ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Thành phố Đà Nẵng
Đối tƣợng nghiên cứu
Phụ nữ độ tuổi từ 18 trở lên, sống tại 7 quận, huyện trên địa bàn thành phố ĐàNẵng ít nhất 6 tháng.
Cỡ mẫu
Sử dụng công thức: n = Z 2 (1- α/2) p (1 - p) d 2 Trong đó: n: là số lƣợng mẫu nghiên cứu.
Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%. d = 0.05 với độ chính xác mong muốn 95%. p: Tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám vú.
Theo nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Thủy và cộng sự (2013)có 28,9% phụ nữ có thực hành tự khám vú nên chọn p= 0,29.
Thay các giá trị vào công thức trên ta có: n = 317
Kỹ thuật chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu cụm 3 giai đoạn
Thành phố Đà Nẵng đƣợc phân thành bảy quận, huyện Tùy thuộc vào tổng số dân số, mỗi quận, huyện được chia thành 4-13 phường.
Bước 1 Chọn ngẫu nhiên 3 quận từ 7 quận, huyện của thành phố Đà Nẵng 03 quận đã đƣợc chọn đó là Thanh Khê, Sơn Trà và Cẩm Lệ
Bước 2: Mỗi quận đã chọn, chọn ngẫu nhiên 2 phường.
- Quận Thanh Khê: phường Vĩnh Trung và Thạc Gián
- Quận Sơn Trà: phường An Hải Tây và Nại Hiên Đông
- Quận Cẩm Lệ: phường Hòa Thọ Tây và Hòa An
Nghiên cứu viên đã gặp lãnh đạo trạm Y tế phường và cộng tác viên dân số để thu thập danh sách các phụ nữ cư trú tại phường.
Bước 3 Trong mỗi phường, số người tham gia đã được tính toán bằng cách sử dụng công thức tỷ lệ nhƣ sau
Vơi ni : số phụ nữ tham gia của mỗi phường n : 317 phụ nữ
Ni : số phụ nữ của mỗi phường
N : tổng số phụ nữ của 6 phường (41810 phụ nữ) Dựa vào công thức trên và số liệu đã có được, con số phụ nữ của mỗi phường cần là:
- An Hải Tây: 38 phụ nữ
- Nại Hiên Đông: 59 phụ nữ
- Hòa Thọ Tây: 36 phụ nữ
- Hòa An: 53 phụ nữ Bước 4.
Trong mỗi phường, những phụ nữ được lựa chọn bằng cách sử dụng đơn giản kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên.
Tiêu chí chọn mẫu
Phụ nữ trong độ tuổi từ 18 trở lên, sống tại 7 quận, huyện thành phố Đà Nẵng ít nhất 6 tháng, có khả năng giao tiếp bình thường.
Phụ nữ bị UTV Phụ nữ mang thai
Phụ nữ bị suy giảm nhận thức Phụ nữ đang cho con bú
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tƣợng tham gia theo các bước như sau:
+ Tiếp xúc với những người phụ nữ.
+ Giới thiệu mục đích nghiên cứu cho những người phụ nữ Nếu họ đồng ý tham gia nghiên cứu, cho họ ký giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.
+ Đặt câu hỏi cho những người phụ nữ trả lời, câu hỏi rõ ràng dễ hiểu. Điều tra viên điền đáp án vào bộ câu hỏi.
Sau khi hoàn thành bộ câu hỏi, điều tra viên hướng dẫn tất cả phụ nữ thực hiện 5 bước tự khám vú một cách chi tiết và cung cấp cho họ một tờ rơi thông tin.
“Phòng và phát hiện sớm ung thƣ vú” ung thƣ vú.
+ Đối tượng tham gia có thể đặt câu hỏi với người nghiên cứu nếu có thắc mắc.
+ Địa điểm: tại nhà riêng những phụ nữ tham gia nghiên cứu.
Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua bộ câu hỏi thiết kế riêng cho từng đối tượng tham gia Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu thu thập.
Bộ câu hỏi gồm có 4 phần:
Phần 1: Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu Phần này gồm 7 câu hỏi
Phần 2: Nhận thức, kiến thức về UTV và tự khám vú Gồm 8 câu hỏi
Phần 3: Thực hành tự khám vú Gồm 10 câu hỏi
Phần 4: Các khó khăn trong thực hành tự khám vú Gồm 11 câu hỏi
Bộ câu hỏi được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại bởi hai điều dưỡng có trình độ tiếng Anh tốt, lặp đi lặp lại cho đến khi hai bản tiếng Anh tương đồng Bản tiếng Việt sau đó được thử nghiệm trên 30 phụ nữ và chỉnh sửa để đảm bảo tất cả đều hiểu câu hỏi Độ tin cậy của các khó khăn trong thực hành tự khám vú được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s Alpha, với kết quả đạt 0,73, vượt tiêu chuẩn ≥ 0,6.
Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu
2.9.1 Biến số về đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Nhóm tuổi: là biến số danh định, đánh giá dựa theo năm sinh, tuổi bằng năm nay trừ cho năm sinh Trong phân tích sẽ phân thành 3 nhóm:
Trình độ học vấn: là biến số thứ tự, có 5 giá trị: mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, TC/CĐ/ĐH/SĐH
Nghề nghiệp: là biến số danh định, có 6 giá trị: Công chức, công nhân, nông dân, buôn bán, học sinh - sinh viên, khác (xin nêu rõ)
Tình trạng hôn nhân được phân loại thành ba nhóm: đã kết hôn, độc thân và khác (cần nêu rõ) Bên cạnh đó, biến số về việc đã sinh con được chia thành hai giá trị là "có" và "chưa".
Tiền sử gia đình bị u tế bào vú (UTV) là một yếu tố quan trọng, được phân loại thành hai giá trị: có và không Tương tự, tiền sử gia đình mắc bất kỳ loại bệnh ung thư nào cũng được xem là biến số nhị giá với hai giá trị tương ứng là có và không.
2.9.2 Biến số nhận thức, kiến thức về UTV và tự khám vú
Nhận thức, kiến thức về UTV và tự khám vú
Tên biến số Loại biến Giá trị
Có bao giờ nghe nói về UTV Nhị giá Có
Không Bệnh UTV là bệnh có thể gây chết người không
Không Không biết UTV phát hiện sớm đƣợc không Danh định Có
Không Không biết Làm cách nào để phát hiện sớm UTV Danh định Tự khám vú
Khám định kỳ Không phát hiện đƣợc
Tự khám vú là quan trọng để phát hiện sớm
Biết làm thế nào để thực hành tự khám vú Nhị giá Có, không
Phụ nữ nên thực hành tự khám vú từ 20 tuổi trở lên
Các nguồn thông tin tự khám vú nhận đƣợc từ
Danh định Nhân viên y tế
Gia đìnhTruyền hình/radioBáo/ tạp chí
2.9.3 Biến về thực hành tự khám vú:
Thực hành tự khám vú Tên biến số Loại biến số Giá trị Đã từng tự khám vú Nhị giá Có, không
Tần suất tự khám vú Danh định 1 lần trong một tháng
1 lần trong 1 năm Thời điểm tự khám vú Danh định Vài ngày sau sạch kinh
Bất cứ thời gian nào Thời gian khác Tuổi bắt đầu tự khám vú Nhị giá < 20 tuổi
Lần cuối cùng thực hiện tự khám vú
Có đứng trước gương quan sát hai bên ngực xem có cân đối không
Có nặn đầu vú xem có dịch hoặc máu không
Có chụm các ngón tay lại dùng phần phẳng của ngón tay để cảm nhận tổ chức của vú kiểm tra xem có u cục không
Có dùng tay kiểm tra hõm nách xem có hạch không
Lý do thực hành tự khám vú Danh định Để kiểm tra vú của tôi thường xuyên
Gia đình tôi có người bị UTV
Vú của tôi lớn hơn
Tôi đang mắc loại ung thƣ khác
2.9.4 Biến về các khó khăn đối với thực hành tự khám vú
Các khó khăn trong thực hành kiểm tra vú Tên biến số Loại biến số Giá trị
Không biết làm thế nào để làm điều đó
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Không có bất kỳ triệu chứng Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Sợ hãi khi bị chẩn đoán mắc bệnh
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Tự khám vú sẽ làm lo lắng về bệnh UTV
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Lúng túng khi tự khám vú Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Không có đủ sự riêng tƣ để tự khám vú
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Tự khám vú sẽ mất nhiều thời gian
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Khó chịu khi tự khám vú Nhị giá Đồng ý, không đồng ý Không bao giờ có thể bị UTV Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Không tin vào hiệu quả của tự khám vú để phát hiện sớm ung thƣ vú
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Không nghĩ rằng tự khám vú là quan trọng
Nhị giá Đồng ý, không đồng ý
Kiểm soát sai lệch
Để kiểm soát sai lệch, nghiên cứu viên đã tiến hành điều tra 30 phụ nữ theo tiêu chuẩn đã chọn, với các phiếu đánh giá ban đầu được nghiên cứu và đánh giá mẫu Mỗi phiếu đánh giá đã được kiểm tra cẩn thận nhằm loại bỏ thông tin không cần thiết và bổ sung thông tin thiếu Để khắc phục sai số hệ thống, các điều tra viên điều dưỡng đã được tập huấn về cách đặt câu hỏi, sử dụng bộ câu hỏi và đánh giá câu trả lời của đối tượng tham gia nghiên cứu.
Phương pháp quản lý và phân tích số liệu
Mỗi phiếu khảo sát phải đƣợc điền đầy đủ các thông tin phỏng vấn đối tƣợng tham gia.
2.11.2 Mã hóa thông tin từ phiếu khảo sát
Tất cả những dữ liệu thu thập, sau khi kiểm tra tính phù hợp đã đƣợc mã hóa bởi người nghiên cứu.
Tạo tập tin dữ liệu trên máy vi tính, sau đó kiểm tra chắc chắn dữ liệu không có lỗi trước khi đăng xuất sang phần mềm.
Nhập và quản lý số liệu bằng sử dụng phần mềm Epidata 3.1
Dữ liệu đƣợc phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0.
Phép kiểm Chi-bình phương được áp dụng để đánh giá mối liên hệ giữa thực hành tự kiểm tra vú và các yếu tố như đặc điểm chung, nhận thức, kiến thức về ung thư vú, cũng như các khó khăn gặp phải Kết quả nghiên cứu cho thấy có ý nghĩa thống kê với p THPT
3.1.3 Phân bố nghề nghiệp của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.2 Phân bố nghề nghiệp
Nghề nghiệp Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Nghề buôn bán chiếm tỷ lệ cao nhất 29,3%, kế đến là công chức
19,9%, công nhân 17,4%, thấp nhất là nông dân 7,3%
3.1.4 Phân bố tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tƣợng nghiên cứu
Biểu đồ 3.2.Tình trạng hôn nhân hiện tại
Nhận xét: Trên 3/4 đối tƣợng tham gia nghiên cứu đã kết hôn chiếm tỷ lệ là
Kết hôn Độc thân Khác
3.1.5 Phân bố sinh con của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.3 Phân bố đã sinh con Đã sinh con chƣa Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: 71,6% phụ nữ trong nghiên cứu này đã có con
3.1.6 Phân bố tiền sử gia đình bị ung thƣ vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.4 Phân bố tiền sử gia đình bị ung thƣ vú
Tiền sử gia đình bị ung thƣ vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: 93,7% đối tƣợng tham gia nghiên cứu không có tiền sử gia đình bị ung thƣ vú
3.1.7 Phân bố tiền sử gia đình bị ung thƣ của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.5 Phân bố tiền sử gia đình bị ung thƣ
Tiền sử gia đình bị ung thƣ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: 89,0% đối tƣợng tham gia nghiên cứu không có tiền sử gia đình bị ung thƣ.
Nhận thức, kiến thức về ung thƣ vú và tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
3.2.1 Phân bố có nghe nói về ung thƣ vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.6 Phân bố có nghe nói về ung thƣ vú
Nghe nói về ung thƣ vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Hầu hết phụ nữ tham gia trong nghiên cứu này đã đƣợc nghe nói về ung thƣ vú với tỷ lệ rất cao là 92,7%
3.2.2 Phân bố hiểu biết về ung thƣ vú của đối tƣợng nghiên cứu (n = 317)
Biểu đồ 3.3 Phân bố hiểu biết về ung thƣ vú
Trong một nghiên cứu, 76,3% phụ nữ nhận thức rằng ung thư vú có khả năng gây tử vong, trong khi 70,7% cho rằng bệnh này có thể được phát hiện sớm Tuy nhiên, vẫn có 23% phụ nữ không biết liệu ung thư vú có thể được phát hiện sớm hay không.
Bệnh UTV có thể gây chết người
Bệnh UTV có thể phát hiện sớm
3.2.3 Phân bố hiểu biết về cách phát hiện sớm ung thƣ vú của đối tƣợng nghiên cứu
Biểu đồ 3.4 Hiểu biết về cách phát hiện sớm ung thƣ vú
Theo khảo sát, 60,9% người tham gia cho rằng khám định kỳ tại cơ sở y tế là phương pháp hiệu quả nhất để phát hiện sớm ung thư vú, trong khi 38,5% cho rằng tự khám vú tại nhà cũng là một cách quan trọng.
3.2.4 Phân bố hiểu biết về cách tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu (n = 317)
Bảng 3.7 Phân bố hiểu biết về cách tự khám vú
Hiểu biết về cách tự khám vú Có Không n % n %
Tự khám vú để phát hiện sớm UTV có quan trọng không 275 86,8 42 13,2
Biết cách tự khám vú 100 31,5 217 68,5
Phụ nữ có nên thực hành tự khám vú từ 20 tuổi trở lên 277 87,4 40 12,6
Hầu hết phụ nữ được phỏng vấn (86,8%) cho rằng tự khám vú rất quan trọng trong việc phát hiện sớm ung thư vú và 87,4% khuyến nghị nên thực hành tự khám từ 20 tuổi trở lên Tuy nhiên, 68,5% phụ nữ không biết cách thực hiện tự khám vú.
Tự khám vú Khám định kỳ tại cơ sở Y tế
Không phát hiện sớm đƣợc Không biết
3.2.5 Phân bố các nguồn thông tin nhận đƣợc của đối tƣợng nghiên cứu
Biểu đồ 3.5 Phân bố các nguồn thông tin nhận đƣợc
Theo nghiên cứu, nguồn thông tin chủ yếu về thực hành tự khám vú của đối tượng tham gia chủ yếu đến từ nhân viên y tế (47%), tiếp theo là từ truyền hình và radio (42,6%), trong khi nguồn thông tin từ gia đình chỉ chiếm 10,7%.
Thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
3.3.1 Phân bố thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.8 Phân bố thực hành tự khám vú
Thực hành tự khám vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: 54,3% phụ nữ không thực hành tự khám vú
Nhân viên Y tế Bạn bè/đồng nghiệp
Gia đình Truyền hình/radio
3.3.2 Phân bố tần suất thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.9 Phân bố tần suất thực hành tự khám vú
Tần suất thực hành khám vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ phụ nữ thực hiện tự khám vú mỗi tháng đạt 42,8%, trong khi hơn 50% phụ nữ chỉ thực hiện việc này một lần trong vài tháng hoặc thậm chí chỉ một lần trong một năm.
3.3.4 Phân bố thời điểm thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.10 Phân bố thời điểm thực hành tự khám vú
Thời điểm tự khám vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Vài ngày sau sạch kinh 17 11,7
Bất cứ thời gian nào 128 88,3
Nhận xét: Chỉ có 11,7% đối tƣợng tham gia nghiên cứu thực hành tự khám vú vào đúng thời điểm vài ngày sau sạch kinh
3.3.5 Phân bố nhóm tuổi bắt đầu thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.11 Phân bố nhóm tuổi bắt đầu thực hành tự khám vú
Tuổi bắt đầu tự khám vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Hầu hết phụ nữ bắt đầu tự khám vú từ 20 tuổi trở lên với tỷ lệ
3.3.6 Phân bố lần gần nhất thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.12 Phân bố lần gần nhất thực hành tự khám vú
Lần gần nhất thực hành tự khám vú Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Theo khảo sát, 51,7% phụ nữ cho biết lần tự khám vú gần nhất của họ là trong vòng một tháng qua, trong khi đó, 31% phụ nữ thực hiện tự khám vú lần cuối cách đây hơn 6 tháng.
3.3.7 Phân bố các bước thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu (n = 317)
Bảng 3.13 Phân bố các bước thực hành tự khám vú
Các bước tự khám vú Có Không n % N %
Có đứng trước gương quan sát hai bên ngực 70 48,3 75 51,7
Có nặn đầu núm vú xem có dịch hoặc máu chảy ra 58 40,0 87 60,0
Có chụm các ngón tay lại dùng phần phẳng của ngón tay để cảm nhận tổ chức của vú kiểm tra xem có u cục
Có dùng tay kiểm tra hõm nách xem có hạch không 100 69,0 45 31,0
Theo nghiên cứu, hơn 2/3 phụ nữ đã sử dụng phương pháp chụm các ngón tay để kiểm tra u cục ở vú và hạch ở hõm nách, với tỷ lệ lần lượt là 67,6% và 69,0% Tuy nhiên, chỉ dưới 50% phụ nữ thực hiện việc đứng trước gương để quan sát 2 bên ngực và nặn đầu vú nhằm kiểm tra sự chảy dịch hoặc máu, với tỷ lệ 48,3% và 40,0%.
3.3.8 Phân bố lý do thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Biểu đồ 3.6 Phân bố lý do thực hành tự khám vú
Nhận xét: 91% phụ nữ thực hành tự khám vú là để kiểm tra vú thường xuyên
Trong khi đó, 10,3% tự khám vú là do gia đình có người bị ung thư vú
Kiểm tra vú thường xuyên
Gia đình có người bị UTV
Các khó khăn trong thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.14 Phân bố các khó khăn trong thực hành khám vú (n = 317)
Thực hành tự khám vú Đồng ý Không đồng ý n % n %
Không biết làm thế nào để làm điều đó 244 77,0 73 23,0 Không có bất kỳ triệu chứng gì 268 84,5 49 15,5
Sợ hãi khi bị chẩn đoán mắc bệnh UTV 289 91,2 28 8,8
Lo lắng về bệnh UTV khi tự khám vú 226 71,3 91 28,7
Lúng túng khi tự khám vú 193 60,9 124 39,1
Không có đủ sự riêng tƣ để tự khám vú 77 24,3 240 75,7
Tự khám vú mất nhiều thời 77 24,3 240 75,7
Khó chịu khi tự khám vú 92 29,0 225 71,0
Không bao giờ có thể bị UTV 76 24,0 241 76,0 Không tin vào hiệu quả của việc tự khám vú 74 23,3 243 76,7 Không nghĩ rằng tự khám vú là quan trọng 93 29,3 224 70,7
Phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hành tự khám vú, với 91,2% lo sợ bị chẩn đoán ung thư vú, 84,5% không có triệu chứng nào, 77% không biết cách thực hiện tự khám, 71,3% lo lắng về bệnh ung thư vú, và 60,9% cảm thấy lúng túng khi tự khám.
Một số yếu tố liên quan đến thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
3.5.1 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các đặc điểm chung
Thực hành tự khám vú
Tiền sử gia đình bị UTV
Tiền sử gia đình có bất kỳ bệnh ung thƣ
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ thống kê giữa thực hành tự khám vú và các yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, tình trạng sinh con, cũng như tiền sử gia đình mắc ung thư vú (p0,05)
3.5.2 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và kiến thức về ung thƣ vú, tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và kiến thức về ung thƣ vú, tự khám vú
Thực hành tự khám vú
Bệnh UTV là bệnh có thể gây chết người không
UTV có phát hiện sớm đƣợc không
Biết làm thế nào để thực hành tự khám vú
Thực hành tự khám vú có mối liên hệ chặt chẽ với kiến thức về ung thư vú, giúp phát hiện sớm bệnh và nâng cao khả năng thực hiện tự khám vú một cách hiệu quả Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ này có ý nghĩa thống kê với p0,05)
3.5.3 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và nhận thực về ung thƣ vú, tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và nhận thức về ung thƣ vú, tự khám vú
Thực hành tự khám vú
Tự khám vú là quan trọng để phát hiện sớm UTV
Phụ nữ nên thực hành tự khám vú từ 20 tuổi trở lên
Nhận thức về tầm quan trọng của việc tự khám vú là yếu tố quyết định trong việc phát hiện sớm ung thư vú (UTV) Nghiên cứu cho thấy, phụ nữ từ 20 tuổi trở lên nên thực hành tự khám vú, với tỷ lệ thực hành ở nhóm có nhận thức về tầm quan trọng này đạt 50,5%, trong khi chỉ có 14,3% ở nhóm không nhận thức Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (p< 0,05), cho thấy rằng việc nâng cao nhận thức có thể cải thiện tỷ lệ tự khám vú và góp phần vào việc phát hiện sớm bệnh.
Phụ nữ từ 20 tuổi trở lên có nhận thức về thực hành tự khám vú cao hơn đáng kể, với tỷ lệ 49,8%, so với chỉ 17,5% ở những người không có nhận thức Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về tự khám vú để cải thiện tỷ lệ thực hành trong cộng đồng phụ nữ.
Mối liên quan giữa nghe nói về ung thƣ vú với thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
3.5.4 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các khó khăn khi thực hành tự khám vú của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa thực hành tự khám vú và các khó khăn khi thực hành tự khám vú
Thực hành tự khám vú
Không biết làm thế nào để làm điều đó Đồng ý 88 36,1 156 63,9 - -
Không có bất kỳ triệu chứng gì Đồng ý 114 42,5 154 57,5 - -
Sợ hãi khi bị chẩn đoán mắc bệnh UTV Đồng ý 133 46,0 156 54,0 - -
Lo lắng về bệnh UTV khi tự khám vú Đồng ý 86 38,5 140 61,5 - -
Lúng túng khi tự khám vú Đồng ý 56 29,0 137 71,0 - -
Không có đủ sự riêng tƣ để tự khám vú Đồng ý 24 31,2 53 68,8 - -
Tự khám vú mất nhiều thời Đồng ý 10 13,0 67 87,0 - -
Khó chịu khi tự khám vú Đồng ý 17 18,5 75 81,5 - -
Không bao giờ có thể bị UTV Đồng ý 21 27,6 55 72,4 - -
Không tin vào hiệu quả của việc tự khám vú Đồng ý 19 25,7 55 74,3 - -
Không nghĩ rằng tự khám vú là quan trọng Đồng ý 21 22,6 72 77,4 - -
Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều người gặp khó khăn trong việc tự khám vú do thiếu kiến thức và sợ hãi khi đối diện với khả năng mắc bệnh UTV Họ thường cảm thấy lúng túng và cho rằng việc tự khám vú mất nhiều thời gian, dẫn đến việc không nhận thức được tầm quan trọng của nó Kết quả này có ý nghĩa thống kê với p0,05).
BÀN LUẬN
Xác định tỷ lệ phụ nữ có thực hành tự khám vú
Nghiên cứu của chúng tôi đã khảo sát 317 đối tượng, trong đó có 45,7% phụ nữ thực hành tự khám vú Tỷ lệ này cao hơn so với 28,9% của nghiên cứu trước đó của Lưu Thị Thủy tại quận Thanh Khê, Đà Nẵng vào năm 2013 Sự gia tăng này có thể do sự phát triển của các chương trình khám và tư vấn tầm soát ung thư vú miễn phí cho phụ nữ, được tổ chức tại một số bệnh viện ở Đà Nẵng, như Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng.
Các chương trình khám và tư vấn miễn phí về ung thư vú tại Đà Nẵng năm 2015 đã nâng cao kiến thức và thực hành tự khám vú cho phụ nữ, dẫn đến tỷ lệ thực hành cao hơn so với nghiên cứu của Lưu Thị Thủy năm 2013 Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bích tại Hải Dương năm 2009 với 64,7% So với các tác giả quốc tế, tỷ lệ thực hành tự khám vú trong nghiên cứu của Al-Naggar (2011) là 55,4% và của Minhat (2014) là 71,6%, trong khi nghiên cứu của Akhtari-Zavare (2014) tại Hamedan chỉ ghi nhận 26,0% phụ nữ thực hành tự khám vú.
Trong số các phụ nữ thực hiện tự khám vú, có tới 42,8% thực hành hàng tháng, cho thấy tỷ lệ này cao hơn so với nhiều nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Al-Dubai và cộng sự (2012) chỉ ghi nhận 28,5%, hay nghiên cứu của Minhat và cộng sự (2014) với 24,2%, và nghiên cứu của Gwarzo và cộng sự (2009).
[31] là 19,0%, tác giả Akpinar và cộng sự (2011) [16] là 27,3%, tác giả
Nghiên cứu của Ogunbode và cộng sự (2015) cho thấy tỷ lệ tham gia là 12,6% Trong nghiên cứu của chúng tôi, đối tượng từ 18-29 tuổi chiếm 38,5%, trong khi 36,9% có trình độ học vấn trên trung học phổ thông Đặc biệt, 86,8% phụ nữ được phỏng vấn nhận thức được tầm quan trọng của việc tự khám vú trong việc phát hiện sớm ung thư vú, và 47% thông tin họ nhận được từ nhân viên y tế.
Tỷ lệ phụ nữ thực hiện tự khám vú đúng thời điểm, cụ thể là vài ngày sau khi sạch kinh, chỉ đạt 11,7% trong nghiên cứu của chúng tôi Phần lớn phụ nữ tham gia phỏng vấn cho biết họ chỉ tự khám vú khi nhớ ra, như khi tắm hoặc trước khi đi ngủ Điều này cho thấy sự thiếu hụt kiến thức về thời điểm lý tưởng để tự khám vú, dẫn đến việc thực hành này chưa hiệu quả trong việc phát hiện sớm các bất thường ở vú.
Đa số phụ nữ bắt đầu thực hành khám vú sau 20 tuổi, chiếm 93,1% Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Al-Dubai và cộng sự (2012), cho thấy 77,2% phụ nữ thực hiện khám vú sau 19 tuổi.
Tỷ lệ phụ nữ thực hiện tự khám vú gần đây đạt 51,7%, cho thấy sự gia tăng nhận thức về tầm quan trọng của việc này so với nghiên cứu của Al-Dubai và cộng sự (2012), chỉ ghi nhận 14,6% phụ nữ thực hiện khám trong một tháng trước đó Kết quả cho thấy rằng phần lớn phụ nữ trong nghiên cứu của chúng tôi đã chú trọng đến việc tự khám vú định kỳ hàng tháng, điều này phản ánh sự nâng cao nhận thức về sức khỏe của họ.
Trong quá trình tự khám vú, phụ nữ thường chú trọng đến việc dùng ngón tay để cảm nhận tổ chức vú và kiểm tra hạch ở nách, nhưng lại ít thực hiện việc quan sát ngực trước gương và kiểm tra dịch từ đầu vú Điều này cho thấy họ chưa thực hiện đầy đủ các bước cần thiết trong việc tự khám Nguyên nhân chủ yếu của việc tự khám vú là để kiểm tra định kỳ, trong khi một số ít thực hiện do có tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc cảm thấy có sự thay đổi ở vú Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Al-Dubai và cộng sự.
Kết quả nghiên cứu năm 2012 cho thấy phụ nữ ngày càng quan tâm đến sức khỏe của bản thân, không chỉ khi có triệu chứng bệnh mà còn thực hiện việc kiểm tra định kỳ để phát hiện sớm những bất thường ở vú.
Xác định những yếu tố liên quan đến thực hành tự khám vú của phụ nữ 55 KẾT LUẬN
4.2.1 Liên quan giữa thực hành tự khám vú và các đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan thống kê giữa nhóm tuổi và thực hành tự khám vú (p>0,05), kết quả này cũng được xác nhận bởi Balogun và cộng sự (2005) tại Nigeria Tuy nhiên, các nghiên cứu khác như của Nguyễn Ngọc Bích và cộng sự (2009) cùng với Al-Naggar và cộng sự ở Malaysia lại cho thấy có sự liên quan giữa tuổi tác và thực hành tự khám vú.
(2011) [19], Alsaif (2004) [20], Jarvandi và cộng sự (2002) [32], và Perssan và cộng sự (1997) [45]
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên hệ thống kê giữa thực hành tự khám vú và trình độ học vấn (p