Hiện nay có nhiều phương pháp giảm đau bụng kinh được nghiên cứu, từ sử dụng thuốc như thuốc kháng viêm không steroid NSAID: non steroidalanti inflammatory drug, thuốc tránh thai đường u
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng ngẫu nhiên mù đơn. Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Đại học Y Dƣợc TP Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu 01/12/2018 đến 30/06/2019.
Đối tƣợng nghiên cứu
à 1 : điểm đau trung bỡnh của nhúm 1 (nhúm chứng)
à2: điểm đau trung bỡnh của nhúm 2 (nhúm can thiệp)
tỉ số mẫu (nhóm 2/ nhóm 1) r = 1
Theo nghiờn cứu của tỏc giả Cha NH [16] thỡ à 1 = 4,62, σ 1 = 2,54, à 2 = 3,01, σ2 = 2,68.
Thay vào công thức cho ra cỡ mẫu mỗi nhóm là 42 người Nghiên cứu dự trù mất mẫu 10% nên lấy cỡ mẫu là cho mỗi nhóm 47 người.
Sinh viên nữ tham gia nghiên cứu bốc thăm để đƣợc phân nhóm, có 94 lá thăm nằm trong phong bì đục, 47 lá thăm đánh số 1, 47 lá thăm đánh số 2. Sau khi đƣợc chọn vào nghiên cứu sẽ tiến hành bốc thăm, thăm số 1 đối tƣợng sẽ vào nhóm chứng là nhóm giả nhĩ châm, thăm số 2 đối tƣợng sẽ vào nhóm can thiệp là nhóm nhĩ châm.
Sinh viên nữ bị đau bụng kinh, tuổi đủ 18 - 25 độc thân, thỏa các tiêu chuẩn [1],[4],[13]:
VAS từ 4 - 10 điểm trong thời gian hành kinh với ít nhất ba chu kì kinh nguyệt trong 6 tháng qua.
Không có bệnh nội khoa liên quan (bệnh tim mạch, bệnh thận, rối loạn hô hấp, tiểu đường, hen suyễn, suy giáp, cường giáp) và phụ khoa trước đó.
Thời gian hành kinh từ 3 - 8 ngày, chu kì 21 - 35 ngày.
Không sử dụng thuốc thuốc tránh thai đường uống và các phương pháp tránh thai khác, thuốc làm gián đoạn chu kỳ rụng trứng, thuốc giảm đau, chất ức chế tổng hợp prostaglandin 4 ngày trước khi can thiệp.
Có thể hiểu và sử dụng thang điểm VAS.
Trạng thái tâm thần kinh không ổn định, khiếm khuyết nghe, nhìn, phát âm.
Hút thuốc thường xuyên hoặc tiêu thụ đồ uống kích thích như trà, cà phê hoặc rƣợu.
Da vùng loa tai có tổn thương.
Tiền sử đau mãn tính ( > 14 ngày mỗi tháng).
Phẩu thuật vùng bụng trong 3 tháng trước.
2.2.5 Tiêu chuẩn dừng nghiên cứu
Xuất hiện các triệu chứng gây khó chịu cho đối tƣợng nghiên cứu khởi phát ở bất kì giai đoạn nào trong quá trình nghiên cứu: vựng châm, khó thở.
Đối tƣợng nghiên cứu không đồng ý tiếp tục tham gia nghiên cứu ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình nghiên cứu.
Trong thời gian nghiên cứu đối tƣợng nghiên cứu có bất kỳ căng thẳng tâm lý nghiêm trọng như người thân mất.
2.2.6 Liệt kê và định nghĩa biến số
Cường độ đau: biến định lượng, xác định bằng thang điểm VAS là từ
Lƣợng thuốc giảm đau sử dụng: biến định lƣợng, số lƣợng thuốc giảm đau sử dụng sau trong lúc đau bụng, đơn vị là viên.
Tổng thời gian đau: biến định lƣợng xác định bằng cách lấy thời điểm cơn đau kết thúc trừ cho thời điểm bắt đầu xuất hiện cơn đau, đơn vị giờ.
Tác dụng không mong muốn của châm loa tai: gồm 4 biến nhị giá: đau vị trí dán, ngứa, triệu chứng khác, không Xác định nhƣ sau: o Đau vị trí dán: sau khi can thiệp nhĩ châm Theo dõi đến khi ngƣng nghiên cứu. o Ngứa: sau khi can thiệp nhĩ châm, đối tƣợng nghiên cứu đƣợc theo dõi đánh giá bằng hỏi lâm sàng Theo dõi đến khi ngƣng nghiên cứu. o Khác: các triệu chứng ngoài các triệu chứng trên. o Không: đối tƣợng nghiên cứu không có bất kỳ triệu chứng gì sau khi can thiệp nhĩ châm.
Cải thiện chất lƣợng cuộc sống trong chu kì hành kinh: là biến nhị giá với 2 giá trị: có hoặc không.
Tuổi: biến định lƣợng, đƣợc tính bằng năm tham gia nghiên cứu - năm sinh, đơn vị là năm.
Tuổi bắt đầu hành kinh: biến định lƣợng, năm bắt đầu hành kinh - năm sinh, đơn vị là năm.
Chu kỳ kinh nguyệt: biến định lƣợng, đƣợc tính từ lúc bắt đầu ra kinh lần này đến lúc bắt đầu ra kinh lần kế, đơn vị là ngày [7] [2].
Thời gian hành kinh: biến định lƣợng, đƣợc tính bằng ngày cuối cùng hành kinh (ngày hết ra máu âm đạo) - ngày đầu tiên hành kinh (ngày đầu tiên ra máu âm đạo) của cùng 1 chu kỳ, đơn vị là ngày [2].
Thời gian khởi đầu đau bụng kinh: biến định tính, đƣợc tính bằng cách lấy năm khởi đầu đau bụng kinh - năm bắt đầu hành kinh, với 3 giá trị ( 0,05 đƣợc xem là phân phối chuẩn.
Để so sánh sự khác biệt giữa các giá trị trung bình (biến định lƣợng) o Nếu có phân phối chuẩn: Sử dụng phép kiểm T với p < 0,05 đƣợc coi là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. o Nếu không có phân phối chuẩn: Sử dụng phép kiểm MannWhitney. Với p < 0,05 đƣợc coi là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Các biến định tính o Để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ (biến định tính) dùng phép kiểm chi bình phương (χ2). o Nếu số ô có tần suất kỳ vọng nhỏ hơn 5 chiếm hơn 20% trong bảng
2 x n thì thay bằng phép kiểm chính xác Fisher.
Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Về các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu o Nhĩ hoàn là phương pháp không xâm lấn, ít tác dụng phụ, nếu có thường nhẹ, thời gian ngắn, dung nạp tốt.
Về đối tƣợng nghiên cứu o Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc thông tin đầy đủ về nghiên cứu, về các biến cố có thể xảy ra trong quá trình thực hiện. o Đối tƣợng nghiên cứu đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu bằng văn bản. o Đối tƣợng nghiên cứu đƣợc quyền ngừng tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào. o Thông tin nghiên cứu sẽ đƣợc bảo mật và chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu. o Chúng tôi luôn theo dõi, xử trí kịp thời các tình huống ngoài ý muốn trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
3.1.1 Tuổi, chiều cao và cân nặng
Bảng 3.1: Tuổi, chiều cao, cân nặng của dân số nghiên cứu Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P Tuổi (năm)* 21,07 ± 1,47 21,60 ± 1,67 0,13
Tuổi thấp nhất 19, tuổi cao nhất 24, tuổi trung bình giữa các nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Chiều cao thấp nhất 144 cm, chiều cao cao nhất 163 cm, chiều cao trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Cân nặng thấp nhất 37 kg, cân nặng cao nhất 54 kg, cân nặng trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.1.2 Phân độ cân nặng của dân số nghiên cứu
Bảng 3.2: Phân độ cân nặng Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P
Phân độ cân nặng bình thường chiếm tỷ lệ cao hơn so với các phân độ khác ở 2 nhóm. Đặc điểm về phân độ cân nặng giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.1.3 Tuổi bắt đầu hành kinh, chu kỳ kinh, số ngày hành kinh và số lần đau bụng kinh trong 6 tháng qua
Bảng 3.3: Tuổi bắt đầu hành kinh, chu kỳ kinh, số ngày hành kinh và số lần đau bụng kinh trong 6 tháng qua Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp
Số lần đau bụng trong 6 tháng trước (lần)
Tuổi bắt đầu hành kinh thấp nhất 11, tuổi bắt đầu hành kinh cao nhất
17, tuổi bắt đầu hành kinh trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Chu kỳ kinh ngắn nhất 21 ngày, chu kỳ kinh dài nhất 35 ngày, chu kỳ kinh trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Ngày hành kinh ngắn nhất 3 ngày, ngày hành kinh dài nhất 7 ngày, ngày hành kinh trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê
Số lần đau bụng kinh trong 6 tháng trước thấp nhất 4 lần, cao nhất 6 lần, số lần đau bụng kinh trong 6 tháng trước trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.1.4 Năm xuất hiện đau bụng kinh sau lần hành kinh đầu tiên
Bảng 3.4: Năm xuất hiện đau bụng kinh Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P
Nhận xét: Đặc điểm về năm xuất hiện đau bụng kinh sau lần hành kinh đầu tiên khác nhau giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.1.5 Ngày xuất hiện đau bụng kinh
Bảng 3.5: Ngày xuất hiện đau bụng kinh Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P
Nhận xét: Đau bụng kinh xuất hiện sau khi hành kinh chiếm tỷ lệ cao hơn so với trước khi hành kinh ở 2 nhóm Đặc điểm ngày xuất hiện đau bụng kinh giữa 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.1.6 Ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống, và tiền căn gia đình có người bị đau bụng kinh
Bảng 3.6: Ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống, tiền căn gia đình. Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P Ảnh hưởng chất lƣợng cuộc sống
Nhận xét: Đau bụng kinh ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống trong những ngày hành kinh chiếm tỷ lệ cao ở 2 nhóm.
Tiền căn gia đình ghi nhận mẹ hoặc chị em gái có đau bụng kinh chiếm 50% ở 2 nhóm. Đặc điểm đau bụng kinh ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và gia đình có tiền căn đau bụng kinh giữa 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê(p > 0,05).
Điểm VAS, tổng thời gian đau bụng trong mỗi lần hành kinh và số lƣợng thuốc dùng trong 1 lần hành kinh
Bảng 3.7: Điểm VAS, tổng thời gian đau và số lƣợng thuốc giảm đau Đặc điểm VAS
Thời gian (giờ) Số lƣợng thuốc
Bảng 3.8: Giá trị P trong từng nhóm về điểm số VAS, thời gian, số lƣợng thuốc trước và sau can thiệp
Giá trị P VAS Thời gian Số lƣợng thuốc Trước - Sau Nhóm 1 P = 0,001 P = 0,0003 P = 0,048
Bảng 3.9: Giá trị P giữa 2 nhóm về điểm số VAS, thời gian, số lƣợng thuốc
Giá trị P VAS Thời gian Số lƣợng thuốc Trước can thiệp P = 0,25 P = 0,095 P = 0,96
Điểm VAS o Trước can thiệp: mức độ đau trung bình theo thang điểm VAS thấp nhất 4 điểm, cao nhất 9 điểm, trung bình 6,48 điểm. o Sau can thiệp: mức độ đau bụng kinh theo thang điểm VAS thấp nhất 0 điểm, cao nhất 8, trung bình 5,6 điểm. o Điểm đau trung bình trước và sau can thiệp ở nhóm 1 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Tổng thời gian đau bụng kinh o Trước can thiệp: tổng thời gian đau bụng kinh ngắn nhất 0,5 giờ (30 phút), dài nhất 48 giờ, trung bình 17,87 giờ. o Sau can thiệp: tổng thời gian đau bụng kinh ngắn nhất 0 giờ, dài nhất 48 giờ, trung bình 16,29 giờ. o Tổng thời gian đau bụng kinh trước và sau can thiệp ở nhóm 1 khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng o Trước can thiệp: số lượng viên thuốc giảm đau sử dụng thấp nhất 0 viên, cao nhất 7 viên, trung bình 0,9 viên. o Sau can thiệp: số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng lúc đau bụng kinh thấp nhất 0 viên, cao nhất 4 viên, trung bình 0,52 viên. o Số lượng viên thuốc giảm đau sử dụng trước và sau can thiệp ở nhóm 1 khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Điểm VAS o Trước can thiệp: mức độ đau trung bình theo thang điểm VAS thấp nhất 5 điểm, cao nhất 9 điểm, trung bình 6,79 điểm. o Sau can thiệp: mức độ đau bụng kinh theo thang điểm VAS nhất nhất 0 điểm, cao nhất 9 điểm, trung bình 4,5 điểm. o Điểm đau trung bình trước và sau can thiệp ở nhóm 2 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Tổng thời gian đau bụng kinh o Trước can thiệp: tổng thời gian đau bụng kinh ngắn nhất 0,5 giờ (30 phút), dài nhất 72 giờ, trung bình 24,55 giờ. o Sau can thiệp: tổng thời gian đau bụng kinh ngắn nhất 0 giờ, dài nhất 48 giờ, trung bình 13,2 giờ. o Tổng thời gian đau bụng kinh trung bình trước và sau can thiệp ở nhóm 2 khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng o Trước can thiệp: số lượng viên thuốc giảm đau sử dụng thấp nhất 0 viên, cao nhất 7 viên, trung bình 0,83 viên. o Sau can thiệp: số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng lúc đau bụng kinh thấp nhất 0 viên, cao nhất 2 viên, trung bình 0,19 viên. o Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng lúc đau bụng kinh trung bình trước và sau can thiệp ở nhóm 2 khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Điểm VAS: Điểm đau trung bình giữa 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Tổng thời gian đau bụng kinh: Tổng thời gian đau bụng kinh trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p
Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng:Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Điểm VAS: Điểm VAS trung bình giữa 2 nhóm khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Tổng thời gian đau bụng kinh: Tổng thời gian đau bụng kinh trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p
Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng: Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng lúc đau bụng kinh trung bình giữa 2 nhóm khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Điểm VAS: o Nhóm 1: mức độ đau theo thang điểm VAS cải thiện thấp nhất -1 điểm, cao nhất 8 điểm, trung bình 0,88 điểm. o Nhóm 2: mức độ đau theo thang điểm VAS cải thiện thấp nhất -2 điểm, cao nhất 8 điểm, trung bình 2,26 điểm. o Điểm VAS trung bình giữa 2 nhóm cải thiện khác nhau có nghĩa thống kê (p < 0,05).
Tổng thời gian đau bụng kinh: o Nhóm 1: tổng thời gian đau bụng kinh cải thiện thấp nhất 0 giờ, cao nhất 12 giờ, trung bình 1,58 giờ. o Nhóm 2: tổng thời gian đau bụng kinh cải thiện thấp nhất -8 giờ, cao nhất 36 giờ, trung bình 11,35 giờ. o Tổng thời gian đau trung bình cải thiện giữa 2 nhóm khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng: o Nhóm 1: số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng cải thiện thấp nhất 0 viên, cao nhất 7 viên, trung bình 0,38 viên. o Nhóm 2: số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng cải thiện thấp nhất 0 viên, cao nhất 6 viên, trung bình 0,64 viên o Số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng cải thiện trung bình giữa 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Biểu đồ 3.1: Điểm VAS, tổng thời gian, lượng thuốc trước và sau nhóm 1.
Biểu đồ 3.2: Điểm VAS, tổng thời gian, lượng thuốc trước và sau nhóm 2.
N ho ùm 1 Điểm VAS trước can thiệp Điểm VAS sau can thiệp T/g đau trước can thiệp T/g đau sau can thiệp Lượng thuốc trước can thiệp Lượng thuốc sau can thiệp
N ho ùm 2 Điểm VAS trước can thiệp Điểm VAS sau can thiệpT/g đau trước can thiệp T/g đau sau can thiệpLượng thuốc trước can thiệp Lượng thuốc sau can thiệp
Biểu đồ 3.3: Điểm VAS trước, sau can thiệp, cải thiện giữa 2 nhóm.
1 2 Điểm VAS trước can thiệp Điểm VAS sau can thiệp Điểm VAS cải thiện
Th ời g ia n đa u bu ùng k in h (g iơ ứ)
Thời gian đau trước can thiệp Thời gian đau sau can thiệpThời gian đau cải thiện
Biểu đồ 3.4: Tổng thời gian (giờ) đau bụng kinh trước, sau can thiệp, cải thiện giữa 2 nhóm.
Biểu đồ 3.5: Lượng thuốc (viên) dùng trước, sau can thiệp, cải thiện giữa 2 nhóm
Điểm VAS ở các thời điểm nghiên cứu
Lư ợn g th uo ác gi ảm đ au (v ie ân)
Lượng thuốc giảm đau trước can thiệp Lượng thuốc giảm đau sau can thiệp
Bảng 3.10: Điểm VAS ở các thời điểm sau khi can thiệp nhĩ châm
Nhóm chứng Nhóm can thiệp P Lúc 0 phút 3,43 ± 1,9 2,5 ± 2,02 0,013
Biểu đồ 3.6: Điểm VAS ở các thời điểm nghiên cứu.
0 phút 15 phút 1 giờ 12 giờ 24 giờ 48 giờ
Nhóm chứngNhóm can thiệp
Nhận xét: Điểm VAS bắt đầu tăng từ lúc 0 phút đến 1 giờ đạt cao nhất, và bắt đầu giảm dần từ lúc 12 giờ đến 48 giờ ở 2 nhóm. Điểm VAS ở các thời điểm 0 phút, 15 phút, 1 giờ giữa 2 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Điểm VAS ở các thời điểm 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ giữa 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Tác dụng không mong muốn của nhĩ châm
Bảng 3.11: Tác dụng không mong muốn của nhĩ châm Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P Đau vị trí dán 2 (4,76%) 7 (16,7%)
Ghi nhận các tác dụng không mong muốn nhƣ đau vị trí dán, ngứa chiếm tỷ lệ thấp trong quá trình thực hiện nghiên cứu cả 2 nhóm. Đặc điểm tác dụng không mong muốn của nhĩ châm giữa 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Cải thiện chất lƣợng cuộc sống sau khi can thiệp nhĩ châm
Bảng 3.12: Cải thiện chất lƣợng cuộc sống sau can thiệp nhĩ châm Đặc điểm Nhóm chứng Nhóm can thiệp P
Cải thiện chất lƣợng cuộc sống trong quá trình nghiên cứu ghi nhận nhiều hơn ở nhóm can thiệp Chất lƣợng cuộc sống sau khi can thiệp nhĩ châm giữa
2 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
BÀN LUẬN
Bàn luận về mẫu nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến hành trên 84 đối tƣợng là nữ chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 42 người, tuổi từ 19 -24, đây là độ tuổi có sức khỏe, tâm thần thể chất ổn định.
Các thông số nhân trắc học: tuổi, chiều cao, cân nặng.
Các thông số tiền sử kinh nguyệt: tuổi hành kinh lần đầu, chu kỳ kinh, số ngày hành kinh.
Các thông số tiền sử đau bụng kinh: năm đau bụng kinh sau lần hành kinh đầu tiên, số lần đau bụng kinh trong 6 tháng qua, thời gian đau trong mỗi lần hành kinh, tiền căn gia đình về đau bụng kinh, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của đau bụng kinh.
Các thông số kết quả khi tiến hành nghiên cứu: mức độ đau bụng kinh thông qua thang điểm VAS, tổng thời gian đau bụng kinh, số lƣợng viên thuốc giảm đau sử dụng, tác dụng không mong muốn của phương pháp nhĩ châm và cải thiện chất lượng cuộc sống sau nghiên cứu.
4.1.1 Bàn luận các thông số nhân trắc học
Các đối tƣợng nghiên cứu đều thỏa tiêu chuẩn đầu vào và tiêu chuẩn loại trừ đã đƣợc đề cập trong mục 2.2.3.
4.1.1.1 Tuổi Độ tuổi trung bình của 2 nhóm nghiên cứu đều là 21 tuổi, nghiên cứu đã đƣa ra tiêu chuẩn chọn sinh viên nữ ở độ tuổi đủ 18 đến 24, với thể chất và tâm lý tốt có khả năng phối hợp tốt với bác sỹ trong quá trình nghiên cứu Các nghiên cứu ở Hy lạp cho thấy tỷ lệ đau bụng kinh tăng ở đối tƣợng > 16 tuổi so với những đối tƣợng 14, 15 tuổi [8] Ở những nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ đau bụng kinh giảm dần khi tuổi càng cao và nhóm có tỷ lệ đau bụng kinh cao nhất là 18 đến 24 tuổi [14],[44], chứng tỏ rằng đau bụng kinh ở tuổi vị thành niên muộn và đầu thập niên 20 và tỷ lệ mắc giảm khi tuổi cao Vì vậy,
18 đến 24 tuổi là lứa tuổi thích hợp đƣợc chọn vào nghiên cứu Ngoài ra lứa tuổi này còn đƣợc đề cập trong nhiều nghiên cứu khác về đau bụng kinh [23], [35],[36],[50].
4.1.1.2 Chiều cao và cân nặng
Chiều cao trung bình ở 2 nhóm là 156 cm, cân nặng trung bình là 48 kg. Chiều cao và cân nặng ở 2 nhóm không khác biệt và đều là chỉ số bình thường của sinh viên Việt nam So với các nghiên cứu của [23],[63],[68] chiều cao và cân nặng đối tƣợng nghiên cứu thấp hơn, nhƣng giữa 2 nhóm nghiên cứu có sự tương đồng với nhau Sự khác biệt giữa các nghiên cứu có thể do tầm vóc của người Việt nhỏ hơn của người nước ngoài.
Có nhiều nghiên cứu cho thấy thừa cân và thiếu cân là một yếu tố nguy cơ gây đau bụng kinh, tăng gấp đôi khả năng bị đau bụng kinh nặng hoặc đau kéo dài hơn 2 ngày, khi thừa cân đưa về cân nặng bình thường làm giảm mức độ đau bụng kinh còn thiếu cân thì không giảm [17],[31] Nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ thừa cân và thiếu cân chiếm 38% trên tổng số đối tƣợng nghiên cứu, trong đó tỷ lệ thiếu cân chiếm đa số Kết quả trên cũng thể hiện phần nàoBMI liên quan đến tình trạng đau bụng kinh.
4.1.2 Bàn luận về các thông số về tiền sử kinh nguyệt
Các đặc điểm chung của kinh nguyệt nhƣ chu kỳ kinh, thời gian hành kinh là tấm gương phản ánh tình trạng hoạt động nội tiết của trục vùng dưới đồi- tuyến yên- buồng trứng và tình trạng niêm mạc tử cung, đồng thời là thước đo quá trình diễn biến hoạt động sinh dục của phụ nữ [7].
4.1.2.1 Tuổi hành kinh lần đầu:
Tuổi hành kinh lần đầu hay còn gọi là tuổi dậy thì, tuổi dậy thì về sinh dục đƣợc đánh dấu bằng hành kinh đầu tiên Song song với sự dậy thì về sinh dục, có sự dậy thì chung của toàn cơ thể Tuổi dậy thì trung bình vào khoảng 13-16 tuổi Ở một số nước, tuổi dậy thì có xu hướng sớm hơn, 11-12 tuổi [7].
Trong nghiên cứu này, độ tuổi hành kinh lần đầu (tuổi dậy thì) trung bình là 13,5 tuổi lớn hơn so với Hàn quốc 13 tuổi, Nhật bản 12,5 tuổi [24],[33] Vì nghiên cứu lấy mẫu ít chƣa có thể đại diện dân số Việt Nam Tuổi hành kinh lần đầu không có ảnh hưởng đến quá trình đau bụng kinh trong các nghiên cứu về đau bụng kinh [63].
Mỗi chu kỳ đƣợc mở đầu bằng ngày bắt đầu hành kinh và kết thúc bằng ngày bắt đầu của kỳ hành kinh sau Chu kỳ kinh của người phụ nữ có độ dài trung bình là 28 ngày, dao động từ 22 đến 35 ngày cũng đƣợc coi là bình thường Chu kỳ kinh có thể thay đổi giữa người này với người khác nhưng ít thay đổi ở cùng một người ở trong tuổi hoạt động sinh dục [7].
Theo nghiên cứu khảo sát các yếu tố liên quan đến đau bụng kinh của sinh viên y khoa phía Bắc Ethiopia của tác giả Teshager Aklilu Yesuf thì chu kỳ kinh nguyệt có liên quan đến tình trạng đau bụng, trong đó chu kỳ kinh nguyệt ít hơn hoặc bằng 21 ngày (p < 0,05), chu kỳ 22 đến 34 ngày (p > 0,05)
[63] Trong nghiên cứu này, các đối tƣợng nghiên cứu có chu kỳ hành kinh đều, trung bình kéo dài 30 ngày ở 2 nhóm, ngắn nhất là 24 ngày, dài nhất là
35 ngày (p > 0,05) Như vậy việc chu kỳ hành kinh ảnh hưởng đến đau bụng kinh giữa 2 nhóm không khác biệt.
Trong nghiên cứu này thời gian hành kinh trung bình ở 2 nhóm là 5 ngày, khác biệt không ý nghĩa thống kê Theo nghiên cứu thì thời gian hành kinh 2-
3 ngày hoặc > 7 ngày là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với đau bụng kinh [52],[63], còn hành kinh trong 4-5 ngày thì không ảnh hưởng [63] Cũng theo nghiên cứu tác giả Jang AI và cộng sự nghiên cứu các yếu tố liên quan đến đau bụng kinh ở phụ nữ sống tại Việt nam và phụ nữ Việt nam di dân qua Hàn quốc thì phụ nữ trong nhóm đau bụng kinh có số ngày hành kinh dài hơn phụ nữ trong nhóm không đau bụng kinh, nhƣng thời gian hành kinh vẫn nhỏ hơn
4.1.3 Bàn luận các thông số tiền sử đau bụng kinh
4.1.3.1 Năm xuất hiện đau bụng kinh sau lần hành kinh đầu tiên:
Gợi ý đến đau bụng kinh nguyên phát là tình trạng này đã bắt đầu trong vòng một vài tháng và nhiều nhất là trong vòng 2 năm kể từ khi có kinh nguyệt Mặc dù tiêu chí khá cứng nhắc, vì chẩn đoán lạc nội mạc tử cung có thể cực kỳ khó loại trừ vì đau bụng kinh liên quan đến lạc nội mạc tử cung có sự tương đồng đáng kể với đau bụng kinh nguyên phát Đau vùng chậu và đau bụng kinh do lạc nội mạc tử cung ở phụ nữ tuổi vị thành niên đã đƣợc chứng minh xảy ra khoảng 2,9 năm sau khi có kinh [66].
Hầu hết những người tham gia đều có kinh nguyệt đều đặn và lần đầu tiên trải qua cơn đau kinh nguyệt dưới hai năm sau khi có kinh nguyệt, gợi ý đến chẩn đoán đau bụng kinh nguyên phát [13].
4.1.3.2 Số lần đau bụng kinh trong 6 tháng qua:
Bàn luận các thông số kết quả nghiên cứu
Thang điểm VAS đƣợc sử dụng làm thang điểm đánh giá mức độ đau bụng kinh Trong nghiên cứu này điểm VAS trong tiền sử đau bụng kinh của đối tƣợng đƣợc lấy trung bình trong vòng 3 tháng gần đây, nhƣng vì là thang điểm chủ quan dựa vào hồi cứu trí nhớ của đối tƣợng nên dễ bị sai sót, vấn đề này cũng đƣợc đề cập trong nghiên cứu của tác giả Sale H [48] về sự hồi tưởng đau Vì vậy trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng điểm VAS của chu kỳ gần nhất với chu kỳ can thiệp nhĩ châm để đảm báo tính chính xác. Điểm VAS trong tiền sử đau bụng kinh của 2 nhóm lần lƣợt là nhóm chứng 6,48 ± 1,37 và nhóm can thiệp 6,79 ± 1,07 khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Kết quả ở Bảng 3.8 cho thấy điểm VAS trước và sau khi can thiệp ở 2 nhóm khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nhƣng kết quả ở Bảng 3.7 thể hiện nhóm can thiệp đã giảm đƣợc 2,26 ± 2,45 điểm VAS, nhóm chứng giảm đƣợc 0,88 ± 1,63 điểm sau nghiên cứu, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Việc giảm có ý nghĩa điểm VAS sau can thiệp cho thấy việc sử dụng nhĩ hoàn có tác dụng giảm đau và tốt hơn sử dụng giả châm.
4.2.1.1 So sánh với nghiên cứu giảm đau bụng kinh bằng châm cứu
Khi so sánh với nghiên cứu của Liu 2011 [36] về phương pháp kích thích: nhóm tác giả sử dụng điện châm kim, chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm khoảng 50 người, nhóm 1 là nhóm sử dụng điện châm huyệt Tam âm giao 2 bên, nhóm 2 sử dụng điện châm huyệt Huyền chung 2 bên, nhóm 3 điện châm tại vị trí không phải huyệt, nhóm 4 không sử dụng châm cứu Sau khi châm đạt cảm giác đắc khí thì mắc điện kích thích sử dụng tần số 2 Hz trong 30 phút mỗi lần mỗi ngày trong 3 ngày đầu chu kỳ Hai nghiên cứu có sự tương đồng về tuổi, tuổi bắt đầu hành kinh, điểm đau VAS trước khi tiến hành nghiên cứu.
Về hiệu quả: theo tác giả Liu thấy rằng khi so sánh về điểm VAS thì nhóm
1 đối tƣợng đƣợc điện châm ở Tam âm giao cải thiện 1,55 điểm VAS, nhóm 2 sử dụng điện châm huyệt Huyền chung cải thiện 1,81 điểm VAS, nhóm 3 tác động lên không phải huyệt trong châm cứu cải thiện 1,09 điểm VAS và nhóm
4 không sử dụng châm cứu cải thiện 0,71 điểm VAS Kết quả cho thấy nhóm
1, 2, 3 cải thiện đáng kể so với nhóm 4 (p < 0,05) So sánh với nghiên cứu của chúng tôi, kết quả trong Bảng 3.7 thì nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phương pháp ít xâm lấn, vị trí huyệt ở loa tai, kết quả giảm được nhiều hơn có thể do nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trước 2 ngày hành kinh, trước khi đối tƣợng có triệu chứng đau bụng kinh, dựa theo nghiên cứu chọn thời điểm sử dụng châm cứu để giảm đau bụng kinh tốt nhất, kết quả là điều trị trước khi có kinh nguyệt tốt hơn điều trị ngay lập tức khi có cơn đau [37],[10] Điều này có thể lý giải sự khác nhau kết quả nghiên cứu.
Tương tự khi phân tích về nghiên cứu của tác giả Liu 2014 [35] với nghiên cứu tương tự năm 2011 nhưng cỡ mẫu lớn hơn, sau khi tiến hành ghi nhận điểm VAS tại các thời điểm 0 phút, 5 phút, 10 phút, 30 phút và 60 phút (1 giờ) lần lƣợt là 5,63; 4,3; 3,74; 2,75; 2,95 khác biệt so với nhóm chứng (p