1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại thành phố hồ chí minh

164 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những tính năng ưu việt, số lượng người tham gia đông đảo nên truyền thông xã hội trở thành một trong những loại hình mà sinh viên quan tâm, tham gia và sử dụng.. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG

HÀNH VI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG

HÀNH VI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 8310401

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Đinh Phương Duy

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của chính tác giả dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Phương Duy

Luận văn đã có sự tiếp thu, kế thừa những công trình nghiên cứu trước đó dưới phân tích, nhận định và đánh giá của cá nhân Hơn nữa, luận văn đã trích dẫn cụ thể nguồn gốc các tài liệu đã tham khảo Dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu của luận văn

là hoàn toàn trung thực, dựa trên kết quả đánh giá từ sinh viên

Tôi xin cam đoan những thông tin trên là sự thật Nếu sai sót, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

TÁC GIẢ

Nguyễn Thành Phương

Trang 4

Trước tiên, tác giả xin gửi lời biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đã tổ chức và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học Thạc sĩ Tâm lí học

Hơn nữa, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm Khoa Tâm lý học, quý thầy cô khoa tâm lý học đã giảng dạy những kiến thức bổ ích Đặc biệt, tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Phương Duy – Giảng viên hướng dẫn khoa học đã luôn động viên, khích lệ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, quý Phòng, Ban chức năng và Trung Tâm của trường Đại học Sài Gòn, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trường Đại học Nguyễn Tất Thành, trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh

và sinh viên của quý trường đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ

Nguyễn Thành Phương

Trang 5

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ viii

Danh mục hình ảnh ix

Danh mục từ viết tắt x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Cơ sở lý luận về hành vi truyền thông xã hội của sinh viên 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 10

1.1.3 Đánh giá chung về tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 13

1.2 Hành vi 14

1.2.1 Khái niệm hành vi 14

1.2.2 Đặc điểm hành vi 17

1.2.3 Phân loại hành vi 18

1.3 Truyền thông xã hội 20

1.3.1 Khái niệm truyền thông xã hội 20

1.3.2 Ảnh hưởng của truyền thông xã hội lên thanh niên, sinh viên 22

1.3.3 Các loại hình truyền thông xã hội 25

1.3.4 Lý thuyết sử dụng và hài lòng 28

1.4 Hành vi truyền thông xã hội của sinh viên 34

1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý sinh viên 34

1.4.2 Khái niệm hành vi truyền thông xã hội của sinh viên 38

1.4.3 Biểu hiện hành vi truyền thông xã hội của sinh viên 39

1.4.4 Sơ đồ chỉ báo hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 42

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi truyền thông xã hội của sinh viên 43

1.5.1 Các yếu tố chủ quan 43

Trang 6

Tiểu kết chương 1 46

Chương 2 Thực trạng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 48

2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 48

2.1.1 Mục tiêu khảo sát 48

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 48

2.1.3 Khách thể nghiên cứu 52

2.2 Kết quả nghiên cứu hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp cận lý thuyết U&G 55

2.2.1 Nhận thức và thái độ của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh về truyền thông xã hội 55

2.2.2 Cách thức sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 62

2.2.3 Nhu cầu sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 80

2.2.4 Động cơ sử dụng truyền thông xã hội thông qua các thao tác cụ thể 86

2.3 Một số yếu tố tác động đến hành vi TTXH của sinh viên một số trường đại học tại TPHCM 91

Tiểu kết chương 2 93

Chương 3: Một số biện pháp định hướng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 94

3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 94

3.1.1 Cơ sở lý luận 94

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 95

3.1.3 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 99

3.2 Một số biện pháp định hướng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 100

3.2.1 Tuyên truyền sâu rộng những quy định của Đảng và Nhà nước về việc đăng tải thông tin trên Internet cho sinh viên 100

Trang 7

thông và TTXH 102

3.2.3 Nâng cao nhận thức cho SV về TTXH thông qua lớp tập huấn Kỹ năng mềm 105

3.2.4 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, nhà trường, gia đình và xã hội 107

3.2.5 Phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong các hoạt động định hướng hành vi truyền thông xã hội 110

3.3 Kết quả tự đánh giá của SV về một số biện pháp định hướng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh

112

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 PHỤ LỤC PL1

Trang 8

Bảng 2 1 Kết quả thu hồi phiếu hỏi thử nghiệm phân theo ngành 49

Bảng 2 2 Bảng quy đổi điểm nhóm A 51

Bảng 2 3 Bảng quy đổi điểm nhóm B 52

Bảng 2 4 Thống kê khách thể nghiên cứu phân bố các tiêu chí 53

Bảng 2 5 Bảng tổng hợp mức độ nhận thức của sinh viên về khái niệm TTXH 56

Bảng 2 6 Bảng tổng hợp về mức độ đồng ý các khái niệm TTXH của sinh viên phân theo giới tính và khối ngành 57

Bảng 2 7 Bảng mức độ nhận thức về vai trò TTXH của SV 58

Bảng 2 8 Bảng tổng hợp thái độ của sinh viên về TTXH 60

Bảng 2 9 Mức độ thường xuyên sử dụng TTXH của sinh viên một số trường ĐH tại TPHCM 63

Bảng 2 10 Bảng thống kê so sánh mức độ sử dụng TTXH của sinh viên theo giới tính và khối ngành học 66

Bảng 2 11 Mối liên hệ giữa nguồn biết đến TTXH so với các biến độc lập 69

Bảng 2.12 Mức độ thường xuyên SV sử dụng thiết bị để truy cập TTXH 70

Bảng 2.13 Mức độ sử dụng các thiết bị để truy cập TTXH phân theo các biến số quan sát 71

Bảng 2.14 Bảng tổng hợp mối liên hệ giữa thời gian sử dụng TTXH của sinh viên và các biến quan sát 74

Bảng 2.15 Mức độ thường xuyên sử dụng TTXH của sinh viên tại các thời điểm trong ngày 75

Bảng 2.16 Bảng tổng hợp mức độ thường xuyên sử dụng TTXH của sinh viên tại các thời điểm trong ngày phân theo giới tính và khối ngành học 76

Bảng 2 17 Bảng tổng hợp mức độ thường xuyên sử dụng TTXH của sinh viên tại một số địa điểm 78

Bảng 2.18 Bảng tổng hợp mục đích sử dụng TTXH của sinh viên 81

Bảng 2 19 Bảng tổng hợp điểm trung bình, độ lệch chuẩn của những hành vi cụ thể của SV 83

Bảng 2 20 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn về các nội dung thường được SV "post" trên TTXH 90

Trang 9

Bảng 3 1 Tổng hợp tự đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi TTXH của SV một

số trường Đại học tại TPHCM 91Bảng 3 2 Tổng hợp tự đánh giá của SV về mức độ cần thiết và khả thi một số biện pháp 112

Trang 10

Biểu đồ 2 1.Nguồn biết đến TTXH của sinh viên 67

Biểu đồ 2 2.Thời gian sử dụng TTXH của sinh viên 73

Biểu đồ 2 3 Mục đích sử dụng TTXH của sinh viên 80

Biểu đồ 2 4.Sơ đồ biểu diễn loại hình TTXH đáp ứng nhu cầu của SV 86

Biểu đồ 2 5.Mục đích sử dụng nút Like của sinh viên 87

Biểu đồ 2 6.Mục đích sử dụng nút "share" của sinh viên 88

Biểu đồ 2 7.Mục đích sử dụng "comment" của SV 89

Trang 11

Hình 1 1.Tháp nhu cầu của Maslow 30 Hình 1 2 Sơ đồ chỉ báo hành vi TTXH của SV 42

Trang 12

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

TTXH : Social Media : Truyền thông xã hội

U&G : Uses and Gratifications theory : Lý thuyết sử dụng và hài lòng

Trang 13

MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng

và phong phú đã làm cho nhiều lĩnh vực trong xã hội phát triển mạnh mẽ, trong đó

có lĩnh vực truyền thông Trước đây, lĩnh vực truyền thông giải trí của Việt Nam chỉ tập trung vào các phương tiện như truyền hình, truyền thanh; báo chí chưa phát triển mạnh Từ khi Việt Nam gia nhập vào nền kinh tế thị trường, một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài như Coca Cola, Pepsi, Unilever, P&G… kéo theo thị trường truyền thông, quảng cáo ở Việt Nam phát triển mạnh Trong đó, chiếm lĩnh thị trường truyền thông hiện nay vẫn là truyền hình, tiếp đến là các phương tiện báo chí Với tốc độ phát triển nhanh của khoa học công nghệ, đặc biệt là bùng nổ của Internet đã làm cho truyền thông xã hội đã ra đời và phát triển mạnh mẽ như mạng xã hội, các trang chia

sẻ nội dung, blogs, micro blogs … Sự tiếp cận của công chúng với các loại hình này ngày càng trở nên dễ dàng và thuận tiện Tính đến đầu năm 2020, có đến 70% người dân truy cập Internet mỗi ngày Không những vậy, số lượng kích hoạt tài khoản truyền thông xã hội mới tăng gần 10% so với năm 2019 Mỗi ngày, trung bình một người trưởng thành (trên 16 tuổi) dành khoảng 2,22 giờ để truy cập truyền thông xã hội Trong đó, Facebook là một loại hình mạng xã hội đang chiếm ưu thế trong các loại hình truyền thông xã hội hiện nay Qua đó cho thấy, công chúng ngày càng quan tâm đến các loại hình truyền thông xã hội

Truyền thông xã hội đã trở thành một trong những công cụ, phương tiện không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện nay Với những chức năng đa dạng và phong phú, truyền thông xã hội đã và đang đáp ứng nhu cầu của người sử dụng ở nhiều tầng lớp khác nhau Do đó, số lượng người sử dụng truyền thông xã hội ngày càng gia tăng Tuy nhiên, truyền thông xã hội cũng có tính hai mặt Một mặt, truyền thông xã hội đã và đang góp phần phát triển xã hội trên nhiều phương diện khác nhau Mặt khác những ảnh hưởng tiêu cực cũng tồn tại song song Giá trị tích cực hoặc tiêu cực

mà truyền thông xã hội mang lại cho người sử dụng phụ thuộc vào cách mà họ sử dụng chúng

Trang 14

Sinh viên là tầng lớp tri thức trẻ, chủ tương lai của đất nước Nhiệm vụ học tập, rèn luyện tay nghề là nhiệm vụ quan trọng mà sinh viên cần phải thực hiện ngay trên ghế nhà trường Với khối óc tò mò, ham học hỏi nên sinh viên tìm kiếm thông tin, tư liệu bằng nhiều nguồn khác nhau là điều tất yếu Trong sự phát triển như vũ bão của của khoa học công nghệ, Internet trở thành một trong những nguồn cung cấp thông

tin khổng lồ cho sinh viên Không những vậy, các nhu cầu khác như giao lưu, học

hỏi, giải trí, khẳng định bản thân và kinh doanh cũng phát triển mạnh mẽ Để thỏa mãn nhu cầu, sinh viên tìm đến các phương tiện truyền thông Với những tính năng

ưu việt, số lượng người tham gia đông đảo nên truyền thông xã hội trở thành một trong những loại hình mà sinh viên quan tâm, tham gia và sử dụng Tuy nhiên, với tính hai mặt, truyền thông xã hội sẽ mang lại những ảnh hưởng tiêu cực cho sinh viên nếu họ chưa có nhận thức đúng đắn, thái độ phù hợp Hơn thế nữa, họ có nguy cơ tìm hiểu các thông tin, hình ảnh mang tính tiêu cực, thậm chí họ có thể trở thành nạn nhân của các thông tin, hình ảnh mang tính tiêu cực đó Theo nghiên cứu của chương trình nghiên cứu Internet và xã hội (VPIS) cho thấy nhiều người là nạn nhân của việc phát ngôn hoặc đăng tải các thông tin không đúng sự thật, cụ thể 78% người dùng Internet tại Việt Nam là nạn nhân hoặc biết các trường hợp phát ngôn gây “thù ghét” trên mạng xã hội Trong đó, vu khống và bịa đặt thông tin lên đến 46%, nói xấu, phỉ báng người khác chiếm tỉ lệ khá cao trên 61% (Vnexpress, 2020) Điều đó chứng minh vấn nạn thông tin sai sự thật hoặc các phát ngôn gây ra những mâu thuẫn trên truyền thông thông xã hội ngày càng gia tăng trong xã hội Trên cơ sở đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành nhiều thông tư nhằm quy định quyền, trách nhiệm của người sử dụng các loại hình truyền thông xã hội Tuy nhiên, hiện tượng đăng tải thông tin sai sự thật trên truyền thông xã hội vẫn diễn ra thường xuyên, đặc biệt là trong thời điểm đại dịch Covid-19 Vì vậy, để tránh các ảnh hưởng không mong muốn từ việc sử dụng truyền thông xã hội, người dùng cần hình thành cho mình phương pháp, cách thức sử dụng một cách hợp lý, đặc biệt là thanh niên, sinh viên

Do đó, luận văn “Hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học

tại Thành phố Hồ Chí Minh” được đề xuất nghiên cứu Luận văn sẽ khái quát hóa

Trang 15

và vẽ một bức tranh tổng thể về hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn xác định thực trạng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, luận văn sẽ tìm hiểu một số yếu tố tác động đến hành vi truyền thông xã hội của sinh viên Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp định hướng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hành vi truyền thông xã hội của sinh viên; + Xác định thực trạng hành vi truyền thông xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh;

+ Đề xuất một số biện pháp định hướng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh;

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố

Nhóm trường đại học công lập:

● Trường Đại học Khoa học tự nhiên (các khối ngành kỹ thuật)

● Trường Đại học Sài Gòn (các khối ngành xã hội và du lịch)

Nhóm trường đại học ngoài công lập:

● Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (các khối ngành kỹ thuật)

Trang 16

● Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (các khối ngành xã hội và du lịch)

+ Về nội dung nghiên cứu: trong các loại hình truyền thông xã hội, luận văn tập trung nghiên cứu 02 loại hình truyền thông xã hội phổ biến hiện nay đang được nhiều người sử dụng: mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, LinkedIn) và các trang chia

sẻ nội dung (Youtube, Instagram, Flickr, Snapchat) Hơn nữa, luận văn sẽ tiếp cận khung lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses and gratifications theory) để nghiên cứu hành vi truyền thông xã hội của sinh viên

1.5 Giả thuyết nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng như sau:

− Giả thuyết H1: Nhận thức về TTXH của sinh viên một số trường đại học ở Tp.HCM ở mức tương đối cao

− Giả thuyết H2: Sinh viên một số trường đại học tại Tp.HCM dành nhiều thời gian sử dụng các loại hình truyền thông xã hội, trong đó mạng xã hội là loại hình được sinh viên sử dụng nhiều nhất

− Giả thuyết H3: Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi truyền thông

xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Tp.HCM, trong đó các yếu tố chủ quan

có ảnh hưởng cao hơn

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu chủ yếu Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp nghiên cứu bổ sung

1.6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Để có định hướng nghiên cứu rõ ràng và chất lượng, điều đó phụ thuộc rất nhiều chất lượng của tài liệu nghiên cứu Do đó, phương pháp nghiên cứu lý luận được áp dụng ở những bước đầu tiên của quá trình nghiên cứu Nhiệm vụ quan trọng của phương pháp là sưu tầm và phân loại những tài liệu có liên quan đến hành vi, truyền thông xã hội, hành vi truyền thông xã hội, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi truyền thông xã hội, đặc điểm tâm sinh lý sinh viên

Sau quá trình sưu tầm và phân loại, việc phân tích và đánh giá tài liệu cũng là khâu quan trọng giúp xác định cơ sở lý luận Đây là nền tảng xây dựng các chỉ báo

Trang 17

nghiên cứu phục vụ quá trình nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa, hệ thống cơ sở

lý luận được xây dựng Trong đó, cơ sở lý luận sẽ đề cập và chỉ rõ cách tiếp cận, hướng nghiên cứu của luận văn

1.6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp khảo sát điều tra bằng bảng hỏi

Để phản ánh được mục tiêu nghiên cứu, luận văn thực hiện phương pháp khảo sát, điều tra thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi đối với khách thể nghiên cứu Các câu hỏi khảo sát được xây dựng dựa trên nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Phương pháp này sẽ trải qua nhiều bước để kết quả thu được mang tính khách quan nhất Quá trình này sẽ được mô tả cụ thể trong quá trình tiến hành nghiên cứu luận văn

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu được kết hợp với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm tìm ra bản chất của vấn đề mà bảng khảo sát chưa thể chỉ rõ Từ những câu hỏi của bảng khảo sát, luận văn xây dựng khung câu hỏi phỏng vấn nhằm tìm hiểu bản chất của vấn đề nghiên cứu Đồng thời, để ghi nhận lại kết quả phỏng vấn, luận văn sử dụng phương pháp bút vấn, ghi âm (được sự đồng ý của người được khảo sát)

để thu thập dữ liệu một cách hoàn chỉnh

1.6.3 Phương pháp Toán thống kê

Với phương pháp nghiên cứu chính là khảo sát điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thống kê toán học rất cần thiết để phân tích dữ liệu Việc phân tích dữ liệu cần tập trung vào mục đích nghiên cứu của luận văn để trả lời cho các giả thuyết nghiên cứu

Để phục vụ cho việc phân tích dữ liệu, luận văn sử dụng phần mềm SPSS 16.0

và Excel 365 Phần mềm SPSS 16.0 dùng để phân tích nhằm biểu thị tần số, điểm trung bình, đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên về hành vi, phân tích các yếu tố tác động đến hành vi truyền thông xã hội của sinh viên Ngoài ra, xác định mức độ tương quan giữa mức độ thường xuyên tiếp xúc với truyền thông với hành

vi của sinh viên

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TRUYỀN THÔNG

XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

a) Những nghiên cứu về vai trò của truyền thông xã hội

Từ khi mới xuất hiện, truyền thông xã hội dần dần trở thành một trong những phương tiện không thể thiếu trong đời sống con người Vai trò của truyền thông xã hội ngày càng được phát huy và làm cho cuộc sống của chúng ta thay đổi theo nhiều chiều hướng khác nhau Do đó, truyền thông xã hội được các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu

Năm 2013, Rita Wanjiku Njoroge đã thực hiện dự án nghiên cứu với tên gọi

“Sự tác động của truyền thông xã hội tới sự thay đổi hành vi của giới trẻ: nghiên cứu

trường hợp của sinh viên đại học tại Nairobi, Kenya” Kết quả cho thấy truyền thông

xã hội đóng vai trò chính trong việc thay đổi hành vi của sinh viên Mục đích sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên chủ yếu để liên lạc với bạn bè và gia đình Họ giao lưu bạn bè trên khắp thế giới và bất kể trong khoảng thời gian nào Một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến việc thay đổi hành vi truyền thông xã hội của giới trẻ cũng được đề cập như mục đích, thời gian sử dụng và nội dung được đăng tải trên các loại hình truyền thông xã hội Thực tiễn nghiên cứu cho thấy truyền thông xã hội đang làm gia tăng các hành vi bạo lực trên mạng; người sử dụng vô tình được giới thiệu các trang web khiêu dâm; các hành vi chống đối xã hội, tình trạng quan hệ tình dục sớm của trẻ vị thành niên diễn tiến ngày càng nhiều Không những vậy, truyền thông xã hội còn ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên

Bài viết “Các tác động tích cực và tiêu cực của truyền thông xã hội trên nhiều

phương diện” đã được tác giả Shabnoor và Tajinder công bố vào năm 2016 Bài viết

đã tổng hợp và tóm tắt những tác động của truyền thông xã hội tới người sử dụng ở nhiều phương diện khác nhau Trước tiên, truyền thông xã hội đã mang lại những giá trị tích cực cho người dùng Chúng là một kênh thông tin hiệu quả để sinh viên giao tiếp với giảng viên, sinh viên với nhau: hỗ trợ trong việc giao bài tập; thông tin các

sự kiện, hoạt động của nhà trường; thông tin việc làm thêm; những SV không chú ý

Trang 19

trong giờ học, họ có thể đặt câu hỏi với giảng viên, sinh viên khác thông qua trường thông xã hội Bên cạnh đó, truyền thông xã hội giúp các nhà kinh doanh hiểu hơn về

những hành vi like và dislike của người tiêu dùng Đây còn là một kênh truyền thông

hiệu quả nhằm gia tăng nhận thức của họ về thương hiệu để tiến đến việc mở rộng thị trường kinh doanh Không những vậy truyền thông xã hội còn tác động đến đời sống xã hội như chia sẻ ý tưởng, gặp gỡ bạn mới, cập nhật tin tức nhanh chóng Song song đó, truyền thông xã hội cũng mang lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho người sử dụng: giảm khả năng tập trung trong khi học; thông tin không được bảo mật, thông tin sai sự thật dẫn đến kiến thức dễ bị nhầm lẫn; khách hàng có những phản hồi tiêu cực, cực đoan về cá nhân hoặc tổ chức; hạn chế tiếp xúc trực tiếp của các thành viên trong gia đình, chia sẻ những thông tin ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi của trẻ nhỏ

và vị thành niên… Qua đó cho thấy, tác giả đã tổng hợp một số ảnh hưởng tích cực

và tiêu cực của truyền thông xã hội đối với cuộc sống của công chúng trên nhiều phương diện khác nhau

Không chỉ dừng lại những nghiên cứu sự tác động của truyền thông xã hội tới

cá nhân mà tác động của nó lên xã hội cũng được đề cập trong thời gian gần đây Năm 2017, tác giả Akram và Kumar đã chỉ ra nhiều tác động tích cực và tiêu cực của truyền thông xã hội trong nhiều lĩnh vực, điểm nhấn là trong giáo dục và xã hội Trong giáo dục, truyền thông xã hội sẽ giúp cho người dùng có thể cập nhật kiến thức nhanh chóng, kênh thông tin học tập được mở rộng, việc trao đổi giữa giảng viên và sinh viên, sinh viên và sinh viên được thuận lợi… Tuy nhiên, việc sử dụng truyền thông xã hội cũng kèm theo một số tác động tiêu cực như giảm khả năng tập trung trong học tập, nghiên cứu, giảm sự giao tiếp trực tiếp, gây lãng phí thời gian, mất động lực học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe… Đối vối xã hội, truyền thông xã hội giúp kết nối cộng đồng, cập nhật tin tức, quảng cáo, các hoạt động thiện nguyện và xây dựng cộng đồng Vấn nạn khủng bố qua tin nhắn, lừa đảo, bị hack, tình trạng nghiện sử dụng truyền thông xã hội, đặc biệt là những vấn đề ảnh hưởng đến uy tín

cá nhân cũng tồn tại song song với những mặt tích cực mà chúng mang lại

Truyền thông xã hội đã trở thành công cụ, phương tiện không thể thiếu trong đời sống xã hội Truyền thông xã hội đã có nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng

Trang 20

ta trên nhiều phương diện khác nhau như giáo dục, sức khỏe, kinh tế… thậm chí là đến xã hội Ở mỗi phương diện, nó đều có những mặt tích cực và tiêu cực cụ thể Trên cơ sở những ưu điểm và hạn chế của truyền thông xã hội, luận văn sẽ kế thừa

và ứng dụng vào trong quá trình nghiên cứu

b) Những nghiên cứu về sử dụng truyền thông xã hội

Với vai trò của truyền thông xã hội trong cuộc sống, nhiều người đã và đang tham gia sử dụng truyền thông xã hội như một công cụ, phương tiện nhằm làm thỏa mãn nhu cầu Lý do mà con người tham gia truyền thông xã hội là vấn đề mà nhiều tác giả tích cực nghiên cứu

Tác giả Rebecca Marie Dolan đã thực hiện công trình với tựa đề “Hành vi tham

gia truyền thông xã hội: nhìn từ học thuyết sử dụng và sự hài lòng” vào năm 2015

Tác giả đã ứng dụng lý thuyết sử dụng và hài lòng để nghiên cứu Kết quả cho thấy hành vi tham gia và nội dung được đăng tải trên truyền thông xã hội có mối liên hệ với nhau Hầu hết người sử dụng truyền thông xã hội đều bị thúc đẩy bởi các nhu cầu

cụ thể Tùy vào nhu cầu mà người dùng sẽ lựa chọn loại hình truyền thông xã hội phù hợp để tham gia và sử dụng Truyền thông xã hội chia ra làm 04 loại chính: thông tin, giải trí, quan hệ và kiến thức thu nhận Quá trình thực hiện công trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng công cụ Facebook Insights và NCapture để trích xuất dữ liệu hành vi từ 12 trang Facebook Thông qua công cụ này, tác giả đã khắc phục một số hạn chế ở những công trình trước đây Mặc dù vậy, đặc điểm tâm lý người dùng, cảm xúc… vẫn chưa được đề cập

Năm 2017, Francine Edwards đã thực hiện một cuộc điều tra về hành vi tìm kiếm sự chú ý trên mạng xã hội và Facebook là nghiên cứu trường hợp điển hình Kết quả cho thấy rằng ngoài việc chia sẻ những thông tin cá nhân trên Facebook, những người sử dụng mạng xã hội Facebook còn có những biểu hiện xu hướng ái kỷ Bài viết còn nêu lên xu hướng nghiên cứu hành vi sử dụng mạng xã hội trong tương lai, cụ thể: các hành vi chặn bài viết, chỉnh sửa và xóa bài viết Bên cạnh đó, người trưởng thành là đối tượng nghiên cứu trong tương lai vì hiện nay chỉ nghiên cứu trên trẻ em Mặt khác, ngoài việc sử dụng hình thức truy cập truyền thống như hiện nay,

Trang 21

tác giả khuyến nghị những nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng đối tượng và hình thức truy cập các trang mạng xã hội

c) Những nghiên cứu về hành vi truyền thông xã hội của sinh viên

Năm 2012, nhóm tác giả gồm N Gizem KOÇAK và Mine OYMAN đã tìm ra

một số hành vi sử dụng các loại hình truyền thông xã hội thông qua bài viết “Hành

vi sử dụng truyền thông xã hội cá nhân: nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Eskişehir”

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trên 401 người theo phương pháp chọn mẫu

có lựa chọn Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mạng xã hội là một trong những loại hình truyền thông xã hội được sử dụng phổ biến nhất ở Eskişehir và loại hình truyền thông xã hội ít được sử dụng nhất là các trang đánh dấu xã hội Hơn thế nữa, có sự khác biệt tương đối giữa nam và nữ trong việc sử dụng các loại hình truyền thông xã hội thông qua kiểm nghiệm T Về độ tuổi, tác giả tìm thấy nhóm người trẻ tuổi có xu hướng sử dụng các loại hình truyền thông xã hội nhiều hơn nhóm lớn tuổi, đặc biệt

là nhóm có độ tuổi từ 16 đến 25 Về hành vi sử dụng truyền thông xã hội cụ thể được sắp xếp theo thứ tự giảm dần dựa trên mức độ thường xuyên sử dụng như sau: nhóm hành vi về tiêu thụ nội dung (xem, nhìn và nghe), nhóm hành vi về tham gia nội dung (viết bình luận hoặc chia sẻ nội dung), nhóm hành vi về sản xuất nội dung

Sử dụng truyền thông xã hội không chỉ đáp ứng nhu cầu của sinh viên mà nó còn tác động đến đời sống của họ Đây cũng chính là vấn đề nghiên cứu của nhóm tác giả Akakandelwa và Gabriel vào năm 2017 Tác giả đã khảo sát 227 sinh viên tại trường Đại học University of Zambia Kết quả cho thấy, loại hình truyền thông xã hội được sinh viên sử dụng nhiều nhất là WhatsApp, sau đó lần lượt là Facebook, Twitter, LinkedIn; loại hình truyền thông ít được sử dụng đó là Youtube và Wechat

Về thời lượng sử dụng, hầu hết sinh viên được khảo sát đều sử dụng truyền thông xã hội trong khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày, sinh viên sử dụng truyền thông xã hội trên

120 phút chiếm tỉ lệ khá thấp Về mục đích sử dụng, sinh viên sử dụng truyền thông

xã hội nhiều nhất để tìm kiếm các thông tin, kế đến là các mối quan hệ bạn bè và thấp nhất đó là dùng để chia sẻ những điều tồi tệ với bạn bè Phần lớn sinh viên được khảo sát có nhận thức rõ ràng về tác động của truyền thông xã hội, họ cho rằng truyền thông xã hội không ảnh hưởng đến cuộc sống của họ

Trang 22

1.1.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam

a) Những nghiên cứu về vai trò của truyền thông xã hội

Cũng giống như ở các nước khác, các loại hình truyền thông xã hội ngày càng chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong đời sống con người Nó mang lại cho con người những tiện ích thú vị, tương tác cao

Năm 2012, tác giả Đào Lê Hòa An đã nghiên cứu và công bố bài viết "Nghiên

cứu về hành vi sử dụng Facebook của con người - một thách thức mới cho tâm lí học hiện đại" Tác giả chỉ ra rằng mạng xã hội Facebook đã và đang thu hút người sử

dụng Với sự phát triển nhanh chóng của Internet, sự tiếp cận với loại hình mạng xã hội này trở nên dễ dàng Trong xu hướng gia tăng số lượng người tham gia, trẻ vị thành niên cũng bị thu hút bởi Facebook Tuy nhiên, khi lạm dụng thái quá vào Facebook, họ sẽ gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực, đặc biệt là những ảnh hưởng đến kết quả học tập

Năm 2010, thông qua kết quả của hội thảo “Mạng xã hội với lối sống của giới

trẻ Thành phố Hồ Chí Minh” do Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh

tổ chức, tác giả Nguyễn Thị Hậu đã tìm ra vai trò của mạng xã hội trong đời sống

của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, tác giả đã nêu rõ những ảnh hưởng

của mạng xã hội đến lối sống giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và cách thức sử dụng mạng xã hội, bài viết góp phần giúp các bạn trẻ có phương pháp sử dụng truyền thông xã hội đúng đắn, hợp lý Những mặt tích cực của mạng xã hội mang lại cho cộng đồng tham gia như nhu cầu

sử dụng mạng xã hội trong học tập, giao tiếp và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp Hơn nữa, truyền thông xã hội là chiếc cầu nối giúp các nhóm thiện nguyện liên kết với nhau để thực hiện công tác xã hội, tổ chức các hoạt động văn hóa lành mạnh Tuy nhiên, truyền thông xã hội cũng mang lại nhiều rủi ro cho người sử dụng: hình ảnh, thông tin cá nhân dễ bị tiết lộ, sử dụng mạng xã hội cho những mục đích không lành mạnh của một số đối tượng Từ đó, tác giả nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng mạng xã hội của giới trẻ (Bùi Thị Ngọc Hân, 2013)

Nhóm sinh viên gồm Lưu Bá Lộc, Phạm Thùy An và Lâm Thánh Thuận đã

nghiên cứu “Tác động của mạng xã hội Facebook đối với sinh viên khoa PR –

Trang 23

Trường Đại học Văn Lang” vào năm 2013 Nhóm tác giả đã cho thấy mạng xã hội

Facebook là công cụ, phương tiện để gắn kết mọi người trên thế giới Nếu sinh viên

sử dụng nó không hiệu quả, quá lạm dụng Facebook sẽ mang lại những tác hại không mong muốn Trên cơ sở đó, nhóm tác giả nêu lên biện pháp nhằm giúp sinh viên có thể tham gia, sử dụng mạng xã hội một cách tích cực nhất; kiểm soát dược những hoạt động trên Facebook để tránh những tác động tiêu cực từ mạng xã hội Facebook mang lại

b) Hành vi sử dụng truyền thông xã hội

Trung tâm Vinaresearch đã khảo sát online với 810 người tham gia, trong đó

có 380 nam và 430 nữ trong những tháng đầu năm 2018 Theo kết quả khảo sát của Vinaresearch, mạng xã hội dần trở nên phổ biến ở Việt Nam Trong đó, Facebook là loại hình mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay, tiếp theo là Zalo Cũng theo kết quả khảo sát, người dùng tại Việt Nam thường truy cập vào mạng xã hội nhiều nhất từ 18h00 đến 22h00, họ thường truy cập sau thời gian làm việc, học tập Mỗi người Việt Nam dành 2,12 giờ trong một ngày để truy cập mạng xã hội Trong

đó, thời gian truy cập Facebook là chiếm nhiều nhất khoảng 3,55 giờ cao hơn mức trung bình Mục đích sử dụng mạng xã hội của người dùng cũng được khảo sát Người dùng sử dụng mạng xã hội chủ yếu để kết nối và liên lạc bạn bè, người thân Bên cạnh đó, cập nhật tin tức, chia sẻ ý kiến, tâm sự và quảng cáo cũng được người dùng quan tâm Mối quan hệ giữa giới tính và mục đích sử dụng mạng xã hội cũng được đề cập Kết quả cho thấy chia sẻ ý kiến, tâm sự và quảng cáo được nữ giới quan tâm nhiều hơn; cập nhật tin tức đều được hai giới quan tâm giống nhau

Xu hướng sử dụng truyền thông xã hội và online của người Việt Nam năm 2019

đã được nghiên cứu bởi tổ chức Q&Me Khảo sát được thực hiện trên 860 người ở

độ tuổi từ 18 đến 47 trên cả nước Kết quả cho thấy, mức độ người dùng sử dụng điện thoại di động để truy cập vào các loại hình truyền thông xã hội tăng lên đến 42%

so với năm 2016, và trở thành phương tiện truy cập mạng xã hội phổ biến nhất Mạng

xã hội được sử dụng để liên lạc với gia đình, bạn bè cũng như tiếp cận các thông tin mới Đây là những động lực chủ yếu của người dùng khi sử dụng mạng xã hội Đã

có sự chuyển biến một số loại hình truyền thông xã hội mà người Việt Nam sử dụng

Trang 24

giữa năm 2016 với 2019 Trong đó, 02 loại hình truyền thông xã hội mà người Việt Nam sử dụng nhiều nhất là Messenger của Facebook và Zalo Hai loại hình ít sử dụng hơn là Snapchat và Whatsapp Khảo sát đã nghiên cứu sâu về hành vi của người dùng về xem, click quảng cáo online Nguyên nhân và nội dung quảng cáo là những vấn đề sâu mà khảo sát đã thực hiện, nghiên cứu (Q&Me, 2019)

c) Hành vi sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên

Năm 2014, tác giả Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái đã tìm ra thực trạng sử dụng mạng xã hội của sinh viên Nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát trên 4.247 sinh viên năm nhất đến năm thứ tư ở 06 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Tác giả thực hiện nghiên cứu trên

04 chiều kích: thực trạng sử dụng truyền thông xã hội, bảo mật thông tin trên truyền thông xã hội, nhu cầu sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên và những áp lực mà

SV có thể gặp phải khi sử dụng truyền thông xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy Facebook là mạng xã hội được sinh viên lựa chọn sử dụng nhiều nhất, ít được sử dụng nhất là Printerest Thời gian trung bình sinh viên sử dụng các mạng xã hội là từ

1 đến 3 giờ chiếm tỉ lệ cao nhất Hơn thế nữa, một số sinh viên dành trên 8 giờ để sử dụng mạng xã hội Qua đó, nhóm tác giả cảnh báo đến hành vi nghiện mạng xã hội của sinh viên Về nhu cầu sử dụng truyền thông xã hội, nhóm tác giả nghiên cứu trên các phương diện sau: nhu cầu chia sẻ, nhu cầu thể hiện bản thân, nhu cầu giải trí, nhu cầu kinh doanh, nhu cầu tương tác Trong đó, nhu cầu tương tác là điểm trung bình cao nhất Điều này phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của sinh viên

Năm 2015, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook tại Việt Nam đã được nghiên cứu và chứng minh bởi nhóm tác giả gồm Nguyễn Ngọc Bích Trâm và Nguyễn Thị Mai Trang Trên cơ sở của các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook bao gồm: tính xã hội, tính vị tha, tính thực tế ảo, tính hữu dụng, tính dễ sử dụng và tính khích lệ Dữ liệu nghiên cứu của bài viết được thu thập tại 03 thành phố lớn của Việt Nam bao gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả chỉ ra rằng 03 yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook tại Việt Nam là tính hữu dụng, tính dễ sử dụng và tính khích lệ Hơn nữa,

Trang 25

nhóm tác giả đưa ra các giải pháp định hướng hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook cho công dân Việt Nam

Năm 2018, Nguyễn Thị Bắc đã nghiên cứu công trình với tên gọi “Hành vi sử

dụng mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Hải Dương” Tác giả tiến hành khảo

sát trên 300 sinh viên trường Đại học Hải Dương Loại hình mạng xã hội mà tác giả tiến hành khảo sát gồm: Facebook, Zingme, Zalo, Youtube, Myspace, Twitter và Instagram Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết sinh viên đều lựa chọn sử dụng Facebook và thấp nhất là Instagram Hơn nữa, việc phân bổ thời gian sử dụng mạng

xã hội của sinh viên trường Đại học Hải Dương chưa hợp lý, thời gian trung bình từ

2 – 3 giờ trở lên Nội dung chủ yếu liên quan đến hình ảnh bản thân được đăng tải, chia sẻ trên các trang mạng xã hội Hơn nữa, tác giả đã cho thấy các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Hải Dương Các yếu

tố được tác giả phân thành 2 nhóm chính: yếu tố chủ quan (nhận thức, thái độ và đặc điểm tâm lý lứa tuổi); yếu tố khách quan (môi trường sống và phương tiện kỹ thuật) Trên cơ sở phân tích, nhìn nhận và đánh giá dữ liệu, tác giả đã đưa ra một vài kiến nghị đối tới nhà trường, phụ huynh, nhà quản lý mạng và đặc biệt là đối tượng sinh viên

1.1.3 Đánh giá chung về tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích và đánh giá tài liệu nghiên cứu, chúng tôi nhận định như sau:

- Vai trò truyền thông xã hội đã được các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu Truyền thông xã hội là phương tiện không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện nay Cũng như những vật chất khác, truyền thông xã hội cũng có tính hai mặt Một mặt chúng mang lại những giá trị nhất định cho người sử dụng, mặt khác những tiêu cực cũng tồn tại song song Do đó, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực mà truyền thông xã hội mang lại Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ vận dụng vào nghiên cứu của mình, cụ thể: đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên về vai trò (ảnh hưởng tích cực và tiêu cực) của truyền thông xã hội

Trang 26

- Lý thuyết sử dụng và hài lòng đây là một lý thuyết có nhiều giá trị trong việc nghiên cứu hành vi truyền thông Lý thuyết này phản bác tư tưởng của trường phái con người luôn thụ động, cho rằng con người chịu ảnh hưởng của truyền thông xã hội Nội dung cốt lõi của lý thuyết bắt nguồn từ tâm lý học Do đó, chúng tôi sẽ tiếp cận lý thuyết này để tìm hiểu hành vi truyền thông xã hội của sinh viên là khá phù hợp

- Hành vi truyền thông xã hội đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp cận và nghiên cứu Các tác giả trên thế giới chủ yếu dựa vào lý thuyết sử dụng

và sự hài lòng để nghiên cứu đến các hành vi truyền thông xã hội Hầu hết họ đã hệ thống hóa nội dung của lý thuyết sử dụng và hài lòng Trên cơ sở đó, họ đã ứng dụng

lý thuyết vào việc nghiên cứu hành vi truyền thông xã hội thông qua nhiều hành vi

cụ thể Các tác giả ở Việt Nam nghiên cứu hành vi sử dụng truyền thông xã hội trên nhiều khía cạnh khác nhau từ mục đích, thời gian, địa điểm, nhu cầu sử dụng Họ đã phác thảo bức tranh tổng thể về việc sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chưa phân định rõ ràng các loại hình truyền thông xã hội Mạng xã hội là loại hình được các tác giả nghiên cứu chủ yếu Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ kế thừa và áp dụng những kết quả nghiên cứu trên vào quá trình nghiên cứu của mình

Tóm lại, với hướng tiếp cận lý thuyết sử dụng và hài lòng, chúng tôi nhận thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào trùng lặp với đề tài mà chúng tôi đang thực hiện Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của những công trình nghiên cứu trước

đó, chúng tôi sẽ khái quát hóa thực trạng hành vi truyền thông xã hội của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Hành vi

1.2.1 Khái niệm hành vi

Hành vi (behavior hoặc behaviour) là một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên

cứu trong và ngoài nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu, đặc biệt

là những nhà Tâm lý học Do đó, có nhiều khái niệm xung quanh thuật ngữ này được hình thành

Trang 27

Trong từ điển Cambridge, behaviour có nghĩa là cách thức mà con người hoặc

con vật phản ứng trong một hoàn cảnh cụ thể hoặc dưới một điều kiện nhất định Khái niệm này cũng khá tương đồng với khái niệm hành vi trong thuyết hành vi cổ điển

Theo thuyết hành vi cổ điển, hành vi được xem như là tổ hợp các phản ứng của

cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài (Watson, 1913) Theo đó, có

thể hiểu hành vi của con người và động vật bị đơn giản hóa thành những cử động của

cơ thể Những cử động như “một cơ quan biết phản ứng” hoặc “một hệ thống vật lý” thích nghi với môi trường nhằm để đảm bảo sự sống cho cá thể trong đời sống tự nhiên và xã hội (Phạm Minh Hạc, 1989) Quan niệm hành vi theo thuyết cổ điển được biểu diễn qua công thức S – R Công thức này ngày càng bộc lộ những hạn chế nhất định

Từ những hạn chế của học thuyết hành vi cổ điển, những nhà hành vi mới đã

bổ sung các biến số trung gian vào công thức truyền thống làm khâu gián tiếp các kích thích phản ứng Theo E Tolman (1886 – 1959), hành vi là của cơ thể là tổng hòa chứ không phải là từng trả lời của cơ thể Các cử động hành vi có cả các sự kiện vật lý và sinh học, cũng như những thuộc tính cá nhân của bản thân Hành vi là một tác động trọn vẹn có một loạt thuộc tính: tính định hướng tới mục đích, tính dễ hiểu, tính linh hoạt và tính so sánh (Phạm Minh Hạc, 1989)

Nhìn chung, các dòng học thuyết về hành vi của trường phái Tâm lý học phương Tây đã có những đóng góp nhất định trong nghiên cứu hành vi con người Mặc dù

đã có những cũng cố, bổ sung, nhưng các dòng học thuyết này vẫn đánh đồng giữa hành vi con người và hành vi động vật, chưa chú trọng đến ý thức thậm chí là tách biệt ý thức khỏi hành vi Hơn thế nữa, vấn đề cốt lõi hay nguyên nhân, nguồn gốc của hành vi con người chưa được lý giải một cách đầy đủ nhất (Nguyễn Hồi Loan,

& Trần Thu Hương, 2019) Tuy nhiên, hệ thống lý luận của các dòng học thuyết này cũng có những giá trị nhất định trong nghiên cứu hành vi, do đó, luận văn sẽ kế thừa một số tinh hoa trong các dòng học thuyết này để bổ sung vào cơ sở lý luận

Một trường phái Tâm lý học khác cũng có nhiều đóng góp tích cực trong nghiên cứu hành vi con người đó chính là Tâm lý học Hoạt động Trường phái Tâm lý học

Trang 28

Hoạt động cho rằng để hiểu tâm lý và hành vi cần phải đặt hành vi và tâm lý người vào bên trong quá trình hoạt động lao động và giao lưu xã hội

L.X Vygotsky, người đặt nền móng cho việc xây dựng nền tâm lý học hoạt động, quan niệm hành vi là tổ hợp của các phản xạ, là phản ứng máy móc nhằm giúp

cơ thể thích nghi với môi trường Hành vi đó là cuộc sống, lao động và thực tiễn Hành vi chính là hoạt động thực tiễn của con người (Nguyễn Ngọc Phú, 2004) Đặc biệt chú ý đến luận điểm của A.N.Leonchiev (1903 – 1979) cho rằng “con người là một chủ thể chứ không phải là một cá thể thích nghi thụ động với môi trường Hành

vi của con người luôn có mục đích Hành vi đó không chỉ đảm bảo cho con người tồn tại mà còn đảm bảo cho con người phát triển” (Nguyễn Hồi Loan, & Trần Thu Hương, 2019) Qua đó, chúng ta có thể hiểu rằng hành vi con người là chuỗi của hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người

Ở Việt Nam, thuật ngữ hành vi cũng đã được nghiên cứu từ rất sớm bởi nhiều tác giả khác nhau

Theo từ điển Tiếng Việt, hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách

cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định (Hoàng Phê, 1986) Như vậy, hành vi mang tính xã hội và được hình thành trong đời sống xã hội Những phản ứng, cách ứng cử của con người đều tuân theo những nguyên tắc nhất định và phù hợp với từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể

Tác giả Phạm Minh Hạc (1989) cho rằng “Hành vi của con người là những

biểu hiện bên ngoài thông qua các hoạt động và bao giờ hoạt động đó cũng gắn liền với động cơ, mục đích”

Trong cuốn từ điển Tâm lý học đã viết “Hành vi là sự tương tác của cá

nhân với môi trường bên ngoài trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng, trong đó có định hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài” (Vũ Dũng, 2008)

Đặng Thanh Nga cho rằng “Hành vi là cách xử sự của con người trong một

hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định” Tuy

nhiên cách xử sự của con người trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể có thể được kiểm duyệt bởi ý thức (hành vi có ý thức) nhưng cũng có thể không được kiểm

Trang 29

duyệt bởi ý thức (hành vi vô thức) vì vậy mà khi nói đến hành vi của con người là bao gồm cả hành vi có ý thức và hành vi vô thức

Nguyễn Thị Bắc (2018) cho rằng “Hành vi là sự ứng xử của chủ thể đối với

môi trường, đối bản thân họ và đối với người khác do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh”

Theo Nguyễn Hồi Loan và cộng sự (2019) cho rằng hành vi của con người là

tổ hợp các cử động, thao tác, hành động bên ngoài được biểu hiện bằng phản ứng của

họ với thế giới xung quanh và với chính mình do tâm lý định hướng, điều khiển, điều

chỉnh nhằm đạt được mục đích nhất định

Qua đó, chúng tôi hiểu rằng hành vi là cách ứng xử phản ứng của cơ thể đối

với môi trường, với các cá thể khác trong quá trình hoạt động do tâm lý định hướng, điều khiển và điều chỉnh sao cho phù hợp với từng thời điểm, hoàn cảnh nhất định nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của con người

- Hành vi con người là hành vi xã hội: Hành vi con người luôn mang bản chất

xã hội kể cả những hành vi bản năng như ăn, uống, tình dục … Hành vi phản ánh nhu cầu của con người trong quá trình sống và hoạt động Cụ thể hơn nó phản ánh

sự phát triển của nhân cách, cách ứng xử, lối sống của con người trong điều kiện văn hóa – xã hội, giáo dục, gia đình, việc làm và các vị thế xã hội của cá nhân đó Mặc

dù nó phản ánh nhu cầu của con người nhưng hành vi luôn bị chế ước bởi các quy định, chuẩn mực xã hội của một nhóm người hoặc cồng đồng nhất định Từ đó, thông qua hành vi có thể đánh giá được trình độ phát triển nhân cách của con người trong đời sống xã hội

- Hành vi con người mang tính mục đích: Hành vi con người có sự tham gia của ý thức, do đó con người luôn nhận thức được một cách rõ ràng, mức độ ý thức

Trang 30

được xác định thông qua mục đích, cách thức và hình thức thể hiện hành vi Mục đích chính là động lực của hành động, giúp con người thực hiện các hành động, vượt qua những khó khăn trở ngại trong khi thực hiện các thao tác, hành động trong từng môi trường, hoàn cảnh cụ thể

ánh hiện thực khách quan tác động vào con người thông qua “lăng kính chủ quan” của mỗi cá nhân Nhờ có “lăng kính chủ quan” mà hành vi cá nhân luôn mang tính chủ thể Biểu hiện cụ thể của tính chủ quan như sau: 1/ mặc dù cùng một tác nhân kích thích tác động nhiều người khác nhau trong cùng một hoàn cảnh, thời điểm nhưng mỗi người có cách phản ứng khác nhau; 2/ mặc dù cùng một kích thích tác động vào cùng một người trong những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau nhưng hành

vi cũng không giống nhau

nhân kích thích: hành vi con người là sự phản ánh đời sống tinh thần, nhân cách của

con người ra bên ngoài thông qua lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ứng xử … của họ trước tác nhân kích thích mà người khác có thể quan sát được Hơn nữa, căn cứ trên các biểu hiện hành vi, chúng ta có thể đánh giá được thái độ hài lòng hay không của

họ đối với hiện tượng nào đó xảy ra trong môi trường hiện thực

Tóm lại, tất cả hành vi của con người nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và

có sự tham gia của ý thức nên hành vi luôn có mục đích nó được biểu thị thông qua các hành vi cụ thể trong đời sống hằng ngày Hơn nữa, thông qua biểu hiện hành vi, thái độ hài lòng của con người đối với các tác nhân gây ra phản ứng sẽ được đánh giá

1.2.3 Phân loại hành vi

Hành vi con người là những phản ứng tất yếu của cơ thể trước các tác nhân kích thích từ nhiều góc độ khác nhau như sinh học, xã hội, văn hóa Do đó, hành vi của con người rất đa dạng, phong phú đã kéo theo các nhiều tiêu chí để phân loại hành

vi của con người

- Hành vi bản năng: đảm bảo cho con người, động vật thích ứng cao với môi trường Hành vi bản năng có thể “hình thành các động tác hành vi mới trong hoàn

Trang 31

cảnh mới” (Vũ Dũng, 2008, tr 260) Hành vi bản năng thường là những kiểu mẫu

hành vi được thừa hưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua di truyền Chúng được hình thành và bộc lộ đồng thuận theo sự phát triển của cơ thể Phản xạ có điều kiện là cơ sở sinh lý của hành vi bản năng Hành vi bản năng nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể Loại hành vi này đều có ở động vật và con người Tuy nhiên, hành vi bản năng của con người đã được xã hội hóa với những mức độ khác nhau tùy vào mức độ phát triển của cá thể đó (Nguyễn Hồi Loan, & Trần Thu Hương,

2019)

- Hành vi kỹ xảo: Là một hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập Hành vi kỹ

xảo có tính mềm dẻo và thay đổi Loại hành vi này nếu được rèn luyện củng cố thường xuyên sẽ được định hình trên vỏ não (Nguyễn Thị Bắc, 2018)

- Hành vi trí tuệ: Là hành vi kết quả của hoạt động, nhằm nhận thức bản chất,

các mối quan hệ xã hội có tính quy luật nhằm thích ứng và cải tạo thế giới khách quan Hành vi trí tuệ của con người luôn gắn liền hệ thống tín hiệu thứ 2 - là ngôn ngữ ở loài vật không có hành vi trí tuệ (Nguyễn Thị Bắc, 2018)

- Hành vi chủ động: là hành vi tự nguyện, tự phát, loại hành vi này thường được

điều khiển bởi một chuỗi hành vi khác

- Hành vi đáp ứng: là những hành vi được tạo ra để ứng phó với hoàn cảnh‚ tình

huống thực tế nhất thời‚ với mục đích là để tồn tại và tiếp tục phát triển Những hành

vi này thường được tạo ra không theo ý thức tự nguyện và sự lựa chọn của bản thân

- Hành vi xã hội: đây là một phạm trù cơ bản của tâm lý học xã hội Hành vi xã

hội là những hành vi của cá nhân hay hành vi của nhóm, của cộng đồng diễn ra trong

xã hội với những điều kiện xã hội, văn hóa và lịch sử cụ thể, chịu sự điều tiết của các chuẩn mực xã hội Khi diễn giải hành vi xã hội phải đặt chúng vào mối quan hệ giữa

cá nhân và xã hội Hành vi cá nhân phụ thuộc vào động cơ, ý định, nhu cầu của cá nhân nhưng lại bị ước chế bởi điều kiện cụ thể của lịch sử, xã hội Hành vi xã hội bao gồm một đại lượng các hằng số được đặt trong các bối cảnh văn hóa khác nhau Tổng hòa các hằng số văn hóa này sẽ tạo thành bản tính con người Về cơ bản, tất cả hành vi của con người đều là hành vi xã hội và nó bao gồm hành vi xã hội của cá

nhân và của nhóm (Nguyễn Hồi Loan, & Trần Thu Hương, 2019)

Trang 32

Các loại hành vi của con người luôn có quan hệ với nhau, việc đi từ hành vi bản năng đến hành vi kỹ xảo, hành vi trí tuệ và hành vi đáp ứng và cuối cùng là hành

vi xã hội để đảm bảo cho sự tồn tại của cơ thể và hoạt động

1.3 Truyền thông xã hội

Hiện nay, truyền thông là một thuật ngữ cần phân biệt rõ ràng cả về ý nghĩa

và nội hàm của từ ngữ Truyền thông thường gắn liền với thuật ngữ Communication,

nhưng thuật ngữ này thường gắn liền với nghĩa truyền thông khi xem xét, nghiên cứu dưới góc độ lĩnh vực truyền thông Với sự tiến bộ của công nghệ thông tin, chúng ta

cũng bắt gặp một số thuật ngữ khác như Media, Multimedia và Mass Media Tuy

nhiên, những thuật ngữ này gắn liền với các sản phẩm của dịch vụ truyền thông(Đinh Kiều Châu, 2015)

1.3.1 Khái niệm truyền thông xã hội

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đã kéo theo sự tiến bộ của nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác trong xã hội Trong xu hướng đó, phương thức truyền thông ngày nay đã có nhiều thay đổi và phát triển không ngừng Từ đó, nhiều thuật ngữ mới trong lĩnh vực truyền thông xuất hiện hoặc phát triển đến giai đoạn cao trào, đặc biệt

là truyền thông xã hội Social Communication và Social Media là hai thuật ngữ nói

về truyền thông xã hội Theo nội hàm của khái niệm, chúng tôi tiếp cận truyền thông

xã hội với thuật ngữ Social Media vì nó được nghiên cứu như một sản phẩm của dịch

vụ truyền thông chứ không nghiên cứu như một lĩnh vực (Đinh Kiều Châu, 2015) Hiện nay, có khá nhiều khái niệm về truyền thông xã hội

Truyền thông xã hội (TTXH) đề cập đến các nền tảng trực tuyến mà mọi người

sử dụng để chia sẻ những ý kiến về hình ảnh, các đoạn video, âm nhạc, hiểu biết và nhận thức với người khác (Lai, & Turban, 2008)

Kaplan & Haenlein (2010) định nghĩa phương tiện truyền thông xã hội là một nhóm ứng dụng dựa trên nền tảng công nghệ Web 2.0, cho phép người dùng kiến tạo

và trao đổi nội dung với nhau (Mehrad, & Tajer, 2016)

Tương tự, TTXH có thể được mô tả như một nền tảng mà người dùng có thể kiến tạo, lưu hành và sử dụng thông tin trực tuyến

Trang 33

Howard và Park (2012) cho rằng TTXH bao gồm ba phần: cơ sở hạ tầng, nội dung và con người Cơ sở hạ tầng thông tin và các công cụ được sử dụng để sản xuất

và phân phối nội dung Nội dung được truyền tải trên truyền thông xã hội ở dạng kỹ thuật số như tin nhắn, tin tức, ý tưởng và các sản phẩm văn hóa Con người bao gồm

là những tổ chức, cá nhân, các ngành hoặc lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ nội dung Trong TTXH, bất cứ ai cũng có thể trở thành nguồn tạo ra nội dung, nhưng phần lớn mọi người đóng vai trò là người tham gia, rất ít người dùng đóng vai trò sản xuất nội dung, tạo ra thông tin Cũng như các loại hình truyền thông truyền thống, nội dung trên truyền thông xã hội có đối tượng riêng, nhưng sự khác biệt chính là người dùng thích chia sẻ những nội dung tự sản xuất hoặc sao chép từ các trang web khác (Lietsala, & Sirkkunen, 2008)

Theo quan điểm của Peters và cộng sự, thuật ngữ TTXH được xây dựng bắt nguồn từ hai lĩnh vực nghiên cứu: khoa học truyền thông và xã hội học Quan điểm khoa học truyền thông cho rằng TTXH có nghĩa là một nơi lưu trữ, truyền tải thông tin và dữ liệu Ở góc độ xã hội học, TTXH được xem là các cấu trúc xã hội được tạo nên bởi một tập các hành động xã hội có mối liên kết năng động phức hợp Trên cơ

sở kết hợp cả hai góc độ, TTXH được xem như là một hệ thống truyền thông cho phép các các cá nhân giao tiếp thông qua các phương tiện truyền thông dựa trên các mối quan hệ phức hợp

TTXH là các kênh dựa trên Internet cho phép người dùng lựa chọn thời gian tham gia, tương tác với nhau mà không có giới hạn khoảng cách, những người tham gia đều nhận được giá trị từ những nội dung được đăng tải trên TTXH, cụ thể nhận thức về sự tương tác với người khác (Carr, & Hayes, 2015)

Trong một số lĩnh vực khác, TTXH cũng được xem xét cụ thể:

Trong ngành Quan hệ công chúng, Kent (2010) cho rằng TTXH là kênh liên lạc cho phép người dùng tương tác và phản hồi Thời gian tương tác, thời gian phản hồi ngắn và mức độ đáp ứng của các loại hình TTXH với nhu cầu của người sử dụng thể hiện mức độ hiện đại của loại hình TTXH đó

Trong y học, TTXH là các kênh truyền tải nội dung, thông tin mà người dùng được tạo ra dựa trên Internet, khác với các phương tiện truyền thông truyền thống

Trang 34

như báo in, truyền hình, truyền thanh (Terry, 2009) Định nghĩa này chỉ phân biệt giữa truyền thông xã hội với các loại hình truyền thông truyền thống nhưng không phân biệt cụ thể với email và tin nhắn văn bản

Dưới góc độ ngữ nghĩa học, TTXH là loại hình truyền thông phi thương mại, sản phẩm khá đa dạng và có tính tiếp thị xã hội Sản phẩm của truyền thông xã hội hướng tới những lợi ích cộng đồng, phát triển bền vững các giá trị (Đinh Kiều Châu, 2015)

TTXH được thể hiện ở các cuộc thảo luận trên các diễn đàn trực tuyến, trên chức năng phản hồi (comment) của các bản tin điện tử (tin trên báo điện tử, tin trên các website, status hoặc entry mạng xã hội) Đó là các hoạt động đưa tin và xuất bản của cá nhân trên Internet, chẳng hạn như đăng bài trên website cá nhân, viết blog entry, đăng tải video clip lên YouTube, viết status Facebook, đăng tải hình ảnh trên Internet (Facebook, Flickr, Picassa…) (Đinh Phương Duy, 2018)

Từ những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng TTXH là các dịch vụ trực tuyến

cho phép người dùng có thể kiến tạo những nội dung, thông tin do chính họ tạo ra hoặc chia sẻ từ các trang web khác; có khả năng tương tác với người khác mà không

có giới hạn về thời gian và khoảng cách; có khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin

1.3.2 Ảnh hưởng của truyền thông xã hội lên thanh niên, sinh viên

Ngày nay, TTXH ngày càng phát triển mạnh mẽ và được công chúng đón nhận, đặc biệt là giới trẻ Với nguồn thông tin khổng lồ, nội dung giải trí phong phú, người dùng dễ dàng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc những thông tin phù hợp nhu cầu

và nó dần dần chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống con người Tuy nhiên, nó cũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực cho người sử dụng, đặc biệt là đối tượng thanh niên, sinh viên

a) Ảnh hưởng tích cực

TTXH đã và đang phát huy những vai trò nhất định trong cuộc sống xã hội ngày nay và nó đang cho thấy một bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên nhiều phương diện khác nhau (Lê Thị Thanh Hà, & Trần Tuấn Anh, 2017)

Trang 35

Cũng như đề cập ở trên, TTXH là nguồn thông tin khổng lồ, lưu trữ nhiều thông tin bổ ích sẽ giúp cho người dùng có thể cập nhật thông tin, kiến thức bất kỳ lúc nào

và bất kỳ nơi đâu TTXH đã và đang làm thay đổi văn hóa tìm kiếm, sử dụng thông tin của công chúng, đặc biệt là thanh niên sinh viên Hơn nữa, TTXH trở thành một trong những kênh thông tin dành cho học tập, trao đổi giữa giảng viên với sinh viên, sinh viên với nhau Với việc trao đổi thông tin nhanh chóng, không giới hạn về thời gian và khoảng cách, sinh viên có thể cập nhật những thông tin về chương trình học, các sự kiện một cách nhanh chóng và dễ dàng, thậm chí là nơi trao đổi, thảo luận các vấn đề học tập (Nguyễn Thị Hậu, 2010)

TTXH không chỉ mang lại lợi ích trong giáo dục mà còn trên nhiều bình diện khác trong xã hội Với chức năng kết nối cộng đồng, TTXH đang làm cho sinh viên

có lối sống tích cực hơn, có cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về xã hội, đồng thời họ sống có trách nhiệm hơn với xã hội Từ sự đồng điệu về nhu cầu, sở thích cá nhân… các tổ chức thiện nguyện dần dần được hình thành và đi vào hoạt động cả chiều sâu

về hình thức lẫn số lượng Thông qua đó, những hoàn cảnh bất hạnh, cần sự giúp đỡ được kết nối với các mạnh thường quân thông qua việc chia sẻ trên các phương tiện TTXH và giữa các nhóm với nhau Qua đó chứng minh rằng các phương tiện truyền thông xã hội không chỉ là không gian ảo, nó đang tạo ra sự tương tác giữa cộng đồng trong xã hội hiện thực (Nguyễn Thị Hậu, 2010; Mai Thị Duyên, 2016)

TTXH cũng có những ảnh hưởng nhất định đến ngành quảng cáo, marketing Theo kết quả khảo sát của Hội doanh nghiệp HVNCLC cho thấy người tiêu dùng chọn mua online đã tăng lên rõ rệt và Facebook là trang bán hàng trực tuyến phổ biến nhất (66%) Qua đó cho thấy, TTXH đang làm cho các hình thức quảng cáo, kinh doanh thay đổi so với trước khi loại hình này xuất hiện Nó đang phát huy những ưu điểm vượt trội trong việc kinh doanh và nhiều tổ chức đã sử dụng chúng để thúc đẩy kinh doanh của họ (Akram,& Kumar, 2017) Với tính chất năng động, sáng tạo, có tinh thần cầu thị và mong muốn có cuộc sống tự lập, nhất là ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên đã và đang sử dụng TTXH trong việc quảng cáo, kinh doanh của mình

Trang 36

b Ảnh hưởng tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực của TTXH, những ảnh hưởng tiêu cực của chúng lên người sử dụng cũng đang tồn tại Những giá trị ảo từ TTXH đã và đang tác động trực tiếp lên cuộc sống hiện thực của một bộ phận thanh niên, sinh viên Một trong những hệ lụy mà TTXH đang tác động lên giới trẻ là giảm khả năng tập trung trong học tập, nghiên cứu, giảm sự giao tiếp trực tiếp, gây lãng phí thời gian, mất động lực học tập, thậm chí là ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân sinh viên Tình trạng này xảy ra bởi chính sinh viên đã dành quá nhiều thời gian vào việc sử dụng TTXH, không có sự điều tiết hoặc mục đích sử dụng không rõ ràng Một số ít sinh viên phải chịu những hậu quả khá nghiệm trọng như kết quả học tập

sa sút, sức khỏe giảm đi Một bộ phận sinh viên khác đang sống với thế giới ảo của TTXH mà quên đi cuộc sống hiện thực, thậm chí tâm lí tránh né đời sống thực cũng hình thành trong họ (Nguyễn Thị Hậu, 2010)

TTXH là nơi mà thông tin, hình ảnh được truyền tải một cách nhanh chóng nên rất dễ dàng để các thành viên khác có thể tìm kiếm, xem, bình luận và chia sẻ Nếu những hình ảnh, thông tin tiêu cực đây sẽ trở thành một trong những vấn đề lớn cho

cá nhân hoặc tổ chức Không những vậy, vấn nạn khủng bố qua tin nhắn, lừa đảo, bị hack, thậm chí là những vấn đề ảnh hưởng đến uy tín cá nhân tồn tại Đặc biệt, các hình ảnh, video có nội dung không lành mạnh sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách và lối sống của giới trẻ

TTXH là nơi chia sẻ những quan điểm cá nhân nên đa phần những thông tin chưa được kiểm duyệt, đã mang lại nhiều hậu quả cho những người sử dụng chúng, đặc biệt là đăng tải những thông tin không đúng sự thật, nguy hại cho xã hội, quốc gia sẽ bị xử trí theo pháp luật Hiện tượng này diễn ra khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong việc đăng tải thông tin không đúng về tin tức của đại dịch COVID-19 là minh chứng cụ thể

Qua đó cho thấy, TTXH đang góp phần phát triển xã hội trên nhiều phương diện khác nhau Giá trị tích cực, lợi ích to lớn mà chúng mang lại được công chúng đón nhận TTXH đang làm phát triển kinh tế, thay đổi văn hóa, một số chuẩn mực đạo đức của xã hội Tuy nhiên, một số vấn nạn không mong muốn cũng tồn tại song

Trang 37

song Nó ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận người dùng nếu họ chưa có nhận thức đúng đắn, phương thức sử dụng hợp lý, đặc biệt là giới trẻ

1.3.3 Các loại hình truyền thông xã hội

Do chưa có sự thống nhất trong việc xác định nội hàm của khái niệm TTXH nên chúng được phân loại theo nhiều cách khác nhau

Theo Kennedy và cộng sự (2007) đã phân chia TTXH thành các nhóm sau:

Mạng xã hội (Social networking sites); Blogs; Microblogs; các trang chia sẻ nội dung

(Content sharing sites); các trang đánh dấu xã hội (Social bookmaking sites), Wikis,

Podcasts và Forums Cách phân chia này cũng được các tác giả khác đồng tình như Levy (2009), Richardson (2009) Dựa vào tiêu chí chức năng của TTXH mà các tác giả đã phân ra thành các nhóm như trên

Theo Lee E (2013), TTXH được phân thành năm nhóm chính sau đây: Mạng

xã hội (Social networking sites); Tin tức xã hội (Social news); Các trang chia sẻ phương tiện truyền thông (Media sharing sites); Blogs và Micro blogging Mặc dù,

tác giả cũng phân chia dựa trên chức năng của TTXH, nhưng những chức năng có sự trùng lặp, gần giống nhau sẽ được gom thành nhóm

Theo Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, truyền thông xã hội bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn, trò chuyện, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác Qua đó cho thấy cách phân nhóm các loại hình truyền thông xã hội chưa có sự thống nhất cao Với nguồn lực và thời gian hạn chế, chúng tôi chỉ thực hiện nghiên cứu trên hai loại hình TTXH sau: Mạng xã hội và các trang chia sẻ nội dung Chúng tôi lựa chọn hai loại hình này bởi vì có rất nhiều người đã và đang sử dụng

a) Mạng xã hội

Mạng xã hội (Social networking sites - SNS) là hệ thống truyền thông trực tuyến

cho phép người dùng xây dựng các trang cá nhân dùng để giao tiếp, chia sẻ nội dung với nhau (Constantinides, 2009) Willard (2009) cho rằng: “các trang truyền thông

xã hội cho phép người dùng chia sẻ ý tưởng, hoạt động, sự kiện và sở thích trong mạng lưới riêng của họ” Với những tính năng vượt trội, số lượng người tham gia các trang mạng xã hội ngày càng gia tăng Chỉ tính riêng ở Việt Nam, năm 2019 số

Trang 38

lượng người sử dụng các trang mạng xã hội được sắp xếp từ cao đến thấp như sau: Facebook, Zalo, Twitter, LinkedIn và Printerest(Hoàng Lâm, 2019) Trong luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 04 mạng xã hội có số lượng người Việt Nam tham gia nhiều nhất là: Facebook, Zalo, Twitter và LinkedIn

cho sinh viên trường Đại học Havard sử dụng Trong thời gian ngắn nó đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và mang tính toàn cầu Hơn thế nữa, Facebook là đại diện cho hầu hết tất cả các trang mạng xã hội với số lượng người sử dụng đông đảo nhất (Peters et al., 2013) Ứng dụng cho phép người sử dụng đăng tải những cảm nghĩ, hình ảnh, video… trên trang cá nhân khi người dùng đăng ký tài khoản Người dùng

có thể kết nối bạn bè, nhắn tin, thích, theo dõi, chia sẻ những thông tin, nội dung từ những trang web khác

Vinagame Mặc dù được phát triển ở Việt Nam nhưng nó được tích hợp đầy đủ các tính năng cho người dùng trải nghiệm Cũng như Facebook, Zalo cho phép người dùng có thể nhắn tin, gọi điện, trò chuyện cùng bạn bè một cách miễn phí ở bất cứ đâu Hơn thế nữa, người dùng có thể đăng tải các dòng trạng thái kèm theo hình ảnh

và một số tính năng mở rộng khác Mặc dù ra đời vào năm 2012 nhưng cho đến nay, Zalo đã có một vị trí nhất định tại Việt Nam và một số nước trên thế giới cũng đã và đang sử dụng mạng xã hội này như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc1 …

đoạn thông tin ngắn bằng văn bản và nó chỉ cho phép đăng tải tối đa 140 ký tự Trong

xu thế phát triển nhanh chóng của các việc mua sắm trực tuyến, Twitter còn cho phép người sử dụng để quảng bá kinh doanh một cách mạnh mẽ thông qua các Tweets Mặt khác, Twittter có thể được sử dụng cho các cuộc thảo luận mang tính chính trị

- LinkedIn là một trong những trang mạng xã hội chuyên nghiệp (professional

kinh doanh, chia sẻ kinh nghiệm, sơ yếu lý lịch của họ và tìm việc làm Nó hoạt động

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/Zalo, truy cập 08/04/2020

Trang 39

dựa trên các nguyên tắc kết nối bạn bè, đăng tải những trạng thái, chia sẻ, thích và nhắn tin cho người dùng khác Sự khác biệt rõ nhất so với các mạng xã hội khác là LinkedIn kết nối người dùng với cộng đồng nghề nghiệp, đây là cơ hội cho những người muốn tìm kiếm việc làm Hiện nay, LinkedIn cung cấp cho người dùng 02 loại tài khoản: miễn phí và trả phí Tài khoản trả phí có thêm một số tính năng bổ sung như các lớp trực tuyến, cho phép người dùng biết được những người đã xem qua hồ

sơ cá nhân và nhắn tin bất kỳ ai kể cả người đó chưa nằm trong danh sách kết nối bạn bè2

b) Trang chia sẻ nội dung

Trang chia sẻ nội dung (Content sharing sites) là các website có thể lưu trữ và chia sẻ các nội dung đa phương tiện Chúng cho phép người dùng có thể tạo và chia

sẻ nhiều loại nội dung khác nhau như video, music, photo … (Anderson, 2007) Các trang chia sẻ nội dung được nhiều người biết đến như Youtube, Instagram, Flickr, Snapchat, Tiktok … Riêng ở Việt Nam, hai loại phổ biến nhất là Youtube, Instagram Trong luận văn, tác giả tiếp cận 04 loại sau: Youtube, Instagram, Flickr và Snapchat

vì sự phổ biến của những loại hình này trên thế giới cũng như tại Việt Nam

chính thức vào năm 2005 và đạt gần 50 triệu người tham gia chỉ trong vòng 1 năm

Nó cho phép người dùng xem, tải lên, xếp hạng, chia sẻ, nhận xét … Nó cung cấp nhiều loại video do những tổ chức hoặc cá nhân tạo ra thuộc nhiều thể loại khác nhau như video âm nhạc, chương trình Tivi, phim (phim ngắn, phim tài liệu, giới thiệu phim …), những đoạn video được phát trực tiếp

thuộc sở hữu của tập đoàn Facebook Ứng dụng cho phép người dùng có thể tải hình ảnh hoặc video được tổ chức bằng các thẻ (tag) và thông tin vị trí Bài viết được đăng trên Instagram có thể được chia sẻ công khai hoặc chỉ với những người trong danh sách bạn bè Người dùng có thể xem nội dung của người dùng khác theo thẻ, vị trí

và có thể thích ảnh, theo dõi những người dùng khác

2 https://www.businessinsider.com/what-is-linkedin

Trang 40

- Flickr là một dịch vụ lưu trữ hình ảnh và video Người dùng có thể xem hình

ảnh và video trên trang Flickr khi không cần đăng ký Đăng ký tài khoản, Flickr cho phép người dùng tạo một hồ sơ cá nhân để chứa hình ảnh và video do người dùng tải lên Hơn nữa, ứng dụng còn cho phép thêm bạn bè vào danh sách liên hệ Flickr cũng cung cấp 02 loại tài khoản: miễn phí và trả phí Đối với tài khoản miễn phí chỉ cho phép lưu trữ tối đa 1000 ảnh và các video có độ dài không quá 03 phút Những giới hạn này được loại bỏ trên tài khoản trả phí Flickr cho phép người dùng có thể yêu thích, bình luận, theo dõi … những hình ảnh, video của những người dùng khác

gửi và nhận ảnh và video nhạy cảm với thời gian hết hạn khi xem (Stec, 2015) Số lượng người dùng Snapchat đã tăng đáng kể trong những năm gần đây vì khả năng ghi lại và phương thức thanh toán Người dùng có thể giao tiếp với người khác thông qua hình ảnh, video Đồng thời, một số tính năng như bộ lộc ảnh và video được Snapchat phát triển và bổ sung vào những năm gần đây Ước tính gần đây cho thấy

có hơn 100 triệu người dùng Snapchat trên toàn thế giới Với khoảng một phần tư thanh niên (18 tuổi 29 tuổi) sử dụng Snapchat, nền tảng này được đánh giá là phổ biến thứ ba nền tảng truyền thông xã hội sau Facebook và Instagram (Duggan, 2013)

1.3.4 Lý thuyết sử dụng và hài lòng

Từ khi truyền thông xuất hiện, có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu về chúng như

lý thuyết sử dụng và sự hài lòng (Uses and Gratifications theory), lý thuyết sự phụ thuộc vào phương tiện truyền thông (Media dependency theory), lý thuyết về mô hình chấp nhận công nghệ (Technology acceptance model theory), lý thuyết sử dụng công nghệ (Technological uses theory)… Với mục tiêu nghiên cứu hành vi truyền

thông xã hội nên luận văn tiếp cận lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses and gratification theory) Chúng tôi lựa chọn lý thuyết này để nghiên cứu với những lý

Ngày đăng: 28/04/2021, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w