ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả kết hợp phân tích qua bộ câu hỏi nhằm xác định mối liên hệ giữa đặc điểm của bà mẹ, nhận thức về lợi ích và khó khăn, cũng như sự tự tin trong việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) trong 6 tháng đầu đời.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ 01/2016 đến 04/2016. Địa điểm nghiên cứu: Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng
Thông tin về địa điểm thực hiện nghiên cứu Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương, nằm trong vùng Nam Trung
Đà Nẵng, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và công nghệ lớn của miền Trung - Tây Nguyên, là đô thị loại 1 và thành phố trực thuộc Trung ương tại Việt Nam Thành phố này bao gồm 7 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ và Hòa Vang Tính đến năm 2012, Đà Nẵng có dân số khoảng 887.000 người, trong đó có 71.914 trẻ em dưới 5 tuổi (chiếm 8,6%) và 30.165 trẻ dưới 2 tuổi (chiếm 3,6%) Đà Nẵng cũng là một trong 15 tỉnh thành tham gia dự án Alive & Thrive.
Dự án "Mặt trời bé thơ" đã thành lập 35 phòng tư vấn nhằm cung cấp dịch vụ tư vấn chất lượng cao về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, hỗ trợ các bà mẹ trong việc chăm sóc con cái.
Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, là trung tâm thương mại, giáo dục và y tế của khu vực, với dân số khoảng 197.000 người, bao gồm 5.111 trẻ em dưới 5 tuổi và 13.057 trẻ dưới 2 tuổi Nơi đây tập trung đông dân cư với đa dạng nghề nghiệp và văn hóa Đặc biệt, Hải Châu và Cẩm Lệ là hai quận duy nhất trong thành phố chưa có phòng tư vấn Mặt Trời Bé Thơ Quận Hải Châu bao gồm 13 phường: Hải Châu 1, Hải Châu 2, và Thạch Thắng.
Thang, Thanh Bình, Thuận Phước, Hòa Thuận Đông, Hòa Thuận Tây, NamDương, Phước Ninh, Bình Thuận, Bình Hiên, Hòa Cường Bắc, Hòa CườngNam.
Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con đang sinh sống tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Bà mẹ có con 6 tháng – 7 tháng đang sinh sống tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Bà mẹ có con từ 6 tháng đến 7 tháng đang sinh sống tại quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.
- Bà mẹ có khả năng giao tiếp bằng Tiếng Việt.
- Tình trạng sức khỏe bình thường có thể tham gia toàn bộ cuộc phỏng vấn.
- Tình nguyện vào tham gia nghiên cứu.
Bà mẹ chống chỉ định cho con bú sữa mẹ.
Sử dụng công thức: n = Z 2 (1- α/2) p (1 - p) d 2 Trong đó: n là số lượng đối tượng nghiên cứu (cỡ mẫu) α: xác xuất sai lầm loại I, α = 0,05
Z: trị số từ phân phối chuẩn, với α = 0,05 thì Z(1-α/2) = 1,96 d: độ chính xác tuyệt đối, d = 0,05. p: tỷ lệ cần ước lượng, tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu rất dao động [1] nên lấy p = 0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất.
Thay các giá trị này vào công thức trên ta tính được cỡ mẫu: n86.
Phương pháp lấy mẫu: phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo các bước sau.
Bước 1: Để tính số lượng bà mẹ có con từ 6 tháng đến 7 tháng tham gia nghiên cứu tại mỗi phường, áp dụng công thức tỷ lệ theo Cochran (1977): nh = Nh ∗ n.
N nh: số bà mẹ có con từ 6 tháng đến 7 tháng tham gia nghiên cứu ở mỗi phường.
Nh: tổng số bà mẹ có con từ 6 tháng đến 7 tháng của mỗi phường N: tổng số bà mẹ có con từ 6 tháng đến 7 tháng quận Hải Châu. n: cỡ mẫu (385)
Bảng 2.1 Dân số và đối tượng tham gia nghiên cứu của mỗi phường của quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam
STT Phường Bà mẹ có con 6 tháng đến 7 tháng
STT Phường Bà mẹ có con 6 tháng đến 7 tháng
Bước 2: Tại mỗi phường, chúng tôi thực hiện việc lựa chọn ngẫu nhiên các bà mẹ có con từ 6 đến 7 tháng tuổi từ danh sách tên đã có sẵn để tham gia nghiên cứu.
Tiến hành lấy mẫu từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2016, trung bình mỗi ngày lấy khoảng 5 mẫu.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập bởi nhà nghiên cứu từ tháng 1 năm 2016 đến tháng
Vào năm 2016, một nghiên cứu đã được thực hiện tại 13 phường của quận Hải Châu, Đà Nẵng, sau khi được trường Đại học Y – Dược thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt Giấy phép nghiên cứu đã được gửi đến Sở Y tế Đà Nẵng Sau khi nhận được sự chấp thuận, nhà nghiên cứu đã liên hệ với trung tâm y tế quận Hải Châu và các trưởng trạm y tế tại 13 phường để giải thích mục đích nghiên cứu, quy trình thu thập dữ liệu, và yêu cầu danh sách thông tin liên lạc của các bà mẹ có con từ 6 đến 7 tháng tuổi.
Sau khi có địa chỉ của các bà mẹ, nhà nghiên cứu đến tận nhà để thu thập số liệu Trước tiên, họ giới thiệu bản thân và xây dựng mối quan hệ tốt với người tham gia Tiếp theo, nhà nghiên cứu giải thích rõ ràng về mục đích và thủ tục nghiên cứu, cũng như quyền lợi của người tham gia Nếu đồng ý tham gia, người tham gia sẽ ký vào mẫu thỏa thuận đồng ý.
Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp với đối tượng tham gia trong khoảng 20 phút, sử dụng bộ câu hỏi gồm 51 câu Nội dung câu hỏi tập trung vào thông tin chung của mẹ, nhận thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), những khó khăn gặp phải khi thực hiện NCBSM, mức độ tự tin của mẹ về NCBSM, và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.
Sau khi người tham gia hoàn thành xong bộ câu hỏi, nhà nghiên cứu xem xét và kiểm tra lại để tránh thiếu sót các thông tin.
Sử dụng bộ câu hỏi được phát triển bởi người nghiên cứu và có sẵn của tác giả Bộ câu hỏi gồm có 5 phần:
Phần A của nghiên cứu bao gồm những câu hỏi về đặc điểm cá nhân của các bà mẹ, được phát triển dựa trên tổng quan tài liệu Các câu hỏi được chia thành 5 phần nhằm thu thập thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu, bao gồm: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con và phương pháp sinh.
Phần B của nghiên cứu giới thiệu thang điểm nhận thức về lợi ích của NCBSM, được phát triển dựa trên tổng quan tài liệu và bao gồm 6 câu hỏi Các bà mẹ tham gia sẽ đánh giá kiến thức và cảm nhận của họ về lợi ích của NCBSM trong thời gian thực hiện Mỗi câu hỏi được đo bằng thang điểm Likert từ 1 đến 5, với 1 là "rất không đồng ý" và 5 là "rất đồng ý" Kết quả cho thấy thang điểm này có Cronbach’s alpha là 0,81, cho thấy độ tin cậy cao Điểm số cao hơn phản ánh nhận thức tốt hơn về lợi ích của NCBSM từ phía các bà mẹ.
Phần C của thang điểm nhận thức về những khó khăn khi nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) được phát triển dựa trên nghiên cứu và tổng quan tài liệu, bao gồm 14 câu hỏi Các bà mẹ sẽ đánh giá mức độ khó khăn trong quá trình NCBSM thông qua thang điểm Likert với các mức độ từ rất không đồng ý [1] đến rất đồng ý [5] Thang điểm này có hệ số Cronbach’s alpha là 0,72, cho thấy độ tin cậy cao Điểm số càng cao cho thấy nhận thức của các bà mẹ về khó khăn trong NCBSM càng lớn.
Phần D của thang điểm tự tin NCBSM, được phát triển từ Dennis (2003), bao gồm 14 câu hỏi đánh giá sự tự tin của các bà mẹ thông qua thang điểm Likert từ 1 đến 5 Trong nghiên cứu này, thang điểm đạt Cronbach’s alpha là 0,91, cho thấy độ tin cậy cao Điểm số cao hơn thể hiện mức độ tự tin NCBSM cao hơn ở các bà mẹ.
Phần E của bộ câu hỏi tập trung vào thực hành nuôi dưỡng trẻ trong 6 tháng đầu đời, bao gồm 8 câu hỏi quan trọng Những câu hỏi này đề cập đến thực hành bú sữa mẹ, các loại thức ăn và đồ uống bổ sung trong giai đoạn này, thời điểm trẻ bắt đầu bú sữa mẹ, cũng như thời gian ngừng bú sữa mẹ.
Nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi với 30 bà mẹ có con 6 và 7 tháng tuổi tại ba phường Bình Thuận, Hòa Thuận Đông và Nam Dương thuộc quận Hải Châu, Đà Nẵng Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa và hoàn thiện để đảm bảo tính chính xác và phù hợp.
Liệt kê và định nghĩa biến số
Trong 6 tháng đầu đời, trẻ nên được bú sữa mẹ hoàn toàn, nghĩa là chỉ nhận sữa mẹ trực tiếp hoặc gián tiếp mà không cần bổ sung bất kỳ loại thức ăn hay nước uống nào khác, ngoại trừ vitamin, khoáng chất và thuốc điều trị bệnh.
Biến này là biến số nhị giá, bao gồm 2 giá trị “Có” và “Không”
2.5.2 Biến về đặc điểm của mẹ
Nhóm tuổi: là biến danh định, gồm 3 giá trị
(Tuổi của các bà mẹ được tính bằng cách lấy năm điều tra (2016) trừ đi năm sinh của bà mẹ)
Trình độ học vấn: là một biến danh định, có 4 giá trị
+ Cao đẳng/ Đại học/ Sau đại học
Nghề nghiệp: là một biến danh định, có 6 giá trị
+ Buôn bán/Kinh doanh/Tự do
Số con hiện tại còn sống: là một biến thứ tự, gồm có 3 giá trị
Phương pháp sinh: là một biến nhị giá có 2 giá trị
2.5.3.1 Nhận thức về lợi ích NCBSM Định nghĩa: Nhận thức về lợi ích NCBSMHT là kiến thức, suy nghĩ, nhìn nhận của mỗi bà mẹ về những lợi ích NCBSMHT trong 6 tháng đầu sau sinh.
Nhận thức lợi ích NCBSM bao gồm 6 câu, mỗi câu hỏi có 5 điểm từ 1 là
Điểm số từ 6 đến 30 cho thấy mức độ nhận thức về lợi ích của NCBSM, với "Rất không đồng ý" là 1 và "Rất đồng ý" là 5 Tổng điểm cao hơn phản ánh sự hiểu biết tốt hơn về những lợi ích này.
Biến nhận thức lợi ích NCBSM là biến định lượng.
2.5.3.2 Nhận thức những khó khăn khi NCBSM Định nghĩa: Nhận thức những khó khăn khi NCBSM là những suy nghĩ của mỗi bà mẹ về những khó khăn khi họ thực hành NCBSM.
Bộ câu hỏi NCBSM về nhận thức khó khăn gồm 14 câu hỏi, mỗi câu hỏi có thang điểm từ 1 đến 5, với 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” và 5 là “Hoàn toàn đồng ý” Tổng điểm được tính bằng cách cộng dồn điểm của từng câu hỏi, với tổng điểm dao động từ 14 đến 70 Điểm số càng cao cho thấy các bà mẹ gặp nhiều khó khăn hơn.
Biến nhận thức những khó khăn NCBSM là một biến định lượng.
2.5.3.3 Sự tự tin vào khả năng NCBSM Định nghĩa: Sự tự tin vào khả năng NCBSM là niềm tin của người mẹ về khả năng của mình để thực hiện NCBSMHT trong 6 tháng đầu.
Biến này được đo bằng thang điểm sự tự tin NCBSM được phát triển Dennis (2003) Thang điểm này gồm 14 câu Mỗi câu hỏi có tổng điểm là 5: từ
Điểm tự tin về khả năng cho con bú được đánh giá trên thang điểm từ 1 đến 5, với 1 là "Hoàn toàn không tự tin" và 5 là "Hoàn toàn tự tin" Tổng điểm có thể dao động từ 14 đến 70, trong đó điểm số cao hơn phản ánh mức độ tự tin cao hơn của người mẹ trong việc cho con bú.
Biến tự tin NCBSM là biến định lượng
Quản lý và phân tích số liệu
Mỗi phiếu đánh giá cần được điền đầy đủ thông tin phỏng vấn, và người thu thập số liệu sẽ kiểm tra lại ngay sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc Nếu phát hiện thiếu sót, họ sẽ bổ sung ngay lập tức.
2.6.2 Mã hóa thông tin từ phiếu đánh giá
Tất cả dữ liệu thu thập sẽ được kiểm tra tính phù hợp và mã hóa bởi người nghiên cứu Sau đó, dữ liệu sẽ được lưu trữ trên máy vi tính và kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo không có lỗi trước khi xuất sang phần mềm.
- Dữ liệu được mô tả , phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
- Thống kê mô tả biến định tính: tần số, tỷ lệ phần trăm
- Thống kê mô tả biến định lượng: trung bình, ĐLC.
Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, được xác định là biến nhị giá với hai giá trị “có” và “không” Để phân tích mối liên hệ giữa việc bú sữa mẹ hoàn toàn và các đặc điểm nhân khẩu học, chúng tôi sử dụng phép kiểm chi bình phương Các đặc điểm nhân khẩu học bao gồm các biến danh định như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con hiện có, và biến nhị giá liên quan đến phương pháp sinh.
Hồi quy logistic được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa việc bú sữa mẹ trong 6 tháng và các yếu tố định lượng như nhận thức về lợi ích của sữa mẹ, nhận thức những khó khăn trong việc nuôi con bằng sữa mẹ, và sự tự tin của các bà mẹ trong việc cho con bú.
2.6.4 Sai số và biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu
Sai số có thể gặp
- Sai số thông tin: có thể xảy ra sai số thông tin do người phỏng vấn không nhớ hết những nội dung phỏng vấn mà họ đã thực hiện.
Sai số nhớ lại có thể xảy ra khi người được phỏng vấn, như các bà mẹ, không nhớ chính xác hoặc không thể trả lời đúng những thông tin mà họ đã biết hoặc trải nghiệm.
Để giảm thiểu sai số thông tin, bộ câu hỏi cần được thiết kế một cách rõ ràng và thống nhất Ngoài ra, việc thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành điều tra là rất quan trọng.
- Đối với sai số nhớ lại: có những câu hỏi dưới dạng khác trong bộ câu hỏi để kiểm tra.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được phê duyệt bởi hội đồng Y đức trước khi tiến hành triển khai nghiên cứu.
- Trước khi triển khai nghiên cứu cần được sự chấp nhận của Sở Y tế Đà Nẵng, trung tâm y tế quận Hải Châu và 13 trạm y tế của quận Hải Châu.
Trước khi bắt đầu nghiên cứu, cần giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu cho đối tượng tham gia Chỉ tiến hành nghiên cứu khi đã nhận được sự chấp thuận và hợp tác từ những người tham gia.
- Người tham gia nghiên cứu là tự nguyện và có thể từ chối tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu.
- Nếu đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia thì được ký giấy chấp thuận bằng văn bản.
Trong quá trình phỏng vấn, người tham gia nghiên cứu có quyền đặt câu hỏi, từ chối trả lời hoặc dừng đánh giá bất kỳ lúc nào.
- Mọi thông tin của cá nhân tham gia nghiên cứu đều được bảo mật.
- Các số liệu thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu vềNCBSM.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
Bảng 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi và trình độ học vấn của ĐTNC Đặc tính Tần số
Trung cấp/Cao đẳng/ Đại học/ Sau đại học
Độ tuổi của các bà mẹ tham gia nghiên cứu dao động từ 20 đến 41 tuổi, với độ tuổi trung bình là 29,6 (ĐLC = 4,4) Phần lớn các bà mẹ nằm trong độ tuổi 25-35, chiếm 75,8% tổng số Trong khi đó, tỷ lệ bà mẹ ở độ tuổi 18-24 và trên 35 tuổi lần lượt chỉ chiếm 11,9% và 12,2% Về trình độ học vấn, hơn một nửa (63,6%) các bà mẹ có trình độ sau phổ thông trung học, bao gồm trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học, trong khi tỷ lệ bà mẹ có trình độ cấp 3 là 29,9%.
1 bà mẹ có trình độ cấp 1.
Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp, số con và phương pháp sinh của ĐTNC Đặc tính Tần số
Buôn bán/Kinh doanh/Tự do
Theo thống kê, nghề nghiệp của các bà mẹ chủ yếu là viên chức, với tỷ lệ cao nhất là 42,3% (bao gồm 3,6% trong ngành y và 38,7% ở các ngành khác) Tiếp theo, tỷ lệ bà mẹ làm trong lĩnh vực buôn bán, kinh doanh hoặc tự do là 24,9% Đáng chú ý, chỉ có 1 bà mẹ trong số 385 là làm nghề nông.
Trong số 385 bà mẹ tham gia nghiên cứu có hơn một nửa là bà mẹ có đứa con đầu 54,3% và chỉ có 5,5% bà mẹ có 3 con trở lên.
Trong 385 bà mẹ tham gia nghiên cứu có 242 bà mẹ sinh thường 62,9% và 143 bà mẹ sinh mổ 37,1%.
3.1.2 Nhận thức lợi ích, nhận thức những khó khăn và tự tin NCBSM trong 6 tháng đầu
Bảng 3.3 Nhận thức lợi ích, nhận thức những khó khăn và tự tin khi NCBSM trong 6 tháng đầu (n85)
NCBSMHT 6 tháng đầu Trung bình Có
Nhận thức những khó khăn NCBSM
Trong nghiên cứu này, thang điểm nhận thức về lợi ích có tổng điểm từ 6 đến 30, cho thấy các bà mẹ có điểm nhận thức cao với trung bình là 25,0 (ĐLC = 3,3) Đặc biệt, những bà mẹ tham gia NCBSMHT có điểm trung bình nhận thức về lợi ích là 26,2 (ĐLC = 3,3), cao hơn so với các bà mẹ không tham gia NCBSMHT, chỉ đạt 24,2 (ĐLC = 3,1).
Thang điểm nhận thức về khó khăn có tổng điểm từ 14 đến 70, với điểm nhận thức trung bình về những khó khăn của các bà mẹ NCBSM là 34,5 (ĐLC = 7,5) Cụ thể, các bà mẹ NCBSMHT có điểm trung bình nhận thức về khó khăn là 25,6 (ĐLC = 3,3), trong khi các bà mẹ không NCBSMHT có điểm trung bình nhận thức cao hơn, đạt 35,7 (ĐLC = 7,4).
Các bà mẹ có điểm tự tin trung bình là 47,0 (ĐLC = 9,6) Những bà mẹ tham gia NCBSMHT đạt điểm trung bình 55,3 (ĐLC = 6,8), trong khi đó, những bà mẹ không tham gia NCBSMHT có điểm trung bình là 44,9 (ĐLC = 9,1).
3.1.3 Nhận thức lợi ích NCBSM trong mỗi câu
Bảng 3.4 Nhận thức về lợi ích NCBSM trong mỗi câu
Nội dung Trung bình ĐLC
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ 4,5 0,6
NCBSM ít tốn chi phí hơn sữa bình 4,5 0,6
NCBSM giúp trẻ phát triển trí thông minh hơn sữa ngoài.
NCBSM bảo vệ cho bà mẹ giảm nguy cơ ung thư vú sau này.
Sữa mẹ giúp trẻ tránh nhiều bệnh như tiêu chảy, viêm phổi, viêm tai giữa.
NCBSM giúp trẻ giảm nguy cơ béo phì và các bệnh tim mạch cho trẻ sau này.
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu đều nhận thức rằng sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ, đồng thời ít tốn kém hơn so với sữa công thức, với điểm trung bình đạt 4,5 (ĐLC = 0,6) Họ cũng đồng tình rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hỗ trợ sự phát triển trí thông minh của trẻ, với điểm trung bình là 4,1 (ĐLC = 0,8).
Trong khi đó nhận thức về lợi ích khi NCBSM giảm nguy cơ béo phì và các bệnh tim mạch sau này có điểm trung bình thấp nhất 3,9 (ĐLC = 0,8).
3.1.4 Nhận thức những khó khăn NCBSM trong mỗi câu
Bảng 3.5 Nhận thức những khó khăn NCBSM trong mỗi câu
Nội dung Trung bình ĐLC
Tôi bối rối khi cho con bú ở nơi công cộng 3,0 1,2 Những phương tiện ở chỗ làm việc của tôi không hỗ trợ cho việc NCBSM.
Tôi thấy rằng đầu ti ngắn làm cho bé khó bú 2,8 1,2 Trở lại làm việc khiến việc NCBSM không thể thực hiện được.
Tôi không có đủ thời gian để cho con bú và nhận thấy rằng mình không đủ sữa Hơn nữa, tôi cũng không biết cách vắt sữa và bảo quản sữa trong tủ lạnh khi ra ngoài.
NCBSM khiến tôi có hình dáng xấu 2,4 1,1
Tôi nghĩ rằng con của tôi không tăng đủ cân khi bú sữa mẹ.
Khi cho bé bú làm tôi đau 2,4 1,0
Bé quấy khóc khi bú mẹ 2,2 1,0
Tôi bối rối khi cho con bú trước các thành viên trong gia đình.
Bé chỉ đòi bú bình, không chịu bú mẹ 2,0 0,9 Gia đình của tôi không khuyến khích NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên.
Nhận thức khó khăn nhất khi nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSMHT) của các bà mẹ tham gia nghiên cứu là sự ngại ngùng khi cho con bú nơi công cộng với điểm trung bình 3,0 (ĐLC = 1,2) Thứ hai, các phương tiện tại nơi làm việc không hỗ trợ cho NCBSM với điểm trung bình 2,9 (ĐLC = 1,2) Tuy nhiên, hầu hết các bà mẹ không gặp khó khăn trong việc nhận được sự khuyến khích từ các thành viên trong gia đình, với điểm trung bình chỉ 1,9 (ĐLC = 1,2).
3.1.5 Sự tự tin của các bà mẹ về khả năng NCBSM trong mỗi câu
Bảng 3.6 Sự tự tin của các bà mẹ về khả năng NCBSM trong mỗi câu
Nội dung Trung bình ĐLC
Tôi luôn luôn có thể giữ bé trong lúc bé bú sữa mẹ 3,7 0,9 Tôi luôn luôn cảm thấy hài lòng khi trải qua việc cho con bú.
Tôi luôn luôn cảm thấy thoải mái việc cho con bú sữa mẹ trước các thành viên trong gia đình hiện nay.
Tôi luôn luôn có thể hoàn thành cho con bú một bên vú rồi mới chuyển qua vú còn lại.
Tôi luôn có thể duy trì nguồn sữa để đáp ứng nhu cầu của trẻ trong mỗi lần cho con bú.
Tôi luôn luôn có thể nhận biết được con của tôi bú đủ sữa mẹ.
Tôi luôn luôn có thể biết khi nào trẻ hoàn thành một lần bú.
Nội dung Trung bình ĐLC
Tôi luôn luôn có thể thực hiện thành công việc
NCBSM như là những công việc nhiều thử thách khác.
Tôi luôn luôn có thể đảm bảo cho bé ngậm bắt vú tốt trong mỗi bữa bú.
Tôi luôn luôn có thể giải quyết được tình trạng
NCBSM trong sự thỏa mãn của tôi.
Tôi luôn luôn có thể đối phó với thực tế rằng cho con bú là mất nhiều thời gian.
Tôi luôn luôn có thể xoay sở được để cho con bú sữa mẹ ngay cả khi con tôi đang khóc.
Tôi luôn luôn có thể cho con bú sữa mẹ mà không sử dụng thêm sữa công thức như là thức ăn dặm.
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu thể hiện sự tự tin cao trong việc giữ bé khi cho bú, với điểm số trung bình đạt 3,7 Họ cũng cảm thấy hài lòng với trải nghiệm cho con bú, với điểm số trung bình là 3,6 Ngoài ra, các bà mẹ cảm thấy thoải mái khi cho con bú trước các thành viên trong gia đình, với điểm số trung bình tương tự là 3,6.
Trong nghiên cứu, các bà mẹ thể hiện sự thiếu tự tin khi cho con bú sữa mẹ mà không bổ sung sữa công thức (TB = 2,9, ĐLC = 1,2) Họ cũng cảm thấy khó khăn trong việc cho con bú khi trẻ khóc (TB = 3,2, ĐLC = 0,9).
Thực hành nuôi dưỡng trẻ trong 6 tháng đầu
3.2.1 Tỷ lệ thực hành nuôi dưỡng trẻ trong 6 tháng đầu (n = 385)
Nghiên cứu cho thấy 99,2% bà mẹ đã từng cho trẻ bú sữa mẹ, tuy nhiên chỉ có 21,3% bà mẹ thực hiện việc cho trẻ bú hoàn toàn và 32,7% bà mẹ cho trẻ bú chủ yếu.
Trong 6 tháng đầu sau sinh, tỷ lệ bà mẹ tham gia nghiên cứu này nuôi dưỡng trẻ kết hợp cho trẻ bú sữa mẹ và sữa công thức chiếm tỷ rất cao 47%.
Và 20,7% bà mẹ cho ăn dặm.
0 20 40 60 80 100 120 Đã từng bú sữa mẹ Sữa mẹ và sữa bột Sữa mẹ và ăn dặm Sữa mẹ chủ yếu Sữa mẹ hoàn toàn
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thực hành nuôi dưỡng trẻ 6 tháng đầu
3.2.2 Thời gian bắt đầu cho trẻ bú sữa mẹ
Biểu đồ 3.2 Thời gian bắt đầu cho trẻ bú sữa mẹ
Tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ trong giờ đầu rất cao 77,7% Chỉ có 0,5 % bà mẹ bắt đầu cho trẻ bú 1 ngày sau sinh.
3.2.3 Thức ăn đầu tiên của trẻ
Biểu đồ 3.3 Thức ăn đầu tiên của trẻ
Trong nghiên cứu này, hầu hết các bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ là thức ăn đầu tiên của trẻ với tỷ lệ 94 %.
Ngay giờ đầu sau sinh
24 giờ sau sinh trở lên
Sữa mẹSữa bộtNước đường/Mật ongNước lọc
3.2.4 Thức ăn/thức uống khác ngoài sữa mẹ (n = 300)
Biểu đồ 3.4 Thức ăn/uống khác ngoài sữa mẹ
Trong số 300 bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ và bổ sung thức ăn, có đến 91% bà mẹ cho trẻ uống nước lọc trong 6 tháng đầu, trong khi tỷ lệ cho trẻ uống thêm sữa ngoài là 77%.
Ngoài ra, các bà mẹ còn cho trẻ ăn thêm bột dinh dưỡng/cháo,cơm 24,7%, cho trẻ uống thêm nước ép trái cây 16%, các sản phẩm từ sữa 15,7%.
Có rất ít bà mẹ cho trẻ dùng nước đường và mật ong trong 6 tháng đầu 7,0%.
Sữa ngoài Bột dinh dưỡng/cháo,cơm
Nước ép trái cây/trái cây
Các sản phẩm từ sữa
3.2.5 Thời gian bắt đầu cho trẻ ăn/uống thêm thức ăn ngoài khác sữa mẹ
Biểu đồ 3.5 Thời gian bắt đầu cho tr ẻ ăn/uống khác ngoài sữa
Trong một nghiên cứu với 300 bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ và ăn uống thêm thức ăn ngoài, tỷ lệ bà mẹ bắt đầu cho trẻ ăn/uống thêm vào tháng thứ 5 đạt 45,7%, là tỷ lệ cao nhất Ngoài ra, có 22,3% bà mẹ đã cho trẻ ăn/uống thêm từ khi sinh ra đến tháng thứ 1, và tỷ lệ này ở tháng thứ 4 là 21,3%.
≤ Tháng thứ 1 Tháng thứ 2 Tháng thứ 3 Tháng thứ 4 Tháng thứ 5
Các yếu tố liên quan với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Bảng 3.7 Liên quan giữa nhóm tuổi, trình độ học vấn với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu Đặc tính
Cao đẳng/ Đại học/ Sau đại học
(*): Kiểm định chính xác Fisher
Kết quả từ bảng 7 cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và nhóm tuổi (p = 0,14) cũng như trình độ học vấn (p = 0,42).
Bảng 3.8 Liên quan giữa nghề nghiệp, số con và phương pháp sinh với NCBSMHT trong 6 tháng đầu sau sinh Đặc tính
NCBSMHT 6 tháng đầu sau sinh [n (%)] p
Buôn bán/Kinh doanh/Tự do
(*): Kiểm định chính xác Fisher
Kết quả từ bảng 8 cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và nghề nghiệp của các bà mẹ (p = 0,14) cũng như số con của họ (p = 0,42).
Tỷ lệ sinh thường ở các bà mẹ NCBSMHT đạt 26,4%, trong khi tỷ lệ sinh mổ là 12,6% Sự chênh lệch giữa hai tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p = 0,001.
3.3.2 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với nhận thức về lợi ích NCBSM
Bảng 3.9 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với nhận thức về lợi ích NCBSM
Biến số Có NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Nhận thức về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa nhận thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) trong 6 tháng đầu Cụ thể, mỗi khi điểm nhận thức về lợi ích NCBSM tăng lên 1 điểm, tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong giai đoạn này tăng 1,15 lần (KTC 95% = 1,06 – 1,25), với giá trị p< 0,001 cho thấy sự liên quan này có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.10 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với nhận thức về lợi ích NCBSM trong mỗi câu qua phân tích hồi quy logistic đơn biến
Sữa mẹ giúp trẻ tránh nhiều bệnh như tiêu chảy, viêm phổi, viêm tai giữa.
NCBSM bảo vệ cho bà mẹ giảm nguy cơ ung thư vú sau này.
NCBSM giúp trẻ giảm nguy cơ béo phì và các bệnh tim mạch cho trẻ sau này.
NCBSM giúp trẻ phát triển trí thông minh hơn sữa ngoài.
1,51 (1,08 – 2,11) 0,02Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ 1,53 (0,97 -2,40) 0,06NCBSM ít tốn chi phí hơn sữa bình 0,97 (0,65 – 1,44) 0,88
Nhận thức về lợi ích của sữa mẹ giúp trẻ phòng tránh nhiều bệnh như tiêu chảy, viêm phổi và viêm tai giữa (p < 0,001) Sữa mẹ còn giảm nguy cơ béo phì và các bệnh tim mạch ở trẻ sau này (p = 0,001) Đối với bà mẹ, việc cho con bú có thể giảm nguy cơ mắc ung thư vú (p = 0,001) và giúp trẻ phát triển trí thông minh tốt hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa ngoài (p = 0,02) Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ là rất quan trọng cho sức khỏe của cả mẹ và bé.
6 tháng đầu có ý nghĩa thống kê.
Nhận thức rằng sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ có ý nghĩa gần đúng (p = 0,06), trong khi sữa mẹ cũng được cho là ít tốn chi phí hơn so với sữa bình (p = 0,88) Tuy nhiên, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
3.3.3 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với nhận thức về những khó khăn NCBSM
Bảng 3.11 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với nhận thức về những khó khăn NCBSM
Biến số Có NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Nhận thức những khó khăn khi NCBSM
Có mối liên hệ thống kê đáng kể giữa nhận thức về những khó khăn trong việc thực hiện nghiên cứu can thiệp và thực hành nghiên cứu can thiệp trong 6 tháng đầu Cụ thể, mỗi khi nhận thức về khó khăn trong nghiên cứu can thiệp tăng lên 1 điểm, tỷ lệ thực hành nghiên cứu can thiệp sẽ giảm 10% (KTC 95%: 0,87 – 0,93).
Bảng 3.12 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với nhận thức về những khó khăn NCBSM trong mỗi câu qua phân tích hồi quy logistic đơn biến
Tôi nghĩ rằng con của tôi không tăng đủ cân khi bú sữa mẹ.
Tôi nhận thấy rằng tôi không đủ sữa 0,57 (0,44 – 0,74) < 0,001 Những phương tiện ở chỗ làm việc của tôi không hỗ trợ cho việc NCBSM.
Tôi không đủ thời gian để cho con bú 0,64 (0,51 – 0,81) < 0,001 Tôi bối rối khi cho con bú trước các thành viên trong gia đình.
Bé quấy khóc khi bú mẹ 0,66 (0,49 – 0,88) 0,005 Tôi không biết cách vắt sữa và trữ sữa ở tủ lạnh khi đi ra khỏi nhà.
Trở lại làm việc khiến việc NCBSM không thể thực hiện được.
Bé thường chỉ đòi bú bình và không chịu bú mẹ, với tỷ lệ 0,72 (0,53 – 0,98) Nhiều mẹ cảm thấy đầu ti ngắn khiến bé khó bú, tỷ lệ ghi nhận là 0,73 (0,59 – 0,91) Ngoài ra, nhiều bà mẹ cũng bối rối khi cho con bú nơi công cộng, với tỷ lệ 0,74 (0,60 – 0,91) Việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng khiến một số mẹ cảm thấy họ có hình dáng xấu, tỷ lệ này là 0,76 (0,60 – 0,96) Một số mẹ còn cho biết việc cho trẻ bú gây đau đớn, với tỷ lệ 0,85 (0,66 – 1,10), và nhiều gia đình không khuyến khích việc cho con bú mẹ.
Nghiên cứu cho thấy hầu hết các bà mẹ nhận thức được những khó khăn trong việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Tuy nhiên, hai yếu tố không ảnh hưởng đến thực hành này là cảm giác đau đớn khi nuôi con bằng sữa mẹ và thiếu sự khuyến khích từ gia đình.
3.3.4 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với sự tự tin vào khả năng NCBSM
Bảng 3.13 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với sự tự tin vào khả năng NCBSM
Biến số Có NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Sự tự tin vào khi nuôi con bằng sữa mẹ
Nghiên cứu cho thấy rằng sự tự tin vào khả năng khi nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) có mối liên hệ chặt chẽ với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, với ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Cụ thể, mỗi khi điểm tự tin vào khả năng khi NCBSM tăng lên 1 điểm, tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn sẽ tăng 1,18 lần (KTC 95%: 1,13 – 1,24).
Bảng 3.14 Liên quan giữa thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu với sự tự tin vào khả năng NCBSM trong mỗi câu
Tôi luôn luôn có thể cho con bú sữa mẹ mà không sử dụng thêm sữa công thức như là thức ăn dặm.
Tôi luôn luôn có thể duy trì nguồn sữa để đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ.
Có NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Tôi luôn luôn có thể thực hiện thành công việc NCBSM như là những công việc nhiều thử thách khác.
Tôi luôn luôn có thể giải quyết được tình trạng NCBSM trong sự thỏa mãn của tôi.
Tôi luôn luôn có thể nhận biết được con của tôi bú đủ sữa mẹ.
Tôi luôn luôn có thể biết khi nào trẻ hoàn thành một lần bú.
Tôi luôn luôn có thể đối phó với thực tế rằng cho con bú là mất nhiều thời gian.
Tôi luôn luôn có thể hoàn thành cho con bú một bên vú rồi mới chuyển qua vú còn lại.
Tôi luôn luôn cảm thấy hài lòng khi trải qua việc cho con bú.
Tôi luôn luôn có thể xoay sở được để cho con bú sữa mẹ ngay cả khi con tôi đang khóc.
Tôi luôn luôn cảm thấy thoải mái việc cho con bú sữa mẹ trước các thành viên trong gia đình hiện nay.
Tôi luôn luôn có thể tiếp tục cho con bú ở mỗi lần bú.
Tôi luôn luôn có thể giữ trẻ trong lúc trẻ bú sữa mẹ.
Tôi luôn luôn có thể đảm bảo cho bé ngậm bắt vú tốt trong mỗi bữa bú.
Mỗi câu trong thang điểm đo sự tự tin có liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSMHT) đều có ý nghĩa thống kê Đặc biệt, khi tự tin tăng thêm 1 điểm mà không sử dụng thêm sữa công thức làm thức ăn dặm và duy trì nguồn sữa mẹ, tỷ lệ thực hành NCBSMHT sẽ tăng gấp 3 lần.
3.3.5 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Bảng 3.15 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu
Biến độc lập Có NCBSMHT trong 6 tháng đầu
OR thô OR hiệu chỉnh p
Sự tự tin về khả năng
Nhận thức những khó khăn NCBSM
Nhận thức những lợi ích NCBSM
Trong quá trình phân tích hồi quy đơn biến và đa biến liên quan đến thực hành NCBSMHT, ba yếu tố quan trọng được xác định là sự tự tin, nhận thức về những khó khăn và phương pháp sinh.
Trong 3 yếu tố này, có yếu tố làm làm thay đổi rõ rệt so với OR trong phân tích đa biến như phương pháp sinh OR * tăng 43,6% so với OR trong phân tích đơn biến Nhận thức những khó khăn khi NCBSM có OR * khi phân tích đa biến tăng không nhiều so với OR khi phân tích đơn biến (4,4%) OR và OR * gần như không thay đổi Điều này chứng tỏ vai trò kiểm soát yếu tố nhiễu và đồng tác của phân tích đa biến
Kết quả phân tích đa biến cụ thể như sau
Sự tự tin về khả năng NCBSM có mối liên hệ thống kê đáng kể với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu (p < 0,001) Mỗi điểm tăng thêm trong sự tự tin tương ứng với việc tăng tỷ lệ thực hành NCBSMHT lên 1,18 lần (KTC 95%: 1,12 – 1,25).
Nhận thức về những khó khăn trong thực hành NCBSM trong 6 tháng đầu có ý nghĩa thống kê với p = 0,01 Mỗi khi nhận thức về khó khăn tăng 1 điểm, tỷ lệ NCBSMHT giảm 6% (KTC 95%: 0,89 – 0,98).
Những bà mẹ sinh thường có khả năng NCBSMHT gấp 3,5 lần so với những bà mẹ sinh mổ (KTC 95%: 1,77 – 7,27)
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức lợi ích NCBSM với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu (p = 0,18)
BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và phân tích mối liên quan với các yếu tố như nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con hiện tại, phương pháp sinh, nhận thức về lợi ích và khó khăn, cũng như sự tự tin vào khả năng nuôi con bằng sữa mẹ tại 13 phường của quận Hải Châu, Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ trong việc xây dựng kế hoạch truyền thông và giáo dục, đồng thời đề xuất các can thiệp phù hợp để nâng cao tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong giai đoạn này.
Nghiên cứu đã phỏng vấn 385 bà mẹ có con đủ 6 tháng và 7 tháng tại
13 phường tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên
Trong một nghiên cứu với 385 bà mẹ có con từ 6 đến 7 tháng tuổi, tuổi trung bình của các bà mẹ là 29,6 tuổi, trong đó phần lớn (75,8%) nằm trong độ tuổi từ 25 đến 35 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đinh Thị Xuân tại Bình Dương, nơi tuổi trung bình là 28,63 tuổi và 70,4% bà mẹ trong độ tuổi 25 đến 34 Ngược lại, nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình cho thấy tuổi trung bình của bà mẹ chỉ là 26 tuổi, với 37,5% trong độ tuổi từ 18 đến 24, do đặc thù dân cư nông thôn và chủ yếu là dân tộc Mường, dẫn đến việc các bà mẹ kết hôn và sinh con sớm hơn so với các bà mẹ dân tộc Kinh ở thành phố.
Nghiên cứu cho thấy các bà mẹ tham gia có độ tuổi trung bình là 29,6, với độ lệch chuẩn là 4,4 Những bà mẹ lớn tuổi này thường có ý thức và trách nhiệm cao trong việc nuôi dưỡng con cái, tuy nhiên, họ cũng gặp phải những khó khăn khác biệt so với các bà mẹ trẻ.
Đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu có trình độ học vấn cao, với 63,6% có trình độ sau phổ thông trung học, bao gồm trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học Chỉ có một bà mẹ có trình độ cấp 1, cho thấy sự khác biệt so với nghiên cứu của Mai Thị Ngọc Xuân tại bệnh viện Nhi đồng 2, thành phố.
Tại Hồ Chí Minh, chỉ có 35,6% bà mẹ có trình độ học vấn sau phổ thông trung học, trong khi 6,6% có trình độ dưới cấp 1 Nghiên cứu của Mai Ngọc Thi Xuân cho thấy chỉ có 61,9% bà mẹ ở thành phố đạt trình độ này Ngược lại, quận Hải Châu, trung tâm kinh tế và thương mại của Đà Nẵng, có tỷ lệ bà mẹ có trình độ giáo dục cao hơn nhờ chính sách thu hút nhân tài của thành phố.
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu chủ yếu có trình độ giáo dục cao, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các biện pháp can thiệp tại cộng đồng Mục tiêu là tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tại khu vực nghiên cứu trong thời gian tới.
Trong số các bà mẹ, nghề nghiệp viên chức chiếm tỷ lệ cao nhất với 3,6% là viên chức ngành y và 38,7% là viên chức các ngành khác Tỷ lệ bà mẹ hoạt động trong lĩnh vực buôn bán, kinh doanh hoặc tự do là 24,9%, trong khi chỉ có một bà mẹ thuộc nhóm nghề nghiệp khác.
Trong nghiên cứu này, chỉ có 0,3% bà mẹ làm nghề nông, trái ngược với nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh (2014) tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình, nơi có đến 75,9% là nông dân và nội trợ Sự khác biệt này có thể do phân bố nghề nghiệp phụ thuộc vào vị trí nghiên cứu, với Hải Châu, Đà Nẵng là trung tâm kinh tế và thương mại miền Trung Do đó, nghề nghiệp chủ yếu của các bà mẹ ở đây là viên chức và buôn bán/kinh doanh.
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu chủ yếu là những người đi làm, vì vậy việc nhận được sự hỗ trợ và tạo điều kiện từ các cơ quan nơi họ làm việc là rất cần thiết để duy trì chương trình NCBSM sau khi trở lại công việc.
Trong nghiên cứu với 385 bà mẹ, hơn một nửa (54,3%) là bà mẹ có con đầu lòng, trong khi chỉ có 5,5% bà mẹ có từ ba con trở lên Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Mai Thị Ngọc Xuân tại bệnh viện Nhi đồng.
2, thành phố Hồ Chí Minh có 51,5% bà mẹ có con lần đầu, 43,5% bà mẹ có
2 con và 5,0% bà mẹ có 3 con Kết quả này phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước ta mỗi gia đình chỉ nên có 1 đến 2 con
Tỷ lệ sinh thường ở bà mẹ đạt 62,9%, cao hơn tỷ lệ sinh mổ với 37,1% Nghiên cứu của Trần Nguyễn Thị Anh Đào và Huỳnh Thị Duy Hương tại bệnh viện Hùng Vương, TP.HCM cho thấy 54,9% bà mẹ sinh thường và 45,1% sinh mổ Ngược lại, nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh năm 2014 tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình chỉ ghi nhận 24,2% bà mẹ sinh mổ Sự khác biệt này có thể do xu hướng lựa chọn dịch vụ sinh sản của các bà mẹ thành phố, dẫn đến tỷ lệ sinh mổ cao hơn so với khu vực nông thôn và các bà mẹ dân tộc.
Tỷ lệ sinh mổ trong nghiên cứu này được ghi nhận là cao, do đó, cán bộ y tế cần cung cấp hỗ trợ cho các bà mẹ sinh mổ trong giai đoạn đầu sau sinh Điều này giúp các bà mẹ có thể cho con bú sữa mẹ ngay trong giờ đầu và duy trì nguồn sữa để tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ.
4.1.2 Nhận thức về lợi ích NCBSMHT
Thang điểm nhận thức về lợi ích của NCBSMHT được xây dựng gồm 6 câu hỏi, trong đó mỗi câu hỏi đánh giá mức độ đồng ý của các bà mẹ thông qua thang điểm Likert Thang điểm này bao gồm các mức độ: rất không đồng ý [1], không đồng ý [2], không biết [3], đồng ý [4], và rất đồng ý [5] Tổng điểm từ các câu hỏi này sẽ phản ánh nhận thức chung của các bà mẹ về lợi ích của NCBSMHT.
Trong nghiên cứu về nhận thức của các bà mẹ về lợi ích của NCBSMHT, điểm số trung bình đạt 25,0 với độ lệch chuẩn là 3,3 Cụ thể, các bà mẹ tham gia NCBSMHT có điểm số trung bình là 26,2 (ĐLC = 3,3), cao hơn so với nhóm không tham gia NCBSMHT với điểm số 24,2 (ĐLC = 3,1) Tuy nhiên, sự khác biệt này giữa hai nhóm bà mẹ không có ý nghĩa thống kê đáng kể.
Trong nghiên cứu này, các bà mẹ nhận thức rõ ràng rằng sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ, đồng thời tiết kiệm chi phí hơn so với sữa bình, với điểm trung bình đạt 4,5 (ĐLC = 0,6) Tuy nhiên, kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Đinh Kim Xuân được thực hiện tại Bình Dương năm trước.
Tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Nghiên cứu trên 385 bà mẹ có trẻ từ 6 đến 7 tháng tuổi tại quận Hải Châu, Đà Nẵng cho thấy 99,2% bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu, nhưng chỉ 21,3% trong số đó cho trẻ bú hoàn toàn Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với báo cáo của Alive & Thrive cùng Viện Nghiên cứu Y-Xã hội học (ISMS) với chỉ 3,5% tại Đà Nẵng năm 2011 So với các nghiên cứu khác, tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở nghiên cứu này cũng cao hơn, như nghiên cứu tại xã Vạn Lương, Khánh Hòa năm 2012 chỉ đạt 2,3%, hay nghiên cứu tại Đồng Nai năm 2011 cho thấy tỷ lệ này là 3,5% tại huyện Tân Phú và 4,5% tại thành phố Biên Hòa.
Việt Nam đã triển khai các chính sách nhằm hỗ trợ và khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) cũng như cải thiện dinh dưỡng cho trẻ nhỏ Một trong những chính sách quan trọng là quy định nghỉ thai sản 6 tháng trong Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 Bên cạnh đó, Nghị định số 100/2014/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/3/2015, quy định về việc kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, đã đưa ra những quy định mới, đặc biệt là việc cấm quảng cáo sản phẩm sữa thay thế cho trẻ dưới 24 tháng tuổi và các sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, nhằm bảo vệ sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ em.
Thành phố Đà Nẵng đã có những cải cách quan trọng để nâng cao tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) gần đây Cụ thể, từ tháng 8/2014, Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng đã áp dụng phương pháp da kề da cho cả sinh thường và sinh mổ, giúp tăng tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ ngay trong giờ đầu sau sinh lên 77,7%, so với chỉ 27,9% trước đó Ngoài ra, vào tháng 1/2016, ngân hàng sữa mẹ đầu tiên tại Việt Nam đã được thành lập tại bệnh viện này, nhờ sự phối hợp giữa Vụ Sức khỏe bà mẹ - trẻ em và Sở Y tế Đà Nẵng Những chính sách và phương pháp đổi mới này hứa hẹn sẽ cải thiện đáng kể tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
Tuy nhiên, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu trong nghiên cứu này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình năm
2011 là 33.3% [7] và nghiên cứu tại Hướng Hóa và Dakrong năm 2011 là 37%
Sự khác biệt trong nghiên cứu có thể xuất phát từ việc các bà mẹ tham gia đều thuộc dân tộc Kinh, và họ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSMHT) ít hơn so với các bà mẹ thuộc dân tộc khác trong các nghiên cứu trước đó.
Tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại khu vực Đông Nam Á còn thấp, với Campuchia đạt 65,9% và Philippines chỉ 34,0% vào năm 2008 Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi các phong tục, quan niệm, thói quen sống, niềm tin, cũng như điều kiện kinh tế - xã hội và hệ thống y tế khác nhau Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong giai đoạn đầu đời.
Tại Việt Nam, thói quen cho trẻ uống nước chín sau khi bú rất phổ biến, với 91% bà mẹ cho trẻ uống nước trong 6 tháng đầu đời Niềm tin rằng sữa mẹ có thể cung cấp đủ dinh dưỡng cho trẻ trong giai đoạn này vẫn còn thấp, dẫn đến 47% bà mẹ kết hợp nuôi dưỡng trẻ bằng sữa mẹ và sữa công thức Nhiều bà mẹ cũng bắt đầu cho trẻ ăn dặm sớm từ tháng thứ 4 và tháng thứ 5.
Mặc dù tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng ở nghiên cứu này cao hơn một số địa phương khác, nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu quốc gia 60% vào năm 2020 và khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này khác nhau giữa các địa phương, do đó, việc tìm hiểu mối liên quan của các yếu tố đến nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là rất cần thiết Từ đó, có thể xây dựng chiến lược phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời.
4.3 Những yếu tố liên quan đến việc NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu 4.3.1 Liên quan giữa đặc điểm của các bà mẹ với NCBSM hoàn toàn trong
Có một mối liên quan thống kê quan trọng giữa tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và phương pháp sinh (p < 0,001) Cụ thể, các bà mẹ sinh thường có khả năng cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cao gấp 3,59 lần so với các bà mẹ sinh mổ (KTC 95% = 1,77 - 7,27) Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, cho thấy tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn ở các bà mẹ sinh thường cao hơn so với những bà mẹ sinh mổ, như nghiên cứu tại Nnewi, Đông Nam Nigeria.
Nghiên cứu với 400 bà mẹ cho thấy rằng việc sinh mổ làm giảm khả năng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (OR = 0,38; KTC 95% = 0,18 - 0.84) Tương tự, một nghiên cứu khác với 648 bà mẹ ở Ethiopia chỉ ra rằng các bà mẹ sinh thường có tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ cao hơn so với những bà mẹ sinh mổ (OR = 2,40; KTC 95% 1.25 - 4.61) Điều này có thể do các bà mẹ sinh mổ thường cảm thấy đau và mệt mỏi sau sinh, dẫn đến khó khăn trong việc cho trẻ bú sớm và bắt đầu cho trẻ bú sữa công thức trong những ngày đầu Hệ quả là khả năng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu bị ảnh hưởng Theo báo cáo của Alive và Thrive, sinh mổ là một yếu tố liên quan đến việc tăng cường cho trẻ ăn thức ăn lỏng ngoài sữa mẹ trong 3 ngày đầu sau sinh Trong giai đoạn này, sự hỗ trợ và động viên từ cán bộ y tế và gia đình có thể giúp các bà mẹ vượt qua khó khăn để tiếp tục cho trẻ bú mẹ.
Trong nghiên cứu này, tuổi của các bà mẹ không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Mai Thị Ngọc Xuân, khi thực hiện khảo sát 406 bà mẹ tại bệnh viện Nhi Đồng 2, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2014, cho thấy cũng không có mối liên quan có ý nghĩa giữa độ tuổi và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng sau sinh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi của bà mẹ chủ yếu nằm trong khoảng từ 25 đến 35 tuổi, chiếm 75,8%, trong khi tỷ lệ bà mẹ dưới 25 tuổi và trên 35 tuổi lần lượt chỉ chiếm 11,9% và 12,2%, dẫn đến độ tin cậy của biến này không cao Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng bà mẹ dưới 25 tuổi có xu hướng ít tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ so với những bà mẹ trên 25 tuổi Một nghiên cứu năm 2007 của Santoet và các cộng sự với 220 bà mẹ có con từ sơ sinh đến 6 tháng tại Porto Alegre, Brazil, đã xác nhận điều này.
Nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ ở độ tuổi 20 có xu hướng ngưng cho con bú trước 6 tháng so với các bà mẹ khác, với tỷ lệ rủi ro HR = 1,48 (KTC 95%: 1,01-2,17) Đồng thời, những bà mẹ lớn tuổi từ 35 tuổi trở lên cũng ít có khả năng cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu so với các bà mẹ trẻ hơn.
Trình độ giáo dục của các bà mẹ không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, theo nghiên cứu này Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Việt Dũng, cho thấy hầu hết các bà mẹ tham gia có trình độ học vấn cao, với 63,6% có trình độ sau phổ thông trung học Chỉ có một bà mẹ có trình độ cấp 1, dẫn đến độ tin cậy của biến này không cao Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng trình độ giáo dục thấp của bà mẹ là yếu tố nguy cơ đối với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ Tương tự, nghiên cứu của Nascimento và các cộng sự tại Santa Catarina, Brazil cũng cho thấy trình độ học vấn thấp liên quan đến việc ngừng bú sữa mẹ trước 6 tháng.
Những người đã có trình độ giáo dục trung học trở lên có khả năng thực hành
NCBSMHT gấp 8 lần so với những bà mẹ khác (OR = 7,65; KTC 95% = 2.58- 24,28) [62]
Nghiên cứu này cho thấy nghề nghiệp không ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) trong 6 tháng đầu Kết quả tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh về thực trạng cho trẻ bú sớm ở bà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi, được thực hiện trên 269 bà mẹ tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình Hầu hết các bà mẹ tham gia nghiên cứu đều đi làm, với chỉ 15,5% là nội trợ hoặc thất nghiệp và 0,3% làm nông Chính sách hỗ trợ cho các bà mẹ NCBSM hiện nay, như chế độ nghỉ thai sản 6 tháng, được áp dụng tại cả khu vực nhà nước và tư nhân Nghiên cứu của Amin và cộng sự (2011) tại Malaysia cho thấy 57% bà mẹ làm việc trong khu vực tư nhân đã ngừng cho con bú, cao hơn so với 40% ở khu vực nhà nước.
(p