Liên quan giữa mối quan tâm về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện với đặc điểm của thân nhân .... Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bịTBMMN sau k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Duy Phong
GS TS Faye Hummel
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2Ref: Giá trị tham chiếu (Reference)
TBMMN: Tai biến mạch máu não
WHO: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4 1.1 Một số tóm lược về TBMMN 4
1.2 Tình hình TBMMN trên thế giới và Việt Nam 6
1.3 Tình hình di chứng và tàn tật do TBMMN 8
1.4 Điều trị và chăm sóc người bị TBMMN trong giai đoạn phục hồi tại nhà sau xuất viện 11
1.5 Vai trò của thân nhân trong chăm sóc người bị TBMMN 13
1.6 Các nghiên cứu trước đây về mối quan tâm của thân nhân người bị TBMMN 16
1.7 Tình trạng quá tải tại bệnh viện 19
1.8 Vài nét sơ lược về địa điểm nghiên cứu – Bệnh viện Đà Nẵng 20
1.9 Lý thuyết nâng cao sức khoẻ của Nola J Pender 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 2.1 Đối tượng và thiết kế nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp chọn mẫu – Tiêu chuẩn chọn mẫu 25
2.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 27
2.4 Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu 29
2.5 Xử lý và phân tích số liệu 32
Trang 42.6 Y đức trong nghiên cứu 332.7 Tính ứng dụng của nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm của thân nhân người bị TBMMN 353.2 Đặc điểm của người bị TBMMN 393.3 Mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi
ra viện 403.4 Liên quan giữa mối quan tâm về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi
ra viện với đặc điểm của thân nhân 413.5 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bịTBMMN sau khi ra viện với thời gian nằm viện 513.6 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bịTBMMN sau khi ra viện với đặc điểm của người bị TBMMN 52
4.1 Đặc điểm của thân nhân người bị TBMMN 594.2 Đặc điểm của người bị TBMMN 624.3 Mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi
ra viện 644.4 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bịTBMMN não sau khi ra viện với đặc điểm của thân nhân, đặc điểm của ngườibệnh 724.5 Về việc áp dụng lý thuyết điều dưỡng 774.6 Giới hạn của nghiên cứu 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi 36
Bảng 3.2 Đặc điểm về trình độ học vấn, nghề nghiệp 36
Bảng 3.3 Đặc điểm về tình trạng kinh tế 37
Bảng 3.4 Đặc điểm của người bị TBMMN 39
Bảng 3.5 Liên quan giữa mối quan tâm về thông tin TBMMN và quá trình phục hồi sau TBMMN với đặc điểm của thân nhân 41
Bảng 3.6 Liên quan giữa mối quan tâm về các cơ sở y tế gần nhà với đặc điểm của thân nhân 42
Bảng 3.7 Liên quan giữa mối quan tâm về việc giúp NB thực hiện các hoạt động hằng ngày với đặc điểm của thân nhân 43
Bảng 3.8 Liên quan giữa mối quan tâm về việc trợ giúp NB vận động, đi lại với đặc điểm của thân nhân 44
Bảng 3.9 Liên quan giữa mối quan tâm về việc ngăn ngừa TBMMN tái phát với đặc điểm của thân nhân 45
Bảng 3.10 Liên quan giữa mối quan tâm về thông tin liên quan đến thuốc với đặc điểm của thân nhân 46
Bảng 3.11 Liên quan giữa mối quan tâm về chăm sóc chế độ ăn với đặc điểm của thân nhân 47
Bảng 3.12 Liên quan giữa mối quan tâm về chăm sóc y tế đặc biệt như chăm sóc vết thương, sonde tiểu, sonde dạ dày với đặc điểm của thân nhân 48
Bảng 3.13 Liên quan giữa mối quan tâm về chương trình PHCN với đặc điểm của thân nhân 49
Bảng 3.14 Liên quan giữa mối quan tâm về việc phát hiện các dấu hiệu bất thường trên NB cần tái khám với đặc điểm của thân nhân 50
Bảng 3.15 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện với thời gian nằm viện 51
Trang 6Bảng 3.16 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về thông tin vềTBMMN và quá trình phục hồi sau TBMMN với đặc điểm của NB 52Bảng 3.17 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về các cơ sở y tế gầnnhà NB với đặc điểm của NB 53Bảng 3.18 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc giúp NB thựchiện các hoạt động hằng ngày với đặc điểm của NB 54Bảng 3.19 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc giúp NB vậnđộng, đi lại với đặc điểm của NB 54Bảng 3.20 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về ngăn ngừaTBMMN tái phát với đặc điểm của NB 55Bảng 3.21 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về thông tin liên quanđến thuốc với đặc điểm của NB 55Bảng 3.22 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về chăm sóc chế độ
ăn với đặc điểm của NB 56Bảng 3.23 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về các chương trìnhPHCN cho NB với đặc điểm của NB 56Bảng 3.24 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về chăm sóc y tế đặcbiệt như CS vết thương, sonde tiểu, sonde dạ dày với đặc điểm của NB 57Bảng 3.25 Liên quan giữa mối quan tâm của thân nhân về việc phát hiện cácdấu hiệu bất thường trên NB cần tái khám với đặc điểm của NB 58
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Ứng dụng lý thuyết Nâng Cao Sức Khoẻ vào nghiên cứu 24
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt các bước thu thập số liệu 28
Biểu đồ 1.1 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới 2012 7
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về giới tính 35
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về nơi cư trú 37
Biểu đồ 3.3 Quan hệ của thân nhân và người bệnh 38
Biểu đồ 3.4 Mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện 40
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau một cơn tai biến mạch máu não (TBMMN), người bệnh thường đòihỏi phải có sự trợ giúp từ người khác trong giai đoạn điều trị tại bệnh việncũng như chăm sóc lâu dài tại nhà sau khi xuất viện [72] Ở một số nước, cácchương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chăm sóc người bị tai biến mạchmáu não (hay còn gọi là đột quỵ não) trong giai đoạn phục hồi do nhân viên y
tế thực hiện ngay tại nhà để hỗ trợ người bệnh (NB) [42], [77] Nhưng tại ViệtNam, việc chăm sóc NB sau khi ra viện chủ yếu do người thân trong gia đìnhthực hiện Do đó, người thân trong gia đình – người chịu trách nhiệm chínhtrong việc chăm sóc NB sau xuất viện đóng vai trò rất quan trọng trong việcchăm sóc NB trong giai đoạn này, họ cần có kiến thức đúng và thực hànhđúng việc chăm sóc NB sau TBMMN để giúp NB duy trì chức năng còn lại,phục hồi chức năng bị giảm hoặc mất, phòng ngừa tàn tật và các biến chứngmột cách tốt nhất [21], [31], [54] Tuy nhiên, hầu hết thân nhân NB có rất íthoặc chưa có kinh nghiệm trong việc chăm sóc người bị TBMMN Điều nàycàng nghiêm trọng hơn khi những mối quan tâm hay lo lắng của thân nhân vềviệc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện không được hỗ trợ Đây cóthể là nguyên nhân dẫn đến áp lực, căng thẳng (stress) cho thân nhân, giảmhiệu quả phục hồi của NB và làm giảm chất lượng cuộc sống của thân nhâncũng như NB trong quá trình phục hồi sau đột quỵ [19], [37], [55]
Với nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, tỷ lệ tử vong do TBMMNtrong những năm gần đây có giảm nhưng vẫn còn ở mức cao [6], [8], [9].Theo hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ [27], [51] trong khoảng thời gian 2000 –
2010, tỷ lệ tử vong do đột quỵ hàng năm giảm 35,8% và số lượng tử vongthực tế giảm 22,8% Theo báo cáo thường niên của trung tâm dịch vụ y tế
Trang 9TBMMN tại Anh Trong số NB xuất viện sau TBMMN, có hơn 1/3 (khoảng41%) phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác Cũng theo báo cáo này,TBMMN là nguyên nhân lớn nhất gây nên tình trạng mất khả năng độc lậptrong sinh hoạt hằng ngày của NB khiến họ phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ từngười khác.
Cũng như trên thế giới, Việt Nam đã bước đầu thành công trong việcđiều trị và cứu sống người bị TBMMN, cải thiện tỷ lệ tử vong do TBMMNgây ra, việc này đồng nghĩa với sự gia tăng tỷ lệ NB sống sót sau đột quỵ vớinhiều mức độ phụ thuộc do di chứng sau TBMMN [52] Theo nghiên cứu củatác giả Vũ Văn Cường và cộng sự [5] tỷ lệ NB TBMMN cần trợ giúp trongsinh hoạt hằng ngày lúc ra viện là 91,7% Tuy nhiên, hầu hết các bệnh việnhiện nay đang trong tình trạng quá tải nên chỉ mới tập trung vào việc cứu chữa
NB trong giai đoạn cấp tính, ít chú ý đến vấn đề giáo dục sức khỏe hỗ trợchăm sóc NB TBMMN sau khi xuất viện [3]
Trong khi đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới chứng minh
sự gia tăng nguy cơ stress trên những thân nhân của NB TBMMN do khôngđược hỗ trợ kiến thức và thực hành trong quá trình chăm sóc NB tại nhà sauxuất viện [39], [56] Theo nghiên cứu của tác giả Kinney [39] có khoảng 52%thân nhân bị stress và áp lực trong quá trình chăm sóc NB sau TBMMN Cácyếu tố tác động tiêu cực đến quá trình chăm sóc NB của người chăm sóc chủyếu là thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng chăm sóc, áp lực về chi phí điều trị, chiphí sinh hoạt và sự căng thẳng về tinh thần [24], [39] Trên thế giới cũng đã
có nhiều nghiên cứu nhằm xác định các mối quan tâm, lo lắng cần được hỗ trợcho thân nhân người bị TBMMN sau khi ra viện [17], [20], [21] Nhưng ở ViệtNam cho đến nay, các nghiên cứu liên quan đến người chăm sóc cho người bịTBMMN tại nhà sau khi xuất viện còn ít và chưa được quan tâm đúng mực,đặc biệt là tại các vùng duyên hải miền trung
Trang 10Chính vì các lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị tai biến mạch máu não sau khi ra viện” Đây là bước khởi đầu để có được thông tin xây dựng chương
trình và phát triển hệ thống hỗ trợ thân nhân NB TBMMN trong quá trìnhchăm sóc tại nhà, góp phần giảm chi phí điều trị, áp lực lên thân nhân NB vàtăng cường hệ thống chăm sóc sức khoẻ dựa vào cộng đồng
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị tai biến mạchmáu não sau khi ra viện là gì?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 11Chương 1
1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ TÓM LƯỢC VỀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
1.1.1 Định nghĩa tai biến mạch máu não
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, tai biến mạch máu não (haycòn gọi là đột quỵ) là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự khởi phát độtngột các triệu chứng biểu hiện tổn thương khu trú của não, tồn tại trên 24 giờhoặc tử vong trước 24 giờ Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp vớivùng não do mạch máu bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấnthương [8], [34]
1.1.2 Phân loại tai biến mạch máu não
Hiện nay, việc phân loại TBMMN gồm 2 thể chính: TBMMN thiếu máunão hay thiếu máu não cục bộ cấp tính; TBMMN xuất huyết não gồm xuấthuyết não nguyên phát và xuất huyết khoang dưới nhện [8], [29]
1.1.2.2 Nhồi máu não hoặc thiếu máu cục bộ
Là tình trạng khi một mạch máu bị tắc nghẽn, khu vực não mà mạchmáu đó cung cấp bị thiếu máu và hoại tử Gồm 3 loại: cơn thiếu máu nãothoảng qua phục hồi trong 24 giờ; thiếu máu não cục bộ hồi phục: tai biến phụchồi trên 24 giờ và không để lại di chứng; thiếu máu não cục bộ hình thành: thờigian phục hồi kéo dài, để lại di chứng hoặc tử vong [8]
Trang 121.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não
1.1.3.1 Nhóm nguy cơ không thể thay đổi được
Nhóm nguy cơ không thể thay đổi được bao gồm: tuổi, giới tính và tiền sửgia đình Theo một số nghiên cứu cho thấy TBMMN đang tăng dần theo tuổi
và nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất TBMMN hay gặp ở nam nhiều hơn
nữ từ 1,5 đến 2 lần [42] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn VănĐăng (2000) [6] tỷ lệ nam/nữ ở TBMMN là 1,48 Tác giả Grau và cộng sự [29]nghiên cứu trên 5.017 NB đột quỵ thiếu máu cục bộ tại Đức cho thấy tỷ lệ namgiới chiếm 57,6% và nữ giới chiếm 42,4% Một số nghiên cứu trước đây chothấy những người có cha hoặc mẹ bị TBMMN thì có nguy cơ bị TBMMN caohơn những người khác [41], [42]
1.1.3.2 Nhóm nguy cơ có thể thay đổi được
Nhóm nguy cơ có thể thay đổi được bao gồm: tăng huyết áp, rối loạn lipidmáu, thuốc lá, rượu, béo phì
Tăng huyết áp vừa là yếu tố nguy cơ vừa là nguyên nhân của TBMMN.Tác giả Daniel Woo (2002) [76] nghiên cứu trên 549 người bệnh TBMMN tạibệnh viện đại học Cincinnati (Mỹ) so sánh với nhóm chứng đã rút ra kết luận:trên những người bệnh tăng huyết áp không điều trị và điều trị có nguy cơ xuấthuyết não lần lượt là: 4,4 và 1,6 lần so với nhóm chứng
Đã có một số nghiên cứu chứng minh rối loạn lipid máu có liên quanđến TBMMN Tần suất TBMMN cao hơn ở những người có tăng cholesteroltoàn phần hay LDL – C (Low Density Lipoprotein – Cholesterol) Theonghiên cứu của Leoo T (2008) [42] có đến 56% người bị TBMMN có liênquan đến tăng lipid máu
Trang 13Thuốc lá đã được xác định là yếu tố nguy cơ đối với xuất huyết não dướinhện nhưng đối với xuất huyết não nguyên phát thì còn đang tranh luận Trongnhững năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng nguy cơ xuấthuyết não đối với người có hút thuốc lá [40], [41].
Lượng rượu uống có liên quan đến TBMMN, số lượng gram rượu đượcuống gia tăng tuyến tính với nguy cơ TBMMN [42]
Ngoài ra, các yếu tố như tiểu đường, xơ vữa động mạch, thay đổi thời tiếtđột ngột, chấn thương tâm lí, gắng sức quá mức, nhiễm khuẩn cũng làm giatăng nguy cơ bị TBMMN Người có càng nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng bịTBMMN càng cao [10], [42]
1.2 TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
1.2.1 Trên thế giới
Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) về các bệnh không lâynhiễm năm 2014 [48], hiện nay TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứnghàng thứ 2 trên thế giới sau các bệnh tim mạch Ước tính có đến 6,7 triệungười tử vong do đột quỵ trên thế giới, hiện có khoảng 33 triệu người sốngsót sau đột quỵ với tình trạng khiếm khuyết, mất hoặc giảm khả năng laođộng phải điều trị và chăm sóc lâu dài – một nửa trong số này xảy ra ở cácnước có thu nhập trung bình hoặc thu nhập thấp Cũng theo tổ chức này, nếukhông kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ thì đến năm 2030 sẽ có 23 triệu người
bị TBMMN lần đầu, 77 triệu người sống sót sau TBMMN, 61 triệu người bịkhuyết tật và 7,8 triệu người tử vong do TBMMN [27], [48]
Theo nghiên cứu của tác giả Feigin và cộng sự [26] trong năm 2013 có10,3 triệu người bị TBMMN lần đầu, trong đó có 25,7 triệu người sống sótsau TBMMN và 6,5 triệu người tử vong do TBMMN và hiện có khoảng 113
Trang 14triệu người khuyết tật liên quan đến đột quỵ Cũng theo tác giả này thì trongkhoảng thời gian từ năm 1990 – 2013, số người tử vong do đột quỵ giảm ởcác nước có thu nhập cao, trong khi đó số người tử vong do đột quỵ có xuhướng tăng cao ở các nước đang phát triển.
Tại Canada, mỗi năm có khoảng 50.000 trường hợp TBMMN nhập viện
và tiêu tốn khoảng 3,6 tỷ đô la Mỹ cho chi phí điều trị TBMMN là nguyênnhân thứ ba gây tử vong và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật tại nước này[43]
Biểu đồ 1.1 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới 2012
Nguồn: http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs310/en/
1.1 1.3 1.5 1.5 1.5 1.6
3.1 3.1
6.7 7.4
0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0 7.0 8.0 Các bệnh liên quan đến tăng HA
Tai nạn giao thông
HIV/AIDS Tiêu chảy Đái tháo đường Các bệnh về phổi khác
COPD Viêm đường hô hấp dưới
TBMMN Nhồi máu cơ tim
(Đơn vị: triệu)
Trang 151.2.2 Tại Việt Nam
Theo báo cáo thường niên tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2014 [3]TBMMN là nguyên nhân hàng đầu trong 10 nguyên nhân gây gánh nặng bệnhtật lớn nhất trong nhóm bệnh không lây nhiễm TBMMN cũng là nguyênnhân hàng đầu trong xu hướng 20 nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật lớnnhất tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam tuy chưa có thống kê toàn quốc về tỷ lệ mắcTBMMN nhưng trong những năm qua, số người bệnh nhập viện do TBMMNchiếm khoảng một nửa số người bệnh điều trị tại khoa Thần kinh – Bệnh việnChợ Rẫy [10]
1.3 TÌNH HÌNH DI CHỨNG VÀ TÀN TẬT DO TBMMN
1.3.1 Một số biến chứng thường gặp sau TBMMN
Người sống sót sau TBMMN có xu hướng trở thành người khuyết tật,suy yếu về thể chất và rối loạn cảm xúc Theo O'Connell (2001) [54] cókhoảng hơn 50% số người sống sót sau đột quỵ được xuất viện về nhà với sựhạn chế một số chức năng của cơ thể ở các mức độ khác nhau Những dichứng phổ biến nhất của đột quỵ là yếu hoặc liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ(giảm khả năng giao tiếp), rối loạn thị giác (giảm thị lực), chóng mặt, mấtthăng bằng hoặc thất điều vận động, nuốt khó, rối loạn trương lực cơ, rối loạn
cơ vòng bàng quang hoặc hậu môn (mất khả năng kiểm soát cơ vòng).TBMMN không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng thể chất của NB mà còn ảnhhưởng đến sức khỏe tâm thần của NB và là nguyên nhân dẫn đến trầm cảm, lo
âu, mất phương hướng, mất trí nhớ, rối loạn tâm thần và thất vọng Tình trạngsức khỏe tâm thần của những người sống sót sau đột quỵ thường dẫn đếngánh nặng rất lớn cho thân nhân NB Thân nhân NB có một cảm giác tráchnhiệm nặng nề và không chắc chắn về nhu cầu của những người sống sót độtquỵ khiến họ lúng túng không biết nên làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của
NB và làm thế nào để chăm sóc người bệnh một cách tốt nhất [31]
Một số biến chứng phổ biến sau đột quỵ thường xảy ra trên người bệnh là
Trang 16trầm cảm, té ngã, đau cơ, đau khớp, loét tỳ đè, nhiễm trùng tiết niệu, viêm phổi,nhiễm trùng da, rối loạn tiêu hóa [35].
Theo nghiên cứu của Grant (2004) [28] 4 biến chứng thường gặp nhất sauTBMMN là trầm cảm (26%), đau vai (24%), té ngã (20%), nhiễm trùng đườngtiết niệu (15%) Biến chứng ít gặp hơn bao gồm đau lưng – đau hông (5%), rốiloạn tiêu hóa (4%), viêm phổi (2%), động kinh (2%) và loét do tỳ đè (1,5%)
Giảm chức năng vận động là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng NBmất sự độc lập trong sinh hoạt phải phụ thuộc vào sự trợ giúp của người khác.Trong khi đó trầm cảm là yếu tố gây cản trở quá trình phục hồi và làm trầmtrọng thêm tình trạng khiếm khuyết của NB Giảm chức năng vận động có thể
là hậu quả của co cứng – co rút cơ, liệt, cứng khớp – đau hoặc biến dạng khớp.Các cơ bị co cứng rồi co rút dẫn đến hạn chế vận động của khớp Tình trạngnày kéo dài sẽ dẫn đến cứng khớp Các khớp bị cứng đầu tiên có thể là khớpvai, khớp háng, khớp cổ chân bên liệt Cứng ở các khớp khác có thể xuất hiệnmuộn hơn [35], [50]
1.3.2 Tình hình di chứng và tàn tật do TBMMN trên thế giới
Theo WHO (2011) [27] trên thế giới có khoảng 15 triệu người bịTBMMN mỗi năm trong đó 1/3 số người bị tử vong, 1/3 số còn lại sống sót sauTBMMN trở thành tàn tật vĩnh viễn
Theo tác giả Smolina (2012) [66] tại Mỹ có khoảng 10% người bịTBMMN hồi phục gần như hoàn toàn, 25% NB hồi phục các khuyết tật nhỏ,40% người bị đột quỵ có khuyết tật từ trung bình đến nặng đòi hỏi phải có sựchăm sóc đặc biệt, 10% NB cần được điều dưỡng chăm sóc tại nhà và chămsóc dài hạn ở các cơ sở y tế
Trang 17Tại Úc trong năm 2010, ước tính có khoảng 8.300 trường hợp tử vong liênquan đến TBMMN, 375.800 người sống sót sau đột quỵ với tình trạng khuyếttật giảm chức năng và khoảng 25.800 trường hợp nhập viện để điều trị phục hồichức năng liên quan đến TBMMN Điều này dẫn đến có khoảng 75.000 thânnhân phải chăm sóc cho người bị TBMMN tại cộng đồng, hơn một nửa trong
số những người chăm sóc này phải dành ít nhất 40 giờ để chăm sóc người bệnh[68]
Tại Thái Lan, TBMMN là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây gánh nặngtàn tật và là nguyên nhân khiến 150.000 người trở thành người khuyết tật mỗinăm TBMMN cũng là nguyên nhân hàng đầu khiến người bệnh phải nhập viện
để điều trị các biến chứng trong giai đoạn phục hồi như viêm phổi, nhiễm trùngtiết niệu và loét do tỳ đè [57]
1.3.3 Tình hình di chứng và tàn tật do TBMMN tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Triệu (2005) [11] cho thấytrong số những người sống sót sau TBMMN, sau một năm thì có đến 66% NB
có khiếm khuyết chức năng tay, 56% có khiếm khuyết chức năng chân, hơn50% người bệnh ở tình trạng khiếm khuyết mức độ nặng và vừa
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Đăng (2000) [6] sau TBMMNngười bệnh có di chứng nhẹ và vừa chiếm tỉ lệ cao 68,42%; trong đó di chứng
về vận động chiếm 92,62%
Theo Cao Minh Châu và cộng sự [4] nghiên cứu cho thấy di chứng về vậnđộng sau TBMMN chiếm tỷ lệ khá cao bao gồm: Đau khớp vai chiếm 69,88%;đau khi quay sấp cẳng tay chiếm 73,49%; đau khi gập phía lòng khớp cổ taychiếm 87,95% và đau khi gập phía lòng khớp cổ chân chiếm 96,39%
Trang 181.4 ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ TBMMN TRONG GIAI ĐOẠN PHỤC HỒI TẠI NHÀ SAU XUẤT VIỆN
1.4.1 Điều trị và chăm sóc
Trong giai đoạn phục hồi sau TBMMN tại nhà, việc chăm sóc chủ yếudựa vào thân nhân người bệnh và người bệnh tự chăm sóc là chính Để thựchiện được điều này người bệnh và thân nhân người bệnh cần được tư vấn,hướng dẫn và giáo dục sức khỏe một cách đầy đủ, cụ thể bởi nhân viên y tếtrước khi xuất viện về nhà
Các hoạt động sinh hoạt hằng ngày như vệ sinh, tắm rửa, thay quần áo
là những hoạt động quen thuộc trở thành phản xạ của một người bình thườngnhưng do di chứng của TBMMN có thể NB thực hiện một cách khó khănhoặc không thể tự làm được Vì vậy, người nhà phải làm thay hay trợ giúp NBrất nhiều và thường xuyên trong việc này Tuy nhiên, cần phải ưu tiên việchướng dẫn kết hợp với khuyến khích động viên để NB tự thực hiện các hoạtđộng này nhằm giúp người bệnh giảm sự phụ thuộc vào người khác và giúpquá trình phục hồi diễn ra nhanh, có hiệu quả
Giúp NB xoay trở trong trường hợp NB liệt hoàn toàn không thể tựxoay trở được nhằm phòng chống các biến chứng như loét tỳ đè, viêm phổi,táo bón Trợ giúp NB vận động, di chuyển, đi lại tùy vào mức độ phục hồi vàtình trạng khiếm khuyết của NB Giúp NB sử dụng các công cụ trợ giúp dichuyển như nạn, khung tập đi, xe lăn
Chăm sóc chế độ dinh dưỡng cho NB Chuẩn bị thức ăn phù hợp vớikhả năng nuốt của NB, thức ăn cần đảm bảo đủ năng lượng dựa vào chỉ số thểtrạng và các hoạt động của NB Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng cần phải phùhợp với các bệnh lý kèm theo như tăng huyết áp, đái tháo đường, các bệnh lý
Trang 19còn ống sonde dạ dày, vì vậy việc chăm sóc ống sonde dạ dày, cách chuẩn bịthức ăn, cách cho ăn cũng cần được lưu ý và hướng dẫn cụ thể, chi tiết để thânnhân có thể thực hiện tốt, không xảy ra biến chứng.
Chăm sóc tâm lý, tinh thần cho NB phòng ngừa các biến chứng tâmthần như trầm cảm sau TBMMN, giúp NB sớm trở lại làm việc và tái hòanhập cộng đồng Cần lưu ý tránh để NB có tâm lý ỷ lại, trông cậy vào sự giúp
đỡ của người khác hoặc ngược lại NB có tâm lý nôn nóng, luyện tập quá mức,không phù hợp với từng giai đoạn tiến triển của bệnh
Theo dõi và phòng ngừa các biến chứng có thể xảy ra trên người bệnhnhư té ngã, loét do tỳ đè, viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, rối loạn tiêu hóa.Theo dõi và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm cần phải xử lý cấp cứu như cácdấu hiệu của TBMMN tái phát, viêm phổi hoặc một số biểu hiện cấp của cácbệnh lý kèm theo như các bệnh lý tim mạch, đái tháo đường
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ của TBMMN và phòng ngừa TBMMNtái phát
Đối với bệnh tăng huyết áp: Người bệnh cần được kiểm tra huyết ápđịnh kỳ, thường xuyên Dùng thuốc chống tăng huyết áp theo chỉđịnh của bác sỹ kết hợp với chế độ ăn giảm muối, có chế độ sinhhoạt và tập luyện thích hợp
Đối với các bệnh tim mạch – nội tiết và các yếu tố nguy cơ khác:Tùy theo loại bệnh lý và mức độ trầm trọng của bệnh lý kèm theo,chỉ định điều trị, sử dụng thuốc mà áp dụng các chế độ chăm sóc vàtheo dõi cụ thể, thích hợp Giúp NB đảm bảo tuân thủ điều trị, thayđổi thói quen, lối sống nhằm duy trì tình trạng sức khỏe ổn định
Trang 201.4.2 Điều trị phục hồi chức năng
Mục đích của PHCN trong giai đoạn phục hồi này chủ yếu nhằm giúpngười bệnh phục hồi các chức năng trong các hoạt động hằng ngày như dichuyển, đi lại và tự chăm sóc bản thân để giảm sự phụ thuộc vào người khác
và nâng cao chất lượng cuộc sống Người bệnh cần được thực hiện các bài tậpPHCN phù hợp với mức độ và tình trạng khiếm khuyết của mình Các bài tậpnày có thể do kỹ thuật viên PHCN, điều dưỡng viên thực hiện cho NB tại nhàhoặc tại trung tâm y tế Tuy nhiên, nhân viên y tế hướng dẫn thân nhân và tựbản thân người bệnh thực hiện các bài tập đúng kỹ thuật một cách thườngxuyên, đều đặn và lâu dài là rất cần thiết [1], [5], [11], [12], [18], [74], [75]
1.5 VAI TRÕ CỦA THÂN NHÂN TRONG CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
1.5.1 Các khái niệm
1.5.1.1 Thân nhân chăm sóc người bệnh
―Thân nhân chăm sóc là người có liên quan trong việc cung cấpdịch vụ chăm sóc cho NB tại nhà Những thân nhân chăm sóc có thể là cha,
mẹ, vợ, chồng, con trai, con gái, anh – chị – em, bạn bè hoặc người yêu.Ngoài ra, thân nhân chăm sóc tập trung vào việc cung cấp các hoạt động chămsóc nhưng không được trả công Những thân nhân chăm sóc cũng có thể đượcchia thành hai loại dựa trên mức độ chăm sóc được cung cấp, cụ thể là thânnhân chăm sóc chính và chăm sóc phụ‖ [57], [65], [69]
―Thân nhân chăm sóc chính là những người cung cấp các dịch vụchăm sóc trực tiếp hoặc chịu trách nhiệm trực tiếp và dành thời gian liên tụccho người nhận chăm sóc Các dịch vụ được cung cấp chủ yếu bao gồm chămsóc cá nhân như tắm rửa, cho ăn, vệ sinh hay các hoạt động như quản lý thuốc
và thay băng – là các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NB tại nhà‖ [57],
Trang 21―Thân nhân chăm sóc phụ là người (hoặc những người) cung cấpdịch vụ chăm sóc gián tiếp và không dành nhiều thời gian liên tục với ngườinhận chăm sóc Các dịch vụ cung cấp có thể dao động từ mua sắm, vậnchuyển và chạy việc vặt Dịch vụ này có thể bao gồm việc chăm sóc trực tiếpthường xuyên khi thân nhân chăm sóc chính vắng mặt, nhưng thời gian dànhcho việc thực hiện các hoạt động chăm sóc ít hơn so với thân nhân chăm sócchính cung cấp‖ [57], [65], [69].
1.5.1.2 Mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bệnh
―Quan tâm là sự để ý, theo dõi, tìm hiểu về một chủ đề hay một sựviệc nhưng chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại của đối tượng‖ [31].Quan tâm của người chăm sóc có thể bao gồm quan tâm về thông tin, tàichính, tâm lý, thực hành chăm sóc, kết quả của quá trình chăm sóc và cácnguồn lực hỗ trợ liên quan đến người bệnh và người chăm sóc [17], [31], [65].Mối quan tâm của thân nhân chăm sóc sẽ khác nhau ở các giai đoạn tiếntriển khác nhau của người bệnh Tác giả Cameron và Gignac (2013) [20] đãtóm tắt 5 giai đoạn khác nhau mà thân nhân NB trải qua khi trở thành ngườichăm sóc và từ đó, ở mỗi giai đoạn khác nhau, mối quan tâm mà thân nhânchăm sóc cần giải đáp, hỗ trợ cũng khác nhau, đó là: giai đoạn 1 là tiếp nhận
sự kiện bệnh tật xảy ra trên NB; giai đoạn 2 là ổn định tâm lý và chấp nhận sựkiện; giai đoạn 3 là chuẩn bị để chăm sóc NB; giai đoạn 4 là thực hiện cáchoạt động chăm sóc và giai đoạn 5 là thích nghi lâu dài với vai trò là ngườichăm sóc Trong 5 giai đoạn đó, giai đoạn 1 và giai đoạn 2 diễn ra trong quátrình chăm sóc cấp tính, giai đoạn 3 diễn ra trong quá trình chăm sóc – phụchồi chức năng cho người bệnh điều trị nội trú và hai giai đoạn cuối diễn ratrong cộng đồng tại gia đình sau khi NB xuất viện Trong giai đoạn cấp tính,thân nhân chăm sóc thường quan tâm đến các thông tin về tiến triển của bệnh
và điều trị Họ phải có được thông tin kịp thời về những thay đổi của NB
Trang 22Thân nhân chăm sóc mong đợi nhân viên y tế thành thật trả lời câu hỏi về tìnhtrạng của NB Nếu thông tin này không được cung cấp cho thân nhân NB tronggiai đoạn cấp tính, nó có thể dẫn đến sự lo lắng và căng thẳng Trong khi đó, ởgiai đoạn phục hồi tại cộng đồng, người chăm sóc mong muốn được hướng dẫnthực hành các kỹ năng chăm sóc và sự hỗ trợ từ các nguồn lực xã hội và nhữngngười xung quanh [19], [20], [21].
1.5.2 Vai trò của thân nhân trong chăm sóc người bị TBMMN
Trải qua một cơn TBMMN (phần lớn xảy ra một cách đột ngột và bấtngờ) NB được xuất viện về nhà thường kèm theo di chứng sau đột quỵ, khiếnngười bệnh ít nhiều phải phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác mà đaphần người thân nhân NB Khi tình trạng sức khỏe ổn định, NB bắt đầu giaiđoạn mới trong quá trình phục hồi sau cơn bệnh tật Ở giai đoạn này khôngnhững NB cần được phục hồi lại các chức năng bị khiếm khuyết do đột quỵ
mà còn cố gắng để trở lại làm việc, giải trí và sống một cuộc sống ý nghĩa vớichất lượng cuộc sống như những người khác Tuy nhiên, để thực hiện đượcnhững điều đó rất cần sự hỗ trợ từ những người xung quanh, xã hội và đặcbiệt là thân nhân chăm sóc NB
Vai trò của thân nhân NB lúc này không chỉ là trợ giúp cho NB thực hiệncác hoạt động hằng ngày như ăn uống, mặc quần áo, vệ sinh, trợ giúp NBtrong vận động, di chuyển mà còn hỗ trợ NB trong chăm sóc tinh thần, thểhiện vai trò như một người tư vấn, một chuyên gia tâm lý cho người bệnh[25], [54] Theo một số tác giả nghiên cứu trước thì sự tham gia chăm sóc củathân nhân được cho là giúp giảm nguy cơ xuất hiện một cơn đột quỵ khác,giảm các biến chứng sau đột quỵ, cải thiện chức năng sau đột quỵ, giúp đạtđược sự phục hồi chức năng cao nhất có thể trong quá trình cải thiện tái hộinhập cộng đồng từ đó góp phần giảm chi phí điều trị sau đột quỵ [15], [31]
Trang 23Hầu hết cả NB và thân nhân của họ chưa được chuẩn bị để đối phó vớimột sự cố bệnh tật bất ngờ xảy ra như vậy Có rất nhiều điều về quá trìnhchăm sóc NB mà người nhà quan tâm, cần được giải đáp Tuy vậy, phần lớnthân nhân NB nhận được rất ít thông tin, chương trình giáo dục sức khỏe đểthực hiện vai trò của mình một cách tốt nhất Có nhiều nghiên cứu cho rằng
sự thiếu hiểu biết và sự không hài lòng với những thông tin và thực hành làmthế nào để chăm sóc cho người bị TBMMN là một trong những nguyên nhândẫn đến căng thẳng, mệt mỏi và là nguy cơ tạo ra xung đột giữa NB và ngườichăm sóc cũng như giữa các thành viên trong gia đình [39], [56]
1.6 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN TÂM CỦA THÂN NHÂN NGƯỜI BỊ TBMMN
1.6.1 Trên thế giới
Theo tác giả Plank A và cộng sự (2012) [59] trong giai đoạn chuyển tiếpkhi ra viện, thân nhân NB phải đối mặt với những vấn đề mới liên quan đếnbệnh và các triệu chứng, biến chứng của nó Điều đó có thể bao gồm sự an toàn
và các phản ứng cảm xúc của NB, các thiết bị cần thiết để trợ giúp người bệnh(như xe lăn, nạn, khung tập đi), các mức độ chăm sóc phù hợp với tình trạngcủa người bệnh, quản lý thuốc, phòng ngừa tái phát đột quỵ và sự sẵn có củacác hỗ trợ từ cộng đồng [28]
Để chăm sóc một cách độc lập cho các NB tại nhà, những người chămsóc đòi hỏi kiến thức thích hợp, kỹ năng, hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, hỗ trợtinh thần Sự lo lắng sẽ xuất hiện và điều đó có thể là nguyên nhân của căngthẳng nếu các thông tin hậu quả của đột quỵ cũng như làm thế nào để chăm sóc
NB không được cung cấp [19]
Theo một nghiên cứu định tính của tác giả Bakas và cộng sự (2002) [17]
đã tìm ra được các mối quan tâm của thân nhân người bệnh TBMMN trongtháng đầu tiên sau khi bị đột quỵ tập trung vào 4 nội dung: nhu cầu thông tin vềbệnh tật của NB, thay đổi cảm xúc và hành vi, chăm sóc cơ thể NB và sử dụngcác dụng cụ phục vụ quá trình chăm sóc
Trang 24Smith và cộng sự (2004) [65] đã xác định kinh nghiệm chăm sóc của thânnhân NB một năm sau khi bị đột quỵ và thấy rằng những người chăm sócthường xuyên thiếu kiến thức và các kỹ năng cần thiết để chăm sóc người bệnhtại nhà sau khi NB đã được xuất viện Ngoài ra, họ chưa có được các thông tin
và sự hỗ trợ để chăm sóc chính bản thân mình
Những người chăm sóc phải thích ứng với các thay đổi do sự cố bệnh tậtđột ngột kể từ khi người thân của họ bị TBMMN Các nghiên cứu trước đâyliên quan đến mối quan tâm, lo lắng về việc chăm sóc tại nhà của NB đột quỵ
và thân nhân NB đã phát hiện ra hầu hết các quan tâm, lo lắng của thân nhânchưa được giải đáp Kết quả nghiên cứu của tác giả Zwygart-Stauffacher vàcộng sự (2000) [77] cho thấy rằng thân nhân NB quan tâm rất nhiều đến thôngtin về bệnh và tiến triển của NB Khi chăm sóc cho NB, thân nhân cần hỗ trợtài chính, dịch vụ chăm sóc hỗ trợ tại cộng đồng, thông tin để cung cấp chămsóc chuyên nghiệp và hướng dẫn các thủ tục để được hưởng dịch vụ phúc lợi
xã hội Tuy nhiên, họ cũng có những mối quan tâm cá nhân cho chính bản thânngười chăm sóc cần được đáp ứng bao gồm hỗ trợ xã hội, nâng cao sức khỏecũng như cần hỗ trợ tình cảm nhằm chia sẻ những khó khăn mà họ đang phảiđối mặt trong quá trình chăm sóc người bệnh [22]
Thêm vào đó, đã có nhiều nghiên cứu can thiệp cho thấy hiệu quả của cácchương trình giáo dục sức khỏe – huấn luyện kỹ năng chăm sóc cũng như cungcấp các nguồn lực hỗ trợ xã hội cho thân nhân người bệnh trong quá trình chămsóc người bệnh tại nhà
Nghiên cứu của tác giả Roshinee Oupra (2007) [57] tại Thái Lan đã tiếnhành một chương trình được thực hiện bởi điều dưỡng bao gồm giáo dục,cung cấp thông tin và huấn luyện kỹ năng chăm sóc cho 70 thân nhân chămsóc tại nhà cho người bị TBMMN và so sánh với nhóm chứng Kết quả là
Trang 25nhóm chứng Người bệnh ít xuất hiện thêm các biến chứng, quá trình phục hồitốt hơn, chỉ số độc lập trong sinh hoạt của người bệnh cao hơn và tỷ lệTBMMN tái phát ít hơn nhóm chứng Đồng thời, tỷ lệ và mức độ trầm cảmcủa người chăm sóc trong nhóm can thiệp ít hơn so với nhóm chứng.
1.6.2 Tại Việt Nam
Đã có một số nghiên cứu được tiến hành trên thân nhân người bệnh như
―khảo sát nhu cầu tư vấn của thân nhân người bệnh bị bệnh lý ung thư‖ của tácgiả Nguyễn Thị Minh Châu – Bệnh viện Quân y 103 hay tác giả Vũ Anh Nhị
và cộng sự đã thực hiện ―nghiên cứu sự hiểu biết về tai biến mạch máu não trênthân nhân và NB tai biến mạch máu não‖ Theo kết quả nghiên cứu của tác giảMai Thọ Truyền (2012) [12] cho thấy có đến 95% người tham gia chăm sócngười bị TBMMN sau khi ra viện là thân nhân người bệnh, 5% là người bệnh
tự chăm sóc Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đưa ra các mối quan tâm, lo lắngcủa thân nhân về việc chăm sóc người bệnh mà thân nhân người bệnh cần được
hỗ trợ, tư vấn
Cho đến nay, chúng tôi tìm được rất ít tài liệu nghiên cứu về mối quan tâmhay lo lắng của thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra việntại Việt Nam Chỉ có một nghiên cứu của tác giả Yumiko Hayashi và cộng sự[32] đã thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 2011 khảo sát về vấn đề này
Trang 261.7 TÌNH TRẠNG QUÁ TẢI TẠI BỆNH VIỆN
Theo thống kê của Bộ Y tế [2] dù số giường bệnh bình quân 10.000 dân
ở Việt Nam đã tăng lên nhưng công suất sử dụng giường bệnh vẫn còn rấtcao Các bệnh viện trung ương trên cả nước hiện nay đang trong tình trạng quátải rất trầm trọng, từ 25% – 30% và chủ yếu là quá tải về giường bệnh Côngsuất sử dụng giường bệnh tại bệnh viện từ 165% – 200% và 2 – 3 NB nằmchung một giường Vấn đề quá tải bệnh viện hiện còn khá trầm trọng, đặc biệt
là ở bệnh viện tuyến trung ương, các thành phố lớn và một số chuyên khoa(tim mạch, ung thư) Tình trạng NB vượt tuyến chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng83% NB ngoại trú và 73% NB nội trú đến khám không có giấy giới thiệu Sốngày sử dụng trung bình 1 giường bệnh/năm dao động từ 390 – 774ngày/giường/năm (cao hơn nhiều so với mức bình thường là 280ngày/giường/năm) Nhiều khoa phòng kê thêm các giường tạm chiếm 1/3 –1/2 so với số giường chính thức [13] Thực hiện tốt công tác chăm sóc sứckhoẻ ban đầu cho người dân là điều kiện tiên quyết để giảm tải tình trạng quátải bệnh viện như hiện nay [2]
Vì vậy, nếu có một chương trình kế hoạch hỗ trợ cụ thể cho NB và thânnhân NB về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi xuất viện sẽ phần nàogiảm được sự nhập viện trở lại của NB để điểu trị biến chứng hoặc điều trị táiphát, góp phần giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện như hiện nay
Trang 271.8 VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU – BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG
Bệnh viện Đà Nẵng là bệnh viện công lập hạng 1 trực thuộc Sở Y tếthành phố Đà Nẵng, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân thành phố ĐàNẵng và các tỉnh lân cận như Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh TâyNguyên Với quy mô 1010 giường bệnh, bệnh viện có thể thực hiện khám vàđiều trị hơn 2000 NB mỗi ngày Đối với những tình trạng bệnh nặng nhưTBMMN, chấn thương sọ não hay những trường hợp cấp cứu khác thì bệnhviện Đà Nẵng hoạt động như một bệnh viện tuyến cuối của khu vực miềnTrung – Tây Nguyên Theo nghiên cứu của tác giả David L Tirschell [71] từtháng 3/2010 đến tháng 2/2011 đã có 754 người bệnh được điều trị TBMMNlần đầu tại bệnh viện Đà Nẵng Với tình hình dịch tễ về tai biến mạch máunão như hiện nay, số người bị tai biến mạch máu não ngày càng tăng cao trên
cả nước nói chung và khu vực duyên hải miền trung nói riêng chúng tôi đãchọn bệnh viện Đà Nẵng để tiến hành nghiên cứu
1.9 LÝ THUYẾT NÂNG CAO SỨC KHOẺ CỦA NOLA J PENDER
Lý thuyết điều dưỡng là kết quả của những khái niệm đã được xácđịnh, được công nhận một cách có hệ thống qua các nghiên cứu khoa học điềudưỡng liên quan đến các hiện tượng, sự kiện chăm sóc và thực hành điềudưỡng
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích xác định các mối quan tâmcủa thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện và xác địnhcác mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân của thân nhân, người bệnh với cácmối quan tâm đó Mô hình nâng cao sức khỏe theo lý thuyết của Pender được
áp dụng vào trong nghiên cứu này Mục tiêu chủ yếu của việc ứng dụng môhình này là để tìm ra những đặc tính riêng biệt của các cá nhân trong việc thựchiện các hành vi nâng cao sức khỏe cho NB
Trang 28Theo Pender (2005) [58], cải thiện sức khỏe là một hành vi với độnglực nhằm để nâng cao thể lực và hiện thực hóa các tiềm năng sức khỏe conngười Trong khi đó, bảo vệ sức khỏe là một hành vi sức khỏe với mục tiêuchủ yếu nhằm chủ động phòng tránh bệnh tật, phát hiện bệnh sớm hoặc duytrì các chức năng bình thường của cơ thể trong tình trạng bệnh lý Cũng theotác giả này, các hành vi sức khỏe của hai quá trình này mang tính chất hỗ trợ
và bổ sung cho nhau và cả hai hiện tượng đều đóng vai trò rất quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng cuộc sống trong các giai đoạn phát triển khácnhau của con người
Nội dung chính của mô hình nâng cao sức khỏe của Nola J Pendergồm:
Nâng cao sức khỏe được định nghĩa là hành vi thúc đẩy bởi mongmuốn tăng cường lợi ích và hiện thực hóa tiềm năng sức khỏe conngười Nó là một phương pháp để giữ gìn sức khỏe Mặt khác, bảo vệsức khỏe hoặc phòng ngừa bệnh được mô tả là hành vi mong muốn
có động lực để chủ động phòng tránh bệnh, phát hiện sớm hoặc duytrì hoạt động trong các khó khăn của bệnh tật
Đặc điểm cá nhân và kinh nghiệm (hành vi liên quan trước đây vàcác yếu tố cá nhân)
Nhận thức hành vi cụ thể và ảnh hưởng của nó (nhận thức về lợi íchcủa các hành động, nhận thức về các rào cản của hành động, nhậnthức về sự tự tin, ảnh hưởng của các hoạt động liên quan, ảnh hưởnggiữa của các cá nhân và ảnh hưởng của các tình huống thực tiễn)
Kết quả hành vi (cam kết cho một kế hoạch hành động, đáp ứng nhucầu theo thứ tự ưu tiên và hình thành các hành vi có lợi cho sức khỏemột cách lâu dài, bền vững)
Trang 29Theo Pender mỗi người ai cũng có những đặc tính và kinh nghiệm cánhân riêng biệt Chính những đặc tính và kinh nghiệm này chi phối các hoạtđộng tiếp theo của cá nhân Chúng vừa thúc đẩy vừa gây cản trở đối với cáchành vi mà chúng ta mong đợi Mô hình này còn nhấn mạnh thêm rằng kinhnghiệm sống của các cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việclôi cuốn họ tham gia vào các hành vi nhằm nâng cao sức khỏe của họ Ảnhhưởng trực tiếp có thể hình thành nên các thói quen nhằm thúc đẩy họ hànhđộng một cách tự giác hoặc ít chú ý tới hậu quả của các hành vi này Ảnhhưởng gián tiếp của kinh nghiệm bản thân trong việc cải thiện sức khỏe có thểđược thể hiện trong nhận thức của các cá nhân về lợi ích và tác hại của hành
vi Nếu người ta nhận thấy hành vi nào có lợi, người ta sẽ có xu hướng lập lạihành vi đó Ngược lại nếu hành vi nào người ta cho là có hại, người ta cũngnhớ chúng nhưng lại xem chúng như là trở ngại sức khỏe và cuộc sống của
họ Chỉ khi nào các trở ngại này được xóa bỏ, cá nhân mới có thể thành côngtrong việc lựa chọn hành vi [58]
Cũng theo Pender, con người ai cũng bị chi phối bởi các yếu tố như:đặc điểm cá nhân, kinh nghiệm sống và ý thức cá nhân Những yếu tố này cótác động đến hành vi, sự nhận thức và cuối cùng ảnh hưởng đến hành vi bảo
vệ, nâng cao sức khoẻ của con người Tuy nhiên, mỗi chúng ta ai cũng cónhững đặc tính và kinh nghiệm sống riêng, không ai giống ai Nhiều ngườitích luỹ kinh nghiệm sống theo thời gian và những kinh nghiệm này có thểảnh hưởng tốt hoặc xấu đến hành vi Khi các trở ngại được loại bỏ, cá nhân sẽ
có hành vi sức khoẻ lành mạnh và vì thế chất lượng cuộc sống được nâng cao[58], [63]
Trang 30Việc áp dụng lý thuyết mô hình nâng cao sức khỏe của Nola J Pendervào nghiên cứu của chúng tôi cụ thể như sau:
Về đặc điểm cá nhân, chúng tôi mô tả đặc điểm của thân nhân baogồm giới tính, tuổi, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tìnhtrạng kinh tế, quan hệ với người bệnh; đặc điểm của người bệnh baogồm giới tính, tuổi, thời gian nằm viện
Nhận thức về sự ảnh hưởng của các rào cản hành động, chúng tôi xácđịnh sự thiếu hụt thông tin và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khỏethể hiện qua các mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc ngườibệnh TBMMN sau khi ra viện
Mối tương quan tác động qua lại giữa đặc điểm cá nhân và nhận thứccác yếu tố ảnh hưởng, chúng tôi xác định liên quan giữa đặc điểmcủa thân nhân; đặc điểm của người bệnh với các mối quan tâm củathân nhân về việc chăm sóc người bệnh
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ thực hiện việc xác định nhận thức vềảnh hưởng của các rào cản Đây là bước đầu nhằm cung cấp dữ liệucho các nghiên cứu tiếp theo xác định hành vi thực hành chăm sócngười bị TBMMN tại nhà của thân nhân người bệnh
Trang 31Sơ đồ 1.1 Ứng dụng lý thuyết Nâng Cao Sức Khoẻ vào nghiên cứu
7 Quan hệ với người bệnh
8 Giới tính của người bị
TBMMN
9 Tuổi của người bị TBMMN
NHẬN THỨC VỀCÁC YẾU TỐẢNH HƯỞNG
Mối quan tâm vềviệc chăm sócngười bị TBMMNsau khi ra viện
KẾT QUẢ
Thực hành chămsóc người bịTBMMN
Trang 32Chương 2
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Nội Tim Mạch – Bệnh viện Đà Nẵng
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2/2016 đến tháng 6/2016
2.1.4 Dân số nghiên cứu
Dân số mục tiêu: Thân nhân của người bị TBMMN đang điều trị tạiBệnh viện Đà Nẵng
Dân số nghiên cứu: Thân nhân của người bị TBMMN đang điều trị tạiKhoa Nội tim mạch – Bệnh viện Đà Nẵng đã có chỉ định xuất viện
Dân số chọn mẫu: Người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc tạinhà cho người bị TBMMN đang điều trị tại Khoa Nội tim mạch – Bệnh viện
Đà Nẵng đã có chỉ định xuất viện trong khoảng thời gian thu thập số liệu vàđồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU – TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để chọn tất cả nhữngthân nhân chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc người bị TBMMN tạinhà sau khi xuất viện có những tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn chọn vào
Trang 332.2.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2.2.1 Tiêu chuẩn chọn vào
Người bệnh có chẩn đoán TBMMN thỏa tiêu chuẩn lâm sàng của tổ chức
y tế thế giới; có hình ảnh TBMMN trên kết quả chụp cắt lớp vi tính hay chụpcộng hưởng từ sọ não; người bệnh đã được điều trị qua giai đoạn cấp và đã có
kế hoạch chuẩn bị xuất viện
Người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc cho người bệnh tạinhà sau khi xuất viện của những người bị TBMMN có chỉ định xuất viện baogồm: các trường hợp được bác sỹ điều trị có chỉ định cho ra viện khi tìnhtrạng bệnh ổn định hoặc người bệnh/gia đình xin ra viện vì điều kiện kinh tế,điều kiện gia đình
2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Thân nhân của những người bệnh chuyển viện khác và/hoặc các trườnghợp xuất viện nhưng NB không về nhà (tái nhập viện để chuyển khoa, đếnnhà dưỡng lão)
Thân nhân của những người bệnh được bệnh viện cho về hoặc gia đìnhxin về do tiến triển bệnh quá nặng, có tiên lượng tử vong
Thân nhân của những người bệnh hoặc thân nhân NB không đồng ý thamgia nghiên cứu
2.2.3 Cỡ mẫu
n: là số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu
α: xác suất sai lầm loại I, chọn trị số α là 0,05 do đó có trị số Z(1-a/2) là1,96
d: sai số, với độ chính xác mong muốn là 95% nên chọn sai số là 0,05
Trang 34p: tỷ lệ về mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bịTBMMN sau khi xuất viện của thân nhân.
o Theo nghiên cứu của tác giả Yumiko Hayashi và cộng sự(2011) [32] thì tỷ lệ mối quan tâm về việc chăm sóc người bị TBMMNsau khi xuất viện của thân nhân là 83,7%
Thay các giá trị vào công thức trên, cỡ mẫu tính được là n ≥ 210
Chúng tôi chọn 210 đối tượng tham gia nghiên cứu
2.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện cho đến khi đủ cỡmẫu
Tất cả NB TBMMN đã có chỉ định xuất viện tại khoa Nội Tim Mạchbệnh viện Đà Nẵng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian thu thập số liệu sẽđược mời tham gia vào nghiên cứu Đề nghị NB hoặc gia đình NB cho nghiêncứu viên tiếp xúc với người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc cho
NB tại nhà sau khi xuất viện
Giải thích trực tiếp, rõ ràng mục đích nghiên cứu cho đối tượng nghiêncứu Nếu NB và/hoặc thân nhân NB đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký tênvào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 1)
Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp đối tượng tham gia nghiên cứu dựavào bộ câu hỏi soạn sẵn Điều tra viên tiến hành phỏng vấn từng đối tượngnghiên cứu và/hoặc thu thập thông tin từ hồ sơ theo các nội dung trongphiếu khảo sát và đánh dấu vào ô tương ứng với câu trả lời của đối tượngnghiên cứu
Sau khi phỏng vấn xong, điều tra viên kiểm tra lại và đảm bảo các
Trang 35Sơ đồ 2.1 Tóm tắt các bước thu thập số liệu
Bước 1: Sàng lọc và thu nhận đối tượng
Tại phòng hành chính khoa Nội tim mạch
Chọn các hồ sơ bệnh án của các NB TBMMN đã có chỉ định xuấtviện (dựa trên tiêu chuẩn chọn vào) và ghi nhận các đặc điểm củaNB
Bước 2: Tiếp xúc với NB và thân nhân NB
Tại phòng bệnh
Giải thích mục đích nghiên cứu và đề nghị NB hoặc thân nhân NBcho nghiên cứu viên gặp trực tiếp người chịu trách nhiệm chínhtrong việc chăm sóc NB tại nhà sau khi ra viện
Hướng dẫn thân nhân NB ký vào bản đồng ý tham gia nghiên cứu
Bước 3: Thu thập số liệu
Tại phòng bệnh
Khám và ghi nhận đặc điểm lâm sàng của NB
Phỏng vấn thân nhân NB các nội dung dựa vào bản thu thập số liệu
và ghi nhận thông tin
Kết thúc thu thập số liệu
Trang 362.3.2 Công cụ nghiên cứu
Sử dụng phiếu khảo sát mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị tai biến mạch máu não sau khi ra viện (Phụ lục 2)
Phiếu khảo sát được thiết kế dựa vào sự tham khảo từ các nghiên cứu của tác giả Yumiko Hayashi, nghiên cứu của tác giả Pei-Chun Tsai và một số nghiên cứu trước đây về mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người
bị TBMMN sau khi ra viện [17], [32], [38], [60], [72]
Mỗi đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp dựa vào một phiếu khảo sát riêng trong đó ghi nhận đầy đủ các phần:
Phần A gồm 3 nội dung khảo sát đặc điểm của người bệnh TBMMN ngay tại thời điểm trước khi xuất viện
Phần B gồm có 7 nội dung khảo sát đặc điểm chung của thân nhân NB TBMMN
Phần C là câu hỏi khảo sát mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc NB TBMMN sau khi xuất viện gồm có 10 mối quan tâm về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện có thể có của thân nhân NB Thân nhân NB trả lời bằng cách lựa chọn các mối quan tâm trên bảng khảo sát và có thể có nhiều hơn 1 lựa chọn cho câu trả lời ở phần này
2.4 LIỆT KÊ VÀ ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
2.4.1 Biến số độc lập
2.4.1.1 Biến số về đặc điểm của thân nhân người bệnh
Tuổi: là biến số định lượng, thu thập dựa vào năm sinh Trong phân tích
sẽ chia thành 2 nhóm: < 45 và ≥ 45 tuổi
Trang 37sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm tuổi của thân nhân < 55 và ≥
55 tuổi về nhu cầu hỗ trợ chăm sóc nb TBMMN tại nhà Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình của Việt Nam thấp hơn nên chúng tôi lựa chọn cách phân chia tuổi của thân nhân thành 2 nhóm dựa
vào tuổi trung niên là dưới 45 và từ 45 tuổi trở lên [3], [73]
Giới tính: là biến số nhị giá, có 2 giá trị nam và nữ
Nơi cư trú: là biến số nhị giá, có 2 giá trị nông thôn và thành thị
Nghề nghiệp: là biến số nhị giá, có 2 giá trị: đang làm việc và ―khác‖ bao gồm thất nghiệp/nội trợ/già/nghỉ hưu
Tình trạng kinh tế: là biến số nhị giá, được thu thập qua sự cảm nhận của thân nhân về tình trạng kinh tế gia đình của họ, gồm 2 giá trị: nghèo/trung bình và khá
Trình độ học vấn: là biến số nhị giá, có 2 giá trị: < cấp III (Trung học phổ thông) và ≥ Cấp III
Quan hệ với NB là biến số nhị giá, có 2 giá trị: Người thân trong gia đình (bao gồm vợ, chồng, con) và khác (anh – chị – em – họ hàng)
2.4.1.2 Biến số về đặc điểm của người bị TBMMN (Đặc điểm chung và đặc điểm lâm sàng)
Tuổi: là biến số định lượng, đánh giá dựa vào năm sinh Trong phân
tích sẽ chia thành biến nhị giá, có 2 giá trị: < 60 và ≥ 60 tuổi
o Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tấn Dũng (2012) [7] thì độ tuổi người bị tai biến mạch máu não tại Đà Nẵng chủ yếu từ 60
tuổi trở lên
Giới tính: là biến số nhị giá, gồm có 2 giá trị nam và nữ
Thời gian nằm viện: là biến số định lượng Khi phân tích đa biến sẽ
Trang 38chia thành biến số định tính dựa vào điểm cắt là số ngày nằm viện trung bình tạo thành biến nhị giá, có 2 giá trị: < số ngày nằm viện trung bình
và ≥ số ngày nằm viện trung bình
2.4.2 Biến số phụ thuộc
Biến số về mối quan tâm của thân nhân NB TBMMN sau khi xuất viện
Bao gồm 10 mối quan tâm được tham khảo từ các nghiên cứu trước [17], [49], [57], [72]
Mỗi một mối quan tâm là biến nhị giá, có 2 giá trị là có và không
Thông tin về tai biến mạch máu não và quá trình phục hồi của NB sau khi xuất viện
Cơ sở y tế gần nhà như bệnh viện, trung tâm y tế hoặc trung tâm phục hồi chức năng gần nơi ở mà NB có thể điều trị tại đó trong giai đoạn phục hồi
Giúp NB thực hiện các hoạt động hằng ngày như vệ sinh cá nhân, thay quần áo, tắm
Các chương trình phục hồi chức năng cho người bệnh
Ngăn ngừa tai biến mạch máo não tái phát
Thông tin về các loại thuốc dùng cho NB sau khi xuất viện
Giúp NB vận động như thay đổi tư thế, đứng lên, đi lại hoặc trợ giúp một phần để NB tự thực hiện
Chăm sóc y tế đặc biệt như chăm sóc vết thương, sonde tiểu, sonde dạ dày
Chăm sóc chế độ ăn
Cách phát hiện các dấu hiệu bất thường cần tái khám
Trang 39 Thống kê tỷ lệ các đặc tính của NB và thân nhân NB TBMMN
Thống kê tỷ lệ từng mối quan tâm về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện của thân nhân
Sử dụng phép kiểm Independent Sample t-tests để xác định liên
quan giữa thời gian nằm viện của người bệnh và mối quan tâm của thân nhân về việc chăm sóc người bị TBMMN sau khi ra viện
Sử dụng phép kiểm hồi quy logistic đa biến để xác định liên quan giữa nhu cầu của thân nhân NB TBMMN sau khi ra viện và đặc điểm NB, đặc điểm thân nhân NB TBMMN Tính OR và khoảng tin cậy 95% để lượng hóa mối liên quan
2.5.2 Kiểm soát sai lệch
Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp, rõ ràng
Tập huấn kỹ phương pháp điều tra cho những người cùng tham gia để thống nhất cách điều tra
Giải thích trực tiếp, rõ ràng mục đích nghiên cứu cho đối tượng được nghiên cứu
Hướng dẫn cho đối tượng cách trả lời bộ câu hỏi một cách rõ ràng trước khi tiến hành điền vào bộ câu hỏi
Trang 402.6 Y ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Đề cương của nghiên cứu này đã được sự phê duyệt và cho phép từ Hội đồng nghiên cứu khoa học của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh theo các quy định về y đức trong nghiên cứu khoa học
Đã được sự cho phép thu thập dữ liệu từ Hội đồng khoa học của Bệnh viện Đà Nẵng
Đây không phải là nghiên cứu can thiệp nên không xâm lấn đến cơ thể và sức khỏe của đối tượng tham gia nghiên cứu Người tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng trước khi quyết định có tham gia hay không Người tham gia nghiên cứu là tự nguyện và họ có thể từ chối tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không cần giải thích lý do
Trong cuộc phỏng vấn, người tham gia nghiên cứu có thể đặt câu hỏi hoặc từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào
Người tham gia nghiên cứu sẽ được đảm bảo giữ bí mật thông tin của họ bằng cách mã hóa số liệu trong bảng câu hỏi và không viết tên người tham gia trong bộ câu hỏi Thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu