Lí do chọn đề tài Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, vai trò của môn Toán được cụ thể như sau: “Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hòa
XÂY DỰNG MỘT SỐ VIDEO DẠY HỌC TOÁN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hòa
XÂY DỰNG MỘT SỐ VIDEO DẠY HỌC TOÁN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS DƯƠNG MINH THÀNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được xuất phát từ yêu cầu trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được thu thập trong quá trình nghiên cứu và không trùng lặp với các đề tài khác
Người viết
Nguyễn Thị Hòa
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô giáo các Khoa, Cán bộ phòng Sau Đại học thuộc trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu tại trường Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô trường Tiểu học Tân Thành 2 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện khảo sát, thực nghiệm trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, con xin cảm ơn gia đình đã luôn hỗ trợ, động viên con trong suốt quá trình học Đặc biệt là ba đã thức từ 4 giờ sáng để đưa con lên bến xe Sài Gòn đi học; mẹ luôn để những bữa ăn ngon và đợi con đến 20 giờ; chị gái Nguyễn Thị Nhẫn đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ em và em gái Nguyễn Thị Huỳnh – một người em, người bạn đồng hành trong suốt quá trình từ ôn luyện cao học, vượt qua kì thi tiếng anh chuẩn đầu ra cao học đến khi cùng nhau vượt qua các học phần bắt buộc Đó là những tài sản quý giá mà bản thân luôn trân quý, là nguồn động lực mạnh mẽ giúp bản thân luôn cố gắng nhiều hơn nữa Xin gửi lời cảm ơn, tri ân tận sâu trong đáy lòng đến tất cả những người thương yêu
Người viết
Nguyễn Thị Hòa
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các hình ảnh
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG CÁC VIDEO DẠY HỌC TOÁN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 7
1.1 Ưu điểm của việc sử dụng video trong quá trình dạy học 7
1.2 Cách tạo video sử dụng trong giáo dục 9
1.2.1 Các loại hình video đang được sử dụng trong giáo dục 9
1.2.2 Cách tạo video hướng dẫn học sinh tự học 14
Tiểu kết chương 1 17
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC TOÁN QUA VIDEO 18
2.1 Một vài nét về chương trình môn Toán năm 2018 18
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình 18
2.1.2 Phương pháp dạy học 19
2.2 Thực trạng dạy và học tại trường tiểu học 21
2.2.1 Việc sử dụng video tại trường tiểu học ở Việt Nam 21
2.2.2 Thực trạng dạy toán trong trường Tiểu học 22
2.3 Khảo sát thực trạng dạy học môn toán của GV tại trường Tiểu học Tân Thành 2 24
Tiểu kết chương 2 34
Chương 3 THIẾT KẾ VIDEO DẠY HỌC TOÁN 36
3.1 Nguyên tắc thiết kế 36
Trang 63.1.1 Nguyên tắc xây dựng video dạy học 36
3.1.2 Mô hình thiết kế video 36
3.1.3 Đặc điểm địa phương đang nghiên cứu áp dụng 37
3.2 Một số video dạy học toán 38
3.2.1 Video có sẵn 38
3.2.2 Video tự tạo 44
Tiểu kết chương 3 51
Chương 4 DẠY HỌC TOÁN QUA VIDEO TẠI ĐỊA PHƯƠNG 52
4.1 Mục đích thực nghiệm 52
4.2 Chọn mẫu và tổ chức thực nghiệm 52
4.3 Kết quả thực nghiệm 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách giáo viên được khảo sát 25 Bảng 2.2 Mức độ giáo viên sử dụng video trong dạy học toán 27 Bảng 2.3 Mức độ tán thành của giáo viên về việc sử dụng video dạy học
toán phát triển năng lực tự học cho học sinh 27 Bảng 2.4 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi sử dụng video dạy
học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học 30 Bảng 2.5 Bảng xếp thứ tự các khó khăn mà GV gặp phải khi sử dụng
video dạy học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học 31
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Cô Hà Ánh Phượng 22
Hình 2.2 Bài Diện tích của một hình 24
Hình 3.1 Mô hình thiết kế video 37
Hình 3.2 Cộng các số nguyên 39
Hình 3.3 Cuộc phiêu lưu của anh bút chì 40
Hình 3.4 Hình thành bảng nhân 3 40
Hình 3.5 Các số có ba chữ số 41
Hình 3.6 Xem đồng hồ 41
Hình 3.7 Một số tứ giác đặc biệt 42
Hình 3.8 Diện tích của một hình 43
Hình 3.9 Kênh dạy toán bằng video 44
Hình 3.10 Hình ảnh khỉ con qua sông trong video minh họa 45
Hình 3.11 Chọn âm thanh cho file PowerPoint 48
Hình 3.12 Chọn cách phát âm trên các slide 48
Hình 3.13 Chọn các slide phát âm thanh trong PowerPoint 49
Hình 4.1 So sánh đặc điểm của lớp học truyền thống với lớp học đảo ngược 53
Trang 9video dạy học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học 31Biểu đồ 4.1 Kết quả thực nghiệm của nhóm 2 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, vai trò của môn Toán được
cụ thể như sau: “Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy
xã hội phát triển.” Với vai trò quan trọng ấy, môn Toán đòi hỏi học sinh phải nắm vững các kiến thức ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường Tuy nhiên, ở lớp học vẫn còn một tỉ lệ đáng kể các học sinh có kết quả học tập môn Toán thấp Tỉ lệ này phụ thuộc khá nhiều vào mức độ hướng dẫn của giáo viên Bởi
vì học sinh trong mỗi lớp học có khả năng khác nhau nên kết quả học tập của các em sẽ khác nhau nhưng giáo viên lại có sự hướng dẫn giống nhau với cùng một tốc độ cho tất cả các học sinh trong lớp (Hwang et al., 2012) Chính điều này dẫn đến tình trạng học sinh đạt kết quả thấp, không theo kịp tốc độ hướng dẫn của giáo viên bị buộc phải tiếp nhận kiến thức một cách thụ động Do đó, Barr và Tagg (1995) đã chỉ ra rằng việc học sinh đạt kết quả thấp cần có nhiều
cơ hội học toán theo tốc độ của riêng mình
Với thời đại công nghệ thông tin đi kèm với nhịp sống hiện đại, nhiều em học sinh Tiểu học đã tiếp cận công nghệ từ khá sớm Bên cạnh đó các bậc phụ huynh cũng quan tâm đầu tư cho con em mình nhiều hơn, đặc biệt là nguồn tài nguyên, học liệu và các thiết bị công nghệ Điều này khiến cho việc dạy học của giáo viên cũng cần có những thay đổi để thích ứng với xu hướng mới Trong
xu hướng đổi mới của giáo dục phổ thông hiện nay, việc chuyển từ dạy học theo hướng cung cấp kiến thức và kĩ năng sang hình thành, phát triển phẩm chất
và năng lực đòi hỏi việc nghiên cứu phát triển các năng lực toán học cho học sinh là cần thiết Bên cạnh đó, ở chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã thể hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay là hướng tới hình thành các phẩm chất và các năng lực (kiến thức, kĩ năng, thái độ) bao gồm
Trang 11cả năng lực cốt lõi, năng lực chuyên môn Cũng tại hội thảo “Những nội dung chính của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới” (12-13/4/2015) đã xác định 8 năng lực chung, trong đó năng lực tự học là ưu tiên hàng đầu Bởi vì trong các năng lực cần có của học sinh Tiểu học, năng lực tự học có vai trò rất quan trọng, giúp học sinh vừa có thể chủ động tự học suốt đời, đồng thời tạo nên sự hứng thú, niềm tin, ý chí,
để thực hiện thành công việc chiếm lĩnh tri thức khoa học cũng như thực hiện thành công việc vận dụng tri thức đã học để giải quyết được các vấn đề thực tiễn
Theo Phạm Thị Hồng Tú (Tạp chí Giáo dục, Số 429 (Kì 1 - 5/2018), tr 52; 56), năng lực tự học là một khả năng, trong đó người học là chủ thể tự giác, tích cực, chủ động, độc lập (hoặc hợp tác) chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong học tập, trong cuộc sống nhằm đạt được mục đích nhất định Biểu hiện năng lực tự học của người học nói chung đó là sự hứng thú, mức độ tích cực, chủ động tham gia hoạt động học tập và khả năng thực hiện hiệu quả các hoạt động đó Do đó, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói chung và năng lực tự học nói riêng chính là “Mở rộng dạy học định hướng nội dung bằng cách tạo môi trường, bối cảnh cụ thể để người học được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình một cách hiệu quả” (Lê Đình Trung, 2016)
48-Năng lực tự học cũng mang lại nhiều lợi ích đối với việc học toán của học sinh đặc biệt là học sinh tiểu học: học sinh học hiệu quả hơn, tìm hiểu nhiều hơn về chủ đề mình học, nâng cao sự tự tin và đặc biệt là kích thích sự tò mò, sáng tạo của học sinh Bởi vì học sinh không chỉ đơn giản là học những gì có trong sách giáo khoa và những gì được giáo viên hướng dẫn mà bằng năng lực
tự học, học sinh được khuyến khích khám phá thêm các chủ đề mà các em quan tâm, hứng thú tìm hiểu, dẫn đến trải nghiệm học tập hiệu quả hơn Nhưng thực
tế hiện nay cho thấy, năng lực tự học của học sinh Tiểu học còn nhiều hạn chế
Trang 12Học sinh chờ sự nhắc nhở của phụ huynh, thầy cô mới bắt đầu làm bài tập về nhà Với những kiến thức mới có liên quan đến những điều đã biết, học sinh ít tập trung tìm hiểu, ỷ lại vào giáo viên
Để phát triển năng lực tự học của học sinh Tiểu học, điều cần thiết là cần tìm ra cách dạy phù hợp để học sinh có thể tiếp thu kiến thức nhanh nhưng vẫn yêu thích, tự động tìm kiếm, lĩnh hội tri thức Có rất nhiều phương pháp và hình thức dạy học được sử dụng nhằm giúp học sinh phát triển năng lực tự học, sáng tạo như: mô hình lớp học đảo ngược, ứng dựng công nghệ thông tin (giáo án điện tử, e-learning, các ứng dụng zoom, skype, teams…), dạy học qua chủ đề, dạy học tích hợp Và video là một phần thường xuất hiện trong các phương pháp và hình thức dạy học tích cực ấy Với video, việc học có thể diễn ra ở bất
cứ nơi đâu trong mọi khoảng thời gian nào Hơn nữa, hầu hết thông tin được truyền tới não của chúng ta qua hình ảnh Nếu hình ảnh có thể làm tăng khả năng tiếp nhận thì các bức ảnh chuyển động hay video được xây dựng hợp lí càng làm tăng sự tiếp nhận và hứng thú cho người học Việc dạy qua video áp dụng tương đối dễ dàng đối với các bộ môn Tiếng Việt, Khoa học Tự nhiên, trong đó có môn Toán, đặc biệt trong Toán hình học Khi có hình ảnh thì kiến thức sẽ được trực quan, dễ tưởng tượng, làm tăng khả năng tiếp nhận và hứng thú cho các em
Tuy nhiên, tại Việt Nam, số lượng video giúp các em có thể chủ động học Toán còn khá ít, chưa thành các chủ đề rõ ràng, chưa thật sự đầu tư nhằm giúp các em học sinh Tiểu học có thể dễ dàng tìm kiếm và học qua các video
đó Vì vậy, việc cần thiết là phải có những video dạy học toán để làm nguồn tư liệu hữu ích mà học sinh có thể truy cập ở nhà, tạo cơ hội giúp các em học sinh Tiểu học có nhiều cơ hội học toán theo tốc độ của riêng mình, phát triển năng
lực tự học Xuất phát từ những lí do trên nên đề tài “Xây dựng một số video
dạy học toán phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học” được thực
hiện không những nhằm giúp cho các em học sinh có nguồn tư liệu dễ dàng
Trang 13truy cập, học tốt hơn môn Toán mà còn là nguồn tài liệu để các giáo viên khác cùng tham khảo giúp học sinh phát triển năng lực tự học - một năng lực cần thiết cho các em không chỉ ở Tiểu học mà còn ở các cấp học trên sau này
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích cung cấp một cách tiếp cận về việc dạy học toán theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua video, giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học toán
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thực hiện các công việc nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tìm hiểu những ưu điểm của việc sử dụng video dạy học, cách tạo video dạy học hiện nay Ở đây chú ý cơ sở lý luận và thực trạng, điều kiện để dạy thực nghiệm
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học toán qua video, tập trung vào việc tìm ra nguyên tắc để xây dựng video dạy học toán hiệu quả
- Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học môn Toán bằng video tại trường tiểu học X, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
- Xây dựng một số video dạy học toán và tiến hành dạy thực nghiệm theo chương trình giáo dục tiểu học hiện hành nhằm mục đích xem xét tính hiệu quả tiếp thu của học sinh khi học với video
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các video dạy học toán có sẵn và tự tạo nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học toán ở tiểu học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh tiểu học
Trang 145 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nghiên cứu: Để nghiên cứu tập trung hơn, chúng tôi giới thiệu một số trang web có video hướng dẫn tự học trên internet và đề xuất xây dựng video trong chương trình môn toán ở tiểu học bằng phần mềm PowerPoint Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động dạy và học có sử dụng video tại trường Tiểu học X, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
6 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, tại các trường Tiểu học thì hoạt động dạy học có sự tham gia của các video học tập vẫn còn khá mới mẻ Chúng tôi giả định nếu học sinh được cung cấp đủ học liệu có sự hấp dẫn như là các video sẽ lôi cuốn học sinh trong việc sẵn sàng nhận nhiệm vụ và thực hiện các nhiệm vụ tự học Từ đó, học sinh tự chiếm lĩnh tri thức toán học cũng như hình thành các phẩm chất và phát triển được năng lực tự học của bản thân
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học bằng video nhằm hệ thống hóa một
số khái niệm liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung kiến thức môn Toán trong chương trình hiện hành
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học toán ở tiểu học và ứng dụng dạy học toán bằng video trên thế giới và Việt Nam
7.2 Phương pháp khảo sát điều tra
Tìm hiểu thực trạng, những khó khăn cũng như nhu cầu của giáo viên trong việc dạy và học toán thông qua video
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm tại một trường tiểu học trên địa bàn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc xây dựng một số video dạy học toán cho học sinh tiểu học
8 Cấu trúc luận văn
Trang 15Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề xuất, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc xây dựng video dạy học toán phát triển
năng lực tự học cho học sinh tiểu học
Chương 2: Thực trạng dạy học toán qua video
Chương 3: Thiết kế video dạy học toán phát triển năng lực tự học của học
sinh tiểu học
Chương 4: Thực nghiệm dạy toán thông qua video tại địa phương
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG
CÁC VIDEO DẠY HỌC TOÁN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Ưu điểm của việc sử dụng video trong quá trình dạy học
Trong những năm gần đây, việc sử dụng công nghệ trong dạy học được đặc biệt quan tâm và khuyến khích Ngày càng có nhiều video được tạo ra với nhiều mục đích khác nhau được đưa lên các website học tập như vioet, youtube
và nhiều trang web trực tuyến trong nước và quốc tế Nhờ đó chúng ta sẽ có một môi trường giáo dục phản ánh thế giới giàu truyền thông mà chúng ta đang sống khi việc sử dụng video và âm thanh trong dạy học có tầm nhìn sư phạm
rõ ràng và trở thành nguồn học liệu không thể thiếu của giáo viên trong việc dạy học Điều này đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ rất sớm Có thể kể ra một số nhà nghiên cứu tiêu biểu quan tâm đến việc ứng dụng video vào việc dạy học như: Hoban và van Ormer (1951) đã thực hiện một nghiên cứu về giá trị sư phạm một bộ phim có từ năm 1918 Họ thấy rằng việc sử dụng các hình ảnh chuyển động có thể giúp các sinh viên cải thiện việc duy trì các khái niệm, tạo điều kiện cho suy nghĩ và giải quyết vấn đề
Moss (1983) nhận xét rằng video khác với các phương tiện học tập khác,
vì nó mang lại lợi thế khi sử dụng cảm giác thị giác Một hình ảnh chuyển động
có thể giúp học sinh hình dung một quá trình Video cũng cung cấp quyền truy cập đến nhiều đối tượng khác nhau, được lưu trữ và sử dụng cho các thế hệ tương lai
Cũng nói về vấn đề này, Goodyear và Steeples (1998) lưu ý rằng video có thể cung cấp các mô tả sống động để nói rõ ngầm thông tin và kiến thức khó diễn tả qua văn bản Còn Dale (1962) thì tin rằng hình ảnh chuyển động có thể cân bằng tình trạng “nói quá nhiều” mà ông coi là đặc hữu trong giáo dục Ông cảm thấy rằng video mang lại cho giáo dục một thách thức để xem xét lại nhiều
Trang 17phương pháp và nội dung của nó, giúp nghiêng cán cân khỏi việc hướng dẫn lấy giáo viên làm trung tâm sang nghiên cứu lấy người học làm trung tâm Trong một nghiên cứu về tài nguyên kĩ thuật số Matific thu được kết quả
là học sinh thích sử dụng các tài nguyên học tập trên ipad và máy tính Học sinh cũng cảm thấy thú vị hơn khi tiếp cận nguồn học liệu đó Nghiên cứu cũng cho thấy rằng học sinh còn tự nguyện sử dụng thời gian ở nhà để làm toán nhiều hơn Bằng các dữ liệu trước và sau kiểm tra cho thấy việc sử dụng công nghệ
đã góp phần cải thiện kết quả toán học
Swicegood (2015) tiến hành một nghiên cứu với các mục đích sau: (1) tìm hiểu về ảnh hưởng của việc sử dụng iPad đến thái độ học toán của học sinh và giáo viên, (2) thực hiện toán của học sinh trong và ngoài môi trường ứng dụng, (3) mục đích hướng dẫn sử dụng iPad trong lớp học và (4) các vấn đề triển khai của công nghệ Nghiên cứu quan sát chủ yếu này đã sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Dữ liệu định lượng được thu thập bằng việc thực hiện của học sinh trong hai ứng dụng: Addimal Adventure và Splash Math 2nd Grade, cũng như về tần suất và cách sử dụng iPad Dữ liệu định tính đến từ các cuộc phỏng vấn sáu học sinh và hai giáo viên trong giai đoạn đầu và cuối giai đoạn nghiên cứu bốn tháng Một nửa học sinh báo cáo rằng thích làm toán trên iPad, một nửa học sinh ưa thích làm toán trên giấy và bút chì Giáo viên tin rằng iPad đã giúp học sinh tập trung vào toán học lâu hơn, kết quả là dành nhiều thời gian hơn cho bài tập và cho phép đưa ra các hướng dẫn khác biệt hơn
Fabian và cộng sự (2018) tiến hành nghiên cứu để điều tra những ảnh hưởng của việc sử dụng các công nghệ di động đối với thái độ và thành tích của học sinh Thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm được sử dụng với sự tham gia của 52 học sinh tiểu học lớp 6 và 7 Nhóm thử nghiệm đã tham gia vào một hoạt động học tập hợp tác được hỗ trợ hàng tuần trên điện thoại di động kéo dài trong ba tháng Nhóm thử nghiệm có nhận thức tích cực về các hoạt động được
Trang 18chứng minh bằng các cuộc phỏng vấn của học sinh và đánh giá kết thúc hoạt động Thái độ của học sinh đối với toán học, được đánh giá bởi một kho lưu trữ thái độ toán học, không thấy có ý nghĩa thay đổi cho cả hai nhóm ngoại trừ sự suy giảm đáng kể về tính hưởng thụ đối với nhóm kiểm soát Một thử nghiệm
t về điểm số đạt được giữa hai nhóm cho thấy sự khác biệt đáng kể, t (52) = 4,57, p = 0,005, ES = 0,89 cho thấy nhóm thử nghiệm có mức tăng cao hơn nhóm kiểm soát Những kết quả này chỉ ra rằng việc sử dụng các công nghệ di động gợi ra những phản ứng tích cực từ các sinh viên cả về cách họ cảm nhận các hoạt động di động và cách nó cải thiện hiệu suất của họ nhưng hiệu quả của
nó đối với thái độ của sinh viên đối với toán học sẽ cần được nghiên cứu thêm Douglas H Clements (2015) đã nghiên cứu đề tài về “Phát triển khái niệm
về hình học trong môi trường máy tính được thiết kế đặc biệt” Theo đó, ông
đề xuất sử dụng môi trường máy tính để dạy hình học cho học sinh đã tạo điều kiện cho học sinh phát triển các khái niệm về các tính chất của các hình và mối liên hệ của chúng ở các tính chất, phép đo Kết quả của đề tài đã chứng minh rằng môi trường máy tính có thể giúp đỡ cải thiện các vấn đề trong việc dạy và học hình học tiểu học
Một ưu điểm nữa có thể dễ dàng nhận ra của video là nó có thể truyền cảm hứng cho người học bởi vì khả năng đại diện và kích thích ý tưởng của nó không thể hiện dưới dạng viết văn bản nhưng lại dễ tiếp cận Điều này phù hợp với các đối tượng học tập suốt đời (ví dụ: người đi làm, nghỉ hưu, vừa học vừa làm)
1.2 Cách tạo video sử dụng trong giáo dục
1.2.1 Các loại hình video đang được sử dụng trong giáo dục
Theo Bijnens, Vanbuel, Verstegen and Young, (2004), có 10 loại hình video đang được sử dụng xếp theo thứ tự ngược lại dựa trên nguyên tắc ngày càng tăng mức độ tham gia của người học
Trang 19Số 10 - Bài giảng và hướng dẫn nói chuyện
Đây là điểm khởi đầu cho video giáo dục tự tạo Bởi vì chúng ta có thể ghi
âm một bài giảng, hướng dẫn trong phòng thí nghiệm thông qua máy ảnh hoặc livestream với học sinh Lợi thế của việc này là sự quen thuộc về hoàn cảnh diễn ra video, vai trò và nội dung của giáo viên được tạo ra khá nhanh (giáo viên đứng giảng bài cho học sinh khi nghỉ dịch covid 19) Tuy nhiên, nó là một một sự kiện trực tiếp được ghi lại nên trong bố cục hình ảnh của giáo viên thường di chuyển, có thể gây mất tập trung cho người học, chất lượng hình ảnh
và âm thanh thấp Mặc dù vậy, ý tưởng ghi lại một sự kiện học tập mà sau đó học sinh có thể được truy cập bất cứ lúc nào vẫn hấp dẫn đối với cả học sinh và giáo viên (Uskov 2005) Hơn nữa, nếu giáo viên là một người ‘biểu diễn’ tốt thì sự nhiệt tình và cách tiếp cận của họ có thể “nhân bản” một môn học và thu hút học sinh Không thể đánh giá thấp giá trị của sự hài hước, ngữ điệu, ngôn ngữ cơ thể, cách diễn đạt, v.v của người giáo viên Gladwell (2005) mô tả nghiên cứu rằng sinh viên có thể đánh giá chất lượng của một giáo viên chỉ sau khi một vài phút xem video mà giáo viên “biểu diễn” Và việc chỉnh sửa hậu
kỳ có thể làm cho tài nguyên video dễ tiếp cận và hấp dẫn hơn Công nghệ kỹ thuật số có thể giúp chúng ta dễ dàng điều hướng và tìm kiếm trong bản trình bày video, bản ghi âm thường được chia thành các chuỗi ngắn liên quan đến chủ đề và các trang trình bày có thể được đồng bộ hóa với video Mặt khác, chúng ta còn có thể tương tác với học sinh bằng cách đặt câu hỏi kèm theo phản hồi tại các điểm chính của video
Số 9 - Sử dụng tài liệu video lưu trữ xác thực
Đây là cách mà giáo viên sử dụng tài nguyên lưu trữ video và âm thanh hiện có Trong những năm gần đây đã có sự gia tăng của các kho lưu trữ kỹ thuật số cung cấp các nguồn phương tiện kỹ thuật số trên thế giới Tại các kho lưu trữ này, giáo viên ở các quốc gia có thể tìm kiếm, lựa chọn, lấy nguồn, chỉnh sửa và nhúng video họ cần vào bài dạy của họ Tuy nhiên, việc sử dụng
Trang 20các clip cụ thể có sẵn để minh họa cho bài dạy của giáo viên có thể không hoàn toàn phù hợp với các quan điểm dạy học khác nhau của các quốc gia Chính việc này đòi hỏi các thư viện trực tuyến phát triển, nơi mà người dùng bắt đầu
tự trao đổi ý kiến và học liệu của bản thân
Số 8 - Ảnh chụp màn hình động
Đây là thể loại video giáo dục hoàn toàn không liên quan đến việc quay hoặc sử dụng tài liệu ‘hành động trực tiếp’ Đây là việc sử dụng phần mềm như TechSmith Camtasia và Macromedia Captivate để ghi và chỉnh sửa ảnh chụp màn hình hoạt hình bằng cách sử dụng phần mềm cùng với nhạc nền dưới dạng
‘phim nhỏ’ Công nghệ này đã có sẵn trong một số năm nhưng bị cản trở bởi kích thước tệp lớn cho đến khi băng thông ngày càng tăng giúp có thể phân phối các tài nguyên đó đến máy tính để bàn Người dùng sử dụng phần mềm,
để ghi lại bản trình bày và âm thanh Các phần mềm khác như Photo to Movie cho phép nhà thiết kế xoay và phóng to hình ảnh tĩnh, thêm nhạc nền để tạo hiệu ứng tường thuật mạnh mẽ Trong nhiều trường hợp, người dùng có thể chọn, bỏ qua và chuyển tiếp nhanh đến các phân đoạn cụ thể trong tài liệu Việc
sử dụng ngày càng nhiều phần mềm Adobe Flash để kết hợp video clip với hoạt hình đang bắt đầu làm mờ đi sự khác biệt giữa tài liệu trực tiếp và tài liệu do máy tính tạo ra
Số 7 - Hướng dẫn “cách quay video” của một hoạt động thực tế
Video được sử dụng để hiển thị quy trình, thủ tục và các giai đoạn khác nhau của việc thực hiện một việc cụ thể Nó cũng được sử dụng như một phương pháp trình diễn để giới thiệu các chuyên gia và người học trong thực
tế Video hướng dẫn có lịch sử lâu đời trong lĩnh vực giáo dục nhưng ưu điểm chính của định dạng kỹ thuật số là tường thuật tuyến tính không còn cần thiết nữa và người dùng có thể chọn từ menu trình tự tùy theo mức độ và nhu cầu Những ví dụ điển hình nhất như “Hướng dẫn chụp ảnh tốt” (2005) của BBC có thể kết hợp ảnh chụp màn hình hoạt hình, đầu nói và tài liệu lưu trữ (như các
Trang 21nghiên cứu điển hình) để tạo ra trải nghiệm hấp dẫn và tương đối cho người học Điểm bất lợi là việc thiết kế các gói học trực tuyến độc lập rất khó khăn, tốn thời gian và có thể tốn kém
Số 6 - Phỏng vấn chuyên gia hoặc bài thuyết trình của chuyên gia
Từ góc độ kỹ thuật, việc đưa một diễn giả khách mời vào lớp học có thể tương tự như việc ghi lại một “cái đầu” đang nói, nhưng mục đích sư phạm thường là để ngữ cảnh học thông qua kiến thức và hiểu biết thường ngầm của một học viên hoặc chuyên gia, hoặc để trình bày một quan điểm thay thế Các
sự kiện như vậy được sử dụng để kích hoạt thảo luận thêm với nội dung của tài nguyên video là điểm tham khảo cho người tham gia Các công cụ đánh dấu đang nổi lên để cho phép sinh viên và gia sư đính kèm nhận xét vào các mục
cụ thể của đoạn video và âm thanh (ví dụ: Wallace và Donald, 2006)
Số 5 - Các blog video
Các blog giáo dục phát triển mạnh mẽ trong đó chủ thể (người học hoặc giáo viên) ghi lại những suy nghĩ và hành động của họ Sự thành công của blog gắn liền với sự phản ánh cá nhân không chính thức và như chúng ta đã thấy ở trên, video và âm thanh có thể nắm bắt được giọng điệu, sự hài hước và tính ngẫu hứng
Số 4 - Video nghiên cứu điển hình / mô phỏng / đóng vai
Ở đây mục đích là mô phỏng một sự kiện chẳng hạn như một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, nơi an toàn có thể tiềm ẩn rủi ro hoặc tham gia vào một tình huống đóng vai dưới dạng một nghiên cứu tình huống mà học sinh có thể thử nghiệm, phản ứng và hành vi khác nhau Bằng cách phân tích những hành vi này, học sinh có thể hiểu sâu hơn về các vấn đề đang được đề cập Video trong trường hợp này cung cấp bối cảnh 'đời thực' và / hoặc tác động về mặt cảm xúc West và Donald (2006) nhận xét rằng trong mô phỏng nhiều lớp của họ về một nghiên cứu điển hình công tác xã hội “Clydetown”, “việc sử
Trang 22dụng âm thanh và video đã được chứng minh để tạo thêm tiếng nói chân thực cho chủ đề đang được kiểm tra”
Số 3 - Quay video các sự kiện thực tế tại chỗ
Mục đích ở đây là ghi lại một hành động không thể thực hiện được trong lớp học Điều này có thể áp dụng cho bất kỳ sự kiện hoặc tình huống ngoài trời nào, thường là các chuyến đi thực tế Tương tự như vậy, video cung cấp quyền truy cập vào các sự kiện mà các nhóm lớn sinh viên khó có thể tham gia vào môi trường công nghiệp Các sự kiện trong đời thực có thể được quan sát, diễn giải và thảo luận Tiếp cận với các kinh nghiệm bên ngoài có thể tạo cơ hội cho việc hình thành ngữ cảnh và chuyển giao kiến thức
Số 2 - Kỹ năng thuyết trình / trình diễn và phản hồi
Tự mô hình hóa video phản chiếu đã được sử dụng trong nhiều năm để nâng cao kỹ năng thực hành với người học như giáo viên, sinh viên y khoa, sinh viên sân khấu và sinh viên bán hàng (Millar, 2005) Mục đích là để nắm bắt, xem xét và nâng cao hiệu suất của các cá nhân và nhóm thông qua phản ánh và thảo luận Strathie (2006) lưu ý rằng cách tiếp cận này thúc đẩy quá trình học tập tự định hướng, tăng động lực và kích hoạt người học tự tìm ra giải pháp,
do đó tăng cường sự tự tin Mặc dù được hướng dẫn, người học là một đối tác bình đẳng trong quá trình này
Số 1 - Học sinh tạo video của riêng mình
Cho đến nay, phần lớn chúng ta thảo luận về cách giáo viên có thể tạo và
sử dụng video Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đã đặt lên đầu danh sách là video ngắn của sinh viên Theo thuật ngữ của Dale, ‘làm việc thật’ có thể được coi là bối cảnh học tập hiệu quả nhất Allam (2006) nhận thấy rằng thách thức sáng tạo của việc sử dụng hình ảnh và âm thanh chuyển động để truyền đạt một chủ
đề thực sự hấp dẫn và sâu sắc, nhưng nói thêm rằng nó cũng cho phép sinh viên
có được một loạt các kỹ năng có thể chuyển giao ngoài việc tự làm phim Chúng bao gồm các kỹ năng nghiên cứu, làm việc hợp tác, giải quyết vấn đề, công
Trang 23nghệ và kỹ năng tổ chức Cần phải cân bằng giữa việc học về làm phim, học về chủ đề này và có được các kỹ năng liên quan khác Khác với các nghiên cứu về phương tiện truyền thông, trọng tâm chính là sản xuất video như một quá trình
để có được cái nhìn sâu sắc về chủ đề này Từ góc độ sư phạm, trọng tâm là học sinh và mở rộng ý tưởng được giới thiệu trong ứng dụng trước đó của học sinh với tư cách là người đồng sáng tạo kiến thức Tuy nhiên, việc này có nhiều hạn chế vì nếu sinh viên mới làm quen với việc làm phim, có thể sẽ gặp khó khăn trong quá trình học tập Vì vậy nhìn chung việc tạo video phù hợp hơn cho các dự án làm việc nhóm lớn
Tóm lại, việc xếp thứ tự các loại hình video dựa trên quan niệm của Dale
là mức độ hoạt động ngày càng tăng của học sinh sẽ khuyến khích họ học tập tốt hơn Theo mô hình này, học sinh sản xuất video về một chủ đề có thể hiệu quả hơn về mặt sư phạm khi học sinh xem video một cách thụ động Tuy nhiên, bối cảnh giáo dục luôn phức tạp và không tránh khỏi phụ thuộc vào nguồn lực khác như đội ngũ cán bộ quản lý, khả năng tạo video dạy học của giáo viên và học sinh nên cần tìm ra một loại hình video thích hợp để xây dựng
1.2.2 Cách tạo video hướng dẫn học sinh tự học
Theo Bijnens và cộng sự (2004), khi tạo video cần chú ý cách tiếp cận ba giai đoạn: sư phạm, hình thức và nội dung; công nghệ và sản xuất; và thu thập kinh nghiệm Dù người tạo sử dụng công cụ nào để tạo video thì vẫn luôn xác định những gì họ muốn khán giả của mình chú tâm Khi đã làm rõ mục tiêu của mình, người tạo video cần nghĩ về khán giả của mình Đối tượng của bạn là ai
và họ sẽ ở trong môi trường nào khi học? Điều này tự nó có thể làm nảy sinh tất cả các loại vấn đề kỹ thuật Khi bạn có các yếu tố cơ bản về những gì bạn muốn đạt được và bạn quyết định sử dụng các bổ sung nghe nhìn hoặc đa phương tiện, giai đoạn tiếp theo là chọn cách tiếp cận phù hợp nhất Thêm nữa, hãy tìm một phương pháp đánh giá trước khi bạn bắt đầu sử dụng video trong
Trang 24thực tế Bằng cách làm việc theo thứ tự này (sư phạm sau đó là công nghệ), bạn
sẽ có cơ hội tốt nhất để đạt được kết quả giáo dục hài lòng
Khi giáo viên tự tạo video của riêng mình, để video được sử dụng tối ưu cho mục tiêu dạy và học thì người giáo viên cần xác định mục tiêu tạo video Video cần trả lời được câu hỏi “Học sinh học được gì sau khi xem video?”
“Video giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập như thế nào?” Giáo viên cần viết ra chính xác những gì giáo viên muốn học sinh làm và làm như thế nào?
Dự đoán kết quả công việc của họ và đưa ra phản hồi gì về nhiệm vụ (giấy, báo cáo miệng, sản xuất…) Chúng tôi gọi đó là kịch bản video
Sau khi đã có kịch bản video bằng cách xác định mục tiêu dạy và học, chúng tôi điều chỉnh mục tiêu đó theo các hạn chế về kỹ thuật và thiết kế Bởi
vì, dù muốn hay không thì chúng tôi phải thừa nhận rằng không phải giáo viên nào cũng là một người thiết kế video giỏi Ở phạm vi đề tài này, chúng tôi xin
đề cập đến việc tạo video thông qua PowerPoint và dùng chức năng xuất video trên phần mềm này Lí do chúng tôi chọn công cụ này để tạo video là bởi vì PowerPoint là ứng dụng công nghệ thông tin quen thuộc của hầu hết giáo viên
Họ có những kỹ năng cơ bản để tạo ra một bài giảng điện tử hướng tới đối tượng là học sinh trong lớp học và xem bài trước ở nhà Họ có thể sử dụng PowerPoint giảng dạy trên lớp và xuất thành video sau khi dạy xong
Để việc sử dụng video có hiệu quả liên quan đến giá trị giáo dục của nó, video phải đáp ứng một số yêu cầu sư phạm của chúng tôi
Đầu tiên, video phải khiến học sinh có động lực xem chúng một cách tập trung Bởi vì học sinh vẫn còn quen với cách giảng dạy truyền thống, một đoạn video được phát lại trong lớp dường như chỉ có tầm quan trọng nhỏ so với phần còn lại của bài học Vì vậy, học sinh phải nhận thức được giá trị của tài liệu mà
họ đang xem Để làm được điều này, giáo viên nên giao nhiệm vụ trước cho học sinh, dần làm cho học sinh quen với việc bài giảng truyền thống thay thế bằng nội dung video kết hợp với học tập tích cực được đề cập trong lớp học
Trang 25đảo ngược, nơi mà việc học trên lớp chỉ là giải quyết những bài tập khó, những vướng mắc mà học sinh không thể có câu trả lời trong quá trình tự tìm hiểu kiến thức mới
Thứ hai, phần lớn động cơ của học sinh và tác động của tài liệu đối với họ liên quan đến việc lựa chọn tài liệu Ngoài việc thu hút sự chú ý của học sinh vào video, thì hiệu quả của bản thân video cũng rất quan trọng Quá trình học tập càng nhanh càng liên quan đến kiến thức mà học sinh đã đạt được trước đó
Do đó, giáo dục nên bắt đầu với tình trạng ban đầu của kiến thức của học sinh
Và giáo viên là người cần đảm bảo rằng bản thân biết rõ những gì học sinh của
họ biết và thời điểm để họ bắt đầu đưa ra thông tin mới cho học sinh Theo Vugotxki, nhiệm vụ của giáo viên không chỉ là xác định được vùng phát triển hiện tại mà cần phải nhận thức được vùng phát triển gần nhất của người học
Từ đó, quyết định khi nào thì tổ chức để người học hoạt động một cách độc lập
và khi nào thì cần cung cấp sự giúp đỡ, hướng dẫn Ngoài ra, cần nắm vững mức độ có thể phát triển được của mỗi học sinh để lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp Học sinh xem video trên máy tính hay điện thoại? Họ
có bị giám sát hay không? Họ sẽ xem nó trong một nhóm hay cá nhân? Việc xem có bị ràng buộc vào một thời gian và không gian nhất định hay họ sẽ có thể xem mọi lúc, mọi nơi? Họ xem video trực tuyến hay được tải về máy tính
cá nhân? Tất cả những câu hỏi này sẽ ảnh hưởng đến độ dài ngắn của video được tạo
Cuối cùng là, trong môi trường lớp học, giáo viên có thể mong đợi học sinh chăm chú trong thời gian dài hơn so với ở nhà Hình ảnh chuyển động thu hút sự chú ý; điều này không có nghĩa là video đó có thể thu hút sự chú ý Vì vậy cần tránh xem thụ động trên lớp Chúng tôi xây dựng video có kèm trò chơi học tập để học sinh có thể xem chủ động bằng cách thảo luận với bạn hoặc làm việc cá nhân tốc độ của riêng mình
Trang 26Tiểu kết chương 1
Với những nghiên cứu về cơ sở lí luận ở chương 1, chúng ta nhận thấy giáo dục không chỉ dừng lại ở sự tiếp thu kiến thức mà đó còn là sự thúc đẩy quá trình phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh Từ những ưu điểm mà
video mang lại cho việc học và cách tạo video giáo dục, chúng tôi nhận thấy:
Để phát triển năng lực tự học là một việc rất cần thiết Có câu “Học hoài
đi, cái hại nhất ta tự làm cho ta là thôi học Thôi học lúc nào là bắt đầu thụt lùi lúc ấy” (H.N.Canson) Việc tự học sẽ theo chân học sinh suốt cuộc đời, do vậy nên rèn luyện tính tự học cho các em từ sớm, nhất là ở giai đoạn Tiểu học Cần quan tâm đến các công cụ có thể giúp học sinh tự học, nhất là vào những thời gian rảnh ở nhà Việc sử dụng các video vừa ngắn gọn, vừa thú vị là cách hợp
lí để giúp học sinh tự học Đối với bộ môn Toán – một môn học quan trọng, lượng kiến thức nhiều và khó Kiến thức toán hình học thường khiến học sinh khó hình dung nếu chỉ học bằng những cách truyền thống, thông thường Ở nội dung đề tài này, chúng tôi xây dựng một số video dạy học toán để bước đầu đánh giá hiệu quả của video mang lại qua việc thử nghiệm ở học sinh lớp 3 Học sinh được xem các video ngắn gọn, có thể xem bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào, với tốc độ phù hợp, có thể xem lại nhiều lần trên nền tảng Youtube hoặc tải về điện thoại Không chỉ vậy, với tình hình dịch Covid-19, việc học trực tuyến đang được áp dụng và khuyến khích Cho nên những video này rất cần thiết để người học có thể ôn lại kiến thức cũ hoặc tiếp thu những kiến thức mới
Đề tài còn đáp ứng được tính cấp thiết của xã hội, sử dụng các video trên nền tảng Youtube hoặc các công cụ trực tuyến, và sẽ là xu hướng mới của việc học tập sau này
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC TOÁN QUA VIDEO
2.1 Một vài nét về chương trình môn Toán năm 2018
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình
Chương trình môn Toán quán triệt các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình tổng thể; kế thừa và phát huy ưu điểm của chương trình hiện hành
và các chương trình trước đó, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng chương trình môn học của các nước tiên tiến trên thế giới, tiếp cận những thành tựu của khoa học giáo dục, có tính đến điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam Đồng thời, chương trình môn Toán nhấn mạnh một số quan điểm sau:
- Bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại: thể hiện ở việc phản ánh
những nội dung nhất thiết phải được đề cập trong nhà trường phổ thông, đáp ứng nhu cầu hiểu biết thế giới cũng như hứng thú, sở thích của người học, phù hợp với cách tiếp cận của thế giới ngày nay Chương trình quán triệt tinh thần
“toán học cho mọi người”, ai cũng học được Toán nhưng mỗi người có thể học
Toán theo cách phù hợp với sở thích và năng lực cá nhân
- Bảo đảm tính thống nhất, sự nhất quán và phát triển liên tục Chương
trình môn Toán bảo đảm tính thống nhất, sự phát triển liên tục (từ lớp 1 đến lớp 12) Đồng thời, chương trình môn Toán chú ý tiếp nối với chương trình giáo dục mầm non và tạo nền tảng cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
- Bảo đảm tính tích hợp và phân hoá: thực hiện tích hợp nội môn xoay quanh ba mạch kiến thức: Số, Đại số và Một số yếu tố giải tích; Hình học và
Đo lường; Thống kê và Xác suất; thực hiện tích hợp liên môn thông qua các nội dung, chủ đề liên quan hoặc các kiến thức toán học được khai thác, sử dụng trong các môn học khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí, Tin học, Công nghệ, Lịch sử, Nghệ thuật, ; thực hiện tích hợp nội môn và liên môn thông qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong giáo dục toán học Đồng thời, chương trình môn Toán bảo đảm yêu cầu phân hoá Đối với tất cả các cấp học, môn Toán quán triệt tinh thần dạy học theo hướng cá thể hoá người học trên cơ
Trang 28sở bảo đảm đa số học sinh (trên tất cả các vùng miền của cả nước) đáp ứng được yêu cầu cần đạt của chương trình; đồng thời chú ý tới các đối tượng chuyên biệt (học sinh giỏi, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn,…)
- Bảo đảm tính mở: Chương trình môn Toán bảo đảm định hướng thống
nhất và những nội dung giáo dục toán học cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục toán học và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng và điều kiện của địa phương,
của cơ sở giáo dục Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển
trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu của thực tế
Như vậy, trên cơ sở quan điểm xây dựng chương trình môn toán năm 2018, chúng tôi nhận thấy việc xây dựng video dạy học toán cho học sinh là cần thiết
vì nó có thể giúp học sinh học tập với tiến độ khác nhau, phù hợp với năng lực của từng học sinh, góp phần đưa tiến bộ khoa học- công nghệ để nâng cao chất lượng giảng dạy
b) Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tính tích cực, tự giác, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh; tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong
đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề;
Trang 29c) Linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học truyền thống; kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn Cấu trúc bài học bảo đảm tỉ lệ cân đối, hài hoà giữa kiến thức cốt lõi, kiến thức vận dụng và các thành phần khác
d) Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán; có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm phù hợp với nội dung học và các đối tượng học sinh; tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại một cách phù hợp và hiệu quả;
Sau khi tìm hiểu phương pháp giáo dục mà chương trình môn toán 2018
đề cập, chúng tôi nhận thấy so với những phương pháp trong chương trình môn toán 2006 thì chương trình mới đã đưa vào và nhấn mạnh giáo viên cần tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại Việc sử dụng các nguồn tài nguyên, học liệu đa phương tiện được qui định rất rõ trong chương trình như sau:
- Các thiết bị dạy học phải phục vụ cho mục tiêu dạy học môn Toán, phù
hợp với nội dung học và các đối tượng học sinh, hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học và tránh làm tăng thêm nội dung dạy học, công việc của giáo viên và gây tốn kém không cần thiết
– Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, tránh hình thức hoặc lạm dụng gây phản tác dụng, làm giảm hiệu quả của quá trình dạy học; tạo điều kiện để học sinh thực sự được thực hành, thao tác trên các thiết bị dạy học, qua đó giúp học sinh chủ động, tích cực khám phá, phát hiện kiến thức và góp phần phát triển “năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán”
– Khuyến khích sử dụng các phương tiện nghe nhìn, phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học, đồng thời coi trọng việc sử dụng các phương
Trang 30tiện truyền thống Khi có điều kiện, giáo viên hướng dẫn học sinh cách tìm kiếm thông tin, tư liệu trên Internet hoặc chương trình truyền hình có uy tín về giáo dục để mở rộng vốn hiểu biết và năng lực tự học
2.2 Thực trạng dạy và học tại trường tiểu học
2.2.1 Việc sử dụng video tại trường tiểu học ở Việt Nam
Theo Đỗ Đức Thái - Chủ biên chương trình môn Toán trong Chương trình GDPT 2018, chương trình môn Toán bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại, quán triệt tinh thần “toán học cho mọi người”, ai cũng học được Toán nhưng mỗi người có thể học Toán theo cách phù hợp với sở thích và năng lực
cá nhân Trong đó, năng lực tự học được chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhấn mạnh đó là một trong 3 năng lực chung cần phải có của người học Sách giáo khoa lớp 1 bộ cánh diều có tích hợp video hướng dẫn tự học trên mỗi đầu sách Tuy nhiên, thời lượng video khá dài khó thu hút học sinh tự học ở nhà Video chủ yếu được sử dụng với sự hướng dẫn trên lớp của giáo viên
Tại Phú Thọ, có một cô giáo đã thành công trong việc giới thiệu mô hình lớp học xuyên biên giới nhờ công nghệ Đó là cô Hà Ánh Phượng (29 tuổi, người dân tộc Mường, giáo viên tiếng Anh trường THPT Hương Cần, Thanh Sơn, Phú Thọ) Cô công tác tại trường trung học miền núi, nơi hơn 90% học sinh là người dân tộc thiểu số, có độ tuổi từ 15 đến 18 và có ít cơ hội để thực hành tiếng Anh Bằng nền tảng skype, cô quay video hướng dẫn học sinh tự học, học sinh của cô được kết nối với các trường trên khắp thế giới, giúp các
em phát triển tiếng Anh, sự tự tin và hiểu biết văn hóa Cô đã vinh dự lọt vào danh sách 10 giáo viên toàn cầu năm 2020
Trang 31Hình 2.1 Cô Hà Ánh Phượng (Nguồn: Internet)
Cô Nguyễn Thị Thanh Hoa, Trường tiểu học Việt Nam – Cu Ba, quận Ba Đình đã tự tạo những đoạn phim hoạt hình ngắn để cuốn hút học sinh vào giờ học Trong những đoạn phim đó, cô xây dựng 2 nhân vật hoạt hình là anh Bong Bóng và bạn Ếch Cốm như hai người bạn đồng hành cùng các học sinh khám phá các kiến thức địa lý và ngôn ngữ Bên cạnh đó, cô Nguyễn Thị Bích Diệp, Trường tiểu học Tân Mai, quận Hoàng Mai, cũng tự nghiên cứu và tạo ra phần mềm hỗ trợ cho trẻ khó hòa nhập Đồng thời cô hướng dẫn cho học sinh bình thường sử dụng phần mềm này và nhờ các em hướng dẫn lại cho các bạn tự kỷ
và các bạn tăng động trong lớp Sự tận tâm của cô đã đạt được những thành quả đáng mừng khi các em hào hứng chia sẻ giúp đỡ nhau, tạo nên những lớp học hạnh phúc, không còn khoảng cách giữa học sinh đặc biệt và học sinh bình thường Cả hai cô đã được vinh danh tại Giải thưởng “Nhà giáo Hà Nội tâm huyết, sáng tạo” năm 2019
2.2.2 Thực trạng dạy toán trong trường Tiểu học
Chương trình Tiểu học được sử dụng cho học sinh ở lứa tuổi Tiểu học
(6-7 tuổi đến 11-12 tuổi) - là giai đoạn bước đầu có khả năng thực hiện việc phân
Trang 32tích tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa và những hình thức đơn giản của
sự suy luận, phán đoán Học sinh thường phán đoán theo cảm nhận riêng nên suy luận thường mang tính tuyệt đối Chẳng hạn đáng lẽ hiểu: “45 = 9 × 5 nên 45: 5 =9”, thì lại coi đó là hai mệnh đề không có quan hệ gì với nhau (Vũ Quốc Chung, 2005) Chương trình môn Toán tiểu học năm 2018 (Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán) xác định 3 mạch kiến thức cốt lõi: Số và phép tính; Hình học và đo lường; Thống kê và xác suất Mục tiêu của chương trình Toán Tiểu học đặt ra là góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học Đối với phần Hình học và Đo lường: Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm (ở mức độ trực quan) của một số hình phẳng và hình khối trong thực tiễn; tạo lập một số mô hình hình học đơn giản; tính toán một số đại lượng hình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đo lường (với các đại lượng đo thông dụng) Một kiến thức toán học được đưa vào giảng dạy cho học sinh tiểu học ngoài việc được lựa chọn một cách cẩn thận còn phải gắn liền với việc xây dựng cách thức tiến hành dạy học một cách hợp lí Không những thế, kiến thức đó phải là sự kết hợp hài hòa giữa cơ sở toán học và yếu tố thực tiễn gắn liền với thế giới của trẻ Ngoài ra, một điểm cần phải chú ý rằng kiến thức trong SGK phải liên tục được cập nhật (Dương Minh Thành, 2015) Chương trình Toán Tiểu học, nhất
là phần hình học còn tương đối khó với học sinh vì những kiến thức trừu tượng Khi dạy bài mới: công thức tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông (lớp 3), công thức tính diện tích hình bình hành, hình thoi (lớp 4), công thức tính diện tích hình tam giác, hình thang; hình tròn (lớp 5), sách giáo khoa ít chú ý kĩ thuật
so sánh diện tích trong phạm vi hình học Những nhiệm vụ được đưa ra thường
có hai hình hoặc đã bằng nhau, hoặc có một hình nằm hoàn toàn trong hình còn lại nên việc chia nhỏ hình là không cần thiết (Trần Đức Thuận, 2015) (hình 2.1).Hơn nữa, một số khái niệm về hình còn chưa được hiểu đúng, thậm chí đối với giáo viên cũng còn chưa ra được đáp án đúng Ví dụ như một bài tập đếm
Trang 33số tứ giác được đưa ra để hỏi giáo viên thì trong số gần 100 giáo viên Tiểu học được hỏi, chỉ vài giáo viên trả lời đúng Điều này cho thấy phần lớn giáo viên thường hiểu nhầm khái niệm “tứ giác” đồng nhất với khái niệm “tứ giác lồi” (Dương Minh Thành, 2015) Đối với chương trình hình học lớp 3, học sinh được học cách tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông, so sánh diện tích hai hình vuông hoặc hình chữ nhật Đây là kiến thức rất quan trọng và ứng dụng nhiều trong cuộc sống Nhưng đây cũng là kiến thức khó, và dễ nhầm lẫn Trong quá trình học, học sinh thường lúng túng, rất khó so sánh diện tích các hình và không thể nào hình dung được nếu không có các công cụ trực quan Do
đó, việc cấp thiết là cần tìm ra phương pháp để học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức và ôn tập, củng cố bài
Hình 2.2 Bài Diện tích của một hình 2.3 Khảo sát thực trạng dạy học môn toán của GV tại trường Tiểu học X, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
Mục đích khảo sát
Để tìm hiểu về thực trạng dạy học toán tiểu học qua video chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên tại trường Tiểu học X Từ đó, chúng tôi có thể đưa ra những nhận xét và đánh giá chung về thực trạng này
Trang 34Khảo sát giáo viên
Chúng tôi tiến hành khảo sát 50 GV đang dạy tại trường có thâm niên nhiều nhất là 37 năm và ít nhất là 2 năm bằng cách khảo sát trực tiếp qua phiếu
hỏi (Phụ lục 1) Thời gian từ tháng 6/2020 đến tháng 7/2020
Bảng 2.1 Danh sách giáo viên được khảo sát
Trang 35STT Họ tên giáo viên Trình độ
Trang 362.1) Qua đây, có thể thấy rằng phần lớn GV đã tiếp cận xu thế mới, gắn việc
học với công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng giảng dạy
Biểu đồ 2.1 Nguồn video giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học Bảng 2.3 Mức độ tán thành của giáo viên về việc sử dụng video dạy học toán phát triển năng lực tự học cho học sinh
Ý kiến
Hoàn toàn Không đồng ý
Không đồng ý
Trang 37- Ý kiến 1: Sử dụng các video để dạy học Toán sẽ góp phần giúp HS khắc sâu kiến thức
- Ý kiến 2: Học sinh có thể tự tìm hiểu những kiến thức mới qua video
- Ý kiến 3: Khi HS xem các video clip, HS có cơ hội kiểm chứng những kiến thức trong sách giáo khoa
- Ý kiến 4: Năng lực tự học của học sinh sẽ được phát huy nếu học sinh được cung cấp đủ nguồn tài nguyên video phục vụ trong quá trình học tập
- Ý kiến 5: Học sinh hứng thú và tập trung hơn khi sử dụng video truyền tải kiến thức mới
- Ý kiến 6: Sử dụng video để dạy học môn Toán sẽ phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho HS, góp phần hạn chế tính thụ động cho HS khi học môn này
Trong 50 GV được khảo sát, 90% GV Hoàn toàn đồng ý và Đồng ý với ý kiến (1); 66% GV Hoàn toàn đồng ý và Đồng ý với ý kiến (2); 66% GV Hoàn
toàn đồng ý và Đồng ý với ý kiến (3); 72% GV Hoàn toàn đồng ý và Đồng ý
với ý kiến (4); 84% GV Hoàn toàn đồng ý và Đồng ý với ý kiến (5); 66% GV
Hoàn toàn đồng ý và Đồng ý với ý kiến (6)
4% GV Phân vân ý kiến (1); 26% GV Phân vân ý kiến (2); 20 % GV Phân
vân ý kiến (3); 16% GV Phân vân ý kiến (4); 12% GV Phân vân ý kiến (5);
20% GV Phân vân ý kiến (6)
6% GV Hoàn toàn không đồng ý và Không đồng ý ý kiến (1), 8% GV
Hoàn toàn không đồng ý và Không đồng ý với ý kiến (2), 14% GV Hoàn toàn không đồng ý và Không đồng ý với ý kiến (3), 12% GV Hoàn toàn không đồng
ý và Không đồng ý với ý kiến (4); 4% GV Hoàn toàn không đồng ý và Không đồng ý với ý kiến (5); 14% GV Hoàn toàn không đồng ý và Không đồng ý với
ý kiến (6)
Như vậy, theo như kết quả trên, phần nhiều GV (trên 60% GV) tán thành những tác động tích cực của video đối với việc học của học sinh Bên cạnh đó
Trang 38vẫn còn một số giáo viên cảm thấy phân vân, nghi ngờ về những gì video mang lại bởi vì họ chưa đánh giá được mức độ cần thiết và cách sử dụng video dạy học toán Thậm chí có những giáo viên hoàn toàn không đồng ý với cách dạy
sử dụng video và hầu hết những giáo viên này cho rằng sử dụng video là việc làm không cần thiết (Biểu đồ 2.2)
Biểu đồ 2.2 Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết
khi sử dụng video trong dạy học toán
Như vậy, nhìn vào biểu đồ, chúng tôi nhận thấy vẫn còn 18% đánh giá việc đưa video dạy học là không cần thiết, 82% còn lại sử dụng video vào trong các trường hợp: minh họa nội dung bài dạy chiếm 44%; cung cấp kiến thức mới chiếm 34%; củng cố nội dung bài chiếm 22% (Biểu đồ 2.3)
Biểu đồ 2.3 Cách sử dụng video trong dạy học toán của giáo viên
18%
32%
50%
Không cần thiết Cần thiết Rất cần thiết
Trang 39Bảng 2.4 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi sử dụng video dạy học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học
Điểm trung bình
- Ý kiến 1: Cơ sở vật chất chưa đầy đủ
- Ý kiến 2: Giáo viên không đủ thời gian chuẩn bị video
- Ý kiến 3: Giáo viên không đủ năng lực thực hiện
- Ý kiến 4: Thiếu nguồn tài nguyên video trong dạy học toán
- Ý kiến 5: Khó khăn trong việc lựa chọn hình thức dạy học phù hợp
- Ý kiến 6: Nhà trường thiếu khuyến khích và hỗ trợ
- Ý kiến 7: Thiếu cơ chế, quy định về chuẩn video dạy học toán
- Ý kiến 8: Khó khăn trong quản lí học sinh
Khi được hỏi về những khó khăn mà GV gặp phải khi sử dụng video dạy học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học, chúng tôi đưa ra 8 ý kiến khác nhau, mỗi giáo viên sẽ đánh số thứ tự từ 1 đến 8 để thể hiện khó khăn nhất đến ít khó khăn nhất, tương ứng với khó khăn nhất là 8 điểm đến ít khó khăn nhất là 1 điểm Kết quả như sau:
Trang 40Bảng 2.5 Bảng xếp thứ tự các khó khăn mà GV gặp phải khi sử dụng video dạy học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học
trung bình
1 Giáo viên không đủ năng lực thực hiện 5.56
2 Thiếu nguồn tài nguyên video trong dạy học toán 5.46
3 Giáo viên không đủ thời gian chuẩn bị video 5.14
5 Khó khăn trong việc lựa chọn hình thức dạy học phù hợp 4.66
6 Nhà trường thiếu khuyến khích và hỗ trợ 4.3
7 Thiếu cơ chế, quy định về chuẩn video dạy học toán 3.52
Biểu đồ 2.4 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi sử dụng video
dạy học toán phát huy năng lực tự học cho học sinh tiểu học
Giáo viên không đủ thời gian chuẩn bị video.
Cơ sở vật chất chưa đầy đủ.
Khó khăn trong việc lựa chọn hình thức dạy học phù hợp.
Nhà trường thiếu khuyến khích và
hỗ trợ
Thiếu cơ chế, quy định về chuẩn video dạy học toán.
Khó khăn trong quản
lí học sinh.