1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non quận bình tân thành phố hồ chí minh

131 34 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trang
Người hướng dẫn TS. Dư Thống Nhất
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lí giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về quản lí hoạt động tự đánh giá khi thực hiện hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM .... Cùng với đó, Công vă

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Ngọc Trang

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Ngọc Trang

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BÌNH TÂN,

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

PHẠM THỊ NGỌC TRANG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

TS Dư Thống Nhất đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

luận văn

Các thầy cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp

đỡ, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên tại các trường Mầm non Hương Sen, Mầm

non Cẩm Tú, Mầm non Hoa Hồng, Mầm non Sen Hồng, Mầm non Tân Tạo, Mầm

non Hoàng Anh, Mầm non Ánh Sao ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã

cung cấp thông tin, tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Những người thân trong gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và hỗ trợ

tôi trong thời gian qua

Luận văn không sao tránh khỏi những sơ sót, khiếm khuyết khi nghiên cứu và

biên tập Kính mong được sự chỉ dẫn và hỗ trợ tiếp tục của quý thầy cô, và quý đồng

nghiệp

Tác giả luận văn

PHẠM THỊ NGỌC TRANG

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các sơ đồ

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN Lí HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu 8

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước 11

1.2 Những khái niệm cơ bản 16

1.2.1 Kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non 16

1.2.2 Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non 19

1.2.3 Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 21

1.3 Lí luận về hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 24

1.3.1 Mục đích hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 24

1.3.2 Nội dung hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 25

1.3.3 Phương pháp thu thập minh chứng khi tổ chức hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 27

1.3.4 Qui trình tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 28

Trang 6

1.3.5 Kết quả và chu kì hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng

giáo dục ở trường mầm non 29

1.3.6 Điều kiện tổ chức hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 30

1.4 Lí luận về quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 32

1.4.1 Phân cấp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 32

1.4.2 Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 33

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 37

1.5.1 Các yếu tố khách quan 37

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 38

Tiểu kết Chương 1 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI QUẬN BÌNH TÂN TP HCM 42

2.1 Khái quát về địa bàn khảo sát thực trạng 42

2.1.1 Vài nét về đặc điểm tình hình KT-XH tại Quận Bình Tân TPHCM 42

2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non của quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 43

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng và cách thức xử lí số liệu 44

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 44

2.2.2 Khái quát về các phương pháp nghiên cứu thực trạng 44

2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM 48

2.3.1 Thực trạng chung về việc triển khai hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non tại quận Bình Tân 48

Trang 7

2.3.2 Thực trạng nhận thức về mục đích, ý nghĩa hoạt động tự đánh giá

trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường Mầm non tại quận Bình Tân TPHCM 49 2.3.3 Thực trạng việc lựa chọn nội dung và thực hiện quy trình hoạt động

tự đánh giá trong kiểm định chất lượng ở trường mầm non quận Bình Tân 52 2.3.4 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp thu thập minh chứng cho

hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM 56 2.3.5 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV trường mầm non về quyền tự

chủ và trách nhiệm xã hội trong việc tổ chức TĐG 57 2.3.6 Thực trạng về kết quả tự đánh giá của CBQL, GV về các nội dung

hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM 60 2.4 Thực trạng quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM 61 2.4.1 Thực trạng về phân cấp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm

định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM 61 2.4.2 Thực trạng về quản lí hoạt động tự đánh giá khi thực hiện hoạt động

tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM 62 2.4.3 Thực trạng việc lập kế hoạch hoạt động tự đánh giá trong kiểm định

chất lượng giáo dục ở các trường mầm non 63 2.4.4 Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động tự đánh giá

trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 64 2.4.5 Thực trạng việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động tự đánh giá

trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 66

Trang 8

2.4.6 Thực trạng việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch hoạt

động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường

mầm non 67

2.4.7 Thực trạng về kết quả quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM 68

2.4.8 Mối tương quan giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện các chức năng quản lí 69

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM 72

2.5.1 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan 72

2.5.2 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan 73

2.6 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 74

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI QUẬN BÌNH TÂN TPHCM 77

3.1 Những nguyên tắc lựa chọn biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM 77

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 77

3.1.2 Nguyên tắc gắn lí luận với thực tiễn 77

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ 78

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 78

3.2 Biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non tại quận Bình Tân TPHCM 79

3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức tập huấn cho thành viên Hội đồng TĐG về nghiệp vụ TĐG tại nhà trường 79

Trang 9

3.2.2 Biện pháp 2: Xin chủ trương của các cấp lãnh đạo về việc chi hỗ trợ

cho các cá nhân tham gia hoạt động TĐG trong KĐCLGD tại

trường MN 81

3.2.3 Biện pháp 3: Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc quá trình tổ chức hoạt động TĐG trong KĐCLGD tại trường MN 82

3.2.4 Biện pháp 4: Hiệu trưởng qui định rõ thời gian hoàn thành các đầu việc, người phụ trách và yêu cầu cho các sản phẩm của từng đầu việc 83

3.2.5 Biện pháp 5: Hiệu trưởng xác định tiêu chuẩn kiểm tra cho từng nội dung hoạt động TĐG trong KĐCLGD 85

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp đề xuất 88

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 88

3.4.2 Nội dung, phương pháp khảo nghiệm 88

3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 89

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 89

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm 7 trường được khảo sát 44

Bảng 2.2 Số lượng CBQL, GV, nhân viên tham gia khảo sát 45

Bảng 2.3 Số năm công tác 45

Bảng 2.4 Số năm làm CBQL 45

Bảng 2.5 Số năm tham gia công tác TĐG trong KĐCLGD ở các trường mầm non 45

Bảng 2.6 Bảng trung bình các mức độ theo thang đo 4 bậc 47

Bảng 2.7 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach's Alpha (α) của các thang đo 48

Bảng 2.8 Thực trạng triển khai hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục 48

Bảng 2.9 Kết quả nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục 49

Bảng 2.10 Kết quả nhận thức về ý nghĩa của hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non 50

Bảng 2.11 Kết quả nhận thức về mục đích của hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non 50

Bảng 2.12 Những nội dung thực hiện TĐG trong KĐCLGD 53

Bảng 2.13 Quy trình thực hiện tự đánh giá trong kiểm định chất lượng 54

Bảng 2.14 Phương pháp thu thập minh chứng cho hoạt động tự đánh giá 56

Bảng 2.15 Kết quả nhận thức của CBQL, GV, NV về quyền tự chủ trong việc tổ chức TĐG 57

Bảng 2.16 Kết quả nhận thức của CBQL, GV, NV về trách nhiệm xã hội trong việc tổ chức TĐG 58

Bảng 2.17 Kết quả thực hiện các nội dung hoạt động tự đánh giá ở các trường mầm non 60

Bảng 2.18 Tầm quan trọng của công tác quản lý họat động TĐG 62

Bảng 2.19 Mức độ thực hiện chức năng lập kế hoạch trong hoạt động TĐG 63

Bảng 2.20 Mức độ thực hiện chức năng tổ chức trong hoạt động TĐG 64

Bảng 2.21 Mức độ thực hiện chức năng chỉ đạo trong hoạt động TĐG 66

Trang 12

Bảng 2.22 Mức độ thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá trong hoạt động

TĐG 67 Bảng 2.23 Kết quả quản lý hoạt động TĐG trong kiểm định chất lượng

giáo dục ở các trường mầm non 68 Bảng 2.24 Tương quan Pearson về tính cần thiết của chức năng quản lí 69 Bảng 2.25 Tương quan Pearson giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện

các chức năng quản lí 70 Bảng 2.26 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan 72 Bảng 2.27 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan 73 Bảng 3.1 Đánh giá của CBQL, GV, NV về tính cần thiết của các giải pháp

liên quan đến HĐ TĐG trong KĐCLGD ở trường Mầm non 89 Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp liên quan đến quản lí hoạt

động TĐG trong KĐCLGD 91

Trang 13

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các thành tố cơ bản tạo nên chất lượng giáo dục 17

Sơ đồ 1.2 Các thành tố trong quản lí 21

Sơ đồ 1.3 Vòng tròn quản lí P-D-C-A 23

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng giáo dục là yêu cầu cấp bách, đồng thời là vấn đề được quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục và của toàn xã hội Đối với cấp mầm non thì đây là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết vì tầm quan trọng của nó với sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, sự nghiệp giáo dục nói riêng và sự nghiệp của chính con em mỗi gia đình Do đó, người ta hay nhìn vào chất lượng đội ngũ, chất lượng cơ

sở vật chất, chất lượng đầu vào và chất lượng đầu ra của một trường để ra quyết định

có nên cho con cái vào trường đó học hay không; dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các trường học về chất lượng giáo dục Mọi hoạt động giáo dục được thực hiện đều hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục Từ những yêu cầu thực tiễn trên, đã có rất nhiều những quy định của nhà nước về việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường mầm non

Thực hiện theo Luật Giáo dục (2019) số 43/2019/QH14 của Chính Phủ quy định về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non “bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học [Luật Giáo dục (2019)] Cùng với đó, Công văn số 5942/BGDĐT-QLCL ngày

28 tháng năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về công tác tự đánh giá trong trường mầm non, với mục tiêu“Xác định trường mầm non đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của nhà trường; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường mầm non đạt kiểm định chất lượng giáo dục” Đồng thời, mục tiêu của công tác tự đánh giá sẽ giúp “Khuyến khích đầu tư và huy động các nguồn lực cho giáo dục, góp phần tạo điều kiện đảm bảo cho nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia”

Trang 15

Tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường mầm non là một trong những công đoạn đầu tiên trong tổng thể các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục; phản ánh tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chủ thể đối với hoạt động giáo dục Đồng thời thông qua tự đánh giá chất lượng giáo dục để phát hiện những ưu điểm và hạn chế, từ

đó phát huy và điều chỉnh trong quá trình giáo dục phù hợp với tôn chỉ mục đích và nâng cao chất lượng giáo dục của cơ sở, tạo điều kiện cho các bước kiểm định, đánh giá chất lượng tiếp theo Kiểm định chất lượng là một mắt xích trong quá trình đảm bảo chất lượng giáo dục “Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát” (Điều 17, Luật Giáo dục (2005) Đồng thời, công tác quản lí hoạt động tự đánh giá cũng là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó nhấn mạnh vai trò của Hiệu trưởng trường mầm non

ra quyết định thành lập Hội đồng TĐG Số lượng thành viên, thành phần tham gia và nhiệm vụ của Hội đồng TĐG theo quy định tại Điều 24 và 25 Thông tư số 19/2018/TT-BGDĐT “Lập kế hoạch tự đánh giá; thu thập, xử lý và phân tích các minh chứng; viết báo cáo tự đánh giá; bổ sung, hoàn thiện báo cáo tự đánh giá khi cơ quan quản lý trực tiếp yêu cầu; công bố báo cáo tự đánh giá; lưu trữ cơ sở dữ liệu về

tự đánh giá của nhà trường” (Thông tư số 19/2018/TT-BGDĐT)

Như vậy, kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động đánh giá cơ sở giáo dục; bao gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài để xác định mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và việc công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của cơ quan quản lí nhà nước Trong đó, tự đánh giá của cơ sở giáo dục là khâu đầu tiên trong quy trình kiểm định chất lượng giáo dục Đó là quá trình nhà trường tự tổ chức kiểm tra đánh giá, tự xem xét, dựa trên cơ

sở các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Nội dung của quá trình đó là tự xem xét, tự đánh giá về hiện trạng và hiệu quả các hoạt động giáo dục Từ đó, có kế hoạch đổi mới công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng các tiêu chí giáo dục Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lí tự đánh

Trang 16

giá trong kiểm định chất lượng giáo dục nói chung và quản lí tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non nói riêng tại thành phố Hồ Chí Minh bên cạnh những thuận lợi, thì việc thực hiện công tác này vẫn còn nhiều hạn chế trên các bình diện về chính sách kiểm định, cơ chế, phát triển đội ngũ chuyên gia, sự đồng thuận của các cơ sở giáo dục và của xã hội đối với công tác kiểm định chất lượng giáo dục Tại quận Bình Tân việc triển khai, thực hiện công tác này đã đạt được kết quả tích cực Tuy nhiên, việc tự đánh giá còn nhiều khó khăn, mà phần lớn do nhiều người đang hiểu theo nhiều cách khác nhau và sự bất cập về quản lí trong quá trình thực hiện tự đánh giá Vì vậy, để nhiệm vụ này đạt hiểu quả cao và thúc đẩy cho việc nâng cao chất lượng giáo dục trường mầm non, thì vai trò của công tác quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định cần phải nghiên cứu và làm rõ hơn

Xuất phát từ những lí do trên, đề tài: “Quản lí hoạt động tự đánh giá trong

kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non quận Bình Tân TP Hồ Chí Minh” được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu lí luận và xác định thực trạng hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non Quận Bình Tân TP Hồ Chí Minh đề tài đề xuất và khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của một số biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại địa bàn trên

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục bậc mầm

non

Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất

lượng giáo dục ở các trường mầm non Quận Bình Tân TP Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết khoa học

Thực tiễn công tác quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non trên địa bàn Quận Bình Tân TP Hồ Chí Minh còn hạn chế về việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện Nếu khảo sát toàn diện thực trạng công tác quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục sẽ có cơ

Trang 17

sở đề xuất một số biện pháp để cải tiến hiệu quả quản lí hoạt động tự đánh giá tại các trường mầm non

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non

- Khảo sát thực trạng về công tác quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non quận Bình Tân Tp Hồ Chí Minh

- Đề xuất các biện pháp quản lí nhằm cải tiến chất lượng quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non Quận Bình Tân

Tp Hồ Chí Minh

6 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Nghiên cứu về công tác quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của chủ thể QL là hiệu trưởng theo quy định của Bộ giáo dục về kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non quận Bình Tân TP Hồ Chí Minh

- Đối tượng: Khảo sát CBQL, GV, NV là thành viên Hội đồng TĐG ở các trường mầm non quận Bình Tân TP Hồ Chí Minh Bao gồm: 7 trường mầm non công lập ở Quận Bình Tân đã thực hiện TĐG (Mầm non Cẩm Tú, Mầm non Hương Sen, Mầm non Hoa Hồng, Mầm non Hoàng Anh, Mầm non Tân Tạo, Mầm non Sen Hồng, Mầm non Ánh Sao)

- Thời gian khảo sát thực trạng: từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020

7 Phương pháp luận nghiên cứu

7.1 Cơ sở phương pháp luận

7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Hoạt động tự đánh giá ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM được xem xét là một hệ thống với các yếu tố hợp thành có liên hệ với nhau: mục tiêu, chủ thể, nội dung, qui trình, kết quả tự đánh giá

Quản lí hoạt động tự đánh giá ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM được xem xét là một hệ thống và hệ thống ấy được hợp thành bởi các yếu tố chủ thể QL, mục tiêu QL, nội dung QL, chức năng QL, phương pháp QL, công cụ

Trang 18

QL, đối tượng QL, kết quả QL Các yếu tố hợp thành hệ thống ấy phải được đặt trong mối quan hệ với nhau Chủ thể QL thực hiện các nội dung, chức năng QL bằng cách sử dụng các phương pháp QL và công cụ QL tác động trực tiếp lên đối tượng

QL nhằm đạt được những mục tiêu QL đã đề ra

7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Quan điểm lôgic được chúng tôi vận dụng vào việc sắp xếp cấu trúc của đề tài theo lôgic nghiên cứu: lí luận được lấy làm nền tảng và soi đường cho việc nghiên cứu thực tiễn; để tài chứa đựng câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết là câu trả lời có tính chất phỏng đoán cho câu hỏi đó; việc nghiên cứu thực trạng nhằm tìm kiếm bằng chứng để chứng minh cho giả thuyết; nếu giải quyết được chứng minh, giả thiết sẽ trở thành kết luận của đề tài

Quan điểm lịch sử được chúng tôi vận dụng để đánh giá thực trạng trong hoàn cảnh hiện tại Thực trạng quản lí hoạt động tự đánh giá được nghiên cứu trong quá trình phát triển của nó

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Đề tài này dựa trên căn cứ thực tiễn quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh để khảo sát và thông qua khảo sát chúng tôi nhận thấy còn nhiều hạn chế Chúng tôi tập trung khảo sát thực trạng quản lí hoạt động tự đánh giá của CBQL, GV là thành viên hội đồng TĐG, GV tham gia hoạt động tự đánh giá ở các trường mầm non Quận Bình Tân Tp Hồ Chí Minh Qua đó, đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến quản lí hoạt động tự đánh giá ở trường mầm non, lí luận về quản lí, lí luận về quản lí hoạt động tự đánh giá ở trường mầm non nhằm xác lập cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu

Trang 19

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

*Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: Thu thập thông tin làm rõ thực trạng quản lí HĐTĐG trong

KĐCLGD tại các trường mầm non ở quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh

- Nội dung bảng hỏi: Dự kiến phiếu hỏi với hệ thống các câu hỏi kín và các

câu hỏi mở dành riêng cho từng đối tượng CBQL, GV và NV gồm các phần:

+ Thực trạng tổ chức hoạt động TĐG trong KĐCLGD ở các trường MN tại quận Bình Tân TPHCM;

+ Thực trạng quản lí HĐTĐG trong KĐCLGD ở các trường mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh;

+ Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí HĐTĐG trong KĐCLGD ở các trường mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đối tượng khảo sát: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, GV, NV tham gia hoạt

động TĐG tại các trường mầm non ở quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Thiết kế và sử dụng bảng hỏi dành cho đối tượng là CBQL,

GV, NV là thành viên Hội đồng TĐG của trường

*Phương pháp phỏng vấn

- Mục đích: Thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và

bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng

- Nội dung: Sử dụng các câu hỏi mở liên quan đến hoạt động tự đánh giá và

quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại trường mầm non

- Khách thể phỏng vấn sâu: là thành viên hội đồng tự đánh giá Tổng số khách

thể phỏng vấn là 10 người; trong đó gồm 6 cán bộ quản lý, 2 giáo viên và 2 nhân viên tham gia hội đồng tự đánh giá

- Hình thức phỏng vấn sâu: chúng tôi áp dụng phỏng vấn gián tiếp thông qua

thư điện tử, nội dung câu hỏi gửi qua thư điện tử, kết quả được lưu lại bằng văn bản

*Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

- Mục đích: Thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và

bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng

Trang 20

- Nội dung: Các sản phẩm cần nghiên cứu: Kế hoạch TĐG của 6 trường mầm

non ở Quận Bình Tân; Báo cáo TĐG của 6 trường mầm non ở Quận Bình Tân

- Cách thức thực hiện: Liên hệ các trường khảo sát, tiến hành nghiên cứu các

sản phẩm của các trường khảo sát, ghi nhận kết quả vào biên bản

7.2.3 Phương pháp xử lí dữ liệu

*Phương pháp xử lí dữ liệu định lượng

- Mục đích: Xử lí và phân tích thông tin được thu thập nhằm đánh giá về mặt định lượng, đảm bảo độ tin cậy của các kết quả thu được

- Nội dung: Số liệu về thực trạng quản lí HĐTĐG trong KĐCLGD ở các trường mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Nhập liệu vào Phần mềm R, tính toán, phân tích thống kê mô

tả và phân tích thống kê suy luận các số liệu sau khi thu thập được từ việc nghiên cứu thực trạng, nghiên cứu thực nghiệm quản lí HĐTĐG trong KĐCLGD ở các trường mầm non tại quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh

- Cách thực hiện: Mã hóa dữ liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dụng chính của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

Chương 2 Thực trạng quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non Quận Bình Tân TPHCM

Chương 3 Biện pháp quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non Quận Bình Tân TPHCM

Trang 21

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài

Đến nay, các công trình nghiên cứu về quản lí chất lượng, KĐCLGD và TĐG chất lượng giáo dục phổ biến của các tác giả trên thế giới, gồm:

“A knowledge management perspctive on Art Education” đã thể hiện mục đích: nghiên cứu các loại kiến thức các nguồn kiến thức, quy trình kiến thức, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến các quy trình của giáo dục bậc đại học Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng một phương pháp nghiên cứu các trường hợp diễn giải tại Singapore với phương pháp phỏng vấn các bên liên quan khác nhau của cộng đồng giáo dục, việc thực hiện các quan sát tại chỗ đã được thực hiện tại 19 sự kiện giáo dục khác nhau các loại kiến thức ở bậc giáo dục Đại học tại Singapore không phân biệt giáo dục Đại học hệ chính quy hay hệ vừa làm vừa học, chương trình tuy có khác biệt nhưng nội dung và hàm lượng kiến thức không có sự khác biệt Nguồn tri thức chung là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng giáo dục Các yếu tố ảnh hưởng đó là: hệ thống giáo dục Singapore cạnh tranh cao; cơ chế quản lí và chính sách; các giá trị và lợi ích cá nhân; khối lượng công việc và năng lực thực sự của giáo viên (Alton Y.K Chua, 2011)

Fariba Damirchilia và Masomeh Tajarib với mục đích của nghiên cứu về mối quan hệ giữa chương trình giảng dạy, nội dung chương trình, phương pháp đánh giá, phương pháp giảng dạy, cung ứng thiết bị công nghệ và chất lượng giáo dục bậc đại học đã cho ra tác phẩm “Explaining Internal Factors effective on Education Quality Improvement Based on Views of Students from Zanjan Azad Universities” từ đó giải thích các yếu tố nội bộ có ảnh hưởng đến sự cải thiện và thúc đẩy chất lượng giáo dục từ quan điểm của học viên tại các trường đại học Zanjan Azad (Fariba Damirchilia, Masomeh Tajarib, 2011)

Trong suốt quá trình nghiên cứu “ Publicly Provided Education”, Eric A Hanushek đã đề cao việc chi tiêu công trong giáo dục, và nguồn này được sử dụng

Trang 22

với sự cam kết về chất lượng Ông đã chứng minh được rằng: giáo dục có ảnh hưởng mạnh mẽ vào sức mạnh và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia Do đó, mà việc cung cấp giáo dục ở mọi bậc học là một hoạt động thuộc khu vực nhà nước Nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển nếu đảm bảo một nền giáo dục thích hợp và được xếp trong danh mục các hoạt động ưu tiên của quốc gia để cung cấp cho sự an toàn, an ninh và phát triển cho các công dân của họ Và, giống như các lĩnh vực ưu tiên cơ bản khác các chính phủ không chỉ cung cấp một phần lớn kinh phí cho các trường học, mà còn phải thường xuyên quản lí, giám sát, đánh giá hiệu quả các hoạt động của các trường học Kết quả đầu ra của trường học được gọi là số lượng và chất lượng giáo dục sẽ là những đóng góp to lớn vào thu thập và phúc lợi của các cá nhân người học Từ đó sẽ có nhiều ảnh hưởng tích cực đến đời sống văn hóa, xã hội và sự phồn thịnh quốc gia thông qua sự đóng góp của người học cho nền kinh tế Cuối cùng Eric A Hanushek cho rằng việc đầu tư cho giáo dục, bất kể ở đâu do thành phần nào cung cấp thì vấn đề chất lượng giáo dục, chất lượng đầu ra vẫn phải được đặt lên hàng đầu (Eric A Hanushek, 2010)

Peter Materu (Peter Materu, 2008), một chuyên gia giáo dục cấp cao trong phát triển con người khu vực châu phi, công trình nghiên cứu “Quality Assurance Practices in Higher Education in Africa” của ông đã khẳng định: các tổ chức giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của các quốc gia Giáo dục đại học được hầu hết các quốc gia thừa nhận tầm quan trọng bởi nó tạo ra kiến thức - động lực chính của phát triển kinh tế toàn cầu Vì vậy, nó được nhiều quốc gia đầu tư rất quan tâm đúng mực Một cách để đảm bảo rằng giáo dục đại học có chất lượng là

sự quan tâm của xã hội, sự đầu tư thích đáng của các ban ngành Mặt khác sự phát triển kinh tế, xã hội, phong cách, thị hiếu và điều kiện kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục Theo đó, giải pháp mà cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục châu Phi đưa ra là nhất thiết xã hội nào cũng cần phải thành lập cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục độc lập với các cơ sở đào tạo và kết quả hoạt động của các cơ sở đào tạo sẽ được đánh giá bằng các tổ chức bên ngoài, các trường đại học sẽ đào tạo sinh viên còn các tổ chức độc lập khác sẽ kiểm tra, đánh giá Do đó, buộc các trường phải tự đảm bảo chất lượng sản phẩm của họ là những sinh viên ra trường được xã hội và thế giới công nhận

Trang 23

Trong “The role of educational quality and quantity in the process of economic Development”, Institute of Intentional Economic, Spain, đã phát triển một lí thuyết

về đầu tư vốn con người để nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng trường học hệ đại học đối với tăng trưởng kinh tế Tác giả đã nghiên cứu và trình bày một mô hình quyết định học của học viên dẫn đến kết quả tăng trưởng từ sự tích lũy vốn vật chất

và con người Đồng thời Amparo Castello-Climenta và Ana Hidalgo-Cabrillanab đề xuất một giải pháp, trong đó cho phép chúng ta xác định cơ chế tại nơi làm việc và cung cấp một lí thuyết nền tảng để kiểm tra kết quả thực nghiệm về chất lượng giáo dục liên quan mãnh liệt đến tăng trưởng kinh tế Lí thuyết của Amparo Castello-Climenta và Ana Hidalgo-Cabrillanab đã dựa trên các giả định sau: Đầu tiên, chất lượng hệ thống giáo dục là ngoại sinh và được thúc đẩy bởi lợi nhuận về việc cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao Thứ hai, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo là vô cùng đa dạng và không đồng nhất Thứ ba, mỗi cá nhân trước khi quyết định chọn trường đại học được giả định có những kỹ năng cơ bản được giảng dạy trong trường tiểu học, trung học trước đó Mọi người có thể lựa chọn để tiếp tục giáo dục đại học của họ, nhưng quyết định này đòi hỏi sự đầu tư các nguồn lực cá nhân và việc chi tiêu tiền bạc vào một trường đại học Theo đó, Amparo Castello-Climenta và Ana Hidalgo-Cabrillanab tập trung nghiên cứu và việc đầu tư để phát triển giáo dục chất lượng cao (Amparo Castello-Climenta và Ana Hidalgo-Cabrillanab, 2011).Gerry McNamara, Joe O’Hara (Gerry McNamara, Joe O’Hara, 2008), Alexander Bilcik và Jozef Kadnar (Alexander Bilcik và Jozef Kadnar, 2011); Nada Pozar Matijasic, Mateja … đều chỉ ra tầm quan trọng của tự đánh giá trong quản lí chất lượng trường trung học; những vấn đề cần đánh giá trong trường học

Alexander Bilcik và Jozef Kadnar đã luận bàn, trình bày, phân tích làm rõ về quá trình tự đánh giá, về một số quy định tự đánh giá trong trường trung học Cuốn

sách Chỉ dẫn đánh giá và đảm bảo chất lượng trong trường trung học (Scottish Qualifications Authority, 1999), đã nêu ra trình tự các bước của quá trình tự đánh giá

và tự điều tiết Nghiên cứu của các nhà khoa học và tài liệu nói trên đã chỉ ra điểm bắt đầu của quá trình tự đánh giá ở các nhà trường (Alexander Bilcik và Jozef Kadnar, 2011)

Trang 24

Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá; quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội đối với việc tự đánh giá ở trường trung học đã được Gerry McNamara, Joe O’Hara (Gerry McNamara, Joe O’Hara, 2008) và các nhà kiểm định chất lượng giáo dục Scotlen (Scottish Qualifications Authority, 1999) đưa ra

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu về quản lí chất lượng, KĐCLGD và TĐG chất lượng giáo dục tiêu biểu của các tác giả trong nước hiện nay, gồm:

Phạm Thành Nghị (Phạm Thành Nghị,2000, 2013); Phạm Sỹ Tiến (Phạm Sỹ Tiến, 2008) đưa ra quan niệm của mình về chất lượng và một số khái niệm khác có liên quan đến chất lượng như đánh giá, kiểm toán; kiểm định chất lượng giáo dục… thông qua việc hệ thống hóa lại một số quan niệm trên thế giới

Những cơ sở lí luận khoa học về đảm bảo chất lượng, về các cách tiếp cận đảm bảo chất lượng trên thế giới; về các mô hình, nguyên tắc, lĩnh vực quản lí chất lượng trong trường học đã được nhiều tác giả cung cấp như Nguyễn Đức Chính cùng các cộng sự (2002); Nguyễn Kim Dung (Nguyễn Kim Dung, 2008), Đặng Thành Hưng (Đặng Thành Hưng, 2004); Phạm Thành Nghị (Phạm Thành Nghị, 2000, 2013)

Trên cơ sở phân tích các vấn đề lí luận về quản lí chất lượng, hệ thống thông tin

quản lí, Nguyễn Trung Kiên đã đưa ra các luận cứ khoa học để đề xuất hệ thống quản

lí chất lượng cử nhân sư phạm trong Đại học đa ngành, đa lĩnh vực theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể và ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lí chất lượng đào tạo, theo đó đề xuất các giải pháp nhằm triển khai hệ thống quản lí chất lượng đã được đề xuất Đề xuất các giải pháp triển khai vận hành hệ thống quản lí chất lượng đào tạo hệ cử nhân sư phạm theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể và ứng dụng công nghệ thông tin trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực Xây dựng và chuẩn hóa các quy trình quản lí chất lượng, xây dựng hệ thống tin học, hệ thống thông tin quản lí đồng bộ hỗ trợ hiệu quả công tác quản lí chất lượng Luận án được nghiên cứu sẽ có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao năng lực quản lí cho đội ngũ cán bộ quản lí ở trường đại học Giáo dục nói riêng và các trường đại học nói chung

Đề xuất quy trình hóa, đề xuất triển khai tin học hóa các quy trình thủ tục góp phần

Trang 25

bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo hệ cử nhân sư phạm trong Đại học đa ngành đa lĩnh vực (Nguyễn Trung Kiên, 2014)

Nguyễn Lộc cho rằng các nước Châu Âu sử dụng hệ thống đánh giá chất lượng gồm hai yếu tố: yếu tố tác động và yếu tố kết quả với trọng số bằng nhau là 50% Hai yếu tố này bao gồm chín thành phần cụ thể: lãnh đạo, quản lí, con người, chính sách

và chiến lược, nguồn lực, quá trình, hài lòng của nhân viên, hài lòng của phụ huynh tác động xã hội và thành tích (Nguyễn Lộc, 2009)

Phạm Minh Hạc và cộng sự khẳng định giáo dục đương nhiên nằm trong hệ thống xã hội nên luôn tương tác, chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện phát triển kinh tế, xã hội trong nước: Quá trình hội nhập quốc tế; cơ chế thị trường, thu nhập dân cư; đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, truyền thống xã hội, và đương nhiên

sự quan tâm của xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo (Phạm Minh Hạc, 2002)

Nguyễn Văn Tuấn (Nguyễn Văn Tuấn, 2008), “Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục”, nghiên cứu của tác giả đã nêu ra các yếu tố đánh giá chất lượng giáo dục đại học của một số trường đại học trên thế giới Với môi trường đại học, tác giả đưa ra chỉ tiêu đánh giá với các chữ số khác nhau, được thể hiện qua một số tiêu chí: tiêu chí theo công trình nghiên cứu; số sinh viên tốt nghiệp, cơ sở vật chất và chất lượng giáo viên; tỉ lệ cựu sinh viên đóng góp vào ngân quỹ nhà trường; chất lượng giáo dục; quy mô sinh viên, tài chính, thư viện học tập, tiêu chí điểm chuẩn học tập, tỉ lệ sinh viên và năng lực giáo viên

Việc vận dụng mô hình AUN (Asean University Network) – QA ( Quality Assesment), sử dụng bộ tiêu chuẩn AUN-QA vào đánh giá cấp trường cấp chương trình cho các trường đại học ở Việt Nam đã được Nguyen Thanh Trong và Mai Thi Huyen Trang đưa ra một vài nhận định rằng chất lượng trong giáo dục đại học không đơn giản là khái niệm một chiều về chất lượng học thuật mà là một khái niệm đa chiều, là hệ thống quan điểm về nhu cầu và sự mong đợi của các bên liên quan Nó bao quát tất cả các chức năng và hoạt động của việc đánh giá chất lượng đào tạo đại học: hoạt động giảng dạy và chương trình giáo dục, hoạt động nghiên cứu và học thuật, đội ngũ giảng viên, nhân viên, học viên,tòa nhà học tập, cơ sở vật chất, trang

Trang 26

thiết bị học tập, phục vụ cộng đồng và môi trường học thuật Bên cạnh đó, việc tự đánh giá và đánh giá ngoài cũng là hoạt động chủ yếu cho việc đẩy mạnh chất lượng đào tạo đại học (Nguyen Thanh Trong và Mai Thi Huyen Trang, 2011)

Nguyễn Ngọc Khánh (Nguyễn Ngọc Khánh, 2017) trong đề tài kinh nghiệm quốc tế "Tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Hoa Kỳ" đã nêu, để khẳng định chất lượng đào tạo, các trường đại học ở Hoa Kỳ đã xác định sứ mệnh, mục tiêu, loại hình, cách thức giảng dạy được xem như giá trị cốt lõi nhằm thích ứng với đòi hỏi của xã hội Tự đánh giá là một công việc quan trọng và thường xuyên nhằm xác định những cống hiến của các trường đại học đối với xã hội Từ đó có những điều chỉnh để thay đổi kịp thời Bên cạnh đó, kết quả đánh giá được sử dụng cho việc xếp hạng các trường đại học

Nguyễn Đặng An Long (Nguyễn Đặng An Long, 2019) trong bài viết "Một số vấn đề về quản lí kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh" nêu: Ở Việt Nam, quản lí chất lượng và nâng cao chất lượng giáo dục đang là vấn đề được nhà nước và xã hội rất quan tâm Trong đó, kiểm định chất lượng giáo dục được xem là một giải pháp quản lí để nâng cao chất lượng giáo dục và hiện nay, công tác quản lí kiểm định chất lượng giáo dục tại thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo bước chuyển biến về chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông Bài viết góp phần làm rõ một số vấn đề về quản lí kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Mạnh Dũng (Hoàng Mạnh Dũng, 2002), luận án tiến sĩ kinh tế "Hoàn thiện hệ thống quản lí chất lượng đào tạo sau đại học tại Việt Nam", trong nghiên cứu này, tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu thực trạng của hệ thống quản lí chất lượng trong các cơ sở đào tạo sau đại học ở Việt Nam: đề xuất quy trình triển khai có hiệu quả đối với hoạt động kiểm định - công nhận chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì Tuy nhiên chất lượng đào tạo còn phụ thuộc vào phương pháp đào tạo, chuẩn hóa quy trình đào tạo nhu cầu người học và đặt vào điều kiện hội nhập trong giai đoạn hiện nay

Trang 27

* Một số văn bản có liên quan đến luận văn:

Văn bản của Quốc hội, Chính phủ

Theo luật Giáo dục năm 2005, trong đó quy định “việc KĐCLGD được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả KĐCLGD được công bố công khai để xã hội biết và giám sát.” (Điều 17), và nhà trường có nhiệm vụ “tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự KĐCLGD của cơ quan có thẩm quyền KĐCLGD” (khoản 8 Điều 58) Đồng thời đến năm 2019 luật Giáo dục mới ra đời cũng tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác KĐCLGD bằng việc nêu ra các quy định về mục tiêu, nguyên tắc, đối tượng kiểm định chất lượng giáo dục (điều 110); Nội dung quản lí nhà nước về KĐCLGD (điều 111); tổ chức KĐCLGD (điều 112) Điều đó cho thấy, nhà nước rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục và TĐG trong KĐCLGD là cách thức hiện thực hóa mục tiêu này

Cùng với những qui định thành luật về TĐG và KĐCLGD, Nghị định số 138/2013/NĐCP ngày 24/10/2013 của Chính phủ cũng qui định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục quy định việc xử phạt từ 4 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với các vi phạm quy định về KĐCLGD như công bố kết quả đánh giá chất lượng cơ

sở giáo dục không đúng thực tế hoặc tự ý thành lập tổ KĐCLGD (Điều 26)

Văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Để triển khai công tác KĐCLGD theo các quy định của Quốc hội và Chính phủ,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng, quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục, quy định về tổ chức KĐCLGD trường mầm non như:

Trước hết là Thông tư số 07/2011/TTBGDĐT ngày 17/02/2012 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non Thông tư số 45/2011/TTBGDĐT ngày 11/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non Tiếp đến là Thông tư số 25/2014/TTBGDĐT ngày 07/08/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường

Trang 28

mầm non Cùng trong năm 2014, Bộ GD&ĐT ra Thông tư số BGDĐT ngày 08 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia Nhằm hoàn thiện hơn các văn bản liên quan đến tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, năm 2018 BGD&ĐT ra

02/2014/TT-Thông tư 19/2018/TT-BGDĐT của Bộ GD và ĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 ban

hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non Thông tư này thay thế Thông tư số 25/2014/TT-Bộ GDĐT ngày 07 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non

Từ thực tiễn trên cho thấy, Bộ GD&ĐT quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đối với cấp mầm non, thể hiện ở việc hoàn thiện các qui định về công tác TĐG và KĐCLGD Kết quả của hoạt động TĐG vừa phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường, vừa làm cơ sở cho công tác KĐCLGD phục vụ cho công tác nâng chuẩn của cơ sở giáo dục mầm non

Ngoài các thông tư qui định về công tác TĐG và KĐCLGD, Bộ GD&ĐT còn

ra các công văn hướng dẫn công tác này Công văn số 6339/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 05 tháng 11 năm 2014 về việc hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài trường mầm non Cùng với đó là Công văn số 1988/ KTKĐCLGD ngày 02 tháng 12 năm

2014 của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục về việc hướng dẫn xác định yêu cầu, gợi ý tìm minh chứng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non Đến năm 2018 Bộ GD&ĐT banh hành Công văn số 5942/BGDĐT-QLCL ngày 28 tháng 12 năm 2018 về việc hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài trường mầm non Các văn bản này làm cơ sở hướng dẫn cho công tác TĐG và KĐCLGD ở các trường mầm non

Ngoài ra, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục, cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về tự đánh giá, đánh giá ngoài và sử dụng tiêu chí đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo

Trang 29

1.2 Những khái niệm cơ bản

1.2.1 Kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non

* Chất lượng

Chất lượng luôn là một vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội Việc phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… luôn được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi tổ chức quản lí Tuy nhiên, chất lượng vẫn là một khái niệm khó đánh giá, khó xác định vì nó luôn được xem xét từ những góc độ, bình diện khác nhau

Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà GD, chất lượng được định nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau: Chất lượng là sự xuất sắc (vượt một tiêu chuẩn bắt buộc và đạt tiêu chuẩn cao hơn); Chất lượng là sự hoàn hảo (thể hiện qua việc “không mắc lỗi” và “đúng ngay lần đầu tiên” tạo thành văn hóa chất lượng); Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu; Chất lượng là sự đáng giá với giá trị đồng tiền (thông qua năng suất và hiệu quả); Chất lượng là sự chuyển đổi về chất (sự thay đổi định lượng) Theo Crosby P (1984) “Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu” Nếu một sản phầm vì lí do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là không đạt chất lượng, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình

- Do chất lượng được đo bởi mức độ thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng…

- Các nhu cầu liên quan đến đánh giá chất lượng rất đa dạng, không chỉ là nhu cầu của khách hàng mà còn là các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội

- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng

Trang 30

- Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá hiểu theo nghĩa hẹp; chất lượng còn là thuộc tính của một hệ thống, một quá trình…

Theo những đặc điểm trên, quan niệm cho rằng “chất lượng là mức độ đáp ứng mục tiêu” hiện đang là một trong những quan niệm được phổ biến và sử dụng rộng rãi nhất Trong luận văn này, chúng ta có thể chấp nhận và hiểu một cách khái quát:

“Chất lượng là mức độ đáp ứng mục tiêu” Mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng, mục đích…còn sự phù hợp với mục tiêu được hiểu là

sự đáp ứng mong muốn của những người quan tâm, là đạt, không đạt hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra…

* Chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là vấn đề luôn được xã hội quan tâm vì tầm quan trọng của

nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, phát triển giáo dục nói riêng Mọi hoạt động giáo dục được thực hiện đều hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục Nền giáo dục ở bất kỳ quốc gia nào bao giờ cũng phải phấn đấu để trở thành một nền giáo dục chất lượng cao

Từ quan niệm "Chất lượng là mức độ đáp ứng mục tiêu" có thể hiểu "Chất lượng giáo dục là mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục" Ở đây, mục tiêu giáo dục được hiểu một cách toàn diện, bao gồm cả triết lí giáo dục, định hướng mục đích của

cả hệ thống giáo dục và sứ mạng, các nhiệm vụ cụ thể của cơ sở giáo dục Nó thể hiện những đòi hỏi của xã hội đối với con người - nguồn nhân lực mà giáo dục có nhiệm vụ phải đào tạo

Có bốn thành tố cơ bản tạo nên chất lượng giáo dục: Bối cảnh, đầu vào, quá trình giáo dục, đầu ra

Sơ đồ 1.1 Các thành tố cơ bản tạo nên chất lượng giáo dục

Bối cảnh

Đầu vào Quá trình giáo dục Đầu ra

Trang 31

* Chất lượng giáo dục trường mầm non

Từ quan niệm "Chất lượng giáo dục là mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục", có thể hiểu "Chất lượng giáo dục mầm non là mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non" Hiện nay, ở Việt Nam, quan niệm này đã được đông đảo các nhà nghiên cứu quản lí giáo dục chấp nhận

Chất lượng và hiệu quả giáo dục được đánh giá trên các cấp độ khác nhau (cấp

độ cá nhân người học, cấp độ nhà trường, cấp độ ngành giáo dục) Đối với giáo dục mầm non, ở cấp độ cá nhân người học, theo Thông tư 28 (Bộ Giáo dục và Đào tạo,

2016) thì: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình

cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”

Như vậy, xã hội đã đặt ra những yêu cầu về chất lượng giáo dục trẻ mầm non

và đòi hỏi ngành giáo dục phải đáp ứng Một nhà trường chỉ được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng khi mà trường đó đáp ứng được yêu cầu của xã hội và các mục tiêu theo quy định

Tuy nhiên, mỗi nhà trường ở các vùng miền có sứ mạng khác nhau, do đó mục tiêu của các nhà trường cũng khác nhau Mỗi nhà trường phải xác định được sứ mệnh

và mục tiêu của chính mình, sứ mệnh và mục tiêu đó phải phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương

Để thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu của mình, vai trò của công tác bảo đảm chất lượng là rất quan trọng Đó là hoạt động của chính nhà trường, hướng tới việc bảo đảm các điều kiện, các cơ chế, quy trình và quá trình được sắp xếp hợp lí nhất để đạt được chất lượng giáo dục

* Kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non

- Kiểm định được xác định là “một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài,

được giáo đại học sử dụng để khảo sát đánh giá các cơ sở giáo dục cao đẳng và đại học và các ngành đào tạo đại học nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” (CHEA, 2003)

Trang 32

- Kiểm định chất lượng là “một quá trình đánh giá ngoài nhằm đưa ra một

quyết định công nhận một cơ sở giáo dục đại học hay một một ngành đào tạo của cơ

sở giáo dục đại học đáp ứng các chuẩn mực quy định” (SEAMEO, 2003)

Như vậy, KĐCLGD là một giải pháp quản lí chất lượng giáo dục nhằm mục tiêu đánh giá hiện trạng các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn đề ra, xác định chính xác các điểm mạnh, điểm yếu của mình, từ đó xây dựng kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để bảo đảm chất lượng và không ngừng phát triển

Kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là học sinh sự đảm bảo chắc chắn một trường đã được chứng minh thỏa mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng cơ sở giáo dục này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra

Kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non là quá trình đánh giá (gồm tự đánh giá và đánh giá ngoài) nhằm đưa ra quyết định công nhận trường mầm non đáp

ứng các chuẩn mực quy định (Hoàng Đức Minh, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, 2018)

Đây là một giải pháp quản lí chất lượng nhằm các mục tiêu: đánh giá hiện trạng của trường mầm non có chất lượng và hiệu quả như thế nào; những điểm mạnh, điểm yếu của trường mầm non so với các tiêu chuẩn quy định Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch phát huy, điểm mạnh khắc phục điểm yếu để không ngừng duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục phù hợp với hoàn cảnh, sứ mạng và mục tiêu chất lượng của mỗi

nhà trường

1.2.2 Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non

* Đánh giá

Có nhiều quan niệm khác nhau về đánh giá:

Theo quan niệm của triết học, đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng, xã hội, hoạt động, hành vi của con người gắn với những mục tiêu, nguyên tắc, kết quả mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái độ Điều này chứng tỏ, nó có tính động cơ phương tiện và mục đích hành động

Theo Từ điển Tiếng Việt, đánh giá là việc ước tính hay đánh giá giá trị của một

sự vật, hiện tượng…

Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin

Trang 33

về đối tượng cần đánh giá (hiểu biết hay năng lực của học sinh, chương trình, nhà trường…) một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, chương trình, nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo dục phù hợp nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường (Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, 2000)

Như vậy, đánh giá là quá trình thu thập, xử lí, phân tích thông tin về đối tượng được đánh giá để đưa ra những nhận định, phán đoán về kết quả đạt được so với mục tiêu Từ đó, đưa ra quyết định cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

* Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non

Từ quan niệm “đánh giá” ở trên có thể hiểu “Tự đánh giá là quá trình nhà

trường dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tự xem xét, đánh giá thực trạng chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; cơ sở vật chất, các vấn đề liên quan khác của nhà trường để điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn đánh giá nhà trường” (Bộ giáo dục và đào

tạo, 2018)

Như vậy, Tự đánh giá trong KĐCLGD trường mầm non là hoạt động tự xem xét, tự kiểm tra, đánh giá của trường mầm non căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành để chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

Cụ thể, tự đánh giá là nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển và được thực hiện trong quá trình tổ chức KĐCL các

cở sở giáo dục theo chủ trương, chính sách và kế hoạch triển khai của các cơ quan có thẩm quyền TĐG thể hiện cụ thể tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động chăm sóc, giáo dục theo chức năng nhiệm vụ giáo dục

và phù hợp với tôn chỉ mục đích và sứ mạng của nhà trường, tạo cơ sở cho bước tiếp theo là đánh giá ngoài Tự đánh giá là một quá trình liên tục, được thực hiện theo kế hoạch, cần dành nhiều công sức, thời gian, có sự tham gia của các đơn vị và cá nhân trong nhà trường Tự đánh giá đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai Các

Trang 34

giải thích, nhận định, kết luận đưa ra phải dựa trên những thông tin, minh chứng cụ thể, rõ ràng, tin cậy

1.2.3 Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

Theo quan điểm hoạt động của một tổ chức: “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”

Như vậy, khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa được gắn với loại hình quản lý hoặc ở lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể, song đều thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý Đó là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Sơ đồ 1.2 Các thành tố trong quản lí

Mục tiêu của tổ chức

Trang 35

Đối với cấp độ vĩ mô: “Quản lí giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” (Nguyễn Kì, Bùi Trọng Tuân, 1984)

“Quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.” (Trần Kiểm, 2016)

Cấp quản lí vĩ mô tương ứng với việc quản lí một hoặc một loạt đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống Nhưng, trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con, và tương ứng với hệ thống con này, có một hoạt động quản lí , đó là quản

lí vi mô – quản lí giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với

quản lí nhà trường Như vậy, ở cấp độ vi mô: “Quản lí giáo dục là những tác động

tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường." (Trần Kiểm, 2016)

Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm “Quản lí giáo dục” ở cấp độ vi

mô và được nêu như sau: Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích, có

kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của Hiệu trưởng lên hệ thống giáo dục nhằm đạt

được mục tiêu giáo dục

* Quản lí chất lượng giáo dục

Quản lí chất lượng giáo dục là quản lí các thành tố cơ bản tạo nên chất lượng giáo dục Hoạt động quản lí lí tưởng nhất là quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Manegement - TQM)

Quản lí chất lượng tổng thể là chiến lược quản lí chất lượng tổng hợp, vừa dựa trên thành tựu tiêu chuẩn hóa, quy trình hóa quá trình quản lí của ISO 9000 nhằm đảm bảo chất lượng, vừa dựa trên thành tựu của các thuyết quản lí nhân văn; phát huy yếu tố con người và sự sáng tạo trong quá trình lao động Đây là sự phát triển

Trang 36

cao nhất của khoa học quản lí chất lượng trên cơ sở coi trọng việc tạo ra nền văn hóa chất lượng, trong đó mục đích hoạt động của mọi thành viên trong tổ chức đều hướng về chất lượng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, đồng thời, mọi thành viên đều được lôi cuốn tham gia tích cực vào quá trình cải thiện chất lượng liên tục nhằm cung cấp cho xã hội những sản phẩm và dịch vụ với chất lượng cao Cụ thể hơn TQM là:

- T (đồng bộ, toàn diện, tổng hợp): Với tất cả các công việc trong chu trình, mỗi người đều có vai trò nhất định với yêu cầu chất lượng cao Yếu tố này coi trọng sự cam kết và tham gia của mọi thành viên trong việc bảo đảm chất lượng công việc

- Q (chất lượng): Chất lượng quản lí quyết định chất lượng sản phẩm Chất lượng được thể hiện qua ba khía cạnh: hiệu năng, độ tin cậy, an toàn; hiệu quả tương xứng với chi phí đầu tư; đáp ứng nhu cầu của khách hàng

- M (quản lí): Quản lí có hiệu quả mọi giai đoạn của công việc trên cơ sở sử dụng vòng tròn quản lí P-C-D-A trong đó: P (Plan) - lập kế hoạch, D (Do) - tổ chức thực hiện, C (Check) – lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm soát, A (Action) – điều chỉnh Có thể thấy mối quan hệ của các yếu tố đó trong sơ đồ sau (Hoàng Đức Minh, Nguyễn Thị

Mỹ Trinh, 2018):

Sơ đồ 1.3 Vòng tròn quản lí P-D-C-A

* Quản lí hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

Từ phân tích khái niệm “Quản lí” và “Tự đánh giá trong KĐCLGD” ở trên, tác giả đưa ra khái niệm: Quản lí hoạt động TĐG trong KĐCLGD ở trường mầm non là

Plan

Do

Check Act

Trang 37

sự tác động liên tục, có kế hoạch của nhà QL nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát…một cách có hiệu quả các hoạt động TĐG nhằm đáp ứng được các yêu cầu về đánh giá chất lượng đối với các trường MN và đề xuất các biện pháp cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục MN

1.3 Lí luận về hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

1.3.1 Mục đích hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

Căn cứ vào phụ lục 1 kèm theo công văn số 5942/BGDĐT-QLCL về quản lí chất lượng giáo dục đối với trường mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có hiệu lực từ ngày 28 tháng 12 năm 2018, mục đích hoạt động TĐG trong kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non được quy định như sau: TĐG nhằm xác định trường mầm non đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập

kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường; thông báo công khai với các cơ quan quản lí nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của nhà trường; để cơ quan quản lí nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường mầm non đạt kiểm định chất lượng giáo dục; vận động các nguồn lực cho giáo dục nhằm tạo điều kiện đảm bảo cho nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục Hoạt động TĐG là khâu đầu tiên và là mắt xích quan trọng trong qui trình KĐCLGD

Như vậy, mục đích chính của HĐTĐG ở các trường MN là:

Thứ nhất, TĐG nhằm giúp cơ sở giáo dục xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của cơ sở giáo dục, từ đó để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá và công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

Thứ hai, trong công tác KĐCLGD, TĐG là khâu cơ bản nhấtcủa kiểm định chất lượng giáo dục Mỗi cơ sở giáo dục thông qua yêu cầu của từng tiêu chuẩn, tiêu chí

Trang 38

mà chủ động, khách quan nhận định điểm mạnh, điểm yếu Trên cơ sở đó để đưa ra

kế hoạch cải tiến chất lượng sao cho mang tính khả thi

Thứ ba, làm rõ thực trạng quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục theo chức năng, nhiệm vụ được giao và xác định và so sánh theo tiêu chuẩn kiểm định nhà nước đã công bố xem đạt được đến mức nào Cụ thể là đánh giá thực trạng các hoạt động tổ chức quản lý và các điều kiện đảm bảo chất lượng cho giáo dục: từ

cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên, nguồn kinh phí đến người học xem đạt đến mức nào của các tiêu chuẩn đòi hỏi

Thứ tư, xác định tầm nhìn, các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức của

cơ sở giáo dục và đề xuất kế hoạch, biện pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Kiến nghị với các cơ quan chức năng có trách nhiệm chỉ đạo và cung cấp các biện pháp hỗ trợ cho cơ sở giáo dục không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình

1.3.2 Nội dung hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

Nội dung TĐG tại trường MN hiện nay được qui về 5 tiêu chuẩn và được cụ thể hoá thành các tiêu chí phục vụ cho công tác KĐCLGD Các trường MN sẽ căn cứ vào nội dung này thiết kế nội dung TĐG cho phù hợp với đặc thù tổ chức sư phạm và kinh tế - xã hội đặt ra cho trường Theo thông tư 19/2018/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm

non do Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 22/08/2018 như sau:

Trường mầm non được tổ chức và quản lí phù hợp với quy định của Nhà nước, với các nguồn lực và điều kiện cơ sở vật chất của trường; có kế hoạch và các biện pháp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục theo tiêu chuẩn 1 qui định về việc

“Tổ chức và quản lí nhà trường” với các tiêu chí: (1) Phương hướng, chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường; (2) Hội đồng trường và các hội đồng khác; (3) Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, các đoàn thể và tổ chức khác trong nhà trường; (4) Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ chuyên môn và tổ văn phòng; (5) Tổ chức nhóm trẻ

và lớp mẫu giáo; (6) Quản lí hành chính, tài chính và tài sản; (7) Quản lí cán bộ, giáo

Trang 39

viên và nhân viên; (8) Quản lí các hoạt động giáo dục; (9) Thực hiện qui chế dân chủ

cơ sở; (10) Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn trường học

Về đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên của trường cần đáp ứng các yêu cầu về số lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và được đảm bảo các quyền lợi theo quy định tại tiêu chuẩn 2

Về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học: Trường mầm non cần đảm bảo các điều

kiện về diện tích, khuôn viên và sân vườn; có đầy đủ các khối phòng nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, khối phòng hành chính - quản trị và khối phòng tổ chức ăn, khu vệ sinh với hệ thống cấp thoát nước tốt; trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác để triển khai các hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đã

đề ra

Về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội: Trường mầm non chủ động thiết lập và triển khai các hoạt động hợp tác giữa nhà trường, gia đình và xã hội cụ thể bằng việc thành lập Ban đại diện cha mẹ trẻ và thực hiện tốt công tác tham mưu cấp ủy đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức, cá nhân của nhà trường nhằm kêu gọi sự ủng hộ, hợp tác, quan tâm của các lực lượng ngoài nhà trường tham gia vào hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ theo đúng qui định của Nhà nước để thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục

Hoạt động và kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ cần được xây dựng

trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục và được tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ gắn với nhu cầu, năng lực trẻ mầm non và điều kiện nhà trường nhằm đạt kết quả giáo dục phù hợp theo quy định

Dựa vào các tiêu chuẩn kiểm định và các quy định cụ thể về các chuẩn mực (tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số…) này, công tác tự đánh giá của trường mầm non cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

Trang 40

- Thu thập và xử lí các thông tin, tư liệu, số liệu thống kê theo yêu cầu của các minh chứng cần có cho các tiêu chuẩn và tiêu chí kiểm định đề ra;

- Phân loại, mã hoá các minh chứng thu được;

- Lập bảng danh mục và lưu trữ mã minh chứng;

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường theo từng tiêu chí;

- Lập kế hoạch cải tiến chất lượng theo từng tiêu chí;

- Hoàn thiện và công bố báo cáo TĐG trong nội bộ trường và cơ quan quản lí trực tiếp

Tuy nhiên dựa vào kết quả nghiên cứu của Phạm Thành Nghị (Phạm Thành Nghị, 2013); Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đăng Quốc Bảo (Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đăng Quốc Bảo, 2011) về nội dung TĐG đối với nhà trường, tác giả nhận thấy để đảm bảo cho nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục cần thiết phải bổ sung các nội dung trong hoạt động TĐG sau: Đánh giá sứ mệnh, tầm nhìn; qui trình đảm bảo chất lượng và đánh giá sản phẩm hoạt động giáo dục (sản phẩm ở đây chính là chất lượng đầu ra của trẻ đạt được mục tiêu theo qui định của Bộ GD&ĐT)

1.3.3 Phương pháp thu thập minh chứng khi tổ chức hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường mầm non

Trong KĐCLGD, minh chứng được hiểu là những văn bản, hồ sơ, sổ sách, băng đĩa, hiện vật đã và đang có của cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của các chỉ

số trong từng tiêu chí Minh chứng được thu thập từ các nguồn: hồ sơ lưu trữ của cơ

sở giáo dục, các cơ quan có liên quan, khảo sát, điều tra, phỏng vấn và quan sát các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục,… để hỗ trợ và minh hoạ cho các nhận định trong báo cáo TĐG Minh chứng phải có nguồn gốc rõ ràng và bảo đảm tính chính xác

Về các phương pháp thu thập minh chứng, do mỗi quốc gia, mỗi vùng, miền, trường học có những đặc điểm riêng biệt khác nhau nên sẽ có những phương pháp thu thập minh chứng khác nhau Có lẽ vì điều này nên trong nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, cũng như hướng dẫn TĐG ở một số quốc gia trên thế giới không thấy

đề cập nhiều về phương pháp thu thập minh chứng Để thực hiện tốt hoạt động TĐG

Ngày đăng: 28/04/2021, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w