Ngoài việc kích thích nociceptor, bradykinin và prostaglandin đặc biệt PGE2 làmtăng độ nhạy cảm của nociceptor [86] bằng cách tăng tính hưng phấn và tần số phát ra của chúng, kết quả là
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả các trường hợp có chỉ định phẫu thuật làm cứng cột sống theo chương trình tại BV Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai từ 1/8/2016 đến tháng 30/7/2017.
BN có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên
Có chỉ định phẫu thuật làm cứng cột sống ngực, thắt lƣng tại khoa Ngoại Thần Kinh – BV Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai.
Thời gian từ 1/8/2016 đến tháng 30/7/2017.
BN có tiền sử dùng thuốc gây nghiện (sử dụng > 30 mg/ngày morphin uống hoặc liều thuốc giảm đau gây nghiện tương đương trong vòng 1 tháng trước đó) BN dùng các thuốc giảm đau như NSAID trước khi phẫu thuật 8 giờ, các loại thuốc giảm đau khác trong 12 giờ trước phẫu thuật.
BN suy gan (AST > 80 U/L hoặc ALT > 80 U/L).
BN suy giảm chức năng thận (GFR < 60 ml/phút/1,73 m 2 hoặc creatinin > 2 mg/dl).
BN dị ứng hoặc chống chỉ định với bất kỳ thuốc nào sử dụng trong nghiên cứu.
BN không đồng ý tham gia nghiên cứu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu tiến hành nhằm so sánh hiệu quả giảm đau giữa 2 nhóm sử dụng 2 phương pháp giảm đau khác nhau BN thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được lấy vào 2 nhóm tùy theo phương pháp giảm đau được áp dụng:
Nhóm GĐDP: BN được sử dụng thuốc giảm đau ngay trước phẫu thuật
Nhóm không GĐDP: BN không được sử dụng thuốc giảm đau ngay trước phẫu thuật
Bảng 3.1 Phác đồ giảm đau của 2 nhóm BN
Nhóm GĐDP Nhóm không GĐDP
Có dùng paracetamol 1g/100ml truyền tĩnh mạch vào thời điểm 15 phút trước khi rạch da.
Không dùng thuốc giảm đau trước khi rạch da.
Dùng các thuốc giảm đau nhƣ paracetamol hoặc các thuốc nhóm NSAID, thuốc giảm đau thần kinh, opioid hoặc sự phối hợp các thuốc trên.
Dùng các thuốc giảm đau nhƣ paracetamol hoặc các thuốc nhóm NSAID, thuốc giảm đau thần kinh, opioid hoặc sự phối hợp các thuốc trên.
Công thức tính cỡ mẫu để so sánh trị số trung bình về điểm đau VAS của hai phương pháp giảm đau:
n là cỡ mẫu cho mỗi nhóm
C: là hằng số Với power = 0,9 và α = 0,05 thì C = 10,51
: sự khác biệt điểm đau VAS trung bình có ý nghĩa Nghiên cứu của chúng tôi xác định = 1
: đô lệch chuẩn Theo nghiên cứu của Kim SI và cộng sự năm 2016 cho thấy độ lệch chuẩn điểm đau VAS ở ngày đầu tiên sau phẫu thuật cột sống đối với nhóm có dùng GĐDP là 0,89; nhóm không dùng GĐDP là 1,06 Các giá trị này ở ngày thứ 2 hậu phẫu là 0,92 và 1,13 [61].
Thay các giá trị vào công thức trên ta tính đƣợc n = 23,6 (theo số liệu ngày 1 hậu phẫu), n = 26,8 (theo số liệu ngày 2 hậu phẫu).
Nhƣ vậy, nghiên cứu phải có tối thiểu 27 BN cho mỗi nhóm để có thể nhận biết sự khác biệt về điểm đau VAS ở BN thuộc 2 nhóm vào 2 ngày đầu sau phẫu thuật. Trên thực tế, chúng tôi có 33 BN ở nhóm GĐDP và 34 BN ở nhóm không GĐDP thoả mãn tiêu chuẩn.
Chọn tất cả BN từ 2 nhóm BN thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu và không có tiêu chuẩn loại trừ.
3.2.4 Mục tiêu khảo sát và các thông số theo dõi
3.2.4.1 Khảo sát đặc điểm BN
Giới tính: biến định danh (nominal) có 2 giá trị nam, nữ
Tuổi: biến liên tục (continuous), đƣợc tính bằng năm (năm hiện tại trừ cho năm sinh của BN)
Nhóm tuổi: biến định danh, có 2 giá trị: từ 60 tuổi trở xuống và trên 60 tuổi
Nghề nghiệp: biến định danh, gồm nông dân, công nhân, nội trợ, nghỉ hưu, khác.
Đặc điểm bệnh kèm: biến định danh, có các giá trị nhƣ THA, thoái hóa khớp (THK), viêm dạ dày (VDD) mạn tính, đái tháo đường (ĐTĐ), bệnh tim mạch (TM).
3.2.4.2 Đặc điểm liên quan đến phẫu thuật
Nguyên nhân phẫu thuật làm cứng cột sống: biến định danh, gồm TĐS, chấn thương, khác (cột sống yếu, mất vững do nhiễm trùng, khối u; vẹo cột sống)
Vị trí phẫu thuật: biến định danh, gồm các đốt sống ở ngực, thắt lƣng, cùng
Thời gian nằm viện trước phẫu thuật: biến liên tục, thời gian tính từ lúc BN nhập viện đến trước khi BN được đưa vào phòng mổ, tính theo đơn vị ngày
Thời gian phẫu thuật: biến liên tục, thời gian tính từ lúc rạch da đến khi khâu da hoàn tất, tính theo đơn vị phút
Thời gian đặt dẫn lưu từ vết mổ: biến liên tục, thời gian từ khi đặt dẫn lưu đến khi rút dẫn lưu, tính theo đơn vị ngày
Phương pháp phẫu thuật: biến định danh
Số tầng làm cứng: biến liên tục 3.2.4.3 Đặc điểm liên quan đến đau trước phẫu thuật
Điểm đau VAS trước khi phẫu thuật: biến định cấp (ordinal), điểm đau được ghi nhận vào ngày BN nhập viện.
Mức độ đau trước phẫu thuật: phân loại dựa trên thang đau VAS, biến định cấp có 4 giá trị: không đau (0), đau nhẹ (1 – 3), đau trung bình (4 – 6) và đau nặng (7 – 10) [29] [46].
3.2.4.4 Đánh giá hiệu quả GĐDP trên BN làm cứng cột sống
Điểm đau sau phẫu thuật: sử dụng thang đau VAS: tính theo thang điểm 10
(0 là không đau, 10 là đau nhiều không thể chịu đựng đƣợc) Nghiên cứu viên sẽ trực tiếp hỏi BN để biết điểm đau ở các thời điểm khảo sát.
Mức độ đau sau phẫu thuật: sử dụng thang đau VAS, biến định cấp có 4 giá trị: không đau (0), đau nhẹ (1 – 3), đau trung bình (4 – 6) và đau nặng (7 – 10).
Lƣợng opiod sử dụng: biến liên tục, là lƣợng thuốc giảm đau opioid, tính bằng mg morphin tiêm tĩnh mạch (IV) Các thuốc opiod khác đƣợc quy đổi tương đương với morphin IV (Bảng 2.1)
Mất ngủ về đêm: biến định danh, gồm 2 giá trị: có và không BN đƣợc xem là bị mất ngủ về đêm khi BN than phiền và phải sử dụng thuốc (diazepam) ít nhất 1 lần để ngủ đƣợc.
Số ngày dùng thuốc ngủ: biến liên tục, số ngày BN đƣợc chỉ định diazepam để ngủ, tính theo đơn vị ngày
Thời gian tập vận động tại giường sau phẫu thuật: biến liên tục, thời gian từ sau khi phẫu thuật đến khi BN có thể vận động tại giường và ngồi dậy được, tính theo đơn vị ngày.
Thời gian tập đi sau phẫu thuật: biến liên tục, thời gian từ sau khi phẫu thuật đến khi BN tập đi lại đƣợc, tính theo đơn vị ngày.
Thời gian nằm viện sau phẫu thuật: biến liên tục, thời gian từ sau khi phẫu thuật đến khi BN xuất viện, tính theo đơn vị ngày Trong đó, tiêu chuẩn xuất viện là BN tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, không sốt, vết mổ khô sạch, BN có thể ngồi dậy, tập đứng và đi đƣợc.
Các biến số liên quan đến biến cố có hại khi sử dụng thuốc (ADE): biến định danh, gồm 2 giá trị: có, không Bao gồm các biến sau: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn và nôn (BN cảm thấy muốn nôn hoặc nôn ra dịch tiêu hóa), đau thƣợng vị (đau bụng âm ỉ vùng thƣợng vị, ấn đau thƣợng vị và loại trừ các bệnh ngoại khoa khác), táo bón, tiêu chảy, chướng bụng, các ADE này được ghi nhận theo hồ sơ bệnh án và dƣợc sĩ trực tiếp hỏi BN sau phẫu thuật.
Bước 1: Xây dựng phiếu thu thập thông tin
Xây dựng phiếu thu thập thông tin.
Làm pilot trên 10 BN để hoàn chỉnh phiếu thu thập thông tin.
Bước 2: Tiến hành thu thập số liệu
BN thỏa tiêu chí chọn mẫu, thu thập thông tin cá nhân của BN, tiến hành phỏng vấn BN về điểm đau lúc BN nhập viện.
Sau khi BN đƣợc phẫu thuật, tiến hành phỏng vấn BN về điểm đau tại các thời điểm ngày 1, 2, 3 và ngày 7 sau phẫu thuật Đồng thời phỏng vấn về các ADE BN gặp phải sau phẫu thuật.
Nội dung các thông tin cần thu thập:
Mã hồ sơ bệnh án, tên, tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, nghề nghiệp, ngày nhập viện, ngày xuất viện, ngày phẫu thuật, lý do nhập viện, tiền sử bệnh, tiền sử dị ứng.
Nguyên nhân phẫu thuật làm cứng cột sống
Thời gian đặt dẫn lưu từ vết mổ
Có chỉ định GĐDP không
Có giải thích đầy đủ cho BN trước phẫu thuật không
Phần theo dõi sau phẫu thuật
Điểm đau, mức độ đau ngày 1, 2, 3, 7 sau phẫu thuật
Số ngày dùng thuốc ngủ
Thời gian tập vận động tại giường sau phẫu thuật
Thời gian tập đi sau phẫu thuật
Thời gian nằm viện sau phẫu thuật
Sử dụng thống kê mô tả để tính phân bố BN theo tuổi, giới, tỷ lệ bệnh kèm, tỷ lệ các nguyên nhân phẫu thuật làm cứng cột sống, tỷ lệ các phương pháp làm cứng cột sống, trung bình thời gian nằm viện, trung bình thời gian phẫu thuật.
Đối với các biến liên tục thỏa mãn kiểm định tham số (phân phối chuẩn và phương sai đồng nhất) được trình bày bằng trung bình ± SD.
Đối với các biến liên tục không thỏa mãn kiểm định tham số (không phân phối chuẩn và/ hoặc phương sai không đồng nhất) được trình bày bằng trung vị (min-max).
Các biến phân loại (biến định danh, biến định cấp) đƣợc trình bày bằng tỷ lệ phần trăm.
Phần mềm thống kê sử dụng: SPSS 20.0.
So sánh giá trị trung bình giữa 2 nhóm BN độc lập Đối với các biến liên tục có phân phối chuẩn và phương sai đồng nhất sử dụng phép kiểm independent sample t-test. Đối với biến định danh; các biến liên tục có phân phối không chuẩn hoặc/và phương sai không đồng nhất sử dụng phép kiểm Mann-Whitney.
So sánh tỷ lệ giữa 2 nhóm BN độc lập
Bằng phép kiểm chi bình phương (hoặc Fisher exact test) Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
4.1.1 Đặc điểm liên quan đến BN
4.1.1.1 Tuổi và nhóm tuổi Độ tuổi trung bình của toàn mẫu nghiên cứu là 52,06 ± 11,95 tuổi, tuổi nhỏ nhất là
23 tuổi, tuổi lớn nhất là 76 tuổi Phân bố BN theo tuổi và nhóm tuổi ở 2 nhóm nghiên cứu đƣợc trình bày trong bảng 4.1 và bảng 4.2
Bảng 4.1 Đặc điểm về độ tuổi của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Bảng 4.2 Đặc điểm về nhóm tuổi của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Nhận xét: Độ tuổi trung bình của BN trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự so với một số nghiên cứu trong nước Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Hanh trên BN phẫu thuật TĐS thắt lƣng mất vững [3], độ tuổi trung bình 47,18 ± 1,62 tuổi, cũng theo nghiên cứu của tác giả, tỷ lệ BN từ 60 tuổi trở xuống là 90% với độ tuổi phẫu thuật nhiều nhất là 41 – 60 tuổi (68%), trong khi nghiên cứu của chúng tôi là 52,2% Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Hải và cộng sự [4], cũng cho kết quả độ tuổi trung bình tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi (52 ± 9 tuổi), tập trung ở lứa tuổi 40 – 60 tuổi (83%), nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vũ độ tuổi trung bình là 53,77 ± 7,27 tuổi [10] Sự tương đồng về độ tuổi với các nghiên cứu trong nước có thể giải thích do BN phẫu thuật làm cứng cột sống chủ yếu nằm trong độ tuổi lao
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
35 động, độ tuổi thường làm việc nhiều và nặng nhọc, như đối tượng BN trong nghiên cứu của chúng tôi phân nửa là nông dân và công nhân, việc lao động với cường độ nặng và thường xuyên dễ dẫn đến các bệnh lý và các chấn thương liên quan đến cột sống nhƣ TĐS, thoát vị đĩa đệm, gãy cột sống…Do đó, tần suất BN đƣợc chỉ định phẫu thuật làm cứng cột sống ở độ tuổi này thường cao hơn các độ tuổi khác
Tuy nhiên, độ tuổi trung bình trong nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Kim SI.và cộng sự [61], độ tuổi trung bình ở nhóm GĐDP là 67,9 ± 7,6 tuổi, nhóm không GĐDP là 66,3 tuổi; Có thể là do nghiên cứu của Kim SI tiến hành trên
BN người Hàn Quốc, nơi có tỷ lệ dân số già hoá và độ tuổi lao động trung bình theo đó mà tăng lên
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhóm tuổi giữa 2 nhóm nghiên cứu (p = 0,462) Tuy nhiên, độ tuổi trung bình của nhóm GĐDP thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP (p = 0,025) Đây đƣợc xem là một yếu tố gây nhiễu mà chúng tôi sẽ xét tới trong phần sau
Trong toàn dân số nghiên cứu, tỷ lệ BN nữ là 61,2% cao hơn so với BN nam (38,8%) Phân bố BN theo giới tính ở 2 nhóm đƣợc trình bày trong bảng 4.3
Bảng 4.3 Đặc điểm về giới tính của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Trong toàn dân số nghiên cứu, tỷ lệ BN nữ cao hơn gấp 1,58 lần so với BN nam Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vũ với tỷ lệ nữ 70%, nam 30% [11], nghiên cứu của tác giả Võ Văn Sĩ cũng cho thấy tỷ lệ nữ cao hơn so với nam giới (gấp 4 lần) [7] Trên thế giới, một số nghiên cứu cũng cho kết quả tỷ lệ
BN nữ cao hơn BN nam nhƣ nghiên cứu của Lee BH và cộng sự cho thấy tỷ lệ nữ
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
61,1% so với tỷ lệ nam là 38,9% [65], nghiên cứu của tác giả Alijani và cộng sự - tỷ lệ nữ cao hơn tỷ lệ nam 4 lần [12] Sự khác biệt giữa tỷ lệ nam và nữ trong nghiên cứu có thể lý giải là do phụ nữ trải qua giai đoạn mang thai và sinh nở, lúc này cột sống phải chịu lực tác động lớn, mang thai càng nhiều lần càng làm tổn hại đến cột sống và hệ thống dây chằng Ngoài ra, trong nghiên cứu của chúng tôi phần lớn đối tượng là công nhân và nông dân, điều kiện kinh tế xã hội thấp, do đó người phụ nữ phải làm việc nặng nhọc, tần suất lao động lớn nhƣ nam giới Vì vậy, tỷ lệ phụ nữ mắc các bệnh liên quan đến cột sống thường cao hơn nam giới, điều này kéo theo việc thực hiện phẫu thuật làm cứng cột sống cũng cao theo
Phần lớn các nghiên cứu của các tác giả cho rằng giới tính không ảnh hưởng đến các cơn đau sau phẫu thuật Theo nghiên cứu của tác giả Moranjkic và cộng sự [68], giới tính không liên quan đến các cơn đau sau phẫu thuật cột sống, tác giả Dorow
M và cộng sự cũng cho rằng giới tính không ảnh hưởng đến các cơn đau hậu phẫu
[34] Phân tích tổng quan của tác giả Boer và cộng sự [32] về các yếu tố ảnh hưởng đến đau sau phẫu thuật cho thấy bằng chứng về ảnh hưởng của giới tính lên điểm đau chƣa rõ ràng, một số nghiên cứu cho rằng nữ giới đau nhiều nam giới, tuy nhiên một số nghiên cứu khác lại cho rằng sự khác biệt về cơn đau hậu phẫu giữa nam và nữ không có ý nghĩa
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, phân bố BN theo giới không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p = 0,922)
BN có nghề nghiệp là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn mẫu nghiên cứu (26,9%), kế đến là công nhân và nội trợ (23,9%) Tỷ lệ nghề nghiệp của BN trong toàn mẫu nghiên cứu đƣợc trình bày qua hình 4.2
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
Hình 4.2 Tỷ lệ nghề nghiệp của mẫu nghiên cứu
Sự phân bổ nghề nghiệp của BN vào 2 nhóm nghiên cứu đƣợc trình bày ở bảng 4.4
Bảng 4.4 Đặc điểm về nghề nghiệp của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Sự phân bố nghề nghiệp trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Hanh [3], BN là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất 30%, nội trợ 26%, còn lại là buôn bán (20%), công nhân (10%), nhân viên văn phòng (14%) Theo tác giả Đỗ Ngọc Riết [6], nghề nghiệp thường gặp nhất cũng là nông dân (58,1%), công nhân (18,6%), nhân viên văn phòng (9,3%), nội trợ (7%)
Từ kết quả trên có thể thấy rằng tỷ lệ BN phẫu thuật làm cứng cột sống chủ yếu là nhóm BN có nghề nghiệp tác động xấu đến cột sống (nông dân, công nhân), cột
Nông dân Công nhân Nội trợ Nghỉ hưu Khác
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
38 sống ở nhóm BN này thường phải chịu trọng tải lớn, và những tổn thương liên tục kéo dài, dẫn đến tổn thương dây chằng, diện khớp và đặc biệt gây ra hiện tượng gãy trật, dễ thoái hóa đĩa đệm sớm, đồng thời họ là những người thường làm những việc nặng nhọc nên nguy cơ bị chấn thương dẫn đến bị TĐS, gãy đốt sống cao Trong nghiên cứu, chủ yếu BN là nữ giới, nên tỷ lệ BN thuộc nhóm nghề nghiệp nội trợ cũng chiếm tỷ lệ cao
Kết quả so sánh nghề nghiệp giữa 2 nhóm BN cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nghề nghiệp giữa nhóm GĐDP và không GĐDP (p = 0,257) 4.1.1.4 Bệnh kèm
Kết quả thống kê cho thấy có 40,3% BN trong nhóm nghiên cứu có mắc thêm bệnh kèm, bao gồm: THA, ĐTĐ, THK, bệnh lý TM, VDD mãn tính Đặc điểm về bệnh kèm ở 2 nhóm nghiên cứu đƣợc trình bày qua bảng 4.5.
Bảng 4.5 Đặc điểm về bệnh kèm của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Mắc ít nhất 1 bệnh kèm 11 33,3 16 47,1
Phân bố BN theo từng bệnh kèm cụ thể đƣợc trình bày trong bảng 4.6
Bảng 4.6 Tỷ lệ bệnh kèm của 2 nhóm BN
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
Tỷ lệ bệnh kèm ở nhóm GĐDP là 33,3% và nhóm không GĐDP là 47,1%, khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,252) Trong đó, THA là bệnh kèm có tỷ lệ cao nhất (22,4%), tiếp đến là THK chiếm 11,9%, VDD mạn tính chiếm 10,4%, ĐTĐ (9,0%) và bệnh lý TM (6,0%)
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU DỰ PHÒNG TRÊN BN PHẪU THUẬT LÀM CỨNG CỘT SỐNG
4.2.1 So sánh điểm đau và mức độ đau giữa hai nhóm BN tại vùng phẫu thuật
Trung bình điểm đau của tổng mẫu nghiên cứu ở ngày đầu tiên hậu phẫu là 6,72 ± 0,83, và giảm dần ở ngày 2, 3 đến ngày ngày thứ 7 sau phẫu thuật Điểm đau VAS ở
2 nhóm đƣợc trình bày qua bảng 4.18
Bảng 4.18 Điểm đau của BN ở các ngày sau phẫu thuật của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Trung bình ± SD Trung bình ± SD
Nhận xét: Điểm đau VAS ở nhóm GĐDP và không GĐDP đều giảm dần theo theo thời gian, trong đó điểm đau VAS ở nhóm GĐDP thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP ở 3 ngày sau phẫu thuật (p < 0,05) Ở ngày 7 hậu phẫu, điểm đau VAS ở cả 2 nhóm đều xuống thấp và không khác biệt có ý nghĩa thống kê
Về mức độ đau ở các ngày sau phẫu thuật, tất cả BN đều đau ở mức độ trung bình đến nặng ở ngày đầu tiên hậu phẫu với tỷ lệ BN đau nặng là 64,2%, ở ngày thứ 2 tỷ lệ BN đau nặng giảm xuống còn 28,4%, đa phần là BN đau ở mức độ trung bình Ngày thứ 3 hậu phẫu, tỷ lệ BN đau nặng giảm xuống còn 19,4%
Kết quả mức độ đau ở các ngày sau phẫu thuật ở từng nhóm nghiên cứu đƣợc trình bày ở bảng 4.19
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
Bảng 4.19 Mức độ đau của BN ở các ngày sau phẫu thuật của 2 nhóm BN
Nhóm không GĐDP (n = 34) Giá trị p
Hậu phẫu ngày 1 Đau trung bình 17 51,5 7 20,6
Hậu phẫu ngày 2 Đau nhẹ 3 9,1 2 5,9 Đau trung bình 25 75,8 18 52,9 0,021 Đau nặng 5 15,2 14 41,2
Hậu phẫu ngày 3 Đau nhẹ 7 21,2 4 11,8
0,091 Đau trung bình 23 69,7 20 58,8 Đau nặng 3 9,1 10 29,4
Hậu phẫu ngày 7 Đau nhẹ 22 84,6 24 70,6
Nhìn chung tỷ lệ BN đau nặng ở nhóm không GĐDP nhiều hơn ở nhóm GĐDP (p 0,008) ở cả 2 ngày đầu sau phẫu thuật, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), sự khác biệt về mức độ đau giữa 2 nhóm nghiên cứu ở ngày thứ 3 sau phẫu thuật không có ý nghĩa thống kê (p = 0,091), ngày 7 hậu phẫu không còn BN nào đau nặng ở cả 2 nhóm, chỉ còn đau nhẹ và trung bình, tỷ lệ đau nhẹ và trung bình không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p > 0,05)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đặc điểm về độ tuổi trung bình giữa 2 nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, có thể đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến điểm đau của BN sau phẫu thuật Để điều chỉnh yếu tố gây nhiễu này, chúng tôi tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính đa biến Biến phụ thuộc là điểm đau VAS; biến
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
53 độc lập bao gồm: áp dụng phương pháp GĐDP (có/không), tuổi Kết quả được trình bày trong bảng 4.20
Bảng 4.20 Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng lên điểm đau của BN hậu phẫu
Yếu tố Hệ số góc 95% CI Giá trị p
Giới hạn dưới Giới hạn trên Hậu phẫu ngày 1
Sau khi phân tích hồi quy, chúng tôi nhận thấy yếu tố khác biệt về tuổi không ảnh hưởng có ý nghĩa đến điểm đau sau phẫu thuật của BN (p > 0,05)
Nhƣ vậy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi ở 2 nhóm nghiên cứu (bảng 4.1) không làm ảnh hưởng việc đánh giá điểm đau của BN trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật, chỉ có phương pháp giảm đau mới ảnh hưởng đến các cơn đau hậu phẫu, nhóm BN nào áp dụng phương pháp GĐDP thì điểm VAS đều giảm, cụ thể ngày 1 hậu phẫu nhóm BN dùng GĐDP điểm VAS giảm 0,649 đơn vị so với nhóm không GĐDP (p = 0,001); ngày 2 điểm VAS giảm 0,868 đơn vị (p = 0,006), ngày 3 điểm VAS giảm tương ứng là 1,153 đơn vị (p = 0,001) Ở ngày 7 hậu phẫu cả phương pháp giảm đau và tuổi đều không ảnh hưởng đến điểm VAS của BN (p > 0,05)
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về điểm đau và mức độ đau sau phẫu thuật phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới Nghiên cứu của tác giả Kim SI và cộng sự [61] trên 80 BN đƣợc phẫu thuật làm cứng cột sống cho thấy điểm đau ở nhóm GĐDP thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP (p < 0,001), cụ thể điểm đau VAS ở nhóm GĐDP ở các ngày 1, 2, 4 sau phẫu thuật là 4,25 ± 0,89; 3,62 ± 0,92; 3,1 ± 0,92; điểm đau VAS ở nhóm không GĐDP là 5,52 ± 1,06; 5,12 ± 1,13; 4,52 ± 0,96 Tuy nhiên, điểm VAS ở cả 2 nhóm trong nghiên cứu của tác giả đều thấp hơn chúng tôi, điều này có thể đƣợc lý giải là sau phẫu thuật BN ở cả 2 nhóm đều đƣợc dùng morphin PCA nhƣ trị liệu nền hậu phẫu, hơn nữa nghiên cứu chỉ thực hiện trên BN phẫu thuật làm cứng cột sống 1 tầng nên BN sẽ ít đau hơn
Nghiên cứu của tác giả Lee BH [65], điểm VAS ở nhóm GĐDP và không GĐDP ở ngày đầu tiên sau phẫu thuật là 6,56 ± 2,33 và 7,35 ± 1,88, ngày thứ 2 là 5,52 ± 2,25 và 6,76 ± 1,81, ngày thứ 3 là 4,84 ± 2,12 và 5,92 ± 1,89, ngày 7 là 3,79 ± 2,18 và 4,57 ± 1,90 Nhƣ vậy điểm đau VAS ở 3 ngày và ngày thứ 7 hậu phẫu ở nhóm GĐDP đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP (p < 0,05) Điểm VAS trong nghiên cứu của tác giả này khá tương đồng với điểm VAS trong nghiên cứu của chúng tôi
Trong nghiên cứu của tác giả Yukawa và cộng sự [101] trên 73 BN phẫu thuật làm cứng cột sống 1 tầng hoặc 2 tầng, so sánh hiệu quả của 3 phương pháp GĐDP khác nhau, tuy không có nhóm chứng để cho thấy hiệu quả của GĐDP so với không GĐDP, tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả kiểm soát đau sau mổ tốt trên
BN hậu phẫu 8 giờ, 3 ngày đầu hậu phẫu và ngày thứ 7 với điểm VAS đều dưới 5 Tương tự, nghiên cứu của tác giả Mathiesen O và cộng sự trên BN phẫu thuật làm cứng cột sống nhiều tầng [67], kết quả cho thấy điểm đau VAS ở nhóm BN dùng GĐDP với nhiều mô thức giảm đau đều dưới 5 lúc BN nghỉ ngơi, và lúc vận động điểm VAS nằm trong khoảng 5 – 7 trong vòng 6 ngày hậu phẫu
Phân tích gộp của Jiang và cộng sự [52] trên BN phẫu thuật cột sống cho thấy, ở nhóm dùng giảm đau trước phẫu thuật bằng pregabalin và tiếp tục dùng pregabalin
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
55 sau phẫu thuật có thể làm giảm điểm VAS khi nghỉ ngơi tại thời điểm 12 giờ sau phẫu thuật so với nhóm không dùng giảm đau trước phẫu thuật (WMD = -1,91;
95% CI -4,07 0,24; p = 0,082); tại thời điểm 24, 48 giờ điểm VAS cũng giảm đáng kể (WMD = -2,66; 95% CI -4,51 -0,81; P = 0,005) tại 24 giờ và (WMD= - 4,33; 95% CI -6,38 -2,99; P < 0,001) tại 48 giờ
Nghiên cứu của tác giả Rajpal S và cộng sự [80] cũng cho thấy hiệu quả của việc sử dụng nhiều mô thức giảm đau đường uống khác nhau trước phẫu thuật và sau phẫu thuật so với việc sử dụng giảm đau bằng opioid IV PCA sau phẫu thuật, kết quả cho thấy có 39% BN ở nhóm có sử dụng thuốc giảm đau trước phẫu thuật không bị đau từ trung bình đến nặng, trong khi nhóm PCA là 24%, 46% BN ở nhóm PCA thường xuyên trải qua cơn đau trung bình – nặng, tỷ lệ này là 34% ở nhóm dùng giảm đau trước phẫu thuật
Tác giả Sekar và cộng sự nghiên cứu trên 82 BN phẫu thuật cột sống thắt lƣng cùng có hoặc không dùng dụng cụ đặt vào cột sống [87], nghiên cứu tiến hành so sánh điểm đau VAS và NRS ở 2 nhóm có và không GĐDP, kết quả cho thấy điểm VAS và NRS ở nhóm GĐDP đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP ở tất cả các thời điểm nghiên cứu sau phẫu thuật (thời điểm 0, 4, 8, 12, 24 giờ hậu phẫu), (p < 0,002 tại thời điểm 0 giờ, p < 0,001 tại các thời điểm còn lại) Nghiên cứu của tác giả Siribumrungwong K trên BN phẫu thuật làm cứng cột sống thắt lƣng từ 1 đến 3 tầng [89], tác giả so sánh giữa 3 nhóm trong đó 2 nhóm dùng GĐDP và 1 nhóm chứng, kết quả cho thấy điểm đau NRS ở nhóm GĐDP bằng parecoxib hoặc ketorolac thấp hơn nhóm chứng (p < 0,05), tuy nhiên kết quả này chỉ có sự khác biệt trong thời gian sớm sau phẫu thuật, tại thời điểm 0 giờ và 1 giờ hậu phẫu
Tương tự, nghiên cứu của tác giả Turan A cũng cho thấy hiệu quả của GĐDP ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật [92], cụ thể tại các thời điểm 1, 2, 4 giờ sau phẫu thuật điểm VAS của nhóm GĐDP là 2, 0, 0 so với nhóm không GĐDP là 3, 2, 2; sự khác biệt này có ý nghĩ thống kê (p < 0,01) Tại các thời điểm khác điểm VAS ở cả 2 nhóm là 0
Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
Nghiên cứu của tác giả Reynolds J và cộng sự [82] cũng cho thấy hiệu quả của GĐDP trên điểm đau NRS của BN, điểm đau NRS tại phòng hậu phẫu của BN ở nhóm GĐDP là 3,7 so với nhóm không GĐDP là 7,7; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,006) Các nghiên cứu trên chứng minh hiệu quả của GĐDP trên BN phẫu thuật làm cứng cột sống, một số nghiên cứu chỉ khảo sát điểm đau trong thời gian ngắn sau phẫu thuật, tuy nhiên nếu ban đầu BN đã kiểm soát đƣợc cơn đau tốt thì thời gian tiếp theo các cơn đau cũng sẽ không quá trầm trọng
Tóm lại, phương pháp GĐDP giúp làm giảm điểm đau VAS trên BN ở 3 ngày đầu sau phẫu thuật
4.2.2 So sánh lƣợng opioid sử dụng giữa 2 nhóm nghiên cứu