế bêncạnh

 Không thức hoặc khôngtỉnh khi kích thích

 Yếu, khóc the thé

 Không đáp ứng bìnhthường với các tínhiệu xã hội, hoặc

 Tỉnh chỉ khi kíchthích kéo dài, hoặc

 Hoạt động giảm,hoặc

 Không cười

 Phản ứng bìnhthường với các tínhiệu xã hội

 Giao tiếp/cười

 Vẫn tỉnh táo/đánhthức nhanh chóng

 Khóc to bìnhthường/không khóc

Trang 23

hấp  Thở nhanh:

RR> 60 nhịp/phút

 Dấu lõm ngực trung bìnhđến nghiêm trọng

phồng, hoặc

 Thở nhanh

o RR > 50nhịp/phút, trẻ từ

6 – 12 tháng

o RR > 40nhịp/phút, trẻ >

12 tháng, hoặc

 Oxy bão hòa < 95%

(không hổ trợ oxy),hoặc

 Ran nổThiếu

Trang 24

Trẻ có một trong dấu hiệu cột “đỏ” thì nguy cơ mắc bệnh nặng rất cao Trẻ

có nguy cơ vừa nếu xuất hiện sốt và bất kỳ dấu hiệu nào trong cột “vàng” Trẻ thuộcnguy cơ thấp khi dấu hiệu nằm trong cột “xanh”

Theo nghiên cứu “Sốt ở trẻ và xử trí sốt dựa trên chứng cứu khoa học” củatác giả Trần Thụy Khánh Linh và cộng sự được công bố năm 2011 thì chăm sóc trẻsốt là không gây nguy hại cho trẻ và có ba phương pháp được khuyến cáo: Mặcthoáng (không cởi hết quần áo, không mặc nhiều lớp, không đội nón đối với trẻ sơsinh), cung cấp đủ dịch và tạo sự thoải mái cho trẻ (giảm bứt rứt, làm dịu, khôngđánh thức trẻ dậy ban đêm để uống thuốc hạ sốt)[61]

1.5.1 Một số nghiên cứu nước ngoài

Theo tác giả Bertille và cộng sự (2013)[39]: 61% cha mẹ xác định ngưỡngsốt là 380C, 66% cha mẹ sử dụng thuốc hạ sốt khi nhiệt độ thấp hơn 38.50C, 99%cha mẹ sử dụng phương pháp không dùng thuốc (uống nhiều nước, mặc quần áothoáng, giảm nhiệt độ phòng) Theo tác giả Balafama A, Alex-Hart và cộng sự(2011)[32]: Triệu chứng kèm với sốt là chán ăn 71,5%; 76,2% sờ trán để đo nhiệt

độ cho trẻ; xử trí phổ biến nhất là cho trẻ uống thuốc hạ sốt paracetamol 70,9%; laumát 50,3%, mặc quần áo thoáng mát là 14,6%, biến chứng của sốt cha mẹ cho là cogiật 67,7% Vấn đề tồn tại: Cha mẹ xác định nhiệt độ cho con bằng các sờ trán cònkhá cao, cha mẹ ít quan tâm đến phương pháp không dùng thuốc hơn dùng thuốc, ởnghiên cứu này không thấy tác giả đề cập đến việc uống nước của trẻ

Theo tác giả Abubaker và cộng sự (2014)[34]: 38,4% cha mẹ xác định chínhxác ngưỡng nhiệt độ sốt, các bà mẹ xác định ngưỡng nhiệt độ sốt cao hơn người cha(40,6%; 33%); 68,8% các bà mẹ biết ngưỡng nhiệt độ sử dụng thuốc hạ sốt hơnngười cha 47,2%; những người cha ưa thích sử dụng thuốc hạ sốt hơn những người

mẹ (22,8%; 12,7%), trong khi đó những người mẹ thường sử dụng biện pháp laumát hơn người cha Có mối liên quan về đặc điểm giới tính (cha, mẹ) với kiến thứccũng như xử trí sốt ở trẻ Kiến thức về sốt và xử trí sốt của người cha không tốt

Trang 25

bằng người mẹ, khi giáo dục sức khỏe cũng cần quan tâm người cha nhiều, khôngchỉ nghiêng về người mẹ.

Theo tác giả Enarson MC và cộng sự (2012)[46]: Có 42,7% cha mẹ có trình

độ đại học, 25,8% trình độ cao đẳng, trung học là 23,8% và tiểu học là 7,7%; 74%cha mẹ cảm thấy rằng sốt là nguy hiểm và 90,3% luôn muốn được điều trị sốt Hầuhết cha mẹ kiểm tra nhiệt độ cho trẻ 4 giờ một lần, 31% là 2 đến < 4 giờ một lần và6,4% không kiểm tra nhiệt độ cho trẻ Những cha mẹ có trình độ học vấn cao (đạihọc, cao đẳng) thì họ không thích điều trị sốt so với nhóm cha mẹ có trình độ họcvấn thấp hơn (trung học, tiểu học); 55,7% cha mẹ đánh thức trẻ dậy vào ban đêm đểuống thuốc hạ sốt Nhóm cha mẹ trẻ tuổi thì hay gọi điện cho bác sĩ và điều dưỡnghơn những nhóm cha mẹ lớn tuổi Nhóm chủng tộc có sự khác biệt về việc gọi điệncho nhân viên y tế khi trẻ sốt, ví dụ người da trắng và người da đen thì ít gọi điệncho nhân viên y tế hơn những người có màu da khác (Đông Á, Nam Á, Tây BanNha)[60] Từ kết quả cho ta thấy có mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu xã hộihọc như tuổi, trình độ học vấn, chủng tộc với xử trí sốt của cha mẹ trẻ Những cha

mẹ lớn tuổi, cha mẹ có con đã lớn ít có khả năng tìm kiếm sự chăm sóc y tế cho trẻ.Ngoài ra những bậc phụ huynh hoàn thành bậc cao đẳng, đại học cho rằng sốtkhông phải lúc nào cũng nguy hiểm nên họ ít điều trị sốt hơn những phụ huynhkhác

Theo tác giả Laura J và cộng sự (2015)[56]: Hầu hết cha mẹ xác định nhiệt

độ bình thường từ 36 đến 38oC, ngưỡng sốt là từ 37 đến 39,5oC; 4,7% cha mẹ chorằng sốt là tốt và nó không nguy hiểm; 61,9% cha mẹ cho biết những lợi ích của sốtnhư sốt là một dấu hiệu cho thấy hệ thống miễn dịch đang làm việc Tuy nhiên nỗi

sợ hãi về sốt không luôn luôn dựa trên bằng chứng đó: Sốt gây tổn thương não khisốt 40, 41oC; đa số cha mẹ sử dụng nhiệt kế trực tràng để xác định sốt cho trẻ(61,9%); đa số cha mẹ sử dụng phương pháp không dùng thuốc để hạ sốt (đảm bảotrẻ uống đủ nước) và tạo sự thoải mái cho trẻ; các cha mẹ không thích sử dụngthuốc hạ sốt cho trẻ, chỉ dùng thuốc khi cần thiết, họ tin rằng việc sử dụng thuốc cóthể dẫn đến một cái gì đó tồi tệ hơn[60] Qua nghiên cứu này ta thấy có mối liên

Trang 26

quan giữa kiến thức và xử trí sốt, cha mẹ có kiến thức đúng về sốt thì có hành vi xửtrí đúng.

1.5.2 Một số nghiên cứu trong nước

Theo tác giả Phạm Hải Yến (2013) [19] trong số các trẻ có sốt khi nhập việnthì tỷ lệ trẻ sốt gặp cao nhất ở lứa tuổi 6 tháng đến 3 tuổi, chiếm 60,9%; tỷ lệ trẻ sốtnhập viện thấp nhất ở lứa tuổi < 6 tháng; 90,2% bà mẹ cặp nhiệt độ thường xuyên;94,1% cho trẻ dùng thuốc hạ sốt; 41,9% bà mẹ lau mát bằng nước ấm cho trẻ; 5,9%

bà mẹ lau mát bằng nước lạnh ; 2,9% các bà mẹ xoa cồn; 17,6% bà mẹ không biếtphải làm gì khi con bị sốt; 52,9% bà mẹ không biết tính liều lượng thuốc Vấn đềtồn tại trong nghiên cứu này: 94,1% bà mẹ cho trẻ dùng thuốc hạ sốt, tác giả cho làhành vi đúng nhưng chưa thấy tác giả đưa ra là bà mẹ sử dụng thuốc có theo đúngnhiệt độ sốt theo khuyến cáo của NICE [66] khi nhiệt độ đo ở nách ≥ 39oC haykhông? Có 90,2% bà mẹ cặp nhiệt độ thường xuyên tác giả cho là hành vi đúngnhưng tác giả chưa đưa ra được khoảng cách giữa hai lần cặp nhiệt của bà mẹ chotrẻ là bao nhiêu phút

Theo tác giả Đoàn Thị Vân (2010)[14]: Nhóm tuổi bà mẹ > 30 tuổi có kiếnthức đúng gấp 3,96 lần bà mẹ có nhóm tuổi <30; Những bà mẹ làm công nhân viên

có kiến thức, hành vi xử trí khi trẻ bị sốt tốt hơn những bà mẹ khác; Những bà mẹ

có thu nhập cao có kiến thức tốt hơn bà mẹ có thu nhập thấp và trung bình; bà mẹ

có kiến thức chung đúng có hành vi chung đúng gấp 2,59 lần so với bà mẹ có kiếnthức chung không đúng; 41,5% bà mẹ có hành vi sai là mặc thêm quần áo cho con;26,4% vẫn chườm đá, chanh, rượu ; 6,6% cạo gió, cắt lễ Ta thấy có mối liên quangiữa đặc điểm nhân khẩu xã hội học với kiến thức của bà mẹ Và cũng có mối liênquan thuận giữa kiến thức đúng với hành vi đúng

Theo tác giả Trần Thụy Khánh Linh và cộng sự (2012, 2014) [25],[60]: Cha

mẹ chưa nhận ra tác dụng có lợi của sốt mà quan tâm nhiều đến tác hại, tác hạinhiều nhất là co giật (62,5%), mệt (37,5%), ngoài ra có những tác hại khác chán ăn,ngủ lịm đi, đa số cha mẹ cho rằng nhiệt độ sốt là 38oC (43,8%), 38,1% cha mẹ charằng sốt khi nhiệt độ 37oC Cách xác định nhiệt độ khi trẻ sốt bằng nhiều cách như

Trang 27

sờ trán hoặc người trẻ (25%), cặp nhiệt ở nách bằng nhiệt kế thủy ngân (50%),cũng như các thời điểm xác định nhiệt độ khác nhau như sờ cảm thấy trẻ nóng(75%), sau khi lau mát (34%), hoặc vào mỗi buổi sáng trong giai đoạn trẻ đang bịsốt(6,3%), hoặc mỗi giờ (3,1%) Về việc xử trí thì tất cả cha mẹ đều sử dụng thuốc

hạ sốt và lau mát khi nhiệt độ dao động từ 37 đến 38,5oC; Có 28,1% sử dụngParacetamol khi nhiệt độ 38oC; 9,4% khi nhiệt độ 37,5oC; 50% lau mát bằng nước

ấm khi nhiệt độ từ 37 -38oC Một số biện pháp xử trí khác như mặc quần áo thoángmát 15,6%, cho trẻ uống nhiều dịch 9,4%, xoa cồn 3,1%, sử dụng miếng dán ở trán15,6% Ngoài ra việc sử dụng kháng sinh 68,8% theo toa thuốc bác sĩ, 15,6% rangoài nhà thuốc tây mua và 3,1% dùng toa thuốc cũ để đi mua thuốc Ta thấy cómối liên quan giữa kiến thức và xử trí sốt của cha mẹ trẻ, về kiến thức đa số cha mẹnghĩ sốt là có hại, hoặc xác định ngưỡng nhiệt độ sốt chưa đúng nên họ xử trí thuốchoặc không sử dụng thuốc để hạ sốt cho trẻ, cha mẹ trẻ đã có những xử trí sai nhưxoa cồn, sử dụng lại toa thuốc cũ, sử dụng thuốc hạ sốt khi ngưỡng nhiệt độ chưađược khuyến cáo dùng

1.6 Áp dụng lý thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu

Mô hình nâng cao sức khỏe (HPM) bởi tác giả Nola J Pender đề xuất năm 1982 đãđược thiết kế để trở thành một “Bản sao bổ sung cho mô hình bảo vệ sức khỏe”.Định nghĩa sức khỏe “Một trạng thái năng động tích cực không chỉ đơn thuần làkhông có bệnh” HPM mô tả tính chất đa chiều của những người chúng tương táctrong môi trường của họ để theo đuổi sức khỏe HPM tập trung vào ba lĩnh vực:Đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân, nhận thức hành vi cụ thể và ảnh hưởng của nhậnthức lên hành vi, kết quả hành vi HPM ghi chú rằng mỗi người có đặc điểm cánhân và kinh nghiệm ảnh hưởng đến hành động Kiến thức cụ thể về hành vi và ảnhhưởng có ý nghĩa động lực quan trọng, hành vi thúc đẩy sức khỏe là kết quả hành vimong muốn và là điểm cuối cùng trong HPM[74]

Trang 28

Sơ đồ 1 2 Mô hình nâng cao sức khỏe

Từ mô hình nâng cao sức khỏe, điểm đến cuối cùng là cha mẹ có kiến thức

và xử trí sốt đúng cho trẻ Những yếu tố tác động lên hành vi này như những hành

vi liên quan trước đó, chúng ta phải tìm hiểu xem cha mẹ có những thói quen nàotrong quá khứ đó là thói quen tốt hay xấu cho trẻ ví dụ cha mẹ có thói quen xấu dẫnđến hành động sai và nguy hiểm như cạo gió, cắt lễ khi trẻ sốt[14],[19] hoặc nhữngyếu tố về nhân khẩu học, xã hội học: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tìnhtrạng hôn nhân, kinh tế, số con, những yếu tố này tác động đến nhận thức cũngnhư hành vi của cha mẹ trẻ Ví dụ những bà mẹ >30 tuổi có hành vi xử trí sốt tốthơn bà mẹ < 30 tuổi [14], người cha có kiến thức và hành vi xử trí sốt không tốtbằng người mẹ

Nhận thức được những lợi ích của hành động, hạ sốt cho trẻ bằng phươngpháp dùng thuốc và không dùng thuốc cha mẹ cảm thấy yên tâm vì cha mẹ cho rằngsốt là có hại, sốt cao dẫn đến co giật, do vậy chúng ta phải làm cho cha mẹ có nhậnthức đúng về sốt để họ có hành động đúng Nhận thức những rào cản của hànhđộng, sự không hài lòng về việc phải từ bỏ những hành vi có hại cho sức khỏe đểchấp nhận một lối sống khỏe mạnh hơn cũng có thể tạo thành một rào cản Nhữngrào cản này thường gợi lên những động lực tránh né đối với những hành vi đã được

Yếu tố cá nhân

Nhân khẩu học,

xã hội học

Hành vi liênquan trước đó(dùng chanh,cồn để giảm

sốt)

Cha mẹ có kiếnthức và hành vi

xử trí sốt đúng

Nhận thứcniềm tin củabản thân

Nhận thức đượcnhững cản trởcủa hành động

Nhận thứcđược nhữnglợi ích củahành động

Yếu tố cá nhân

Nhân khẩu học,

xã hội học

Hành vi liênquan trước đó(dùng chanh,cồn để giảm

sốt)

Trang 29

định trước Nhận thức niềm tin bản thân, cha mẹ có kiến thức, nhận thức đúng vềsốt nhưng bản thân họ có muốn hành động đúng hay không, tức họ ý thức được điều

đó đúng nhưng họ vẫn hành động sai

Học thuyết Pender con người thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố, các yếu tốnày tác động đến hành vi của cha mẹ Khi các trở ngại được loại bỏ, cá nhân sẽ cósức khỏe và chất lượng cuộc sống sẽ tốt hơn

Trang 30

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, có phân tích

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Phòng khám nhi Bệnh viện đa khoa Thị xã Bình Long.

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 5/2016 đến tháng 7/2017.

2.4 Dân số nghiên cứu

Cha/mẹ có trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi bị bệnh (sốt hoặc không sốt), đến khámtại phòng khám nhi Bệnh viện đa khoa Thị xã Bình Long

2.5 Cỡ mẫu:

Z2 1-α/2 × p × (1 – p)

n =

d2

n: Cỡ mẫuα: Xác suất sai lầm loại I, chọn trị số α là 0,05 => Z = 1,96d: Sai số, chọn sai số là 0,1

p: Tỷ lệ cha/mẹ xử trí sốt đúng của đề tài trước, p = 0,349 [14]

Trang 31

Cha mẹ từ 18 tuổi trở lên, có thể nói và hiểu tiếng Việt.

2.7.2 Tiêu chí loại ra

Trẻ bị bệnh nặng (có sốt hoặc không sốt) trong tình trạng nguy kịch cần xửtrí cấp cứu, nhập viện

Trẻ có bệnh lý tim mạch, viêm phổi

Trẻ có tiền sử sốt cao co giật

2.7.3 Đặc điểm và bối cảnh nghiên cứu

Khoa khám bệnh của Bệnh viện đa khoa thị xã Bình Long trung bình khám

550  600 bệnh/ngày, có 2 phòng khám nhi và mỗi phòng khám nhi khám khoảng

60 bệnh/ngày, có khoảng 70% trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi đến khám trong ngày, cácmặt bệnh chủ yếu là viêm đường hô hấp, tiêu hóa hay nhiễm siêu vi

2.8.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi khảo sát được cập nhập từ bộ câu hỏi trước đây được sử dụng bởitác giả Lipa Athamneh [62], tác giả Trần Thụy Khánh Linh [60] và có sự chỉnh sửa,

bổ sung cho phù hợp

Bảng 2 1: Một số câu hỏi bản gốc và đã chỉnh sửa

Trẻ nhỏ nhất là bao nhiêu tuổi:……… Anh/chị bao nhiêu tuổi?

Trang 32

3 Cao đẳng hoặc đại học

6 Đại học-sau đại học

Số con trong gia đinh: ………… Hiện tại anh/chị có bao nhiêu con?

7 Tôi không sử dụng thuốc hạ sốt

Với ngưỡng nhiệt độ là bao nhiêu thì anh/chị sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ?

1 ≤ 380C

2 38,10C – 38,90C

3 ≥ 39 0C

4 Tôi không biết

Các phương pháp vất lý anh/chị thường

1 Lau mát bằng nước ấm (có – không)

2 Cho trẻ mặc quần áo mỏng không)

3 Cho trẻ uống nhiều nước không)

(Có-4 Phòng thoáng mát, giảm nhiệt độphòng (Có – không)

Trang 33

2.8.2 Các bước thu thập số liệu

Thời gian tiếp cận cha/mẹ chăm sóc trẻ từ 7h30 – 11h, 13h30-16h30 cácngày trong tuần

Bước 1: Tiếp cận cha/mẹ trẻ tại phòng khám nhi

Bước 2: Giải thích cho cha/mẹ về nghiên cứu và mời tham gia vào nghiêncứu đối với cha/mẹ đủ tiêu chí chọn mẫu

Bước 3: Phát phiếu chấp nhận tham gia nghiên cứu và cha/mẹ ký tên vàoBước 4: Nhóm nghiên cứu trực tiếp hỏi cha/mẹ và đánh vào bộ câu hỏi trongthời gian khoảng 30 phút cho một người

2.8.3 Xử lý và phân tích số liệu

Nhập số liệu và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

Thống kê mô tả: Tần số, tỷ lệ phần trăm

Thống kê phân tích: Sử dụng phép kiểm chi bình phương, phép kiểm Fisher

2.8.4 Kiểm soát sai lệch

Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, phù hợp

Trang 34

Tiến hành khảo sát thử 30 đối tượng và nhập liệu, xử lý, phân tích số liệu đểkiểm tra tính phù hợp và hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi.

1 Kinh 2 STieng 3 KhácA4 Nghề nghiệp: là biến danh định 5 giá trị

1 Công nhân viên 2 Làm rẫy 3 Buôn bán

4 Nội trợ 5 KhácA5 Số con: số con hiện tại đang sống, là biến nhị giá:

1 ≤ 2 2 > 2A6 Trình độ học vấn của cha/mẹ: là biến thứ tự có 6 giá trị

Trang 35

B3 Kiến thức của của cha/mẹ về nhiệt độ khi sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ làbiến nhị giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “≥

1 “Có” giữ nhiệt độ của trẻ hạ trong vòng vài giờ

2 “Có” giảm đau do sốt/bệnh gây ra

3 “Có” gây hại cho gan, thận của trẻ

2.9.5 Biến số về nhận thức của cha/mẹ

C1 Nhận thức vể lợi ích của sốt là biến nhị giá “có, không”

C2 Nhận thức về lợi ích của thuốc hạ sốt ngăn co giật, giảm lo lắng của

cha/mẹ về co giật do sốt cao, giảm khó chịu cho trẻ và giúp trẻ dễ ngủ là biến nhịgiá “có, không”

C3 Nhận thức về lợi ích của lau mát ngăn co giật, giảm lo lắng của cha/mẹ

về co giật do sốt cao, giảm khó chịu cho trẻ là biến nhị giá “có, không”

C4 Nhận thức về ảnh hưởng tiêu cực của sốt là biến danh định, gồm 5 giátrị: mất nước, co giật, tổn thương não, hôn mê và tử vong

C5 Nhận thức về bất lợi của lau mát làm trẻ rùng mình và quấy khóc là biếnnhị giá “có, không”

2.9.6 Biến số về xử trí sốt của cha/mẹ 2.9.6.1 Phương pháp sử dụng thuốc

Trang 36

D1 Loại thuốc hạ sốt cha/mẹ dùng tại nhà là biến nhị giá gồm hai giá trịđúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “Acetaminophen”.

D2 Cha mẹ cho trẻ uống kết hợp 2 hoặc nhiều hơn hai loại thuốc hạ sốt làbiến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và không đúng Xử trí đúng khi chọn “không”

D3 Đường sử dụng thuốc cho trẻ của cha/mẹ là biến nhị giá “uống, hậumôn”

D4 Cha /mẹ sử dụng thuốc qua đường hậu môn cho bé là biến danh định,gồm 6 giá trị: Theo tư vấn của bác sĩ, tác dụng nhanh, dễ sử dụng, không uống được

vì nôn, trẻ từ chối uống và chưa từng sử dụng qua đường hậu môn

D5 Liều lượng cha mẹ sử dụng thuốc hạ sốt là biến nhị giá gồm 2 giá trịđúng và không đúng Xử trí đúng khi khi chọn “cân nặng”

D6 Anh/chị nghĩ gì khi trẻ sốt càng cao thì cho bé uống liều hạ sốt càng lớn

là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và không đúng Xử trí đúng khi khi chọn “nguyhiểm”

D7 Cho trẻ sử dụng kháng sinh khi sốt là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng vàkhông đúng Xử trí đúng khi khi chọn “theo toa bác sĩ”

2.9.6.2 Phương pháp không dùng thuốc

D8 Xử trí khi trẻ sốt tại nhà bằng phương pháp không dùng thuốc là biến nhịgiá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Xử trí đúng khi trả lời:

1 “Có’ lau mát bằng nước ấm

2 “Có” cho trẻ mặc quần áo mỏng

3 “Có” cho trẻ uống nhiều nước

4 “Có” phòng thoáng mát, giảm nhiệt độ phòng

D9 Số lượng khăn để lau mát cho trẻ là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng haykhông đúng Xử trí đúng khi chọn “5”

D10 Thời gian lau mát cha mẹ đã từng thực hiện là biến nhị giá gồm 2 giá trịđúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “15 30 phút”

D11 Nhiệt độ nước mà cha/mẹ dùng để lau mát cho trẻ là biến nhị giá gồm 2giá trị đúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “nước ấm”

Trang 37

D12 Các phương pháp khác như cắt lễ & cạo gió, xoa cồn, chanh, chườm

đá, băng dán, phương pháp dân gian, không sử dụng phương pháp nào vừa kể màcha/mẹ sử dụng để hạ sốt cho trẻ là biến nhị giá “Có, không”

2.9.7 Nguồn thông tin cha/mẹ nhận được

E1 Nguồn thông tin về thuốc hạ sốt cha/mẹ nhận được là biến nhị giá “có,không”

E2 Nguồn thông tin về thuốc kháng sinh cha/mẹ nhận được là biến nhị giá

“có, không”

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu

Cha mẹ trẻ sau khi đã được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến nghiêncứu: Giới thiệu khái quát về nghiên cứu, mục đích, thời gian tham gia của đối tượngnghiên cứu, những lợi ích có được từ nghiên cứu cho đối tượng hoặc cho cộngđồng Cha/mẹ đồng ý tham gia sẽ ký vào bản đồng thuận Ngôn ngữ trong bản chấpthuận là ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu để cha mẹ chọn sự thỏa thuận tham gia nghiêncứu Trong suốt quá trình nghiên cứu đối tượng có quyền quyết định rút lui khỏinghiên cứu ở bất kỳ thời điểm nào và không bị mất quyền lợi (quyền được khám,chữa bệnh, chăm sóc, làm các cận lâm sàng thường quy,…) Mọi thông tin của cha

mẹ trẻ và trẻ sẽ được giữ bí mật tuyệt đối Nghiên cứu được sự chấp thuận của Hộiđồng Y đức của trường đại học Y Dược TP.HCM và hội đồng Nghiên cứu khoa họcBệnh viện Bình Long

Trong trường hợp phát hiện cha/mẹ chưa biết cách xử trí hoặc xử trí chưađúng khi trẻ bị sốt, nhóm nghiên cứu tiến hành hướng dẫn xử trí cho cha/mẹ

Trang 38

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 100 cha/mẹ tham gia Sau khi thu thập vàphân tích số liệu chúng tôi đưa ra kết quả sau:

3.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học, kiến thức, nhận thức, xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt và nguồn thông tin cha/mẹ nhận được.

Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học (n =100)

1585

Tuổi

≤ 30

> 30

5149

5149

64315

93042136

Số con

≤ 2

>2

7921

7921

21563137

Nhận xét: Trong nghiên cứu này người mẹ tham gia chăm sóc chính (85%), độ tuổi

≤ 30 và >30 tương đương nhau, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần hai phần ba dântộc khác Hơn một phần ba cha/mẹ làm nghề công nhân và phần lớn có 1 hoặc 2con Trình độ học vấn của cha/mẹ đa dạng từ không học cho tới đại học và cấp 2chiếm gần hai phần ba các trình độ khác

Trang 39

Bảng 3 2 Kiến thức về sốt của cha/mẹ (n=100)

454429

1470106

571330

423919

571330

Số lần đo nhiệt độ trong 24h

< 4

≥ 4

Không cặp nhiệt

393229

393229

73522

823423

Nhận xét:

Hơn một nửa cha/mẹ chưa xác định chính xác nhiệt độ bình thường của trẻ

(56%) và sử dụng thuốc hạ sốt khi nhiệt độ < 390C là 57%, 87% cha/mẹ xác địnhnhiệt độ lau mát < 390C hoặc sờ thấy âm ấm, gần hai phần ba không biết hoặc xác

Trang 40

định nhiệt độ đi khám bệnh < 390C (61%) và đa số cha/mẹ cho rằng thuốc hạ sốtkhông ảnh hưởng tới gan, thận khi uống (77%).

Hơn hai phần ba xác định chính xác nhiệt độ sốt (70%) và vị trí cặp nhiệt antoàn, thuận tiện cho trẻ là ở nách (73%) và một phần ba kiểm tra nhiệt độ thườngxuyên cho trẻ ≥ 4 lần/ngày

Bảng 3 3 Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát (n=100)

61775338

718467

Ảnh hưởng tiêu cực nhất của sốt

779113

Ảnh hưởng của lau mát

Làm trẻ rùng mình

Làm trẻ quấy khóc

3239

3239

Nhận xét:

Về lợi ích: 93% cha/mẹ tin rằng sốt có hại, gần hai phần ba cho rằng thuốc

hạ sốt sẽ ngăn co giật, hơn một nửa giúp trẻ dễ ngủ và 77% giúp trẻ thoải mái Hơnhai phần ba cho rằng lau mát sẽ giúp trẻ dễ chịu, ngừa co giật và giảm sự lo lắngcủa cha/mẹ về co giật ở trẻ

Về bất lợi: Cha/mẹ sợ co giật nhất khi trẻ sốt (77%), Tỷ lệ cha mẹ cho rằng

ảnh hưởng của lau mát làm trẻ rùng mình chiếm hơn một phần ba và tỉ lệ lau mátlàm trẻ quấy khóc cũng tương đương

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Bình Phước. 2015 20/4/2017]; Available from: https://vi.wikipedia.org/wiki/Bình_Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Phước
Tác giả: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Năm: 2015
2. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. người Stiêng. 2011 20/4/2017]; Available from:https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Xti%C3%AAng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Stiêng
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2011
3. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Thị xã Bình Long. 2009 21/4/2017]; Available from: https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị xã Bình Long
Tác giả: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Năm: 2009
4. Bạch Văn Cam (2013) "Phác đồ điều trị nhi khoa 2013”, Bệnh Viện Nhi Đồng 1, nhà xuất bản Y học Tp.HCM, 396-400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác đồ điều trị nhi khoa 2013
Tác giả: Bạch Văn Cam
Nhà XB: Bệnh Viện Nhi Đồng 1
Năm: 2013
5. Báo điện tử gia đình Việt Nam. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh cho trẻ. (2016) accessed on 12/4/2017]; Available from:http://www.giadinhvietnam.com/song/nuoi-con/nguyen-tac-su-dung-khang sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh cho trẻ
Nhà XB: Báo điện tử gia đình Việt Nam
Năm: 2016
6. Bệnh viện nhi đồng 1. Lau mát hạ sốt. (2015) Accessed on 11/4/2017]; Available from:http://nhidong.org.vn/Documents/124/LAUMATHASOT.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lau mát hạ sốt
Tác giả: Bệnh viện nhi đồng 1
Năm: 2015
8. Bệnh viện nhi đồng 2. Hiểu về kháng sinh. (2015) Accessed on 12/4/2017]; Available from Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu về kháng sinh
Tác giả: Bệnh viện nhi đồng 2
Năm: 2015
7. Bệnh viện nhi đồng 2. Co giật do sốt cao ở trẻ em. 2010 Accessed on 11/4/2017]; Available from:http://www.benhviennhi.org.vn/news/detail/1077/co-giat-do-sot-cao-o-tre-em.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w