Bản thể luận chỉ về tồn tại khách quan trong khi nhận thức luận chỉ hoạt động nhận thức thông qua sự phản ánh tác động của thế giới khách quan vào bộ não của con người.. Chủ nghĩa duy tâ
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 2 KHÁI NIỆM BẢN THỂ LUẬN CÁCH TIẾP CẬN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN THEO QUAN ĐIỂM MÁC – LÊNIN.
1 Khái niệm bản thể luận.
Khái niệm trước Mác: “Bản thể luận là học thuyết về cái tồn tại” được ghép
từ tiếng Hi Lạp bởi từ “On” và “Logos”
Quan điểm của Mác: “Bản thể luận là một học thuyết để chỉ về cái tồn tại và những quy luật vận động, phát triển của những cái đang tồn tại”.
Bản thể luận và nhận thức luận là hai vấn đề cơ bản của triết học Do đó, chúng ta cần phân biệt rõ bản thể luận và nhận thức luận Bản thể luận chỉ về tồn tại khách quan trong khi nhận thức luận chỉ hoạt động nhận thức thông qua sự phản ánh tác động của thế giới khách quan vào bộ não của con người Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có ý nghĩa tương đối bởi lẽ không phải khi nào nhận thức của con người cũng phụ thuộc vào cái đang tồn tại
2 Cách tiếp cận để giải quyết vấn đề bản thể luận theo quan điểm Mác – Lênin.
Trước khi đưa ra cách tiếp cận để giải quyết vấn đề bản thể luận, Mác và Ăng-ghen đã phê phán và nêu ra những hạn chế của các quan điểm triết học trước đó
2.1 Hạn chế của quan điểm triết học trước Mác
- Hạn chế quan điểm duy tâm khách quan
Trang 2Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức và tinh thần là thuộc tính thứ nhất (có trước), vật chất là thuộc tính thứ hai (có sau), và coi cơ sở tồn tại không phải là tâm thức con người theo như quan niệm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan
mà là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới như "tinh thần tuyệt đối", "lý tính thế giới", v.v
Ở phương Đông, theo quan niệm triết học Ấn Độ, tự nhiên, xã hội nơi sinh trưởng tồn tại của con người luôn ẩn dấu những điều bí ẩn kì diệu Để giải thích những hiện tượng có thật đó, người Ấn Độ đã sáng tạo nên một thế giới các vị thần
có tính chất tự nhiên, tượng trưng cho sức mạnh của các lực lượng, sự vật tự nhiên
là trời, đất, mặt trời, mặt trăng, lửa, ánh sáng,… Về sau, để lí giải các hiện tượng
xã hội, luân lí đạo đức, họ lại sáng tạo nên các vị thần như thần ác, thần thiện, thần công lí Họ đã phân tích các hiện tượng tự nhiên, họ lí giải tự nhiên qua biểu tượng của thế giới thần linh hiện diện khắp nơi, chia nhau chi phối sự biến của vụ trụ Sau này, quan niệm tự nhiên về các vị thần dần mờ nhạt, thay vào đó là những nguyên lý trừu tượng duy nhất tối cao được coi là nguồn gốc vũ trụ và đời sống con người Đó là “thần sáng tạo tối cao” Brahman và một “tinh thần tối cao”
Brahman Tư tưởng này biểu hiện trong giáo lí đạo Bà la môn, trong triết lí
Upanisad Như vậy, qua quá trình hình thành, phát triển tư tưởng triết học, tôn giáo trong kinh Vê đa là từ sự giải thích các sự vật hiện tượng cụ thể của thế giới, qua biểu tượng các vị thần có tính chất tự nhiên, người Ấn Độ đi tới phát hiện những cái chung, cái bản chất, đó là bản nguyên tối cao của thế giới “đấng sáng tạo tối cao” hay “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman Cái thực tại đầu tiên tối cao nhất, là
căn nguyên của tất cả theo Upanisad là tinh thần vũ trụ tối cao Brahman Brahman
là toàn tri, toàn năng, là nguyên lí cấu tạo và chi phối vũ trụ, là nguyên nhân của mọi sự sống Tinh thần vũ trụ tối cao Brahman là linh hồn của thế giới, là nguồn sống của tất cả, nó là bản chất nội tại của tất cả, là bản nguyên của tất cả
Trang 3Ở Trung Quốc, trong học thuyết Nho gia, Khổng Tử thường nói đến trời, đạo trời, mệnh trời Tư tưởng của ông về các lĩnh vực này không rõ ràng là duy vật hay duy tâm, nhưng về sau trong quá trình phát triển, những quan niệm của Khổng
Tử đã được các nhà triết học của trường phái Nho gia trong các thời kì bổ sung
khác nhau Mạnh Tử đã hệ thống hóa, xây dựng quan niệm “thiên mệnh” của
Khổng Tử thành nội dung triết học duy tâm, coi con người và thế giới bên ngoài do trời (thượng đế) sinh ra, số phận con người do trời định
Ở phương Tây, triết học Hy Lạp thời kỳ cổ đại, Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platôn là học thuyết về ý niệm Trong học thuyết này, Platôn đưa ra quan niệm về hai thế giới:
thế giới các sự vật cảm tính và thế giới ý niệm Theo ông, thế giới các sự vật cảm
tính là không chân thực, không đúng đắn, nó là cái bóng, là bản sao của thế giới ý niệm, vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, luôn luôn thay đổi, vận động, trong chúng không có cái gì ổn định, bền vững, hoàn thiện Còn thế giới ý niệm là thế giới của những cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn, chân thực, là tinh thần của vũ trụ, là lực lượng siêu nhiên, sự tồn tại của nó là khách quan Nhận thức của con người, theo Platôn không phải là phản ánh các sự vật cảm tính của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm Thế giới ý niệm có trước thế giới các vật cảm tính, sinh ra thế giới cảm tính Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước
là do ý niệm siêu tự nhiên về cái cây, con ngựa, nước sinh ra Hoặc khi nhìn các sự vật thấy bằng nhau là vì trong đầu ta đã có sẵn ý niệm về sự bằng nhau
Từ quan niệm trên, Platôn đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại" "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái được nhận biết bằng trí tuệ siêu nhiên, là cái có tính thứ nhất Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất Như vậy, học thuyết về ý niệm và tồn tại của Platôn mang tính chất duy tâm khách quan rõ nét
Trang 4Triết học cổ điển Đức đã xuất hiện những lý luận về bản thể đầy mâu thuẫn,
có duy vật, duy tâm và nhị nguyên luận, trong đó Hê ghen (1770 – 1831) nhà biện chứng lỗi lạc của triết học cổ điển Đức cho rằng nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội là ý niệm tuyệt đối Từ điểm xuất phát này ông đã xây dựng một hệ thống triết học duy tâm khách quan
Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà
là "ý niệm tuyệt đối" hay "tinh thần thế giới" Tính phong phú, đa dạng của thế giới
hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối, ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn "ý niệm tuyệt đối", theo nhận xét của Lênin, chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách nói khác về Thượng đế mà thôi
Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến cả các quy luật như "lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại", "phủ định của phủ định", và quy luật mâu thuẫn Nhưng tất cả những cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối Như vạy, hệ thống triết học của Hêghen là một hệ thống duy tâm, mà thực chất của nó "là ở chỗ lấy cái tâm lý làm điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới tự nhiên" (Lênin)
Như vậy, qua các phân tích trên về quan niệm của các nhà triết học duy tâm khách quan, có thể thấy hạn chế của quan điểm duy tâm khách quan thể hiện ở việc
Trang 5nó đã tách ý thức ra khỏi thế giới vật chất, xếp nó vào một thế giới khác như: “tinh thần tối cao Brahman” (Triết học Ấn Độ), “thiên mệnh” (Triết học Trung hoa), như
“thế giới ý niệm” theo quan điểm của Platon, như “ý niệm tuyệt đối” theo quan điểm của Hê ghen Quan điểm duy tâm khách quan còn mang đậm màu sắc thần bí,
xa rời thực tế Mặt khác, việc thừa nhận “ý niệm tuyệt đối”, “thế giới ý niệm”, hay
“tinh thần tối cao Brahman” đã khiến các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm khách quan không nhìn ra được các quy luật khách quan của đời sống xã hội, từ đó tạo nên thế giới quan, phương pháp luận có thể cải tạo thực tiễn xã hội
- Hạn chế quan điểm duy tâm chủ quan
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan là một trong hai khuynh hướng lớn của chủ nghĩa duy tâm Khác với chủ nghĩa duy tâm khách quan, chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân chủ thể Khuynh hướng của triết học duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể quyết định Cơ sở nhận thức của chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thế giới bên ngoài chỉ là cảm giác, tri giác, biểu tượng, ý thức của cá nhân chủ thể và không tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể Các đại diện cổ điển của chủ nghĩa duy tâm chủ quan có thể kể đến như: George Berkeley, Hium,
George Berkeley với tư cách là một nhà triết học tôn giáo, một nhà thần học làm triết, G Berkeley đã dành những nỗ lực đáng kể của mình cho nhận thức lý luận về Chúa và cho việc đổi mới cách chứng minh về tồn tại của Chúa Quan điểm chủ nghĩa duy tâm chủ quan của G Berkeley là cảm giác sinh ra sự vật chứ không phải sự vật sinh ra cảm giác Ông cho rằng tồn tại có nghĩa là được lĩnh hội,
Trang 6tức sự vật là tổng hợp của các cảm giác, xóa bỏ cảm giác đi thì sự vật biến mất Ông cũng cho rằng không thể tư duy các vật hay đối tượng cảm tính độc lập với cảm giác và trực quan về chúng Điều này để lại cho Berkeley một vấn đề, tương
tự như với các hình thức khác của chủ nghĩa duy tâm, đó là giải thích tại sao mỗi người trong chúng ta đều có vẻ có các tri giác ít nhiều giống nhau về một đối tượng Ông đã giải quyết vấn đề này bằng cách đưa Chúa trời vào can thiệp với vai trò nguyên nhân trực tiếp của mọi tri giác của ta
Cũng như George Berkeley, Hium tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác Coi đó
là điểm xuất phát và dạng cơ bản của nhận thức Tuy nhiên Hium lại tách biệt các cảm giác con người với thế giới bên ngoài, coi chỉ bản thân các cảm giác là nguồn gốc nhận thức mà không cần đến sự tác động của thế giới bên ngoài Như vậy, quá trình nhận thức không phải là nhận thức thế giới, mà là nhận thức những quá trình tâm lý xảy trong con người được Hium gọi là những cảm xúc, ấn tượng Các ấn tượng, hay cảm giác được coi là “nguồn gốc tuyệt đối” của nhận thức Còn các ý niệm là sản phẩm của giai đoạn nhận thức cao hơn, nhưng kém sinh động hơn so với các ấn tượng mà nhận thức cảm tính đem lại Chúng là sự sao chép lại các ấn tượng trong phạm vi của ý thức Từ lập trường bất khả tri nghi ngờ cả sự tồn tại của thế giới bên ngoài Hium phê phán các quan niệm duy vật coi vật chất như là thực thể của mọi vật Bản thân vật chất, thực thể v.v theo ông, “không là cái gì khác, ngoài tổng thể các ý niệm đơn giản liên hợp với nhau bởi sự tưởng tượng, và được gọi bằng cái tên, thông qua đó, chúng ta có thể gọi trên tổng thể đó trong trí nhớ của mình, hay trí nhớ của những người khác”
Nhìn chung thế giới quan của Hium cũng như của G Berkeley thể hiện sự trăn trở cũng như tính phức tạp trong việc tìm một con đường đi hợp lý cho triết học, trong điều kiện phát triển của khoa học ở cuối thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII, trong khi các quan điểm triết học trước đây không còn đáp ứng được vai trò
Trang 7của mình trong bối cảnh lịch sử mới Dưới hình thức duy tâm duy thần bí, các quan niệm của G Berkeley và Hium đặc biệt đề cao vai trò cá nhân con người, coi đó là vấn đề trung tâm của mọi vấn đề triết học và khoa học
Tuy nhiên, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan là ở chỗ họ không xem xét mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong lịch sử phát triển lâu dài của thế giới vật chất Luôn lấy yếu tố cá nhân để quyết định yếu tố vật chất Coi thế giới bên ngoài chỉ là cảm giác, tri giác, biểu tượng, ý thức của cá nhân, chủ thể và không tồn tại ngoài ý thức của chủ thể Chủ nghĩa duy tâm chủ quan có thể dẫn đến thuyết duy ngã Phủ định hoàn toàn yếu tố khách quan của thế giới vật chất
- Hạn chế quan điểm duy vật trước Mác
Vào thời kỳ cổ đại ở phương đông quan niệm vật chất thể hiện qua một số trường phái triết học Ân Độ và Trung hoa về thế giới
Ấn Độ có Trường phái LOKAYATA cho rằng tất cả được tạo ra bởi sự kết hợp trong 4 yếu tố Đất - Nước - Lửa - Khí Những yếu tố này có khả năng tự tồn tại, tự vận động trong không gian và cấu thành vạn vật Tính đa dạng của vạn vật chính là do sự kết hợp khác nhâu của 4 yếu tố bản nguyên đó Phái Nyaya và Vaisesia coi nguyên tử là thực thể của thế giới
Theo quan điểm của nhà Phật, tư tưởng bản thể luận được thể hiện rõ qua tư tưởng: “vô tạo giả” “vô ngã”, “vô thường” Phật không thừa nhận đấng tối cao, bác
bỏ tinh thần platman Phật dạy vạn vật chuyển biến không ngừng trong từng satna (từng giây, từng pát, thậm chí chỉ bằng cái nháy mắt) Từ con người cho đến vạn vật đều vận hàng theo quy luật: thành, trụ, hoại, không, được ví như bốn mùa xuân,
hạ, thu, đông hay sinh, lão, bện, tử Trong bốn thời kỳ đó, thời kỳ trụ là hết sức ngắn ngủi, chỉ bằng một satna Tức là mọi hiện tượng đang tồn tại thực tế trước mắt không phải cố định mà đang ở trên một dòng biến đổi thường xuyên, vĩnh
Trang 8vieenc vô thủy vô chung Vì thế gian vô thường nên mọi vật đều vô tự tính (không
có tự tính hay là không có bản thể riêng) Đó chính là sự vô ngã ở con người Có thể thấy đây là quan điểm duy vật có tư duy biện chứng
Tại Trung Hoa, Tuân Tử nổi lên là một triết gia mang tư tưởng triết học tiến
bộ với những quan niệm duy vật về thế giới, về mối liên hệ giữa con người và đất, trời cũng như vai trò của con người trong việc làm chủ vận mệnh của chính mình trên quan điểm duy vật về bản thể luận, Tuân Tử đã giải quyết đúng vấn đề cơ bản của triết học: hình thể có trước rồi sau mới sinh ra ý thức và tình cảm Ông khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được quy luật (“Trật tự”) khách quan của giới tự nhiên Ông cho rằng quá trình nhận thức của con người trước hết bắt đầu từ kinh nghiệm cảm quan do các giác quan đưa lại, mỗi giác quan đều có tính năng riêng biệt phản ánh một mặt, hiện tượng nào đó của sự vật bên ngoài, do vậy muốn nhận thức đúng, sâu sắc còn cần phải dựa vào một “khí quan đặc biệt” là tư duy, ông cho rằng chỉ có qua sự suy lý của tư duy thì mới có thể phân biệt hoặc phán đoán đúng được tính chất của sự vật do các cơ quan cảm giác phản ánh, nhưng hoạt động của tư duy (Tâm) cũng phải lấy sự hoạt động của các cơ quan cảm giác làm cơ sở
Trung Hoa có Thuyết Âm Dương cho rằng nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật là tương tác của những thế lực đối lập nhau đó là âm và dương Trong đó âm là phạm trù rất rộng phản ánh khái quát, phổ biến của vạn vật như là nhu, tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn Dương cũng là phạm trù rất rộng đối lập với âm Phản ánh những thuộc tính như cương, sáng, khô, phía trên, số lẻ, bên trái Hai thế lực này thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau tạo thành vũ trụ và vạn vật
Trang 9Thuyết Ngũ hành của Trung quốc có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật để quy nó về yếu tố khởi nguyên với tính chất khác nhau Theo thuyết này có 5 nhân tố khởi nguyên là Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
+ Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, ở phía Tây
+ Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, ở phía Đông
+ Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, ở phía Bắc
+ Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, ở phía Nam
+ Thổ tương trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa
Năm yếu tố này không tòn tại độc lập, tuyệt đối mà tác động lẫn nhau theo nguyên tắc tương sinh, tương khắc với nhau tạo ra vạn vật Những tư tưởng về âm, dương, ngũ, hành, tuy có nhưng hạn chế nhất định nhưng đó là triết lý đặc sắc mang tính duy vật và biện chứng nhằm lý giải về vật chất và cấu tạo của vũ trụ Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật phương Tây trước Mác là tiền đề cho
sự ra đời của triết học Mác Lịch sử phát triển chủ nghĩa duy vật phương Tây trước Mác bao gồm triết học Hy Lạp cổ đại, triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ phục hưng
và cận đại
Thời cổ đại Hy Lạp là một nước có điều kiện tự nhiên thuận lợi Do vậy, Hy Lạp nhanh chóng phát triển tất cả các lĩnh vực và tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá
Vì vậy, nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện cho phát triển của triết học, khoa học, văn hóa, nghệ thuật Triết học duy vật nhờ đó phát triển theo và tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Sau đây là một số trường phái duy vật lúc bấy giờ
Trang 10Hêraclit: Ông cho rằng lửa là bản nguyên của vũ trụ là lửa chứ không phải do thần thánh sinh ra Mọi sự vật luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hoá qua lại Ông cho rằng mọi vật biến đổi không ngừng như một dòng chảy "người ta khôngthể tắm hai lần trên một dòng sông" Quan niệm về vận động của ông có nội dung cốt lõi là tư tưởng về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Thứ nhất, thống nhất là sự đồng nhất của cái đa dạng và là sự hài hoà giữa các mặt đối lập
Thứ hai, mỗi sự vật, mỗi hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua các trạng thái đối lập và chuyển thành các mặt đối lập với nó
Thứ ba, Đấu tranh của các mặt đối lập không chỉ là sự đối lập mà còn là sự thống nhất giữa các mặt đối lập, là điều kiện của tồn tại
Ông là người sáng lập ra phép biện chứng duy vật cổ đại
Đêmôcrit: (khoảng 460-370 TrCN): Ông là nhà triết học duy vật vĩ đại ở Hy Lạp cổ đại, là người phát triển thuyết nguyên tử Ông cho rằng vận động của
nguyên tử là vĩnh cửu và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử là ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân Ông lý giải sự hình thành
vũ trụ phải xuất thân từ chính bản thân thế giới vật chất
Đêmôcrit đã bền bỉ đấu tranh cho quan niệm duy vật về tự nhiên Nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tiếp theo của triết học duy vật
Triết học Hi Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai,
cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng