BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH ---TRẦN THỊ TÚ TRINH MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-TRẦN THỊ TÚ TRINH
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ
VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI CHẠY THẬN NHÂN TẠO ĐỊNH KỲ
Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-Trần Thị Tú Trinh
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN GIAI
ĐOẠN CUỐI CHẠY THẬN NHÂN TẠO ĐỊNH KỲ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LỆ
GS.TS FAYE I HUMMEL
Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng
Mã số: 60.72.05.01
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu vàkết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được công bốtrong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Trần Thị Tú Trinh
Trang 6MỤC LỤC
Trang bìa
Trang phụ bìa
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
Mục tiêu tổng quát 3
Mục tiêu cụ thể 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về suy thận 4
1.2 Tổng quan về chất lượng cuộc sống 11
1.3 Tổng quan về rối loạn giấc ngủ 14
1.4 Nghiên cứu về chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống ở người bệnhsuy thận mạn chạy thận nhân tạo định kỳ 15
1.5 Mô hình lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 17
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3 Các biến số nghiên cứu và thang đo 22
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
KẾT QUẢ 30
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kì……… 31
Trang 7
3.3 Điểm số chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạythận nhân tạo định kỳ 333.4 Mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống của ngườibệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39
4.1 Đặc điểm chung ở nhóm nghiên cứu 394.2 Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thậnnhân tạo định kỳ 414.3 Điểm số chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạythận nhân tạo định kỳ 464.4 Mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống của ngườibệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ 50
KẾT LUẬN 57 KIẾN NGHỊ 599 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phân loại bệnh thận mạn dựa vào mức lọc cầu thận theo hội thận học
quốc gia Hoa Kỳ 2012……… … 06
Bảng 1.2 Hệ số Cronbach’s alpha từng thành phần………15
Bảng 2.1 Cách tính điểm chất lượng giấc ngủ theo PSQI………23
Bảng 2.2Cấu trúc thang điểm KDQOL-SF ……….28
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi……….…… 30
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới, nghề nghiệp, nơi ở, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế……… ……30
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thời gian chạy thận nhân tạo….… 31
Bảng 3.4 Tỷ lệ người bệnh có rối loạn giấc ngủ ở nhóm nghiên cứu……… 31
Bảng 3.5 Các thành phần đánh giá chất lượng giấc ngủ theo PSQI………….……32
Bảng 3.6 Điểm chất lượng cuộc sống theo thang đo KDQOL-SF………32
Bảng 3.7 Điểm số sức khỏe thể chất theo thang đo KDQOL-SF……….…32
Bảng 3.8 Điểm số sức khỏe tinh thần theo thang đo KDQOL-SF……… 33
Bảng 3.9 Tác động bệnh thận theo thang đo KDQOL-SF………33
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ với một số yếu tố……….……34
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa chất lượng chất lượng cuộc sống với một số yếu tố……… 35
Bảng 3.12 Liên quan giữa điểm số chất lượng cuộc sống với rối loạn giấc ngủ….36 Bảng 3.13 Liên quan giữa sức khỏe thể chất với chất lượng giấc ngủ………….…36
Bảng 3.14 Liên quan giữa sức khỏe tinh thần với chất lượng giấc ngủ………… 37
Bảng 3.15 Liên quan giữa tác động bệnh thận với chất lượng giấc ngủ………… 37
Trang 10
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình học thuyết chất lượng cuộc sống đã được bổ sung dựa trên mô
hình đã được đặt ra bởi Wilson và Cleary năm 1995……….…….… 18
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy thận mạn là hậu quả của các bệnh thận - tiết niệu mạn tính, làm suy giảmchức năng thận một cách từ từ và không hồi phục Cuối cùng người bệnh phải điềutrị bằng các liệu pháp thay thế thận Năm 2007 tỷ lệ bệnh suy thận mạn giai đoạncuối là 6%, trong khi tỷ lệ tăng dân số thế giới chung là 1,2%, tỷ lệ này khác nhaugiữa các quốc gia [6].Trong năm 2008 có 362 người bệnh mới mắc bệnh thận giaiđoạn cuối trên một triệu dân, trong đó chỉ có 57,2 người bệnh trên 1 triệu dân đượcghép thận, còn lại 92% người bệnh lọc máu ở các trung tâm, 1% lọc máu tại nhà,7% thẩm phân phúc mạc [52] Theo thống kê sơ bộ vào năm 2002, tại Việt Namhàng năm có khoảng 1.000 người bệnh suy thận mới và khoảng 10.000 người bệnhđang được điều trị thay thế thận, tỷ lệ người bệnh suy thận ở các giai đoạn là3.38[36] Theo số liệu thống kê năm 2014, hiện ở Việt Nam có khoảng 6 triệu người
bị bệnh thận mạn chiếm 6,73% dân số Trong đó, có khoảng 800.000 người bệnh ởtình trạng suy thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế Trên thực tế, tỉ lệ này
có thể cao hơn và ngày càng gia tăng [23]
Đã có những tiến bộ trong việc điều trị và điều dưỡng đối với bệnh thận mạngiai đoạn cuối, mục đích của việc điều trị là để kéo dài tuổi thọ cho người bệnh vìgánh nặng của việc sống sót mà không làm được việc, không thoải mái, không cómột đời sống xã hội bình thường làm cho người bệnh cảm thấy cuộc sống trở nên
vô nghĩa
Chạy thận nhân tạo là phương pháp điều trị hiệu quả và phổ biến hiện naybằng việc sử dụng màng lọc bán thấm để lọc các sản phẩm giáng hóa nội sinh trongmáu khi thận không còn đủ khả năng để làm công việc này nhằm kéo dài sự sốngcho người bệnh Song song đó, vấn đề chạy thận cũng tạo ra một áp lực đáng kể vềmặt tâm lý ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người bệnh như sự
lo lắng về mặt kinh tế không có bảo hiểm y tế hoặc giá trị bảo hiểm y tế hạn chế, lolắng không có thời gian để chạy thận và việc chạy thận sẽ ảnh hưởng đến việc chămsóc cho các thành viên trong gia đình, cảm giác sốc và sợ hãi, cảm thấy là bản thân
Trang 12là kẻ bệnh tật và cuộc sống không còn ý nghĩa, sợ đau, sợ bị người khác thương hại,
sợ trở thành kẻ tàn phế v.v Tất cả những yếu tố tâm lý đó sẽ ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng giấc ngủ của người bệnh, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của điềutrị
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy, rối loạn giấc ngủ là một vấn đề thường gặp
ở người bệnh suy thận mạn chạy thận nhân tạo gây nhiều hậu quả đến sức khỏe,tâm lý, khả năng làm việc của người bệnh [38], [20], [49]… làm giảm chất lượngcuộc sống, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều trị bệnh chính Chất lượng cuộcsống là một phạm trù khá rộng, nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong đó có yếu
tố môi trường, tình trạng xã hội và cá nhân, chất lượng giấc ngủ và các triệu chứngcủa bệnh [49] Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh suy thậnmạn tính lọc máu chu kỳ, đặc biệt là cải thiện giấc ngủ đang được nhiều nhà khoahọc trên thế giới quan tâm Các nghiên cứu trên thế giới cũng đã cho thấy tỷ lệngười bệnhbị rối loạn giấc ngủ lên đến 45 – 80% [38]
Cho đến nay, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chất lượnggiấc ngủ và chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạythận nhân tạo định kỳ [20],[16] Nhưng trong những nghiên cứu này, tác giả chưalàm rõ được mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ Pittsburgh và chất lượng cuộcsống của người bệnh Với mong muốn cung cấp những thông tin quan trọng về chấtlượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống của người bệnhchạy thận nhân tạo, từ đóxác định mối liên quan giữa 2 vấn đề này Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống ở người bệnh suythận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ” Kết quả của nghiên cứu sẽ lànhững thông tin quan trọng giúp đội ngũ cán bộ y tế đặc biệt là cán bộ điều dưỡngthiết lập các kế hoạch chăm sóc giúp người bệnhcó một cuộc sống tốt hơn Để tiếnhành thực hiện đề tài, chúng tôi đặt ra 2 câu hỏi nghiên cứu như sau:
1 Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ và điểm số chất lượng cuộc sống ở người bệnh suythận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ như thế nào?
Trang 13
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuốichạy thận nhân tạo định kỳ bằng bộ câu hỏi chỉ số chất lượng giấc ngủPittsburgh
2 Xác định điểm số chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy thận mạn giai đoạncuối chạy thận nhân tạo định kỳ bằng bộ câu hỏi chất lượng cuộc sống vàbệnh thận (Kidney Disease Quality of Life Short-Form-KDQOL SF)
3 Xác định mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống ởngười bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ tại Bệnhviện Đa khoa trung tâm Tiền Giang năm 2017
Trang 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về suy thận
Trong quá trình tiến triển của STM có từng đợt nặng lên và cuối cùng dẫn đếnsuy thận giai đoạn cuối, lúc này hai thận mất chức năng hoàn toàn, đòi hỏi phải điềutrị thay thế thận [11]
Theo Hội thận học quốc gia Hoa Kỳ (NKF/KDIGO), STM được xác định khimức lọc cầu thận dưới 90 ml/phút/1,73m2 da và kéo dài trên 3tháng Tổn thươngthận được xác định bởi các bất thường về sinh bệnh học như rối loạn nước tiểu vàrối loạn các xét nghiệm máu hay hình ảnh tế bào học [8]
1.1.1.2 Suy thận mạn giai đoạn cuối
STM giai đoạn cuối là giai đoạn nặng nhất của STM, biểu hiện lâm sàng do tìnhtrạng tích tụ các độc chất, nước và điện giải bình thường thải qua thận gây nên hộichứng Urê huyết cao Tình trạng này sẽ gây tử vong trừ khi người bệnh được ápdụng các biện pháp điều trị thay thế thận (thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc vàghép thận) STM giai đoạn cuối khi có sự hiện diện của tổn thương thận và mức độchức năng thận khi độ lọc cầu thận <15ml/phút/1.75m2
da [8], [48].
1.1.2 Nguyên nhân
1.1.2.1 Ở nước ngoài
Trang 15
- Các bệnh viêm cầu thận, viêm thận bể thận ở các nước Âu Mỹ giảm đi rõ rệt, cácbệnh lý thận bẩm sinh di truyền không thay đổi Trong khi đó bệnh thận mạn do cácbệnh mạch máu thận, đái tháo đường tăng lên đáng kể
- Ở khu vực châu Á thì viêm cầu thận mạn và viêm thận bể thậnmạn vẫn là hai nguyên nhân chính dẫn đến STM [25], [61]
1.1.2.2 Tại Việt Nam:
- Theo tác giả Nguyễn Văn Xang, Đỗ Thị Liệu, nguyên nhân của STM được chiathành các nhóm dưới đây [26]: Bệnh viêm cầu thận mạn bao gồm do viêm cầu thậncấp dẫn đến, do hội chứng thận hư, do viêm cầu thận ở người bệnh lupus ban đỏ hệthống, bệnh thận đái tháo đường, Scholein Henoch, Nhóm này chiếm khoảng40% nguyên nhân của STM
Trang 16Trong nghiên cứu về mô hình bệnh lý tại khoa thận tiết niệu BV Bạch Mai từ
2008 – 2010, tác giả Vương Tuyết Mai cho thấy tỷ lệ STM vào điều trị chiếm 60,9
% số người bệnh điều trị nội trú [14]
Theo số liệu thống kê của BV Nhân dân 115 TPHCM, tổng số ngườibệnhsuy thận đang chạy thận nhân tạo của cả nước tính đến tháng 2/2009 đã gần6.000 người Trong đó TPHCM có gần 2.000 người bệnh (chiếm 32%) Cả thànhphố có 336 máy chạy thận nhân tạo phân bố ở 19 BV nhưng gần như không ngừnghoạt động [13]
Tính đến đầu năm 2010, tổng số người bệnh suy thận đang chạy thận nhântạo của cả nước đã trên 6.000 người Trong đó TPHCM có hơn 2.000 người bệnh,chiếm 32% Tại BV Chợ Rẫy TPHCM, số người bệnh suy thận được khám và điềutrị cũng không ngừng tăng lên trong các năm Mỗi ngày phải chạy thận nhân tạotrung bình hơn 200 người bệnh, chưa kể có tới 30-40 người bệnhsuy thận phải cấpcứu/ngày Tại một số BV như An Sinh, Nhân dân Gia Định, Bình Dân, Đa khoa CủChi… lượng người bệnh suy thận mãn đến điều trị và chạy thận nhân tạo cũngkhông ngừng tăng lên [3]
1.1.4 Các giai đoạn của suy thận mạn tính
Theo Hội thận học Hoa Kỳ 2012 (NKF/KDIGO-2012), các giai đoạn của STMđược chia thành 5 giai đoạn:
thận
1 STM với mức lọc cầu thận bình thường hoặc tăng ≥ 90
Trang 17
- Cần phải làm chậm sự tiến triển của bệnh thận mạn.
- Giảm thiểu sự tích lũy của ure và những độc tố thuộc ure
- Kiểm soát tốt tăng huyết áp
- Ngăn ngừa xơ vữa và biến chứng tim mạch
- Giữ được cân bằng nước điện giải và canxi, phốt pho
- Tránh sự thiểu dưỡng và giữ gìn tốt hơn chất lượng sống của người bệnh Các biệnpháp điều trị bảo tồn bao gồm: tiết thực, điều trị tăng huyết áp, điều trị thiếu máu, dựphòng các rối loạn canxi phốt pho, điều trị tăng acid uric máu và dự phòng những taibiến do thuốc và hướng tới sử dụng các loại thuốc làm chậm xơ hóa thận [25]
1.1.6 Các phương pháp điều trị thay thế thận
1.1.6.1 Chỉ định điều trị thay thế thận.
Hầu hết người bệnh mắc bệnh STM tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuốiđều phải điều trị thay thế ngoại trừ trường hợp người bệnh từ chối Phương pháp
Trang 18điều trị thay thế thận cho người bệnh STM bao gồm chạy thận nhân tạo, lọc màngbụng và ghép thận [1], [2, 4]
Việc xác định sớm những người bệnh cần điều trị thay thế là quan trọng, bởi
vì việc chuẩn bị chu đáo có thể giảm tỷ lệ bệnh tật và cũng cho phép người bệnh vàgia đình chuẩn bị tâm lý tốt Chỉ định điều trị thay thế thận suy khi mức lọc cầu thận
< 15ml/phút Việc lựa chọn biện pháp điều trị thay thế nào: lọc máu (thận nhân tạohoặc lọc màng bụng) hoặc ghép thận dựa vào các tiêu chí như nguyên nhân gâybệnh, các bệnh đi kèm, tình trạng tim mạch, điều kiện kinh tế xã hội [7]
1.1.6.2 Các phương pháp điều trị thay thế thận
Có nhiều phương pháp điều trị thay thế thận cho người bệnh STM, bao gồmchạy thận nhân tạo, lọc màng bụng và ghép thận
1.1.6.2.1 Lọc màng bụng
Lọc màng bụng là phương pháp lọc máu sử dụng màng bụng làm màng lọc,khoang màng bụng là khoang dịch lọc, khoang máu là máu chảy trong lòng mạchmáu của màng bụng Trao đổi các chất giữa máu và dịch lọc được thực hiện quamàng bụng theo nguyên lý khuyếch tán riêng phần và thẩm thấu Lọc màng bụngcấp thường được lựa chọn khi không có thận nhân tạo, hoặc người bệnh có chốngchỉ định thận nhân tạo do bệnh lý tim mạch nặng, có rối loạn huyết động, hoặc rốiloạn đông máu không cho phép dùng heparin
Lọc màng bụng cấp cũng được chỉ định trong nhiễm độc cấp một số chất,như bacbiturat, kim loại nặng, để loại bỏ các chất độc này ra khỏi máu của ngườibệnh Lọc màng bụng liên tục ngoại trú được chỉ định cho những người bệnh STM
có mức lọc cầu thận <15 ml/ph, và có những lý do không cho phép lọc máu bằngthận nhân tạo, như có bệnh lý tim mạch nặng, rối loạn huyết động, rối loạn đôngmáu không cho phép sử dụng heparin, không tạo được lỗ thông động-tĩnh mạch cholọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ, người bệnh xa các trung tâm lọc máu không cóđiều kiện lọc máu ngoài cơ thể
Trang 19
Lọc màng bụng được chống chỉ định trong các trường hợp đang có nhiễmkhuẩn phúc mạc, dính phúc mạc do mổ cũ hoặc chấn thương cũ, xơ hóa phúc mạc,Người bệnh đã cắt đoạn ruột, có thoát vị cơ hoành hoặc thoát vị thành bụng hoặcthoát vị bẹn, có các khối u trong ổ bụng, không có khả năng tuân thủ các yêu cầu kỹthuật, người bệnh có bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính nặng (COPD)
Lọc màng bụng có thể gặp một số biến chứng như viêm phúc mạc, nhiễmkhuẩn chỗ ra của ống thông, tắc ống thông, tăng glucose máu, giảm protein máunặng [12]
Ngoài ra, ưu điểm của phương pháp này là người bệnh có thể tự thực hiện tạinhà Có thể sử dụng thuốc ít hơn và ăn một chế độ ăn uống ít hạn chế hơn với chạythận nhân tạo
Tuy nhiên, người bệnh có bệnh kèm theo như ung thư đang điều trị, bệnh mạchvành nặng, suy tim nặng sẽ không được áp dụng phương pháp này Việc tìm đượcngười hiến thận và chi phí cho cuộc ghép thận là vấn đề khó khăn trong quá trìnhđiều trị Nếu được ghép thận, thận mới cần được chăm sóc suốt đời Nghĩa là sau cacấy ghép, người bệnh cần sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong suốt phần đời cònlại của mình và mỗi loại thuốc đều có những lợi ích và rủi ro nhất định cuả nó [9].Nhiều tác dụng phụ không kéo dài và có liên quan đến liều lượng, bao gồm: sưngphù mặt và cơ thể, tăng cảm giác thèm ăn và tăng cân, thay đổi tâm trạng, nổi mụn,yếu cơ, run tay, rối loạn tiêu hóa, khó tiêu, tiêu chảy, lồi nướu và nhiễm trùng nướu.Các tác dụng phụ khác nghiêm trọng hơn như: tăng huyết áp, nguy cơ nhiễm trùng,
Trang 20Chỉ định thận nhân tạo cấp trong các trường hợp suy thận cấp hoặc đợt suy sụpcấp tính chức năng thận của STM, quá tải thể tích đe dọa phù phổi cấpLọc máu bằng thận nhân tạo cấp cũng được chỉ định trong nhiễm độc cấp một sốchất, như bacbiturat, kim loại nặng, để loại chất độc ra khỏi máu người bệnh.Chạy thận nhân tạo định kỳ được chỉ định khi suy thận giai đoạn cuối, mức lọc cầuthận <15 ml/ph.
Tuy nhiên, những người bệnh có bệnh tim mạch nặng, người bệnh đang trongtình trạng trụy tim mạch, sốc, nhồi máu cơ tim cấp, rối loạn nhịp tim nặng, ngườibệnh có rối loạn đông máu không cho phép sử dụng heparin, các người bệnh bị ungthư giai đoạn cuối, các người bệnh không làm được cầu nối động-tĩnh mạch thìkhông được áp dụng phương pháp này [12]
Biến chứng gây ra bởi việc chạy thận nhân tạo với những lý do khác nhau vẫntồn tại như một thách thức trong qua trình điều trị thay thế thận Các biến chứng baogồm:
Các biến chứng gần [10],[30]
• Tụt huyết áp: là biến chứng thường gặp nhất chiếm khoảng 20-30%
• Chuột rút: cũng thường gặp Có thể do mất natri hoặc calci
• Chảy máu, tụ máu
• Nhức đầu, buồn nôn, đau ngực, đau lưng
- Các biến chứng liên quan đến lọc máu kéo dài [10],[30]
Trang 21
+ Tim mạch: tăng huyết áp khó kiểm soát, suy tim, thiếu máu cơ tim…
+ Hô hấp: phù phổi mãn tính, xơ hóa phổi, tràn dịch màng phổi…
+ Thiếu máu mãn tính: mất máu, vỡ hồng cầu…
+ Loãng xương: do thiếu 1,25 -Dihydroxy cholecalciferol, hậu quả của cường tuyếncận giáp, ngoài ra còn do những nguyên nhân khác như: sự tích tụ nhôm trong quátrình chạy thận, vai trò của toan máu, giảm photpho máu
+ Nhiễm virus viêm gan, HIV
1.2 Tổng quan về chất lƣợng cuộc sống
1.2.1 Định nghĩa
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới 1946 [69] (World Health
Organization) định nghĩa chất lượng cuộc sống (CLCS) là “Sự đo lường các mối quan hệ về thể chất và tinh thần, sự tự hài lòng và mức độ hoạt động độc lập của cá nhân cũng như sự tác động của các mối quan hệ này với đặc tính nổi bật trong hoàn cảnh sống của người đó” Mặt khác, tổ chức y tế thế giới cũng định nghĩa về ý nghĩa của sức khỏe như sau: “ Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về cả vật chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn giản là không có bệnh tật”.
Theo tác giả Oleson, M: CLCS là mức độ hài lòng, thỏa mãn của con ngườitrong lĩnh vực mà họ cho là quan trọng nhất trong cuộc sống Đây là một khái niệmrộng và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình trạng kinh tế, chỗ ở, việc làm, tôngiáo, chính sách trợ cấp xã hội và tình trạng sức khỏe [58]…
Dù chưa có sự thống nhất nhưng qua một số định nghĩa vừa nêu, ta nhận thấyrằng CLCS là một khái niệm chủ quan, thay đổi với từng cá nhân và môi trườngsống của họ Đó là cách sống, cách cảm nhận, đánh giá cuộc sống hay nói cáchkhác, cách định cho cuộc sống một giá trị nào đó Nhìn chung, CLCS là một tìnhtrạng tinh thần hơn là sức khỏe thể chất đơn thuần, phản ánh sự thoải mái, sảngkhoái và những phản ứng chủ quan đối với sức khỏe, phản ánh mối quan hệ giađình, hoạt động xã hội, nghề nghiệp, đời sống tinh thần, sự sáng tạo, niềm hy vọng,
sự thành đạt [58], …
Trang 22
1.2.2 Tầm quan trọng của việc đo lường chất lượng cuộc sống
CLCS có vai trò quan trọng trong việc đo lường tác động của bệnh tật trênsức khỏe, đặc biệt là ở người bệnh có các bệnh mạn tính; mặt khác CLCS còn dựđoán tỷ lệ nhập viện và tỷ lệ tử vong trên dân số người bệnh chạy thận nhân tạo.Đánh giá CLCS của người bệnh như một sự bổ sung cho việc đánh giá các chỉ sốlâm sàng đang trở thành yếu tố quan trọng [45]
Ngoài ra, đo lường CLCS của người bệnh sẽ giúp giám sát tiến độ trong việcđạt được mục tiêu y tế Phân tích số liệu và giám sát CLCS của người bệnh có thểxác định và phân nhóm sức khỏe, giúp hướng dẫn can thiệp để cải thiện sức khỏecủa họ đồng thời ngăn chặn được những hậu quả nghiêm trọng hơn [43] Tuy nhiên,các bác sĩ thường ít khi quan tâm đến khả năng lao động hoặc trạng thái tâm lý củaNgười bệnh mà chỉ tập trung quan tâm vào các biến số liên quan đến lâm sàng nhưhuyết áp, nhịp tim và các chỉ số sinh hóa như đường huyết, bilan mỡ máu… Cònđiều dưỡng, mối bận tâm thường xuyên của họ là tình trạng thể chất, sinh lý, dấuhiệu sinh tồn, thực hiện y lệnh của bác sĩ và cũng ít quan tâm đến tâm lý, tình cảm
và suy nghĩ của người bệnh Hơn nữa, bản thân người bệnh cũng rất mong muốn cómột cuộc sống khỏe mạnh, có khả năng lao động và một cuộc sống độc lập, họmong muốn sự năng động và cảm nhận được hạnh phúc khi không phải sống phụthuộc vào các yếu tố như con người hoặc môi trường [63] Vì những lý do như vậycác nhà nghiên cứu quan tâm và đo lường CLCS của họ thường xuyên hơn
Đánh giá CLCS trở thành bắt buộc như một biện pháp đánh giá hiệu quảđiều trị ở nhiều loại bệnh khác nhau, như bệnh thận giai đoạn cuối, bệnh tim mạch[32], bệnh ác tính [50], bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính [46], và nhiễm virut gây suygiảm miễn dịch [67] Ở người bệnh suy thận, CLCS không chỉ cung cấp các thôngtin quan trọng về cuộc sống hàng ngày mà còn cho biết các nhận thức về tình trạngchức năng Điểm số CLCS ở những người bệnh suy thận đã được chứng minh thấphơn so với dân số chung và chất lượng cuộc sống càng giảm ở người bệnh suy thận
có mức lọc cầu thận càng giảm [64]
Trang 23
Nhiều nghiên cứu cho thấy trợ cấp xã hội có thể ảnh hưởng đến kết quả lâmsàng ở nhiều bệnh mạn tính, như bệnh tim mạch, viêm gan và các bệnh ác tính [31],[32], [50] Mối quan hệ giữa trợ cấp xã hội và sự sống còn ở người bệnh suy thậnmạn chưa được nghiên cứu rộng rãi McClellan và cộng sự đã chứng minh rằngngười bệnh lọc máu có trợ cấp xã hội nhiều hơn có tiên lượng tốt hơn so với nhữngngười không có trợ cấp xã hội [56]
1.2.3 Tổng quan thang đo điểm số chất lƣợng cuộc sống và suy thận mạn đang
chạy thận nhân tạo.
Bộ câu hỏi Kidney Disease Quality of Life – Short Form (KDQOL-SF) bao gồm 2phần: phần trọng tâm chính là thang khảo sát SF-36 đánh giá 8 lĩnh vực CLCS củangười bệnh, phần bổ sung là thang khảo sát tác động bệnh thận tập trung vào mốiquan tâm tác động của người bệnh ảnh hưởng tới 11 lĩnh vực đời sống-xã hội củadân số người bệnh suy thận mạn chạy thận nhân tạo
Thang điểm SF-36 đánh giá CLCS: gồm 8 lĩnh vực/36 câu hỏi: Hoạt độngchức năng (10 câu hỏi), giới hạn hoạt động chức năng (4), cảm nhận đau đớn (2), tựđánh giá sức khỏe tổng quát (5), sức khỏe liên quan đến cảm nhận sức sống (5), giớihạn hoạt động do tâm lý (3), sức khỏe liên quan đến hoạt động xã hội (2), Sức khỏetinh thần tổng quát (4), 8 lĩnh vực này được chia thành 2 thành phần là sức khỏe thểchất và sức khỏe tinh thần
Thang điểm đánh giá tác động bệnh thận: gồm 11 lĩnh vực/43 câu hỏi: Triệuchứng/vấn đề (12 câu hỏi), ảnh hưởng bệnh thận lên cuộc sống hằng ngày (8); gánhnặng của bệnh thận (4), chức năng nhận thức (3), chất lượng giao tiếp xã hội(3),chức năng tình dục (2), giấc ngủ (4), hỗ trợ xã hội (2), tình trạng làm việc (2), sự hàilòng của người bệnh với chất lượng điều trị, chăm sóc của nhân viên (1) và sựkhuyến khích của nhân viên (2)
Độ tin cậy: Bộ câu hỏi đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, mỗi lĩnhvực có độ tin cậy (Cronbach’s alpha) dao động từ 0,7-0,9 [28]
Trang 24
1.3.2 Rối loạn giấc ngủ 1.3.2.1 Định nghĩa
Rối loạn giấc ngủ (RLGN) là tình trạng bất thường về thời gian, thời điểm vàchất lượng của giấc ngủ do những nguyên nhân khác nhau [29] Những RLGNthường gặp là: mất ngủ, ngủ nhiều hoặc rối loạn nhịp thức – ngủ tồn tại trong mộtthời gian nhất định [20]
1.3.2.2 Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ
Yếu tố tâm lý: căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng
Bệnh lý: tim mạch (mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim), hô hấp (hen phế quản,ngưng thở khi ngủ), đau mạn tính, bệnh nội tiết (đái tháo đường, cường giáp), tâmthần kinh (trầm cảm, loạn thần), rối loạn lo âu, hội chứng cai thuốc, rượu
Mất ngủ do sử dụng một số thuốc: chống động kinh, hạ huyết áp nhóm ức chếgiao cảm, lợi tiểu hoặc nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh
Môi trường ngủ: nhiệt độ, ánh sáng, tiếng ồn [4]
Năm 2004, Eduard A Iliescu và cộng sự đã chứng minh được mối liên quangiữa RLGN và bệnh STM: 53% người bệnh STM có giấc ngủ kém Do đó, STMcũng là một nguyên nhân nằm trong nhóm bệnh lý gây RLGN.[37]
1.3.3 Tổng quan thang đo chất lƣợng giấc ngủ Pittsburgh và suy thận mạn
(Pittsburgh sleep quality index)
Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) được phát triển vào năm 1989 làthang đo thông dụng và được sử dụng phổ biến nhất trên toàn cầu [35], [42], [41],
Trang 25[54] đã được lượng giá về độ tin cậy và tính hiệu lực trong nhiều nghiên cứu trênthế giới Sau đó đã được công nhận là một trong những phương pháp khoa học đánhgiá tương đối đầy đủ chất lượng giấc ngủ (CLGN) của người trưởng thành trên 18tuổi[33], [15]
Thang đo chỉ số CLGN Pittsburgh (PSQI) là bộ câu hỏi chuẩn về tự kiểm soát,
có tính giá trị, đáng tin cậy đánh giá chất lượng ngủ trong tháng trước đó Nó baogồm 19 câu hỏi trong 7 thành phần (chủ quan CLGN, ngủ trễ, ngủ đầy đủ, thời gianngủ, RLGN, sử dụng thuốc ngủ, và rối loạn chức năng ban ngày)
Năm 2013, nghiên cứu của Tô Minh Ngọc lượng giá tính tin cậy và tính giá trịcủa thang đo chỉ số CLGN Pittsburgh phiên bản tiếng Việt tại Việt Nam
Độ tin cậy: Chỉ số Cronbach’s alpha chung của thang đo chỉ số chỉ số đánh giáRLGN Pittsburgh phiên bản tiếng Việt đạt 0,789 Ba nhân tố lần lượt đạt hệ số tincậy nội tại 0,789; 0,76; 0,69 [15]
Nhân tố 1: Hiệu quả giấc ngủ
Khoảng thời gian đi vào giấc ngủ
Hiệu quả giấc ngủ theo thói quen
Nhân tố 2: Chất lượng giấc ngủ
Sử dụng thuốc ngủ
Độ dài giấc ngủ
CLGN chủ quan
Nhân tố 3: Rối loạn ban ngày
Yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến giấc ngủ
Bất thường hoạt động ban ngày
0,730
0,4390,763
0,839
0,6930,6470,835
Bảng 1.2 Hệ số Cronbach’s alpha từng thành phần 1.4 Nghiên cứu về chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ.
1.4.1 Trên thế giới
Trang 26
Năm 2003, Eduard A Iliescu cùng cộng sự đã nghiên cứu CLGN và yếu tốsức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh chạy thận nhân tạo.Cũng theo kết quả nghiên cứu, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần đều cómối liên hệ với CLGN với hệ số tương quan lần lượt là -0.28 và -0.45, mức ý nghĩa
p < 0,01[37]
Năm 2004, Eduard A Iliescu cùng cộng sự đã tìm hiểu nghiên cứu CLGN ở
120 người bệnh bệnh thận mạn tính Kết quả cho thấy có 53% người bệnh có chấtlượng giấc ngủ kém, chất lượng giấc ngủ thường kém ở giai đoạn đầu của bệnh thậnmạn và không liên quan đến mức độ suy thận tiếp theo [39]
Theo kết quả nghiên cứu của Havva Tel, MD cùng cộng sự khi tiến hànhnghiên cứu CLCS và CLGN trên 138 người bệnh chạy thận nhân tạo vào năm 2009.Kết quả thu thập được người bệnh chạy thận nhân tạo có CLCS thấp và có một mốitương quan nghịch giữa tỷ lệ RLGN và CLCS với p < 0,01[44]
Với nghiên cứu của Kobra Parvan và cộng sự vào năm 2013 đã chỉ ra rằng cómột mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ RLGN và điểm số CLCS ở người bệnh chạythận nhân tạo Đó là mối tương quan nghịch về CLGN và sức khỏe thể chất, sứckhỏe tinh thần, gánh nặng bệnh thận, triệu chứng, các hỗ trợ xã hội, chức năng tìnhdục và ảnh hưởng của bệnh thận đối với cuộc sống hàng ngày [49]
Năm 2016, Quanquan Shen cùng cộng sự đã nghiên cứu chất lượng giấc ngủ,ngủ ngày và mối liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh thẩm phân máu.Kết quả cho thấy, tỷ lệ người bệnh có CLGN kém là 69,1%, chất lượng giấc ngủkém có liên quan với sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần Điểm số chất lượng giấcngủ có mối tương quan nghịch với điểm số sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần vàtuổi của người bệnh[59]
1.4.1 Tại Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu về CLCS, CLGN của người bệnh chạy thận nhân tạođịnh kỳ nhưng những đề tài nghiên cứu về mối liên quan giữa CLGN và CLCS vẫncòn chưa được nghiên cứu
Trang 27
Lê Việt Thắng (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của thiếu máu lên tình trạng rối loạn giấc ngủ của 103 bệnh nhân TNT Kết quả cho thấy có 95,15% bệnh nhân có RLGN và thiếu máu là một nguyên nhân gây RLGN ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ.
Năm 2011 Lê Việt Thắng và Đặng Quang Minh đã tiến hành nghiên cứu trên
200 Người bệnhTNT kết quả cho thấy có 72,5% số người bệnh có RLGN[20].Nghiên cứu ảnh hưởng của tăng huyết áp lên tình trạng RLGN ở 200 người bệnhchạy thận nhân tạo của Lê Việt Thắng cũng cho thấy có đến 95,5% người bệnh cógiấc ngủ kém (PSQI ≥ 5) Số người bệnh tăng huyết áp chiếm 85,5% Nhóm ngườibệnh tăng huyết áp có RLGN cao hơn nhóm người bệnh không tăng huyết áp có ýnghĩa với p < 0,05 Tăng huyết áp có thể là một trong những nguyên nhân gâyRLGN ở người bệnh suy thận mạn tính chạy thận nhân tạo định kỳ [19]
Theo kết quả nghiên cứu của Cao Thị Hải Yến vào năm 2013 khi tiến hànhnghiên cứu chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối chạythận nhân tạo định kỳ tại BV Đa Khoa Thống Nhất Đồng Nai, kết quả cho thấy có74,5% người bệnh có chất lượng cuộc sống thấp (≤ 50 điểm), điểm số trung bình tácđộng bệnh thận là 60,3 ± 7,3 [28]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phượng vào năm 2016 với đề tài “Chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ” khi nghiên cứutrên 118 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Khoa thận nhân tạo Bệnh việnĐại học Y Dược Thái Bình cho thấy tỷ lệ rối loạn giấc ngủ của người bệnh suy thậnmạn tính lọc máu chu kỳ là 88,1% với tổng số điểm PSQI >5 [16]
1.5 Mô hình lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng mô hình học thuyết chất lượng cuộcsống đã được bổ sung dựa trên mô hình đã được đặt ra bởi Wilson và Cleary năm
1995 làm mô hình lý thuyết mẫu trong nghiên cứu
Trang 28
Sơ đồ 1.1 Mô hình học thuyết chất lượng cuộc sống đã được bổ sung dựa trên mô
hình đã được đặt ra bởi Wilson và Cleary năm 1995[68]
Theo mô hình có 4 yếu tố chính của CLCS là: chức năng sinh học, triệu chứng,tình trạng chức năng và nhận thức sức khỏe tổng quát Mô hình này đã cung cấpmột sức mạnh lý thuyết về nghiên cứu CLGN và CLCS ở người bệnh STM đangchạy thận nhân tạo bằng cách làm rõ các yếu tố quan trọng và các mối quan hệ củanó
Làm rõ các khái niệm trong học thuyết và áp dụng vào việc nghiên cứu như sau:
- Đặc điểm cá nhân: được phân loại là các yếu tố nhân khẩu học phát triển tâm
thần, tâm lý Đặc điểm cá nhân trong nghiên cứu này bao gồm tuổi, giới, trình độhọc vấn
- Đặc điểm môi trường: là những tác động do xã hội mang lại hoặc do những đối
tác xung quanh Đặc điểm xã hội bao gồm tình trạng hôn nhân, tình trạng gia đình,nghề nghiệp, tôn giáo, thời gian chạy thận
- Chức năng sinh học: bao gồm các quá trình sinh lý hỗ trợ cuộc sống, và là yếu tố
cơ bản nhất quyết định tình trạng sức khỏe Chức năng sinh học thường có thể đo
Đặc điểm cá nhân
Chất lượngcuộc sốngtoàn diện
Chức năngsinh học Triệu chứng
Nhận thứcsức khỏechung
Tình trạngchức năng
Đặc điểm môitrường
Trang 29lường bằng xét nghiệm cận lâm sàng, đánh giá thể chất và chẩn đoán y khoa Trong
NC này chúng tôi không sử dụng các xét nghiệm cận lâm sàng, sử dụng thành phần
2 (khoảng thời gian đi vào giấc ngủ), thành phần 3 (độ dài giấc ngủ) và thành phần
4 (hiệu quả giấc ngủ theo thói quen) của CLGN
- Triệu chứng: là cảm nhận của một người bệnh với những triệu chứng bất thường
về tình trạng thể chất, cảm xúc, hoặc nhận thức Các triệu chứng phân loại thành cáctriệu chứng thể chất, triệu chứng tâm lý, và các triệu chứng mà không rõ ràng về thểchất hoặc tâm lý như sợ hãi, lo lắng Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giáthành phần tác động bệnh thận, thành phần 5 (các yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến giấcngủ) và thành phần 6 (dùng thuốc ngủ) của CLGN
- Tình trạng chức năng: là khả năng khi thực hiện nhiệm vụ và khả năng điều
chỉnh môi trường của cá nhân Tình trạng chức năng có thể đo chủ quan hoặc kháchquan trên một khung thời gian nhất định Bốn lĩnh vực chức năng thường được đo làthể chất, xã hội, vai trò, tâm lý Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá thànhphần sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của người bệnh, thành phần 1 (CLGNchủ quan) và thành phần 7 (bất thường hoạt động ban ngày) của CLGN [28], [68]
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh STM ≥ 18 tuổi, được chạy thận nhân tạo định kỳ tại phòng thậnnhân tạo, BV đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang từ 5/2016 đến tháng 7/2017
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh
- Từ 18 tuổi trở lên phù hợp với thang đo chỉ số đánh giá RLGN Pittsburgh
- Người bệnh được chẩn đoán STM giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ
- Người bệnh tỉnh táo và đồng ý tham gia trả lời câu hỏi
- Người bệnh có thể nói, hiểu, có khả năng giao tiếp và không có bệnh lý về thầnkinh
- Có thời gian điều trị với phương pháp chạy thận nhân tạo >3tháng [55]
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh rối loạn chức năng não ngoài bệnh thận hoặc có tình trạng RLGNtrước khi mắc bệnh thận
- Người bệnh mắc bệnh lý tâm thần, người bệnh không có khả năng giao tiếp
- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
Trang 31Cỡ mẫu: vậy cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là n = 98 người bệnh
2.2.4 Tiến hành nghiên cứu
Phát phiếu điều tra, giải thích, người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu kýphiếu đồng thuận
Phỏng vấn nội dung câu hỏi PSQI và KDQOL-SFThu thập số liệu và xử lý số liệu
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Sau khi được sự đồng ý của BV đa khoa trung tâm Tiền Giang, chúng tôi sẽ lựachọn thuận tiện các người bệnh STM giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo định kỳ tạiphòng thận nhân tạo theo tiêu chí đề ra để tham gia nghiên cứu Chúng tôi sẽ thôngbáo các thông tin về nghiên cứu và sự tham gia của người bệnh được thể hiện quabảng đồng ý tham gia nghiên cứu, được phỏng vấn trực tiếp, thu thập thông tin vềcác yếu tố gia đình, xã hội, công việc, tiền sử bệnh và trả lời theo bộ câu hỏi CLCS
và bệnh thận (KDQOL-SF) và bảng CLGN (PSQI) Cả hai bộ câu hỏi đã được dịch
Trang 32từ Tiếng Anh sang tiếng Việt và Tiếng Việt sang Tiếng Anh [28],[16] Phương phápphỏng vấn mặt đối mặt được thực hiện để thu thập thông tin
2.3 Các biến số nghiên cứu và thang đo
2.3.1 Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu
- Tuổi: là biến định lượng liên tục, lấy năm điều tra trừ đi năm sinh Phân chianhóm tuổi nghiên cứu gồm: ≤ 35 tuổi, 36-50 tuổi, ≥ 50 tuổi Việc phân chia theo
tác giả Havva Tel, MD[44]
- Tình trạng hôn nhân: là biến số danh định gồm 2 giá trị: đã kết hôn và chưa kếthôn
- Giới: là biến nhị giá, bao gồm 2 giá trị: nam và nữ
- Tình trạng kinh tế: là biến số thứ tự gồm 2 giá trị: thiếu và đầy đủ
- Nơi ở: là biến danh định, gồm 2 giá trị: thành thị và nông thôn
- Nghề nghiệp: là biến danh định bao gồm: công nhân viên chức, nông dân/nội trợ,
về hưu, kinh doanh buôn bán
- Thời gian lọc máu: là biến định lượng tính từ thời điểm người bệnh lọc máu lầnđầu đến thời điểm nghiên cứu gồm 3 giá trị: ≤ 1 năm, > 1-2 năm, > 2-3 năm, > 3năm
2.3.2 Biến số và thang đo chỉ số chất lƣợng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI)
- Bảng câu hỏi PSQI bao gồm 7 thành phần của CLGN, mỗi câu hỏi thuộc mộtphương diện sẽ dao động từ 0 đến 3 điểm, tổng điểm của 7 thành phần là từ 0 đến
21 điểm
- RLGN: đây là biến số kết quả CLGN theo thang đo PSQI, là biến số nhị giá, gồmhai giá trị “1” là “có” và “2” là “không”, trong đó khi tổng điểm > 5 đối tượng “có”RLGN, ngược lại ≤ 5 là “không” RLGN (theo nghiên cứu của tác giả Buyse năm1989)[33]
- Chất lượng giấc ngủ chủ quan: là thành phần 1, câu hỏi 6; là biến số thứ tự để xemmức độ đối tượng tự đánh giá chất lượng giấc ngủ trong một tháng qua như thế nào,
Trang 33- Độ dài giấc ngủ: là thành phần 3, câu hỏi số 4; số giờ đồng hồ đối tượng thực sựngủ được mỗi đêm, là biến số định lượng, gồm 2 chữ số giờ và 2 chữ số phút, sau
đó cũng được quy về phân số và chuyển đổi sang biến thứ tự Điểm thành phần 3gồm 4 giá trị: 0; 1; 2 và 3
- Hiệu quả giấc ngủ theo thói quen: là thành phần 4; gồm câu hỏi số 1; 3 và 4 Điểmthành phần 4 gồm 4 giá trị: 0; 1; 2 và 3
- Yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến giấc ngủ: là thành phần 5; gồm câu hỏi 5b đến 5j.Điểm thành phần 5 gồm 4 giá trị: 0; 1; 2 và 3
- Sử dụng thuốc ngủ: là thành phần 6; câu hỏi số 6 Đây là biến số thứ tự để xemmức độ đối tượng dùng thuốc ngủ như thế nào Điểm thành phần 6 gồm 4 giá trị: 0;1; 2 và 3
- Bất thường hoạt động ban ngày: là thành phần 7, gồm câu hỏi số 8 và 9 Điểmthành phần 7 gồm 4 giá trị: 0; 1; 2 và 3
Bảng 2.1 Cách tính điểm chất lượng giấc ngủ theo PSQI [16]
Câu Biến số Loại biến số Giá trị Đo lường
Điểm thànhphần 2theo tổng điểmcâu 2 và câu
Trang 340 Không cótrong thángqua
1 Ít hơn mộtlần một tuần
2 Một hai lầnmột tuần
3 Ba lần hoặchơn một tuần
5a:
0 = 01-2= 13-4= 25-6= 3
Thành phần 3 – Độ dài giấc ngủ
4
Thời gian ngủ Định lượng
Chuyển đổisang biến thứtự
> 7 giờ6-7 giờ5-6 giờ
< 5 giờ
Điểm thànhphần 3
>7 giờ = 06-7 giờ = 15-6 giờ = 2
<5 giờ = 3
Thành phần 4 - Hiệu quả giấc ngủ theo thói quen
2 chữ số phút
(Số giờ ngủ/sốgiờ
nằm trêngiường)x100=%Điểm thànhphần 4theo %
> 85% = 075-84% = 165-74% = 2
< 65% = 3
trên giường đểthức dậy
Định lượng 2 chữ số giờ
2 chữ số phút
1
Thời gian nằmtrên giường đểngủ được
Trang 35qua
1 Ít hơn mộtlần một tuần
2 Một hai lầnmột tuần
3 Ba lần hoặchơn một tuần
phần 5theo tổng điểm
từ câu 5b đến5j:
0 = 01-9 = 110-18 = 219-27 = 3
1 Ít hơn mộtlần một tuần
2 Một hai lầnmột tuần
3 Ba lần hoặchơn một tuần
Điểm thànhphần
1 Một hay hailần
2 Một hai lầnmỗi tuần
3 Ba lần hoặc
Điểm thànhphần
7 theo tổngđiểm
từ câu 8 và câu9
0 = 0
Trang 36hơn mỗi tuần 1-2 = 1
3-4 = 25-6 = 3
9
Thứ tự
0 Không córắc rối nào
1 Một chút rắcrối
2 Rắc rối phầnnào
3 Rắc rối lớn
19 câu (tiểu mục) phối hợp thành tổng điểm của 7 thành phần Mỗi mục có các mức
độ từ 0-3 điểm với 0 = không khó khăn gì và 3 = khó khăn nghiêm trọng Điểm 7thành phần sau đó cộng lại thành điểm tổng quát của toàn thang đó từ 0 - 21 điểm
2.3.3 Các biến số và thang đo chỉ số chất lƣợng cuộc sống
Điểm số thang KDQOL-SF: là biến số định lượng, các câu hỏi tính điểm theothang đo Likert có từ 2-7 mức độ từ “tệ nhất” đến “tuyệt vời”, quy số điểm từ 0-100điểm, sau đó cộng số điểm người bệnh trả lời cho mỗi câu hỏi điểm trung bình ± độlệch chuẩn Điểm số trung bình càng cao thì phản ứng CLCS càng cao Trong phântích sẽ chia thành 3 thành phần: sức khỏe thể chất; sức khỏe tinh thần và tác độngbệnh thận Đánh giá điểm số CLCS tổng thể (SF-36) sẽ dựa vào thành phần sứckhỏe thể chất và sức khỏe tinh thần
- Điểm số sức khỏe thể chất là trung bình cộng của 4 lĩnh vực: hoạt độngchức năng, giới hạn hoạt động chức năng, cảm nhận đau đớn, đánh giá sức khỏetổng quát
- Điểm số sức khỏe tinh thần là trung bình cộng của 4 lĩnh vực: cảm nhận sứcsống, giới hạn hoạt động do tâm lý, hoạt động xã hội, sức khỏe tinh thần tổng quát
- Điểm tác động bệnh thận là trung bình cộng của 11 lĩnh vực còn lại đượcnêu trong thang đo KDQOL-SF
Các biến số chi tiết như sau:
Trang 37
+ Ảnh hưởng của bệnh thận trên cuộc sống hàng ngày: mức độ bận tâm vềhạn chế lượng nước uống và chế độ ăn, ảnh hưởng của bệnh đến công việc, du lịch
Trang 38+ Sự khuyến khích của nhân viên: mức độ một người cảm thấy được hỗ trợ
và nhận được sự khuyến khích từ nhân viên y tế
+ Sự hài lòng của bệnh nhân: mức độ mà một người hài lòng với sự chămsóc tổng thể mà họ nhận được
Bảng 2.2: Cấu trúc thang điểm KDQOL-SF[28]
Thang
KDQOL-SF
Thang KDQOL- SF
CLCS SF-36 Sức khỏe
thể chất
Giới hạn hoạt động chức năng 4 a-d
Đánh giá sức khỏe tổng quát 1, 11 a-d
Sức khỏe tinh thần
Cảm nhận sức sống 9 b,c,d,f,hGiới hạn hoạt động do tâm lý 5a-c
Trang 39Chức năng nhận thức 13 b,d,fChất lượng giao tiếp xã hội 13 a,c,e
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích khảo sát mối liên quan giữa CLGN vàCLCS của người bệnh STM giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo phục vụ vào cảithiện chăm sóc người bệnh
Tất cả người tham gia sẽ được thông tin đầy đủ về mục tiêu của nghiên cứu.Nghiên cứu chỉ thực hiện khi có sự đồng ý của người bệnh
Trong quá trình phỏng vấn, bất cứ đối tượng nào không muốn tham gia nghiêncứu nữa đều được tôn trọng, sẽ dừng phỏng vấn
Tất cả số liệu thu thập được đều được bảo mật, chỉ được phục vụ cho nghiên cứunày, không công bố khi chưa có sự đồng ý của người bệnh
Trang 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
Qua thời gian nghiên cứu trên 100 đối tượng là người bệnh đang chạy thận nhân tạotại khoa hồi sức cấp cứu – BV, chúng tôi thu được kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Nghề nghiệp
5446
5446