1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu điều chế tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải thuốc kháng lao pyrazinamid

68 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu điều chế tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải thuốc kháng lao pyrazinamid
Tác giả Trương Như Kiều Phượng
Người hướng dẫn TS. Phạm Đình Duy
Trường học Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Nghệ Dược Phẩm Và Bào Chế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH ---TRƯƠNG NHƯ KIỀU PHƯỢNG NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TIỂU PHÂN MICRO TÍCH HỢP CÁC TIỂU PHÂN NANO TẢI THUỐC KHÁNG LAO PYRAZINAMID Luậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-TRƯƠNG NHƯ KIỀU PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TIỂU PHÂN MICRO TÍCH HỢP CÁC TIỂU PHÂN NANO TẢI THUỐC KHÁNG LAO

PYRAZINAMID

Luận văn Thạc sĩ Dược học

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-TRƯƠNG NHƯ KIỀU PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TIỂU PHÂN MICRO TÍCH HỢP CÁC TIỂU PHÂN NANO TẢI THUỐC KHÁNG LAO

PYRAZINAMID

Chuyên ngành: Công nghệ dược phẩm và Bào chế

Mã số: 60.72.04.02

Luận văn Thạc sĩ Dược học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM ĐÌNH DUY

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trongluận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

Trương Như Kiều Phượng

Trang 4

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHÉ TIỂU PHÂN MICRO TÍCH HỢP CÁC TIỂU PHÂNNANO TẢI THUỐC KHÁNG LAO PYRAZINAMID

từ các tiểu phân nano (trojan) mang thuốc kháng lao được phân phối trực tiếp đến phổiđược quan tâm phát triển Đầu tiên Pyrazinamid được nang hóa trong tiểu phân nanoPLGA bằng phương pháp nhũ tương kép – bay hơi dung môi Sau đó, các hạt Trojanđược tạo ra bằng cách phun 1,2 - Dipalmitoyl-sn-Glycero-3-Phosphocholine (DPPC),acid hyaluronic (HA), Leucin và hỗn dịch nano Kết quả, điều điều chế được tiểu phânmicro tích hợp các tiểu phân nano tải thuốc kháng lao Pyrazinamid với MMAD 4,9 ±0,2µm, GSD 2,4 ± 0,1, FPF 51,2 ± 5,6% , AF 32,6 ± 4,3% Hình ảnh SEM cho thấytiểu phân trojan có cấu trúc hình cầu, rỗng, bề mặt không đều và có sự hiện diện củacác tiểu phân nano trên bề mặt Giá trị FPF cao (51,2%) cho thấy thuốc lắng tốt tạiphổi

Trang 5

RESEACH OF PREPARE MICROPARTICLES INTEGRATED PYRAZINAMID LOADED NANOPARTICLES FOR TREATING TUBERCULOSIS

-Truong Nhu Kieu Phuong

Instructor: Dr Pham Dinh Duy

ABSTRACT

Pyrazinamide is one of the important anti-TB drugs used in the early stages of TBtreatment In particular, PZA is the only anti-TB drug that can shorten treatmentduration from 9-12 months to 6 months Current treatments often involve serious sideeffects that lead to poor compliance A new treatment to overcome this problem is tobring the drug into the body by inhalation rather than by mouth or by injection In theform of powder consisting of microparicles integrated from the nanoparticles (trojans)carrying anti-TB drugs distributed directly to the lungs are interested in developing.Pyrazinamide is first synthetized in PLGA nanoparticles by double emulsion - solventevaporation Then, the Trojan particles were formulated by spray drying 1.2 -Dipalmitoyl-sn-Glycero-3-Phosphocholine (DPPC), hyaluronic acid (HA), leucine andnano suspension As a result, good aerodynamic properties for lung delivery wereobtained with a MMAD of 4,9 ± 0,2µm, a GSD of 2,4 ± 0,1, a FPF of 51,2± 5,6%,

an AF of 32,6 ± 4,3% The SEM image shows that the Trojan particle has a sphericalstructure, hollow, irregular surface, and presence of nanoparticles on the surface Thehigher FPF value (51,2%) showing good lung deposition and providing better localtargeting of lungs

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 BỆNH LAO VÀ HÓA TRỊ LIỆU HIỆN NAY 3

1.2 PYRAZINAMID 6

1.2.1 Tính chất lý hóa 6

1.2.2 Tác động dược lý: 7

1.2.3 Dược động học 7

1.2.4 Chỉ định 8

1.2.5 Chống chỉ định 8

1.2.7 Tác dụng không mong muốn (ADR) 8

1.3 HỆ THỐNG PHÂN PHỐI THUỐC ĐẾN PHỔI TRONG ĐIỀU TRỊ LAO 9

1.3.1 Tiểu phân nano tải thuốc kháng lao 9

1.3.2 Tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải thuốc kháng lao 11

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THUỐC KHÁNG LAO DÙNG BẰNG ĐƯỜNG HÍT 12

2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 NGUYÊN LIỆU VÀ TRANG THIẾT BỊ 14

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.2.1 Tiểu phân nano PLGA 17

2.2.1.1 Phương pháp điều chế 17

2.2.1.2 Khảo sát đặc tính lý hóa 18

2.2.1.3 Khảo sát sự phóng thích PZA in vitro 19

2.2.2.Tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano PLGA 20

2.2.2.1 Phương pháp điều chế 20

2.2.1.1 Khảo sát đặc tính lý hóa 21

2.2.2.3 Khảo sát đặc tính khí động học của dạng bột khô hít [10] 22

2.2.2.4 Khảo sát sự phóng thích PZA invitro 23

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

Trang 7

3.1 CẢI THIỆN HIỆU SUẤT BẮT GIỮ VÀ KHẢ NĂNG TẢI THUỐC CỦA TIỂU

PHÂN NANO PLGA 24

3.1.1 Thay đổi điều kiện điều chế nano 24

3.1.2 Khảo sát một số chất cải thiện hiệu suất bắt giữ và khả năng tải thuốc của tiểu phân nano 25

3.2 KHẢO SÁT SỰ PHÓNG THÍCH HOẠT CHẤT IN VITRO CỦA TIỂU PHÂN NANO 26

3.2.1 Kết quả khảo sát sự phóng thích PZA của CT1 28

3.2.2 Kết quả khảo sát sự phóng thích PZA của CT2 30

3.2.3 Kết quả khảo sát sự phóng thích PZA của CT6 33

3.2.4 Kết quả khảo sát sự phóng thích PZA của CT8 36

3.2.5 Kết quả khảo sát sự phóng thích PZA của CT10 39

3.3 KẾT QUẢ TÍCH HỢP CÁC TIỂU PHÂN NANO TẢI PZA THÀNH TIỂU PHÂN MICRO (TROJAN) 43

3.3.1 Các đặc tính hóa lý 43

3.3.2 Khảo sát đặc tính khí động học của dạng bột khô hít 47

3.3.3 Khảo sát sự phóng thích PZA invitro 49

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

4.1 KẾT LUẬN 52

4.2 ĐỀ NGHỊ 54

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Phác đồ điều trị lao cho người trường thành mới mắc [20] 5

Bảng 1 2 Tiểu phân nano tải thuốc kháng lao đã được nghiên cứu 11

Bảng 2 1 Các nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu 14

Bảng 2 2 Các trang thiết bị sử dụng trong nghiên cứu 16

Bảng 2 3 Hướng dẫn tính khối lượng tích lũy của bột 23

Bảng 3.1 Công thức tham khảo ban đầu (CT1*) 24

Bảng 3.2 Đặc tính của nano PLGA tải PZA trước và sau khi thay đổi điều kiện điều chế 24

Bảng 3.3 Các công thức điều chế nano PLGA tải PZA khảo sát 25

Bảng 3.4 Hiệu suất bắt giữ và khả năng tải PZA của nano PLGA 26

Bảng 3 5 Kết quả phóng thích PZA của CT1 (n=3) 28

Bảng 3 6 Kết quả phóng thích của CT2 ( n = 3) 31

Bảng 3 7 Kết quả phóng thích PZA của CT6 (n=3) 34

Bảng 3 8 Kết quả phóng thích PZA của công thức 8 (n=3) 37

Bảng 3 9 Kết quả phóng thích PZAcủa công thức 10 (n=3) 40

Bảng 3 10 Kết quả phân tích hồi quy dữ liệu phóng thích PZA của CT1, CT2, CT6, CT8, CT10 42

Bảng 3 11 Kết quả đánh giá khí động học của bột khô hít 47

Bảng 3 12 Giá trị đặc tính khí động học của Trojan 48

Bảng 3 13 Kết quả phóng thích của PZA-LPPs 49

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1 Công thức cấu tạo của Pyrazinamid 6

Hình 1 2 Sự ảnh hưởng của kích thước hạt trong sự lắng đọng phổi và thực bào do các đại thực bào phế nang 9

Hình 1 3 Cấu tạo của tiểu phân trojan 12

Hình 1 4 Các giai đoạn phóng thích hoạt chất từ tiểu phân trojan 12

Hình 2 1 (a) Thiết bị Andersen cascade impactor, (b) Ống hít 22

Hình 3.1 Kích thước và phân bố kích thước hạt của CT1, CT2, CT6, CT8 và CT10 27 Hình 3 2 Biểu đồ phần trăm PZA phóng thích theo thời gian của CT1 28

Hình 3 3 Các phương trình động học của CT1 29

Hình 3 4 Biểu đồ phần trăm PZA phóng thích theo thời gian của CT2 30

Hình 3 5 Các phương trình động học của CT2 32

Hình 3 6 Biểu đồ phần trăm PZA phóng thích theo thời gian của CT6 33

Hình 3 7 Các phương trình động học của CT6 35

Hình 3 8 Biểu đồ phần trăm PZA phóng thích theo thời gian của CT8 36

Hình 3 9 Các phương trình động học của CT8 38

Hình 3 10 Biểu đồ phần trăm PZA phóng thích theo thời gian của CT10 39

Hình 3 11 Các phương trình động học của CT10 41

Hình 3 12 Biểu đồ phần trăm PZA phóng thích theo thời gian của CT1, CT2, CT6, CT8, CT10 42

Hình 3 13 Hình ảnh chụp SEM của tiểu phân nano PLGA 43

Hình 3 14 Biểu đồ phân bố kích thước tiểu phân Trojan 44

Hình 3 15 Hình ảnh SEM của PZA-LPPs 45

Hình 3 16 DSC của PZA-LPPs 46

Hình 3 17 XRD của PZA-LPPs 46

Hình 3 18 Đường tuyến tính đường kính giới hạn theo % khối lượng tích lũy 48

Hình 3 19 Biểu đồ phóng thích PZA theo thời gian của PZA-LPPs 49

Hình 3 20 Các phương trình động học của PZA-LPPs 50

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Qui trình điều chế nano PLGA tải PZA 18

Sơ đồ 2.2 Qui trình điều chế tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải PZA 21

Trang 11

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Phần bột thuốc thoát ra vớiđường kính khí động học nhỏhơn hay bằng 5 µm

Phần bột thuốc thoát ra vớiđường kính khí động học nhỏhơn hay bằng 3,1 µm

9 MWCO Molecular weight cut off Chọn lọc khối lượng phân tử

acid)

17 TEM Transmission Electron Kính hiển vi điện tử truyền qua

Trang 12

tiểu phân nano

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm do trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis (M.

tuberculosis) Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận trong cơ thể trong đó lao phổi

là thể lao phổ biến nhất và là nguồn lây chính cho người xung quanh Các ước tínhmới của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy có 10,4 triệu ca mắc bệnh lao trong năm 2015

và 1,8 triệu ca tử vong do bệnh lao [30] Việt Nam cũng nằm trong nhóm 30 quốc gia

có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc cao chiếm khoảng 85% số ca bệnh lao khángthuốc ước tính trên toàn cầu (5.200 trường hợp lao đa kháng thuốc/năm) [30]

Việc trị liệu hiện nay thường liên quan đến tác dụng phụ nghiêm trọng dẫn đến bệnhnhân kém tuân thủ Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện nhữngchủng vi khuẩn đa đề kháng [8] Trong khi chờ đợi nghiên cứu những thuốc kháng laomới, việc tối ưu hóa sử dụng 2 thuốc kháng lao Rifampicin và Pyrazinamid là hết sứcquan trọng trong điều trị lao[17]

Một hướng điều trị mới nhằm khắc phục vấn đề này là đưa thuốc vào cơ thể theođường hô hấp thay vì đường uống hoặc tiêm Dạng bột khô xông hít ngày càng đượcphát triển cho việc phân phối thuốc dạng khí dung để điều trị lao phổi Trong đó dạngbột thuốc gồm những hạt micro tích hợp từ các tiểu phân nano mang thuốc kháng laođược phân phối trực tiếp đến phổi được quan tâm phát triển Khi các hạt bột được phânphối tới phế nang của phổi thì các tiểu phân nano mang thuốc sẽ được phóng thích ra

và được thực bào bởi các đại thực bào, do đó tạo thuận lợi cho việc đưa thuốc trực tiếpvào trong các tế bào nhiễm trực khuẩn lao với những ưu điểm đạt được nồng độ caocục bộ trong phổi cải thiện hiệu quả điều trị, ngăn chặn sự đa kháng thuốc, giảm đượcliều lượng và tần số sử dụng, do đó dẫn đến ít độc tính và cải thiện sự tuân thủ điều trịcủa bệnh nhân

Pyrazinamid (PZA) là một trong những thuốc kháng lao quan trọng được dùng tronggiai đoạn đầu của điều trị lao Nó được sử dụng kết hợp với các thuốc kháng lao khác

để điều trị lao nhạy cảm và lao đa kháng thuốc Đặc biệt, PZA là thuốc kháng lao duynhất có khả năng rút ngắn thời gian điều trị từ 9-12 tháng xuống còn 6 tháng [13] Gầnđây, tác giả Phạm Đình Duy và công sự (2015) đã nghiên cứu điều chế tiểu phân nano

Trang 14

PLGA tải thuốc kháng lao Pyrazinamid Nghiên cứu đã điều chế được tiểu phân nanoPLGA tải Pyrazinamid có kích thước 170 nm, chỉ số phân tán PDI < 0,1, thế zetakhoảng 1 mV, hiệu suất bắt giữ 7-8% và khả năng tải thuốc 3,1% [21] Dựa trên nhữngkết quả đã đạt được này, đề tài tiếp tục nghiên cứu cải thiện khả năng bắt giữPyrazinamid của tiểu phân nano PLGA và tích hợp các tiểu phân nano thành tiểu phânmicro phù hợp cho việc phân phối thuốc đến phổi.

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu với mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu điều chế tiểu phân nano poly (lactide-co-glycolide acid) (PLGA) tảiPZA

- Khảo sát khả năng phóng thích PZA của các tiểu phân nano

- Điều chế tiểu phân micro tích hợp từ các tiểu phân nano chứa PZA từ các tiểu phânnano PLGA

- Đánh giá khí động học invitro của các tiểu phân micro tích hợp từ các tiểu phân nano.

Trang 15

1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 BỆNH LAO VÀ HÓA TRỊ LIỆU HIỆN NAY

Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên Mycobacterium tuberculosis và 7 loài Mycobacterium bovis, Mycobacterium

africanum, Mycobacterium microti, Mycobacterium caprae, Mycobacterium pinnipedii, Mycobacterium canetii, Mycobacterium mungi được gọi là M.tuberculosis

complex có thể gây bệnh ở người Trực khuẩn lao vào cơ thể qua đường hô hấp là phổbiến nhất [3], [20], bệnh nhân lao phổi khi ho hoặc hắt hơi sẽ tạo ra các hạt rất nhỏ cóchứa trực khuẩn lao lơ lửng trong không khí, phân tán xung quanh người bệnh, ngườilành hít phải các hạt này khi hô hấp có thể bị lây nhiễm Trực khuẩn lao theo đường hôhấp trên và cuống phổi vào phế nang phổi, các tế bào bảo vệ được huy động tới, chủyếu là đại thực bào, để tiêu diệt chúng [3] Nhưng một số trực khuẩn không bị tiêu diệttiếp tục phát triển nhân lên trong đại thực bào phế nang hình thành nên những nốt sần.Giai đoạn này gọi là lao tiềm ẩn, khi hệ thống miễn dịch suy yếu những nốt sần này vỡ

ra, trực khuẩn lao được phóng thích sẽ theo bạch huyết và dòng máu đến các bộ phậnkhác của cơ thể Những nơi mà bệnh lao có nhiều khả năng phát triển như não, thanhquản, hạch bạch huyết, phổi, xương sống và thận Nếu trực khuẩn lao xâm nhập vàodòng máu và lan tỏa khắp cơ thể, chúng tạo ra vô số ổ nhiễm, trường hợp này gọi làlao kê và có tiên lượng nặng Trong vòng 2-12 tuần, khi trực khuẩn lao tiếp tục pháttriển trong phổi, đại thực bào thực bào chúng Giai đoạn này dương tính trong phảnứng da với Tuberculine Trực khuẩn lao được giữ trong vỏ cứng (nhiễm lao) Chúng cóthể tồn tại ở thể ngủ bên trong đại thực bào trong nang trong nhiều năm Ở một vàingười, trực khuẩn lao vượt qua hệ thống miễn dịch và nhân lên rất nhanh, kết quả là từnhiễm lao chuyển sang bệnh lao Người bệnh lao thường truyền và phát tán vi khuẩncho người khác Quá trình chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao có thể ngay lập tức hoặcsau nhiều năm nhiễm lao Dịch cơ thể hoặc những mô tại vị trí bệnh nên được thu thậpcho việc phết tìm trực khuẩn kháng cồn và kháng acid và nuôi cấy Kết quả cấy dươngtính giúp xác định chẩn đoán bệnh lao Bệnh nhân lao phổi thường bị ho và X quangphổi bất thường và có thể lây nhiễm [20]

Trang 16

Mục đích của hóa trị liệu hiện nay là chữa khỏi bệnh và không tái phát; giảm thiểunguy cơ tử vong và tàn phế; ngăn ngừa truyền vi khuẩn lao sang những người khác;phòng tránh sự xuất hiện của chủng vi khuẩn lao kháng thuốc Để đạt được mục đíchnày, việc điều trị vi khuẩn lao hoạt động không nên dùng một loại thuốc duy nhất hoặc

sử dụng phối hợp thêm thuốc vào phác đồ điều trị thất bại Kết quả dẫn đến sự pháttriển của vi khuẩn lao đa đề kháng Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới(2016), việc điều trị lao và những trường hợp kháng thuốc đòi hỏi sự kết hợp của phác

đồ đa thuốc trong thời gian dài Giai đoạn tấn công đầu tiên bao gồm sự kết hợp của 3hay nhiều hơn những thuốc chống lao hàng đầu tiên ít nhất 2 tháng để giảm sự phânchia nhanh chóng của trực khuẩn lao Trong giai đoạn duy trì, sự kết hợp 2 hoặc 3thuốc được dùng ít nhất 4 tháng để diệt hết các trực khuẩn lao trong tổn thương, tránhtái phát Hiện tại, thuốc kháng lao thuộc hàng đầu tiên gồm 5 chất: isoniazid (H),rifampicin (R), pyrazinamid (Z), ethambutol (E) và streptomycin (S) Thuốc kháng laothuộc hàng thứ 2 gồm: ethionamid (ETH) hay prothionamide, kanamycin (KM) hoặcamikacin (AMK), terizidone/cycloserin (CS), capreomycin (CAP), viomycin và paraamino salicylic acid (PAS)[20] Các thuốc dòng thứ hai dùng điều trị khi các thuốcdòng thứ nhất thất bại hoặc khi nhiễm lao đa kháng thuốc, những thuốc này ít hiệuquả, độc tính cao, và không có sẵn ở một số nước do giá thành cao Gần đây có 2thuốc mới là Bedaquilin và Delanamid được chấp thuận để điều trị lao đa kháng thuốc.Việc trị liệu hiện nay thường liên quan đến tác dụng phụ nghiêm trọng dẫn đến bệnhnhân kém tuân thủ Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện nhữngchủng vi khuẩn đa đề kháng [8] Trong khi chờ đợi nghiên cứu những thuốc kháng laomới, việc tối ưu hóa sử dụng 2 thuốc kháng lao Rifampicin và Pyrazinamid là hết sứcquan trọng trong điều trị lao Rifampicin có thể cải thiện bằng cách tăng liều, hoặc tạo

ra dạng thuốc có tác dụng kéo dài nhưng với Pyrazinamid thì việc tăng liều bị hạn chếbởi độc tính Do đó, dùng Pyrazinamid qua đường hít đang rất được quan tâm Dùngthuốc bằng đường hít phải cho phép thuốc phân phối đến vị trí tổn thương nhanhchóng và không có độc tính đầu tiên Những tiểu phân trojan được điều chế bằng

Trang 17

phương pháp sấy phun chứa những tiểu phân nhỏ hơn có thể cải thiện sự định vị trongphế nang và bền hơn trong quá trình bảo quản[17], [28].

Hiện nay Chương trình chống lao quốc gia ở nước ta đang thực hiện chiến lược điều trịlao do Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo là điều trị hoá trị liệu ngắn ngày có kiểm soáttrực tiếp, viết tắt là DOTS (Directly Observed Treatment Short – course).[1]

Phác đồ dùng điều trị lao cho người trưởng thành mới mắc

Bảng 1 1 Phác đồ điều trị lao cho người trường thành mới mắc [20]

Ghi chú:

Có một mã chuẩn dùng cho các công thức điều trị lao Mỗi thuốc chống lao có một tênviết tắt bằng chữ cái: H = isoniazid, R = rifampicin, S = Streptomycin, Z =pyrazinamid, E = ethambutol Một công thức có 2 giai đoạn Con số đứng trước mộtgiai đoạn là thời gian của giai đoạn đó tính bằng tháng Con số đứng dưới và sau mộtchữ cái là số lần dùng thuốc đó trong một tuần Nếu không có con số nào đứng dưới vàsau một chữ cái thì thuốc đó được dùng điều trị hàng ngày Các thuốc để lựa chọndùng thay thế được biểu thị bằng chữ cái ở trong các ngoặc đơn

Trang 18

Dấu "/" phân cách các giai đoạn điều trị (giai đoạn điều trị tấn công ban đầu và giaiđoạn điều trị duy trì củng cố).

Dùng thuốc bằng đường uống dễ sử dụng, chi phí thấp Tuy nhiên phải dùng liều caokéo dài mới có tác dụng diệt khuẩn tại vị trí tổn thương, do thuốc bị chuyển hóa quagan một phần So với đường uống, đường tiêm và đường phổi có sinh khả dụng caohơn Tuy nhiên đường tiêm gây đau và cần có sự hỗ trợ của nhân viên y tế Phân phốithuốc trực tiếp bằng đường phổi hiện nay đang được quan tâm phát triển [8], [20]

- Bột kết tinh trắng hay gần như trắng, không mùi

- PZA có thể xuất hiện ở 4 dạng thù hình.: α thu được trong ethanol ở nhiệt độ phòng,

β - thu được trong ethanol ở 00, ɣ thu được bởi phản ứng tổng hợp, δ thu được trongnitromethan ở 80 - 1400 và trong tetracloroethane ở nhiệt độ phòng hoặc trong hỗn hợphexan-ethyl alcohol

- Độ ổn định: PZA bền ở trạng thái rắn, PZA không bị phân hủy bởi ẩm, không khí khô

và ánh sáng tự nhiên

- Độ tan trong nước ở 38 0C: 2,65, methanol: 1,63, ethanol: 0,74 ( g/100g)

- Quang phổ hấp thu IR: so sánh với phổ của chất chuẩn

- UV (λmax 268nm)

- Đun sôi với NaOH cho mùi amoniac

Trang 19

- Nhiệt độ nóng chảy: 188 0 C 191 0C

1.2.2 Tác động dược lý:

Pyrazinamid (PZA) được dùng chuyên biệt để trị lao PZA là thuốc hàng đầu khi thêmvào phác đồ cùng với isoniazid, ethambutol, rifampicin, streptomycin trong điều trị laonhạy cảm hay đề kháng PZA ít độc và hiệu quả hơn nhiều thuốc chống lao khác nhưaminosalicylic acid, capreomycin, cycloserin, ethionamid, và kanamycin PZA đượcFDA cho phép sử dụng 1955 [1], [17] Là một thuốc trong đa hóa trị liệu chống lao,chủ yếu dùng trong 8 tuần đầu của hóa trị liệu ngắn ngày PZA là thuốc kháng lao duynhất có khả năng rút ngắn thời gian điều trị từ 9-12 tháng xuống còn 6 tháng [31]

Cơ chế tác động chính xác của Pyrazinamid hiện nay chưa biết M Tuberculosis nhạy

cảm giải phóng Pyrazinamidase, enzym này biến PZA thành acid pyrazinoic (POA)

POA có thể đóng vai trò trong tác động sinh học Trên invitro đã thấy POA làm giảm

pH ở dưới pH cần thiết cho sự phát triển của M Tuberculosis Cơ chế tác động của tiền

chất PZA chưa được làm sáng tỏ PZA có tác dụng kìm khuẩn hay diệt khuẩn tùy vàonồng độ thuốc tại tổn thương và sự nhạy cảm của vi khuẩn PZA hiệu quả nhất đối với

dạng vi khuẩn lao trong thực bào M Tuberculosis là vi khuẩn duy nhất thuốc có tác

dụng [1], [17]

1.2.3 Dược động học

Theo hệ thống phân loại sinh dược học (BCS), pyrazinamid thuộc nhóm III, độ tan

cao, tính thấm thấp [16], MIC của Pyrazinamid là 50 µg/mL đối với vi khuẩn M.

tuberculosis ở pH tối ưu 5,5 diệt được vi khuẩn lao [25].

Pyrazinamid được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa Nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạtđược 2 giờ sau khi uống một liều 1,5 g là khoảng 35 microgam/ml và với liều 3 g là 66microgam/ml Thuốc phân bố vào các mô và dịch của cơ thể kể cả gan, phổi, dịch nãotủy Nồng độ thuốc trong dịch não tủy tương đương với nồng độ ổn định trong huyếttương ở những người bệnh viêm màng não Pyrazinamid gắn với protein huyết tươngkhoảng 10%

Thời gian bán thải của thuốc là 9 - 10 giờ, dài hơn khi bị suy thận hoặc suy gan.Pyrazinamid bị thủy phân ở gan thành chất chuyển hóa chính có hoạt tính là acid

Trang 20

pyrazinoic, chất này sau đó bị hydroxyl hóa thành acid 5 - hydroxy pyrazinoic Thuốcđào thải qua thận, chủ yếu do lọc ở cầu thận Khoảng 70% liều uống đào thải trongvòng 24 giờ [1].

1.2.4 Chỉ định

Ðiều trị lao mới chẩn đoán hoặc tái trị bệnh lao phổi và ngoài phổi, chủ yếu ở giaiđoạn tấn công ban đầu, thường phối hợp với isoniazid và rifampicin theo Hiệp hộichống lao và bệnh phổi thế giới (IUATLD) và tổ chức y tế thế giới (WHO) (Chươngtrình chống lao Việt Nam: Pyrazinamid thường phối hợp với isoniazid, streptomycin

và rifampicin)[1] POA quan trọng trong phác đồ điều trị lao nhạy cảm và lao khángthuốc[17], [20]

Phản ứng có hại thông thường nhất là gây độc cho gan và phụ thuộc vào liều dùng.Gan: Viêm gan

Chuyển hóa: Tăng acid uric máu có thể gây cơn gút

Xương, khớp: Ðau các khớp lớn và nhỏ

Liều lượng:

Đường uống cho cả người lớn và trẻ em:

25 mg/kg/ngày (20 - 30 mg/kg/ngày) khi điều trị hằng ngày

35 mg/kg/ngày (30 - 40 mg/kg/ngày) khi điều trị cách quãng, tuần 3 ngày ít được sửdụng và khuyến cáo

50 mg/kg/ngày (40 - 60 mg/kg/ngày) khi điều trị cách quãng, tuần 2 lần (cách 2 ngày).Rất ít được sử dụng và không được khuyến cáo trong các công thức điều trị của WHO[1]

Trang 21

1.3 HỆ THỐNG PHÂN PHỐI THUỐC ĐẾN PHỔI TRONG ĐIỀU TRỊ LAO

Vị trí của những chất trị liệu bằng đường hít thường phụ thuộc vào một vài thông sốnhư: kích thước tiểu phân, hình dạng, tỷ trọng, sự hấp thu tĩnh điện, phân bố kíchthước khí động học của tiểu phân Kích thước tiểu phân quan trọng trong việc đạt được

vị trí sâu trong phổi Những tiểu phân có đường kính khí động học (MMAD) trên 5

µm có xu hướng lắng đọng ở miệng và đường hô hấp trên Những tiểu phân có đườngkính từ 1 đến 5 µm có xu hướng lắng đọng sâu tại phổi, dưới 1 µm lắng đọng sâu tạiphế nang phổi, kích thước hạt từ 50 – 200 nm là kích thước mong muốn trong điều trịnhắm đến mục tiêu là đại thực bào [7], [11], [29] Hình 1.1 Thuốc dùng bằng đườngphổi phải dùng dụng cụ thích hợp, có 3 loại dụng cụ được dùng là thiết bị phun khídung (Nebulizers), thiết bị hít dùng cho thuốc ở dạng bột khô (Dry Powder Inhalers),Thiết bị hít định liều (Metered Dose Inhaler), dạng hít dùng cho thuốc ở dạng bột khôphổ biến hơn do những ưu điểm có thể cầm tay, dễ sử dụng, giá thành thấp, khôngchứa khí đẩy [7], [8]

Hình 1 2 Sự ảnh hưởng của kích thước hạt trong sự lắng đọng phổi và thực bào do

các đại thực bào phế nang

1.3.1 Tiểu phân nano tải thuốc kháng lao.

Tiểu phân nano là các tiểu phân phân tán cấu tạo đa phân tử có kích thước từ 1 đến1.000 nm Với một cấu trúc thiết kế thích hợp, tiểu phân nano có vai trò như một

Trang 22

phương tiện vận chuyển chuyên biệt, đảm bảo chuyển giao hoạt chất đến đích sinh họctheo đường dùng phù hợp vào cơ thể người Dạng bào chế này thường được gọi làthuốc điều trị tại đích và các tiểu phân phân tán được gọi là tiểu phân vận chuyển [2].Trong cơ thể các tiểu phân nano tải thuốc thường được phóng thích từ khung xốp bằngcách khuếch tán, trương nở, làm mòn Gần đây, nhiều nghiên cứu đang tập trung vàocác tiểu phân nano có thể phân phối bằng đường qua phổi Bảng 1.2, đặc biệt là cáctiểu phân nano polymer, tiểu phân nano lipid rắn, nano liposome, nano micell, qua đócho thấy việc phân phối trực tiếp thuốc chống lao đến phổi có những lợi điểm như:giảm độc tính, đạt nồng độ thuốc cao hơn tại vị trí nhiễm trùng và không phải trải quachuyển hóa lần đầu, khả năng xuyên màng chống lại sự đề kháng thuốc của vi khuẩn[15], [20] Hiệu quả của tiểu phân nano tải thuốc kháng lao phân phối đường phổi đãđược chứng minh trong một số nghiên cứu về dược động học và hiệu quả kháng khuẩnthử trên chuột lang Một liều xông hít của RMP, INH và PZA được nang hóa trong tiểuphân nano poly(lactide-co-glycolide) đã cho kết quả là nồng độ thuốc được duy trìtrong huyết tương 6 đến 8 ngày và trong phổi đến 10 ngày Tương tự, xông hít các tiểuphân nano đến chuột lang bị nhiễm trực khuẩn lao mỗi 10 ngày, sau 5 liều điều trịkhông có trực khuẩn lao nào được tìm thấy ở phổi trong khi dùng 46 liều thuốc đườnguống hàng ngày mới đạt được hiệu quả điều trị tương đương [19].

Bên cạnh những kết quả khả quan vừa đề cập, các tiểu phân nano dạng xông hít cònđạt được nồng độ tải thuốc cao, bám dính vào tế bào niêm mạc tốt hơn, tăng cườngphân phối thuốc đến phổi Hơn nữa, tiểu phân nano được hấp thu hiệu quả bởi các đạithực bào nơi trực khuẩn lao cư trú, được điều chế từ những nguyên vật liệu tương thíchsinh học và phân hủy sinh học như alginate, PLGA, gelatin hay những lipid rắn Trong

đó Poly (acid lactic-co-glycolic) (PLGA) được sử dụng khá phổ biến PLGA có một sốtính chất thú vị như kiểm soát và phóng thích duy trì, ít gây độc tế bào, tính ứng dụngsinh y học lâu năm, khả năng tương thích sinh học với các mô và tế bào, thời gian cư

trú kéo dài và phân phối mục tiêu [26], thử độc tính in vivo tiểu phân nano PLGA cho

thấy độc tính thấp và an toàn đối với phổi, không thấy sự thay đổi nào đối với sự giảiphóng lactate dehydrogenase, biểu hiện protein gây viêm tế bào [5]

Trang 23

Bảng 1 2 Tiểu phân nano tải thuốc kháng lao đã được nghiên cứu.

Rifampicin Tiểu phân micro mannitol

chứa tiểu phân nano PLGA

Phun khô

Capreomycin Oleate, linolenate linoleate Phun khô bột nano

1.3.2 Tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải thuốc kháng lao.

Tiểu phân xốp lớn (LPPs: Large porous particles) đặc trưng bởi kích thước hình họclớn hơn 5 μm và tỉ trọng nhỏ hơn hay bằng 0,1 g /cm3 Với ưu điểm là đạt đường kínhkhí động học lý tưởng để lắng đọng ở vùng phế nang, đạt được nồng độ cao trongphổi Tuy nhiên do kích thước lớn nên không được sự thực bào của đại thực bào phếnang [19], [28] nên không hiệu quả với vi khuẩn lao cư trú bên trong đại thực bào [28],[31]

Các hạt có đường kính nhỏ hơn vài trăm nanometer có ưu điểm khi lắng đọng các hạtnano hay các hạt “siêu mịn” thường vẫn ở trong dịch màng phổi cho đến khi bị hòatan, thoát khỏi cơ chế làm sạch đường dẫn khí, do đó sự lắng đọng của các tiểu phânnano mang thuốc trong phổi giúp phóng thích và duy trì thuốc trong ống (lumen) phổi.Không những trong phổi sâu mà còn trong phế nang nơi xảy ra sự tiêu trừ của đại thựcbào Tuy nhiên sự lắng đọng trong phổi của các tiểu phân nano bị hạn chế nhiều bởichúng bị thở ra khỏi phổi sau khi được hít vào Hơn nữa do kích thước nhỏ, các tiểuphân nano có thể sát nhập vào nhau, không bền trong thời gian bảo quản khi ở dạngbột khô [14], [17], [28]

Để khắc phục vấn đề này một dạng hạt micro tích hợp từ các tiểu phân nano (Trojanparticles) được đề xuất đầu tiên bởi Tsapis và cộng sự (2002) Những hạt micro tíchhợp từ các tiểu phân nano được điều chế bằng phương pháp sấy phun gồm các tiểuphân nano kết hợp lại với nhau bằng lực Van der Waals hoặc trong khung xốp có thêm

Trang 24

vào các thành phần như polymer sinh học hoặc lipid, Hình 1.2 Những hạt này có tínhchất vật lý và phân phối giống như LPPs như phân phối trực tiếp đến phế nang Bêncạnh đó, những hạt nano được tách ra và có thể được thực bào bởi các đại thực bào vàthuốc phóng thích có kiểm soát, Hình 2.3, để đạt được hiệu quả trị liệu cao [13], [17],[22].

Hình 1 3 Cấu tạo của tiểu phân trojan

Hình 1 4 Các giai đoạn phóng thích hoạt chất từ tiểu phân trojan

Carolina Gómez-Gaete và cộng sự đã điều chế tiểu phân trojan chứa dexamethasonacetat để cải thiện sự khu trú trong mắt trong điều trị viêm Đầu tiên dexamethasonđược bao bằng PLGA tạo ra tiểu phân nano, sau đó tiểu phân trojan được tạo ra bằngphương pháp sấy phun với các tá dược DPPC và HA [13]

Mitchison và cộng sự (2010) cũng đã đề xuất điều chế hạt Trojan chứa Rifampicin vàPyrazinamid để cải thiện sự khu trú trong phế nang [17] Với những ưu điểm nêu trên,,

dạng thuốc này có thể được xem như là một liệu pháp điều trị hiệu quả để giảm tần sốdùng thuốc và thời gian điều trị lao [22]

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THUỐC KHÁNG LAO DÙNG BẰNG ĐƯỜNG HÍT

Phạm Đình Duy và cộng sự (2015) đã nghiên cứu điều chế tiểu phân nano PLGA tảiPyrazinamid, tỷ lệ hoạt chất chiếm 1% trong công thức, tác giả đã sử dụng phương

Trang 25

pháp tạo nhũ tương kép kết hợp với bay hơi dung môi ở nhiệt độ phòng Tác giả đã sửdụng dung môi là Ethyl acetat tối ưu hóa được tỉ lệ PZA/PLGA là 1:2,5, Tỉ lệ pha D/N

là 1:1, nồng độ PVA là 1% Kết quả tạo ra tiểu phân nano có kích thước 170 nm, chỉ sốphân tán PDI < 0,1, thế zeta khoảng 1 mV, hiệu suất bắt giữ 7-8%, khả năng tải thuốc3,1% Tác giả cũng đã điều chế được tiểu phân LPPs bằng phương pháp sấy phun với

tỉ lệ các thành phần đã được tối ưu hóa: 0,9g/L PZA, 0,6 g/L Leucin, 0,2g/L HA,0,3g/L DPPC và 2 g/L AB trong hỗn hợp cồn/nước là 70/30 (tt/tt) với các thông số sấyphun là: nhiệt độ khí vào là 1400C, tốc độ phun dịch 19ml/phút Kết quả thu đượcLPPs có MMAD là 4,1µm, FPF là 40,1 %, AF là 29,6% [21], [22]

Tejal Rawala và cộng sự (2017) đã điều chế và tối ưu hóa tiểu phân nano chitosan tảiRifampicin, dạng bột khô với kích thước 124,1nm với hiệu suất bắt giữ là 72%, bộtđông khô có MMAD là 3,3 ± 0,18 μm, EF là 33,27% cho thấy thuốc lắng đọng tốt ởphổi [23]

Ohashi và cộng sự (2009) đã điều chế tiểu phân nano PLGA tải RIF tích hợp trong tiểuphân micro mannitol (MAN) ((RIF/PLGA)/MAN) có đường kính trung bình lần lượt

là 213 nm và 3,2 μm Xấp xỉ 7% tiểu phân micro này lắng ở tầng 6-7 của dụng cụ phântích đường kính khí động học (Andersen cascade impactor), tương ứng với việc có thể

lắng đọng ở tiểu phế quản và phế nang phổi [18] Trong nghiên cứu in vivo ở chuột về

sự bắt giữ của đại thực bào phế nang đối với (RIF/PLGA)/MAN được đánh giá là caohơn tiểu phân micro MAN tải RIF hay PLGA tải RIF Kết quả này cho thấy các tiểuphân Trojan đã đạt được sự phóng thích thuốc kéo dài trong dịch phổi và trong đạithực bào bị nhiễm và có nồng độ cao hơn nồng độ tối thiểu có hiệu quả đối với vikhuẩn [22]

Trang 26

2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 NGUYÊN LIỆU VÀ TRANG THIẾT BỊ

Các nguyên liệu dung trong điều chế các tiểu phân micro tích hợp từ các tiểu phânnano tải thuốc kháng lao Pyrazinamid được trình bày trong Bảng 2.1

Bảng 2 1 Các nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu

Tên nguyên liệu Tiêu chuẩn Nhà sản xuất Xuất xứ

Gelatin 160 Bloom 7 Mesh Nhà sản xuất Cartino gelatin Thái Lan

Gelatin 180 Bloom 20

Gelatin 200 Bloom 7 Mesh Nhà sản xuất Cartino gelatin Thái Lan

Hyaluronic acid, muối natri

Trang 27

1,2-Dipalmitoyl-sn-glycero-3-phosphocholine

(DPPC)

Phosphat buffer saline

Trang 28

Trang thiết bị

Các trang thiết bị sử dụng trong đề tài được trình bày trong Bảng 2.2

Bảng 2 2 Các trang thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

Bộ đo đường kính khí động học (andersen

Trang 29

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Tiểu phân nano PLGA

2.2.1.1 Phương pháp điều chế

Các tiểu phân nano PLGA tải PZA được điều chế bằng phương pháp nhũ tương képkết hợp với bay hơi dung môi [21] Cụ thể, 1 mL dung dịch nước chứa PZA hoặcphức hợp PZA:HP-β-Cyclodextrin hoặc PZA + gelatin (với tỉ lệ 1%, 3%, 6% và 9%)được nhũ hóa trong 10 mL dung môi ethyl acetat chứa PLGA (tỷ lệ thuốc / polymer là1: 2,5 theo khối lượng) trong 3 phút bằng cách khuấy 18.000 vòng /phút Sau đó, thêmvào nhũ tương trên 10 mL dung dịch gồm 1% polyvinyl acetat và 0,5% NaCl trongnước Hỗn hợp này được tiếp tục khuấy 32.000 vòng /phút trong 5 phút để tạo thànhnhũ tương kép nước trong dầu trong nước (N / D / N) Dung môi EA trong nhũ tươngkép này được loại đi bằng hệ thống bay hơi chân không trong 30 phút Các tiểu phânnano PLGA được thu hồi bằng cách ly tâm (4.000 vòng/phút, 30 phút) với ống siêu lọcvivaspin 50 KDa, tiến trình ly tâm được lặp lại 2 lần với nước cất để loại bỏ dư lượngcủa PVA Cuối cùng, hỗn dịch nano được dùng để điều chế Trojan hoặc thử các đặctính lý hóa hoặc đông khô với trehalose (25 mg / mL) để lưu trữ

Qui trình điều chế nano PLGA tải PZA được thể hiện qua Sơ đồ 2.1

Trang 30

Sơ đồ 2.1 Qui trình điều chế nano PLGA tải PZA

PZA/

phức hợp PZA:HP-β-Cyclodextrin/

PZA + gelatin trong nước

PLGA trong Ethyl acetat

Nhũ hóa(3 phút, tốc độ khuấy 18.000 vòng/ phút)Nhũ tương (N/D)

1% polyvinyl acetat + 0,5% NaCl/H 2 O

Nhũ hóa(5 phút, tốc độ khuấy 32.000 vòng/ phút)

Trang 31

- Hình thể học

Khảo sát hình thể học bằng TEM để đánh giá cấu trúc bên trong của tiểu phân nano.Mẫu hỗn dịch nano được pha loãng 2 lần với nước cất, sau đó được trải trên lưới đồngđược tráng một lớp carbon bằng máy phủ carbon Đặt lưới đồng vào đĩa petri và chovào bình hút ẩm làm khô mẫu trong 24 giờ.Quan sát mẫu dưới TEM

- Hiệu suất bắt giữ và khả năng tải thuốc của tiểu phân nano PLGA

2 mL hỗn dịch nano sau khi loại EA được cho vào mỗi ống vivaspin (50 kDa MWCO)

ly tâm với tốc độ 4.000 vòng/phút trong 30 phút, thu lấy phần dịch xác định lượngPZA tự do bằng máy quang phổ tử ngoại khả kiến ở bước sóng 268 nm

Hiệu suất bắt giữ thuốc được tính theo phần trăm thuốc bị giữ lại với lượng ban đầu vàkhả năng tải thuốc được tính theo lượng thuốc bị giữ lại mỗi gram của của polymer +thuốc

lượng thuốc ban đầu (mg) - lượng thuốc tự do (mg)EF% = x 100

lượng thuốc ban đầu (mg)

lượng thuốc ban đầu (mg) - lượng thuốc tự do (mg)DL% = x 100

Tổng lượng polymer (mg) + thuốc được bắt giữ

2.2.1.3 Khảo sát sự phóng thích PZA in vitro

Phương pháp thẩm tách được dùng để đánh giá khả năng giải phóng hoạt chất của tiểuphân nano

Thiết bị: Ống thủy tinh ổn nhiệt hình trụ thể tích 100 mL 2 lớp

Túi thẩm tách (MWCO: 12-14 kDa)

Môi trường: 100 mL dung đệm PBS pH 7,4

Nhiệt độ: 37 ± 0,50C

Tốc độ khuấy từ: 150 vòng/phút

Tiến hành:

Trang 32

Túi thẩm tách có kích thước 20 cm được ngâm trong nước cất trong 24 giờ Sau đó,tiểu phân nano PLGA tải PZA ở trên màng siêu lọc của ống ly tâm vivaspin được phântán lại trong 2 mL dung dịch PBS pH 7,4 và cho vào trong túi thẩm tách, rồi nhúng vàoống thủy tinh ổn nhiệt chứa 100 mL dung dịch PBS pH 7,4 và được khuấy ở tốc độ

150 vòng/phút với nhiệt độ duy trì 37 ± 0,50C bằng bể ổn nhiệt Rút 2 mL dung dịchtrong ống và thay thế bằng 2 mL PBS tại các thời điểm 0,25, 0,5, 1, 2, 3, 4, 6, 8, 12,

18, 24, 48, 72, 96 h Lượng PZA phóng thích tại mỗi thời điểm được định lượng bằngphổ hấp thu UV

Dữ liệu phóng thích PZA được khảo sát động học với các phương trình động học bậc 0(% thuốc tích lũy so với thời gian), bậc 1 (log % thuốc tích lũy còn lại so với thờigian), phương trình Higuchi (% thuốc tích lũy so với căn bậc hai của thời gian),Korsmeyer-Peppas (log % thuốc tích lũy so với thời gian), và Hixon Crowell (căn bậc

3 của lượng thuốc phóng thích so với thời gian) Hệ số K và giá trị R2 được tính từđường cong tuyến tính thu được qua phân tích hồi quy

2.2.2.Tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano PLGA

2.2.2.1 Phương pháp điều chế

Công thức điều chế nano có hiệu suất bắt giữ cao nhất được chọn để tiến hành phunsấy

Thiết bị: máy sấy phun Labplant SD – 05

Thông số sấy phun:

Trang 33

Qui trình điều chế tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải thuốc kháng laoPyrazinamid được thể hiện qua Sơ đồ 2.2.

Sơ đồ 2.2 Qui trình điều chế tiểu phân micro tích hợp các tiểu phân nano tải PZA

2.2.1.1 Khảo sát đặc tính lý hóa

- Kích thước và phân bố kích thước hạt được đo bằng nhiễu xạ ánh sáng laser vớiLA-960 Laser Scattering Particle Size Distribution Analyser, mẫu được phân tántrong nước lạnh, rồi đo dãy phân bố kích thước hạt

- Hình thái học của tiểu phân trong bột khô được khảo sát bằng hiển vi điện tửquét (SEM): Mẫu bột được đặt lên kính, phủ vàng (Au) Quan sát mẫu dưới SEM

- Phân tích nhiệt vi sai: Một cóng nhôm rỗng được sử dụng làm cóng đối chiếucho tất cả các phép đo Mẫu bột (1-5 mg) được đặt trong cóng nhôm kín 40 µl vàphân tích DSC được tiến hành từ 0-200 °C với tốc độ 11 °C /phút Nhiệt độ bắt

Dung dịch trong suốt

Dung dịch phun sấy

Tốc độ cấp dịch: 5 ml/phútNhiệt độ vào: 1400C

Nhiệt độ ra: 900CTốc độ dòng khí: 36 m3/hThêm HA,

khuấy từ trong 1h

Trang 34

đầu nóng chảy, đỉnh nóng chảy và entanpi của quá trình chuyển đổi (ΔH) được xácđịnh cho mỗi mẫu đo.

- Nhiễu xạ tia X: Mẫu bột được đem phân tích, dữ liệu được thu thập trên mộtphạm vi góc từ 5 đến 40° (2θ) với bước thay đổi 0,02°, thời gian đếm 5 s /bước

2.2.2.3 Khảo sát đặc tính khí động học của dạng bột khô hít [10].

Hình 2 1 (a) Thiết bị Andersen cascade impactor, (b) Ống hít

su Kiểm tra các thông số áp suất, lưu lượng khí của máy chân không, các mối nối giữmáy bơm chân không Bật máy bơm trong 5 s Sau đó, tắt máy bơm và tháo ống hít.Tháo gỡ các thiết bị Cân tính lượng bột được giữ lại ở mỗi tầng, từ đó tính các thôngsố:

- Phần trăm lượng bột thoát ra khỏi nang

Ngày đăng: 28/04/2021, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm