TÓM TẮT LUẬN ÁN TIÊU ĐỀ: Sự ưa thích rủi ro, nhận thức, hành vi sử dụng thuốc Bảovệ thực vật và sức khỏe của người trồng lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long TÓM TẮT: Luận án thực hiện ba mục t
Trang 1SỬ THỊ THU HẰNG
SỰ ƯA THÍCH RỦI RO, NHẬN THỨC, HÀNH VI SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI TRỒNG LÚA Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, Năm 2021
Trang 3SỬ THỊ THU HẰNG
SỰ ƯA THÍCH RỦI RO, NHẬN THỨC, HÀNH VI SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI TRỒNG LÚA Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 9310105 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI 2.TS LÊ THANH LOAN
TP Hồ Chí Minh, Năm 2021
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu này do chính tác giả thực hiện với sự định hướng và giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn Luận án sử dụng một phần dữ liệu từ đề tài nghiên cứukhoa học cấp bộ Mã số đề tài B2018-KSA-18, năm 2018-2020 có kinh phí nghiêncứu do Bộ Giáo dục và Đào tạo và trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh tài trợ.Tác giả là thư ký đề tài, có tham gia đầy đủ các hoạt động khảo sát và phân tích sốliệu
Các thông tin và dữ liệu tham khảo khác đều được trích dẫn và ghi nguồn cụthể trong danh mục tài liệu tham khảo
Người cam đoan
Sử Thị Thu Hằng
Trang 6.MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các Bảng viii
Danh mục các hình, biểu đồ x
Tóm tắt luận án xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.1.1 Sản xuất lúa tại Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long 1
1.1.2 Thực trạng sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật tại Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long 3
1.1.3 Tình hình thực hiện IPM tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 5
1.1.4 Sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân 7
1.1.5 Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật tới sức khỏe của người tiếp xúc 8
1.2 Phân tích khoảng trống nghiên cứu kinh tế về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 9 1.2.1 Đo lường sự ưa thích rủi ro của người nông dân 9
1.2.2 Đo lường nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân 10
1.2.3 Tác động của sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đối với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 11
1.2.4 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe của người tiếp xúc 12
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 14
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 14
Trang 71.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 15
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 15
1.5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 16
1.6 Kết cấu luận án 17
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 19
2.1 Khái niệm 19
2.1.1 Thuốc BVTV và phân loại thuốc BVTV 19
2.1.2 Rủi ro và sự ưa thích rủi ro 21
2.1.3 Nhận thức và nhận thức về rủi ro 22
2.1.4 Người tiếp xúc với thuốc BVTV 22
2.2 Cơ sở lý thuyết về đo lường sự ưa thích rủi ro 23
2.2.1 Lý thuyết lợi ích kỳ vọng và đo lường hệ số sự ưa thích rủi ro 23
2.2.2 Lý thuyết triển vọng 25
2.3 Lý thuyết hành vi người nông dân 28
2.3.1 Người nông dân với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận 28
2.3.2 Nông dân tối đa hóa lợi ích 30
2.4 Lý thuyết nhận thức - hành vi 31
2.5 Tác động của thuốc BVTV đến chi phí sức khỏe người tiếp xúc và ứng dụng của hàm chi phí sức khỏe 33
2.6 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài 35
2.6.1 Các phương pháp đo lường sự ưa thích rủi ro 35
2.6.2 Phương pháp đo lường nhận thức 42
2.6.3 Tác động của sự ưa thích rủi ro và nhận thức tới lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng 44
2.6.4 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến chi phí sức khỏe của người tiếp xúc 47
Trang 8CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
3.1 Khung phân tích của nghiên cứu 50
3.2 Đo lường sự ưa thích rủi ro 52
3.2.1 Thiết kế trò chơi 52
3.2.2 Cách thức tiến hành trò chơi 54
3.2.3 Tính toán hệ số sự ưa thích rủi ro 55
3.3 Đo lường nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV 57
3.4 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của sự ưa thích rủi ro và nhận thức đến lượng thuốc BVTV sử dụng 59
3.4.1 Mô hình nghiên cứu 59
3.4.2 Phương pháp đo lường các biến trong mô hình 61
3.5 Tác động của thuốc BVTV đến sức khỏe của người tiếp xúc và chi phí sức khỏe 64
3.5.1 Xác định biến số hàm chi phí sức khỏe 64
3.5.2 Mô hình phân tích tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến chi phí sức khỏe 66
3.6 Quy trình nghiên cứu và chọn mẫu 70
3.6.1 Các bước trong quy trình nghiên cứu 70
3.6.2 Kích thước mẫu 71
3.6.3 Chọn mẫu 72
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA VÀ SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 74
4.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tại Đồng bằng sông Cửu Long 74
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 74
4.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long 76
4.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long 78
4.3 Thực trạng sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long 80
Trang 94.3.1 Diện tích gieo trồng và sản lượng lúa 80
4.3.2 Tình hình giống lúa được sử dụng và mùa vụ 83
4.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại đồng bằng sông Cửu Long 84
4.4.1 Tình hình sâu bệnh trên cây lúa tại địa bàn nghiên cứu 84
4.4.2 Thực trạng quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại địa bàn nghiên cứu 87
4.4.3 Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại địa bàn nghiên cứu 91
CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 106
5.1 Đặc điểm nhân khẩu học của các hộ được điều tra 106
5.2 Kết quả đo lường sự ưa thích rủi ro 108
5.2.1 Kết quả lựa chọn các tình huống 108
5.2.2 Sự ưa thích rủi ro phân theo độ tuổi 110
5.2.3 Sự ưa thích rủi ro và lượng thuốc BVTV sử dụng 111
5.3 Kết quả đo lường nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 112
5.4 Tác động của sự ưa thích rủi ro, nhận thức rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đến lượng thuốc BVTV sử dụng 115
5.4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 115
5.4.2 Kết quả hồi quy mô hình 116
5.5 Tác động của thuốc BVTV đến chi phí sức khỏe của người nông dân 119
5.5.1 Tình hình thuê mướn phun thuốc 119
5.5.2 Các loại bệnh của người nông dân liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật tại địa bàn nghiên cứu 120
5.5.3 Thực trạng sử dụng các biện pháp bảo vệ của các hộ nông dân 122
5.5.4 Tình hình chi phí sức khỏe của người tiếp xúc 124
5.5.5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 126
5.5.6 Kết quả hồi quy mô hình 127
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 131
6.1 Kết luận 131
Trang 106.1.1 Sự ưa thích rủi ro và nhận thức của người nông dân về rủi ro khi sử dụng
thuốc BVTV 131
6.1.2 Tác động của sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng 131
6.1.3 Tác động của lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đến chi phí sức khỏe của người tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật 132
6.2 Hàm ý chính sách 133
6.2.1 Nâng cao nhận thức cho người nông dân 133
6.2.2 Quản lý các cơ sở sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật 134
6.2.3 Nâng cao hiệu quả tập huấn 135
6.2.4 Tác động đến giá thuốc bảo vệ thực vật 136
6.2.5 Tuyên truyền sử dụng các biện pháp bảo vệ khi phun và pha thuốc 136
6.3 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 139
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤ LỤC 1 BẢNG CÂU HỎI 152
PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ HỒI QUY 164
PHỤ LỤC 3 DANH SÁCH CHUYÊN GIA VÀ NÔNG DÂN THAM GIA PHỎNG VẤN 168
PHỤ LỤC 4 DANH MỤC CÁC CÂU HỎI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA VÀ CÁC HỘ NÔNG DÂN 169
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GRDP Tổng sản phẩm quốc nội của tỉnh
IPM Integrated Pests Management - Quản lý dịch hại tổng hợp
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TCTK Tổng cục thống kê
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nhập khẩu thuốc BVTV và nguyên liệu tại Việt Nam 3
Bảng 2.1 Bảng phân chia độ độc của thuốc BVTV theo WHO 20
Bảng 3.1 Phương án trả thưởng trong trò chơi xổ số 53
Bảng 3.2 Kết quả tính toán giá trị hệ số sự ưa thích rủi ro 57
Bảng 3.3 câu hỏi đo lường nhận thức 59
Bảng 3.4 Định nghĩa và dấu kỳ vọng của các biến 61
Bảng 3.5 Các biến số mô hình chi phí sức khỏe 67
Bảng 3.6 Cỡ mẫu phân bổ theo xã 72
Bảng 4.1 Tình hình lao động tại Đồng bằng Sông Cửu Long 77
Bảng 4.2 Diện tích đất nông nghiệp của các vùng trong cả nước 78
Bảng 4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Đồng bằng Sông Cửu Long 79
Bảng 4.4 Quy mô đất sản xuất nông nghiệp và đất lúa bình quân hộ 80
Bảng 4.5 Diện tích trồng lúa tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long 82
Bảng 4.6 Sản lượng lúa cả năm của các tỉnh tại Đồng bằng Sông Cửu Long 83
Bảng 4.7 Tần suất sử dụng một số giống lúa phổ biến 84
Bảng 4.8 Số vụ trồng lúa của các hộ nông dân 84
Bảng 4.9 Tình hình sâu bệnh tại Vĩnh Long 86
Bảng 4.10 Số lần phun trong năm của các hộ 91
Bảng 4.11 Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng phân theo loại thuốc 92
Bảng 4.12 Lượng thuốc BVTV sử dụng phân theo loại thuốc các Tỉnh 93
Bảng 4.13 Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng phân theo độ độc của WHO 94
Bảng 4.14 Lượng thuốc BVTV phân theo độ độc của các tỉnh 96
Bảng 4.15 Tình hình tuân thủ liều lượng của các hộ nông dân 98
Bảng 4.16 Mức độ thường xuyên tiếp cận thông tin 99
Bảng 4.17 Mức độ tin cậy các nguồn thông tin 100
Bảng 5.1 Đặc điểm nhân khẩu học của các hộ được điều tra 107
Bảng 5.2 Kết quả lựa chọn các tình huống 109
Bảng 5.3 Giá trị trung bình sự ưa thích rủi ro giữa các tỉnh 110
Trang 13Bảng 5.4 Sự ưa thích rủi ro phân theo nhóm tuổi 111
Bảng 5.5 Lượng thuốc BVTV sử dụng phân theo ba nhóm ưa thích rủi ro 111
Bảng 5.6 Câu trả lời của người nông dân về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV 113
Bảng 5.7 Nhận thức của nông dân về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật114 Bảng 5.8 Điểm trung bình nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV 115
Bảng 5.9 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 116
Bảng 5.10 Kết quả hồi quy OLS 117
Bảng 5.11 Tình hình thuê mướn phun thuốc của các hộ nông dân 120
Bảng 5.12 Các loại bệnh mà người nông dân mắc phải 121
Bảng 5.13 Tình hình sử dụng các biện pháp bảo vệ 122
Bảng 5.14 Chi phí sức khỏe phân theo nhóm bệnh 124
Bảng 5.15 Chi phí sức khỏe phân theo nhóm bệnh của các tỉnh 125
Bảng 5.16 Chi phí sức khỏe trung bình của các tỉnh 126
Bảng 5.17 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 127
Bảng 5.18 Kết quả hồi quy mô hình chi phí sức khỏe 128
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU Đ
Trang 14Hình 2.1 Sự ưa thích rủi ro 24
Hình 2.2 Hàm giá trị giả thuyết 25
Hình 2.3 Hàm trọng số lý thuyết 26
Hình 2.4 Sử dụng tối ưu một yếu tố đầu vào 28
Hình 2.5 Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối 29
Hình 2.6 Lý thuyết nhận thức hành vi 32
Hình 3.1 Khung phân tích của nghiên cứu 51
Hình 4.1 Bản đồ sử dụng đất nông nghiệp tại Đồng bằng Sông Cửu Long 75
Hình 4.2 Bộ máy quản lý nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam 87
Hình 4.3 Các thùng rác để nông dân bỏ rác thải nông nghiệp 103
Hình 4.4 Vỏ thuốc bị người dân vứt trực tiếp ra ruộng 104
Hình 4.5 Vỏ thuốc bị người dân vứt trong vườn 104
Biểu đồ 1.1 Diện tích lúa cả năm phân chia theo vùng 2
Biểu đồ 1.2 Sản lượng lúa cả năm phân theo vùng 2
Biểu đồ 4.1 Tỷ trọng diện tích trồng lúa của các vùng 81
Biểu đồ 4.2 Thuốc bảo vệ thực vật sử dụng phân theo độ độc vụ Hè Thu 94
Biểu đồ 4.3 Thuốc BVTV sử dụng theo độ độc vụ Đông Xuân 2019 95
Biểu đồ 4.4 Thuốc bảo vệ thực vật sử dụng theo độ độc vụ Thu Đông 2018 95
Biểu đồ 4.5 Tình hình phun theo chiều gió của nông dân 102
Biểu đồ 5.1 Tỷ lệ tham gia hợp tác xã 107
Trang 15TÓM TẮT LUẬN ÁN TIÊU ĐỀ: Sự ưa thích rủi ro, nhận thức, hành vi sử dụng thuốc Bảo
vệ thực vật và sức khỏe của người trồng lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long
TÓM TẮT:
Luận án thực hiện ba mục tiêu nghiên cứu, đầu tiên, đo lường sự ưa thíchrủi ro bằng phương pháp danh sách giá tổng hợp (multiple price list -MLP),phương pháp này được thực hiện bằng việc thiết kế trò chơi xổ số, đo lường nhậnthức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV bằng danh mục các câu hỏi Kế tiếp, luận
án phân tích tác động của sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro đến lượngthuốc BVTV sử dụng bằng hồi quy OLS Cuối cùng, luận án nghiên cứu hành vi
sử dụng thuốc BVTV của các hộ nông dân và ước lượng tác động của lượngthuốc BVTV sử dụng đến chi phí sức khỏe của người nông dân bằng phươngpháp hồi quy Tobit
Kết quả cho thấy nông dân là những người không ưa thích rủi ro, và họ cónhận thức khá tốt về những rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV Những người không
ưa thích rủi ro có xu hướng sử dụng thuốc BVTV nhiều hơn, những người cónhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV cao có xu hướng sử dụng thuốcBVTV ít càng thấp Tăng giá thuốc BVTV sẽ làm cho người nông dân sử dụngthuốc BVTV ít hơn Thông tin từ đại lý bán thuốc là nguồn người nông dân tiếpcận nhiều nhất và đáng tin cậy nhất Nghiên cứu cũng cho thấy thuốc trừ sâu ảnhhưởng mạnh nhất đến chi phí sức khỏe, kế đến là thuốc bệnh và cuối cùng làthuốc khác Việc sử dụng các biện pháp bảo vệ cũng giúp người nông dân giảmchi phí sức khỏe Do đó để sử dụng thuốc BVTV hiệu quả, giảm ảnh hưởng đếnchi phí sức khỏe thì cần quản lý các đại lý bán thuốc, tác động đến giá thuốcBVTV, nâng cao nhận thức của người nông dân trong việc sử dụng thuốc và cácbiện pháp bảo vệ thông qua các buổi tập huấn
Từ khóa: Sự ưa thích rủi ro, nhận thức, thuốc BVTV, sức khỏe, Đồng
bằng sông Cửu Long
Trang 16DISSERTATION TITLE: Risk preference, perception, behavior of pesticides and health of rice farmers in the Mekong Delta
Results show that farmers are risk-averse, and they are quite aware of therisks in using pesticides Risk-averse people tend to use more pesticides, and thepeople with high risk perceptions in using pesticide tend to use less pesticides.Increasing pesticide prices will make farmers use less pesticides Informationfrom pesticides salers is the most accessible and most reliable source of farmers.Research also shows that Insecticides have the strongest impact on health costs,followed by fungicides and finally, other pesticides Using protective measuresalso helps the farmer reduce health costs Therefore, in order to use pesticideseffectively, reduce the impact on health costs, it is necessary to managepesticides salers, affect the price of pesticides, raise farmers' awareness in usingpesticides and protective measures through training sessions
Key words: Risk preference, risk perception, pesticides, health, Mekong
Delta
Trang 17CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
1.1.1 Sản xuất lúa tại Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long
Lúa là cây trồng đóng vai trò chủ đạo trong nông nghiệp tại Việt Nam.Diện tích canh tác lúa luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng diện tích cây trồnghàng năm Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (TCTK) năm 2018, từ năm
2013 đến năm 2018, diện tích trồng lúa luôn chiếm trên 65% tổng diện tích câytrồng hàng năm Sản lượng lúa của Việt Nam hằng năm đều tăng, tuy nhiên mứctăng không cao Năm 2012, sản lượng lúa là 43,74 triệu tấn, đến năm 2018 đạtgần 44 triệu tấn (TCTK, 2018) Năm 2017, sản lượng xuất khẩu gạo của ViệtNam là 5,887 triệu tấn, tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,661 tỷ USD, tăng 22,4% sovới năm 2016 (Bộ NN&PTNT, 2017a), là nước có sản lượng xuất khẩu gạo đứngthứ ba thế giới, sau Thái Lan và Ấn Độ
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất Việt Nam với 54% đến 55% tổng diện tíchtrồng lúa và 56 đến 57% tổng sản lượng lúa của cả nước giai đoạn 2014-2019(TCTK, 2020) Diện tích và sản lượng lúa của ĐBSCL có cùng xu hướng diễnbiến của cả nước Mặc dù diện tích và sản lượng lúa của ĐBSCL giảm bình quânhàng năm lần lượt là 0,86% và 0,77% giai đoạn 2014-2019; tuy nhiên, năng suấtlúa tăng bình quân hằng năm 0,09% trong cùng giai đoạn (TCTK, 2020) Năm
2019, diện tích gieo trồng của ĐBSCL là 4.070 ngàn ha với sản lượng 24,28 triệutấn
Bên cạnh đó, ĐBSCL cũng là vùng có sản lượng xuất khẩu gạo lớn nhất cảnước Năm 2017, xuất khẩu gạo của khu vực ĐBSCL đạt 5,5 triệu tấn, đạt kimngạch 2,49 tỷ USD, chiếm hơn 93% trong tổng kim ngạch xuất gạo cả nước(TCTK, 2018) Các lý do trên khẳng định vị trí và tầm quan trọng của ĐBSCLtrong nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam Do đó, nghiên cứu về việc canh táccây lúa tại ĐBSCL không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn tolớn Biểu đồ 1.1 và Biểu đồ 1.2 thể hiện sự biến động về diện tích trồng lúa cảnăm và sản lượng lúa cả năm của các vùng
Trang 182012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 0.00
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Biểu đồ 1.1 Diện tích lúa cả năm phân chia theo vùng
Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Biểu đồ 1.2 Sản lượng lúa cả năm phân theo vùng
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018
Trang 191.1.2 Thực trạng sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật tại Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long
1.1.2.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng từ những năm
40 của thế kỷ 20 nhằm bảo vệ cây trồng Từ năm 2013 đến năm 2015, mỗi nămViệt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần so vớigiai đoạn trước năm 19851 (Tổng cục Môi trường, 2015) Các loại thuốc BVTV
mà Việt Nam đang sử dụng có độ độc cao, nhiều loại thuốc đã lạc hậu (Tổng cụcMôi trường, 2015) Các loại thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam bao gồmnhóm độc I (11,8-22%), nhóm độc II (40-58,8%), nhóm độc III (11-30%), vànhóm độc IV (10-17%) (Nguyên Khôi, 2016) Hầu hết thuốc BVTV sử dụng ởViệt Nam đều nhập khẩu từ nước ngoài, từ các nước: Trung Quốc (số lượng lớnnhất), Đức, Singapore, Ấn Độ, Thái Lan và một số quốc gia khác Tình hình nhậpkhẩu các loại thuốc BVTV được thể hiện qua Bảng 1.1
Bảng 1.1 Nhập khẩu thuốc BVTV và nguyên liệu tại Việt Nam
so với năm 2016 Như vậy, việc sử dụng thuốc BVTV của Việt Nam có xuhướng tăng Việc sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam vẫn còn lạm dụng thuốcBVTV rất nhiều Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,thuốc BVTV của Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc Trong tháng
1Trước 1985, lượng hóa chất BVTV sử dụng hàng năm khoảng 6.500 – 9.000 tấn
Trang 2011/2017, giá trị thuốc BVTV và nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc là461,443 ngàn USD, chiếm 52,6% trong tổng lượng thuốc nhập khẩu tháng 11 vàtăng 48,9% so với cùng kỳ năm 2016 (Bộ NN&PTNT, 2017)
Thông tư 03/2018/TT-BNNPTNT quy định danh mục thuốc bảo vệ thựcvật được phép sử dụng trong nông nghiệp tại Việt Nam gồm 1.736 hoạt chất (BộNN&PTNT, 2018) Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam về việc sử dụngthuốc bảo vệ thực vật cho thấy, việc sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam chưađúng phương pháp, chưa có sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương(Trần Thị Ngọc Lan và cộng sự, 2014; Trần Thị Ngọc Lan, 2016; Phan VănToàn, 2013) Có tới 80% thuốc BVTV đang được sử dụng không đúng cách,không cần thiết và rất lãng phí (Nguyên Khôi, 2016) Do đó, cần thiết phải hiểuđược nhận thức cũng như hành vi của các nông dân trong việc sử dụng thuốcBVTV Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp để giảm thiểu tình trạnglạm dụng thuốc BVTV, dùng sai cách, quá liều như thực trạng nêu trên
1.1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tại ĐBSCL, thuốc BVTV được các nông dân sử dụng phổ biến Tuynhiên, việc sử dụng thuốc BVTV tồn tại nhiều vấn đề bất cập Nông dân ít sửdụng các thiết bị bảo hộ khi phun thuốc, chủ yếu đeo khẩu trang và đội nón Cácbiện pháp bảo hộ khác khi tiếp xúc với thuốc BVTV cũng ít được sử dụng (PhanVăn Toàn, 2013) Mặc dù nông dân nhận thức được tác hại của thuốc BVTV,nhưng họ vẫn không mặc quần áo bảo hộ theo khuyến cáo của tổ chức y tế thếgiới (WHO) Lý do xuất phát từ việc họ cảm thấy không thoải mái khi mặc đồbảo hộ trong điều kiện khí hậu tại địa phương (Huỳnh Việt Khải, 2014)
Về tính độc của thuốc BVTV được sử dụng, nông dân ĐBSCL thường sửdụng các loại thuốc có độ độc loại II và III (theo phân loại của WHO) ThuốcBVTV không được sử dụng hợp lý về tần suất, thời gian, liều lượng và khôngđảm bảo an toàn trong việc bảo quản Ngoài ra, việc chất thải rắn và lỏng từ quátrình sử dụng thuốc thường không được quản lý, xử lý đúng cách ở đồng ruộng
Trang 21và ở nơi cất giữ Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ngườiphun thuốc, mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống và các loại động thực vật cólợi khác (Phan Văn Toàn, 2013).
Hàng năm ở ĐBSCL, nông dân sử dụng hàng ngàn tấn thuốc BVTV.Trung bình, nông dân phun thuốc từ 5 đến 8 lần/vụ Với lượng thuốc đó, lượngbao bì, vỏ thuốc tương ứng khoảng 4 đến 5kg/1ha Tình trạng vứt bừa bãi cácchai lọ đựng thuốc BVTV đã sử dụng xuống kênh rạch, bờ sông, bờ ruộng, tạonên tình trạng ô nhiễm môi trường (Quốc Trung, 2018) Sử dụng thuốc BVTVquá mức cần thiết cũng là một vấn đề Theo thống kê, mỗi năm tại ĐBSCL cókhoảng 210 tấn thuốc diệt cỏ, 1.224 tấn thuốc trừ sâu, 4.245 tấn hoạt chất thuốcdiệt nấm bị lãng phí hoặc sử dụng không hợp lí trong sản xuất lúa (World Bank,
2017 trích trong Dương Đình Tường, 2018)
1.1.3 Tình hình thực hiện IPM tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management – IPM) là biệnpháp cân nhắc một cách cẩn thận tất cả các kỹ thuật phòng trừ dịch hại sẵn có,phối hợp các biện pháp phù hợp để giảm mật độ dịch hại, chỉ sử dụng thuốcBVTV khi quần thể dịch hại tới ngưỡng kinh tế nhằm giảm thiểu nguy cơ đếnsức khỏe của người, động vật và môi trường (Cục bảo vệ thực vật, 2016) Tại khuvực ĐBSCL, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đầu tư 3,04 triệu USD(tương đương 62,907 tỷ đồng) từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB)
để thực hiện Chương trình IPM trên cây lúa tại 7 tỉnh trọng điểm sản xuất nôngnghiệp ĐBSCL: An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, BạcLiêu và Cà Mau Thời gian thực hiện từ cuối thập niên 1990 đến những năm
2000 (Minh Trí, 2013)
Mặc dù chương trình IPM được áp dụng từ lâu song chưa phát huy hếthiệu quả Trên thực tế, thuốc BVTV vẫn được sử dụng rất nhiều (Cục BVTV,2016) Một cuộc khảo sát nông dân và cửa hàng thuốc BVTV được thực hiện tại
5 huyện trồng lúa thuộc tỉnh Đồng Tháp cho thấy, chỉ một phần nhỏ nông dân áp
Trang 22dụng IPM (84% báo cáo họ không áp dụng), mặc dù đã qua các lớp IPM từnhững năm 1990, hầu hết nông dân phun thuốc khi không cần thiết Nông dânthường phun từ 7-10 lần/vụ, thường phun ngừa bệnh, hoặc khi phát hiện sâu hại.Bên cạnh đó cách phun của hộ nông dân hiện nay không an toàn và không hiệuquả, lượng thuốc phun vẫn cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế (CụcBVTV, 2016) Khảo sát của Phan Văn Toàn (2013) đối với các hộ nông dân ởĐBSCL cho thấy tỷ lệ hộ nông nghiệp áp dụng IPM rất thấp khoảng 15% Điềunày cho thấy việc áp dụng IPM chưa được người nông dân chú trọng Ngườinông dân ít áp dụng IPM do một số nguyên nhân: họ không được tham gia cáclớp IPM chính thức, rủi ro khi áp dụng kỹ thuật IPM lên thửa ruộng của mình khikhông có sự áp dụng IPM ở các thửa ruộng xung quanh, sự phụ thuộc vào hóachất do những tác động từ người bán thuốc (Phan Văn Toàn, 2013) Bên cạnh đó,các chương trình IPM trước đây không quan tâm nhiều đến nhận thức, hiểu biếtcủa các hộ nông dân, nên mức độ hiểu biết về thuốc BVTV của các hộ nông dânvẫn còn thấp Đây cũng có thể là nguyên nhân người nông dân không thực hiệnIPM, vẫn sử dụng thuốc BVTV một cách không an toàn và không hiệu quả.
Qua phân tích thực trạng về sử dụng thuốc BVTV và tình hình áp dụngIPM tại ĐBSCL cho thấy nông dân vẫn sử dụng thuốc BVTV quá nhiều, lãng phíkhông an toàn và không hiệu quả, không chú trọng thực hiện IPM Điều này gây
ra một số vấn đề về sức khỏe cho những người sử dụng thuốc BVTV Do đó việcnghiên cứu về sự tác động sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro đến lượngthuốc BVTV và tác động của lượng thuốc BVTV đến chi phí sức khỏe là mộtđiều rất cần thiết
1.1.4 Sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân
Trang 23Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho thấy, sự ưa thích rủi ro
có thể ảnh hưởng đến các quyết định của con người, kể cả trong lĩnh vực nôngnghiệp Sự ưa thích rủi ro ảnh hưởng đến việc quyết định của nông dân về giốngcây trồng được sử dụng (Nguyễn Thành Phú, 2016; Liu, 2013), lượng phân bón
sử dụng (Khor và cộng sự, 2018) hay là lượng thuốc BVTV sử dụng (Liu vàHuang, 2013) Đối với việc sử dụng thuốc BVTV, những người không ưa thíchrủi ro có xu hướng sử dụng thuốc BVTV nhiều hơn Họ cho rằng, nếu không sửdụng thuốc BVTV sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, ảnh hưởng đến thunhập của họ (Liu và Huang, 2013)
Như vậy, khi biết được sự ưa thích rủi ro của các hộ nông dân, chúng ta cóthể lý giải được hành vi sử dụng thuốc BVTV của họ Đây là yếu tố quan trọngtrong việc nghiên cứu hành vi của các hộ nông dân, giúp các nhà quản lý hiểuđược tại sao các hộ nông dân lại có xu hướng sử dụng thuốc BVTV nhiều hơnmức khuyến cáo Tuy nhiên, nghiên cứu về sự ưa thích rủi ro chủ yếu là cácnghiên cứu ở nước ngoài, tại Việt Nam còn khá ít Chưa có nhiều nghiên cứu ảnhhưởng của sự ưa thích rủi ro đến lượng thuốc BVTV sử dụng tại Việt Nam
Zhang và cộng sự (2016) cho rằng, nhận thức về rủi ro sức khỏe của ngườinông dân sẽ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thuốc BVTV của họ Các nghiêncứu của Huỳnh Việt Khải (2014), Jallow và cộng sự (2017), Migheli (2017) cũngcho thấy sự hiểu biết về các rủi ro, kiến thức của người nông dân trong quá trình
sử dụng thuốc BVTV sẽ tác động đến lượng thuốc BVTV được sử dụng Nhưvậy, tìm hiểu nhận thức của người nông dân về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTVđóng vai trò quan trọng trong trong việc lý giải hành vi sử dụng thuốc BVTV của
họ Bên cạnh đó, chúng ta có thể tác động nhận thức để thay đổi hành vi, giúpngười nông dân sử dụng thuốc BVTV một cách hợp lý và khoa học hơn Sự ưathích rủi ro là đặc điểm cá nhân của con người, chúng ta không thể can thiệp đểthay đổi nó Nhưng nhận thức về rủi ro thì có thể tác động vào để thay đổi nhậnthức bằng nhiều biện pháp Việc thay đổi nhận thức về rủi ro và đặc điểm cá
Trang 24nhân đối với sự ưa thích rủi ro sẽ tác động làm thay đổi lượng thuốc BVTV sửdụng.
Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu về sự ưa thích rủi ro và nhận thứcrủi ro khi sử dụng thuốc BVTV tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, xem xéttác động của cả hai yếu tố này đến lượng thuốc BVTV sử dụng là rất quan trọng
và cần thiết Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để đưa ra những giải phápthích hợp, nhằm hạn chế tối đa tình trạng sử dụng thuốc BVTV bất hợp lí, khôngđảm bảo an toàn tại khu vực này
1.1.5 Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật tới sức khỏe của người tiếp xúc
Thuốc BVTV có tác hại đối với môi trường sống và đối với sức khỏe củangười người tiếp xúc với thuốc Về môi trường sinh thái, sử dụng thuốc BVTVgây ô nhiễm đất, các hóa chất độc hại có thể thẩm thấu vào trong đất (Craven vàHoy, 2005) Hóa chất độc hại từ thuốc BVTV gây hại đến đất, thủy sản, thực vật,gây hại đến những động vật diệt sâu bệnh, làm cho sâu bệnh phá hoại mạnh thêm(Wilson và Tisdell, 2001) Về con người, những hóa chất độc hại trong thuốcBVTV có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiếp xúc (Aubert vàEnjolras, 2014) Độc tính của thuốc BVTV có thể gây ảnh hưởng ngay sau khitiếp xúc, hoặc sau một thời gian sau khi tiếp xúc Mức độ tác hại đến sức khỏephụ thuộc vào độ độc của thuốc BVTV Có những loại thuốc BVTV dù tiếp xúcmột lượng nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe Thuốcbảo vệ thực vật không những ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ thần kinh, bề mặt da,
mà còn ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn nếu nhiễm phải Người trực tiếp phun thuốc
dễ bị ảnh hưởng sức khỏe nhất do hít thở phải thuốc BVTV phát tán khi phunthuốc hoặc do bám dính trên bề mặt da (Phan Bích Ngân và Đinh Xuân Thắng,2006) Người phun thuốc có những biểu hiện như: nhức đầu, buồn nôn và cácvấn đề về da, tác động đến hệ thần kinh, gan và thận (Qiao và cộng sự, 2012).Việc tiếp xúc với thuốc BVTV có liên quan mật thiết với các bệnh ung thư nhưung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư trực tràng, ung thư tuyến tụy
Trang 25(Alavanja và Bonner, 2012) Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng và môi trườngViệt Nam, hàng năm có trên 5.000 trường hợp nhiễm độc hóa chất bảo vệ thựcvật phải cấp cứu tại bệnh viện, trong đó có hơn 300 trường hợp tử vong (QuốcTrung, 2018).
Như vậy, tác hại của thuốc BVTV đối với sức khỏe của người tiếp xúc làrất lớn Do đó, việc đánh giá tác động của thuốc BVTV tới sức khỏe của ngườitiếp xúc với thuốc BVTV là rất cần thiết, giúp người nông dân sử dụng thuốcBVTV một cách hợp lý, tránh sử dụng quá mức và không cần thiết
1.2 Phân tích khoảng trống nghiên cứu kinh tế về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
1.2.1 Đo lường sự ưa thích rủi ro của người nông dân
Rủi ro và sự không chắc chắn đóng vai trò quan trọng trong các quyết địnhkinh tế (Dohmen, 2011) Trong sản xuất nông nghiệp, sự ưa thích rủi ro có thểảnh hưởng đến quyết định các yếu tố đầu vào trong đó có thuốc BVTV Nôngdân phun thuốc BVTV chủ yếu để phòng dịch bệnh Họ cho rằng, nếu khôngphun thuốc BVTV thì sâu bệnh sẽ phá hủy mùa màng, ảnh hưởng đến thu nhậpcủa họ Như vậy, rủi ro mất mùa có thể làm cho nông dân sử dụng nhiều thuốcBVTV hơn Hiểu về sự ưa thích rủi ro giúp chúng ta hiểu được phần nào quyếtđịnh của các cá nhân trước một công việc cụ thể, đặc biệt là trong hoạt động sảnxuất nông nghiệp
Có rất nhiều phương pháp có thể được sử dụng để đo lường sự ưa thích rủi
ro Chẳng hạn, phương pháp danh sách giá tổng hợp, tức đo lường sự ưa thích rủi
ro thông qua trò chơi xổ số như nghiên cứu của Holt và Laury (2002), Tanaka vàcộng sự (2010), Dohmen và cộng sự (2011), Liu và Huang (2010) và nhiều tácgiả khác; phương pháp tự đánh giá được áp dụng trong nghiên cứu của Dohmen
và cộng sự (2011) và Coppola (2014), phương pháp đầu tư trong nghiên cứu củaGneezy và Potters (1997), Charness và Gneezy (2010) và phương pháp bongbóng hơi của Lejuez và cộng sự (2002) Một số tác giả kết hợp nhiều phương
Trang 26pháp đo lường sự ưa thích rủi ro để so sánh và phân tích Chẳng hạn, Nielsen vàcộng sự (2013) đã trình bày chín phương pháp khác nhau để đo lường sự ưa thíchrủi ro.
Ở Việt Nam hiện nay, các phương pháp đo lường rủi ro vẫn còn mới mẻ
và ít nghiên cứu đề cập đến Một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu liênquan đến sự ưa thích rủi ro của người nông dân nông thôn đối với lũ lụt của ĐứcAnh (2012), Trương Công Thanh Nghị (2016); nghiên cứu về sự ưa thích rủi rođối với các quyết định trong nông nghiệp của Nguyễn Thành Phú (2016), Khor
và cộng sự (2018) Như vậy, các nghiên cứu đo lường sự ưa thích rủi ro và ảnhhưởng của nó đến các quyết định trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam hiệnnay không nhiều Bên cạnh đó, mỗi phương pháp đo lường sự ưa thích rủi ro cónhững ưu và nhược điểm khác nhau Do đó, cần có một nghiên cứu sử dụngphương pháp đo lường sự ưa thích rủi ro phù hợp với đặc điểm và điều kiện củangười nông dân Việt Nam để đo lường một cách chính xác, định lượng được tácđộng của sự ưa thích rủi ro đến lượng thuốc BVTV sử dụng
1.2.2 Đo lường nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân
Nhận thức của người nông dân về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV ảnhhưởng trực tiếp đến hành vi sử dụng thuốc BVTV tại các hộ gia đình Do đó, việc
đo lường nhận thức đóng vai trò rất quan trọng Các nghiên cứu đo lường nhậnthức của người nông dân về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV của Wang (2017),Yassin và cộng sự (2002), Fan và cộng sự (2015), Zang và cộng sự (2016), Ali vàcộng sự (2018) đều sử dụng bảng câu hỏi để kiểm tra nhận thức của các hộ nôngdân Đây là phương pháp thích hợp và đúng đắn để đo lường nhận thức Thôngqua các câu trả lời của hộ nông dân, chúng ta hiểu được mức độ nhận thức của họ
về vấn đề mình muốn hỏi Các câu hỏi chủ yếu là câu hỏi đóng với hai dạng là có
- không, hoặc câu hỏi về mức độ đồng ý, giúp cho nông dân dễ dàng trả lời, tránhviệc trả lời qua loa đại khái
Trang 27Ở Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Việt Khải (2014) có đo lường nhậnthức của các hộ nông dân về các loại bệnh tật của cây lúa nhưng chưa đo lường
về nhận thức rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV Việc đo lường nhận thức trongnghiên cứu của Huỳnh Việt Khải cũng chỉ dừng lại ở câu hỏi có biết hay khôngchứ chưa có câu hỏi cụ thể về các kiến thức liên quan để kiểm tra Do đó cần cónghiên cứu tổng hợp đầy đủ những khía cạnh rủi ro về sức khỏe và rủi ro đối vớimôi trường xung quanh và đo lường một cách đầy đủ và khoa học nhận thức củangười nông dân về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV
1.2.3 Tác động của sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đối với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc sử dụngthuốc bảo vệ thực vật được tiếp cận với nhiều phương pháp khác nhau Cácphương pháp và công cụ kinh tế lượng được sử dụng: mô hình hồi quy tuyến tínhOLS (Dasgupta và cộng sự, 2001 và Arahata, 2003); mô hình Tobit (Rahman,
2003, Rahman, 2015); mô hình Probit (Abdoulaye và Sanders, 2005, Migheli,
2017 và Abdoulaye và Sanders, 2005); mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên Random Effect Model) của Aubert và Enjolras (2014) và Andert và cộng sự.(2015); mô hình cấu trúc (SEM- Structural Equation Model) của Fan và cộng sự(2015) nhằm phân tích được các biến thực sự có tác động đến lượng thuốc BVTV
(REM-sử dụng
Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về các nhân tố tác động đến lượngthuốc BVTV được sử dụng Tiêu biểu là nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dũng vàcộng sự (1999); Huỳnh Việt Khải (2014) và Migheli (2017) Các công trìnhnghiên cứu của các tác giả trên phân tích tác động của các yếu tố đặc điểm cánhân, yếu tố kinh tế xã hội cơ bản tác động đến hành vi sử dụng thuốc BVTV củanông dân Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đến đặc điểmquan trọng trong quyết định lượng sử dụng thuốc BVTV trong canh tác nôngnghiệp, cụ thể là nhận thức của nông dân về ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với
Trang 28sức khỏe và môi trường; và ảnh hưởng của tính ưa thích rủi ro đến việc ra quyếtđịnh sử dụng thuốc BVTV.
Các nghiên cứu về tác động của nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốcBVTV của người nông dân và sự ưa thích rủi ro đến việc sử dụng thuốc bảo vệthực vật vẫn còn một số hạn chế Thứ nhất, Fan và cộng sự (2015) có nghiên cứuvấn đề nhận thức nhưng chỉ sử dụng mô hình cấu trúc (SEM) để xác định cácnhân tố đo lường nhận thức chứ chưa định lượng đến mức độ tác động của nhậnthức đến lượng sử dụng thuốc BVTV Liu và Huang (2013) nghiên cứu về tácđộng của sự ưa thích rủi ro đến lượng thuốc BVTV sử dụng nhưng không kếthợp tác động của nhận thức về việc sử dụng thuốc BVTV để phân tích Vì vậy,cần có một nghiên cứu kết hợp cả sự ưa thích rủi ro, nhận thức về rủi ro khi sửdụng thuốc BVTV trong cùng một mô hình để phân tích tác động của nó đếnlượng thuốc BVTV sử dụng
1.2.4 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe của người tiếp xúc
Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến mức độ tác độngcủa thuốc BVTV đến sức khỏe, tiêu biểu như: nghiên cứu của Abdollahzadeh vàcộng sự (2015); Athukarala và cộng sự (2012); Alavanja & Bonner (2012);Quiao và cộng sự (2012); Okello & Swinton (2011); Pingali và cộng sự (1994)Atreya và cộng sự (2012); Khan và cộng sự (2013) Các tác giả đưa ra nhiều cáchtiếp cận khác nhau để đo lường tình trạng sức khỏe cũng như các yếu tố ảnhhưởng đến sức khỏe của người nông dân Cụ thể như tiếp cận về rủi ro sức khỏe,tức có bệnh hay không (Quiao và cộng sự, 2012; Nguyễn Hữu Dũng, 2007) haytiếp cận về chi phí sức khỏe như nghiên cứu của Abdollahzadeh và cộng sự(2015); Athukarala và cộng sự (2012); Alavanja & Bonner (2012); Tuy nhiên,việc đo lường tác động của lượng thuốc BVTV sử dụng đến sức khỏe cho kết quảkhác biệt, phụ thuộc vào phạm vi, không gian nghiên cứu và chi phí y tế tại điểmnghiên cứu đó
Trang 29Tại Việt Nam, Phan Bích Ngân và Đinh Xuân Thắng (2006); NguyễnTuấn Khanh (2010); Phan Thị Phẩm (2010); Nguyễn Hữu Dũng và cộng sự(1999) đã nghiên cứu về tác động của thuốc BVTV đối với sức khỏe của nôngdân tiếp xúc với thuốc và cho rằng thuốc BVTV tác động đến sức khỏe conngười, gây ra các triệu chứng ngộ độc và một số loại bệnh đối với con người.Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dũng và cộng sự (1999) sử dụng phương pháp địnhlượng bằng cách hồi quy mô hình OLS để đo lường tác động của thuốc BVTVlên sức khỏe Tuy nhiên, số liệu phân tích định lượng trong nghiên cứu này đếnnay chưa cập nhật sự thay đổi về giá cả, chi phí chăm sóc sức khỏe Các nghiêncứu trước đây (Quiao và cộng sự, 2012; Nguyễn Hữu Dũng, 2007;Abdollahzadeh và cộng sự, 2015; Athukarala và cộng sự, 2012; Alavanja vàBonner, 2012) chủ yếu sử dụng hồi quy OLS để hồi quy, tuy nhiên với dữ liệubiến phụ thuộc bị kiểm duyệt bởi giá trị 0 thì hồi quy Tobit sẽ thích hợp hơn Cácbiến được đo lường trong mô hình hồi quy như là biến hút thuốc, uống rượu biahay các biện pháp bảo vệ đều sử dụng biến dummy để phân tích mà không sửdụng biến định lượng.
Tóm lại, đã có nhiều nghiên cứu về sự ưa thích rủi ro, nhận thức về rủi rokhi sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam và thế giới nhưng đồng thời phân tích tácđộng của sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đếnlượng thuốc BVTV sử dụng thì vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện Cácnghiên cứu về tác động của lượng thuốc BVTV sử dụng đến chi phí sức khỏe củangười tiếp xúc như Quiao và cộng sự (2012), Nguyễn Hữu Dũng (2007),Abdollahzadeh và cộng sự (2015), Athukarala và cộng sự (2012), Alavanja vàBonner (2012) chủ yếu sử dụng hồi quy OLS để hồi quy mà không dùng hồi quyTobit Các biến được đo lường trong mô hình hồi quy như là biến hút thuốc,uống rượu bia hay các biện pháp bảo vệ đều sử dụng biến dummy để phân tích
mà không sử dụng biến định lượng Đây là những lý do để tác giả xây dựng mụctiêu nghiên cứu cho luận án của mình
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Trang 301.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài luận án nhằm đo lường, phân tích tác độngcủa sự ưa thích rủi ro của nông dân, nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTVcủa họ đến lượng thuốc BVTV sử dụng, tác động của việc sử dụng thuốc BVTVtới sức khỏe của người tiếp xúc Trên cơ sở đó đưa ra khuyến nghị đối với nôngdân và cơ quan quản lý về việc quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Đề tài luận án đặt ra các mục tiêu cụ thể sau đây:
Mục tiêu cụ thể 1: Đo lường sự ưa thích rủi ro, nhận thức vể rủi ro khi sử
dụng thuốc BVTV của người nông dân
Mục tiêu cụ thể 2: Đánh giá mức độ tác động của sự ưa thích rủi ro, nhận
thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đến lượng thuốc BVTV được sử dụng
Mục tiêu cụ thể 3: Đo lường, đánh giá mức độ tác động của lượng thuốc
BVTV được sử dụng tới chi phí sức khỏe người nông dân tiếp xúc với thuốcBVTV tại ĐBSCL
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1) Sự ưa thích rủi ro của nông dân trồng lúa ở ĐBSCL như thế nào?2) Nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV của nông dân trồng lúa ởĐBSCL như thế nào?
3) Sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV củangười nông dân có tác động đến lượng thuốc BVTV sử dụng haykhông?
4) Lượng thuốc BVTV được áp dụng tác động đến chi phí sức khỏe củangười tiếp xúc với thuốc BVTV tại ĐBSCL như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 31Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc sử dụng thuốc BVTV của các hộnông dân trồng lúa tại các tỉnh ĐBSCL Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân
có tham gia trồng lúa trong vòng ba năm tính đến ngày phỏng vấn Nghiên cứulựa chọn những người nông dân trực tiếp trồng lúa và trực tiếp ra các quyết địnhtrong quy trình sản xuất lúa: chọn giống, phân bón, thuốc BVTV, lao động Điềunày giúp cho số liệu điều tra đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy hơn
Cụ thể, nghiên cứu này chọn 3 tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang làmđiểm khảo sát phục vụ nghiên cứu Việc chọn địa bàn nghiên cứu dựa trên cáctiêu chí: diện tích trồng lúa lớn, ở các vị trí đại diện cho điều kiện khí hậu, cónhững đặc điểm cơ bản của khu vực ĐBSCL Tỉnh An Giang và Kiên Giang làhai tỉnh có diện tích trồng lúa lớn nhất ĐBSCL (TCTK, 2018) và tỉnh Vĩnh Longcũng có diện tích trồng lúa khá lớn trong khu vực Các tỉnh này có điều kiện đấtđai, địa hình, khí hậu mang tính điển hình, đại điện cho khu vực ĐBSCL
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành thu thập, phân tích số liệu vụmùa canh tác lúa năm 2018 - 2019
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu đo lường sự ưa thích rủi ro và nhậnthức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV; xem xét tác động của sự ưa thích rủi ro
và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đến lượng thuốc BVTV sử dụng;phân tích tác động của thuốc BVTV được sử dụng đến sức khỏe của người tiếpxúc
1.5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Trang 32- Đóng góp mới về học thuật:
Nghiên cứu có bốn đóng góp chính trong các nghiên cứu khoa học cùngchủ đề Thứ nhất, nghiên cứu đo lường nhận thức về rủi ro của người nông dânkhi sử dụng thuốc BVTV có cập nhật và hoàn thiện hơn các nghiên cứu trướctrong việc phân tích đầy đủ hai khía cạnh là rủi ro sức khỏe của con người và rủi
ro đối với môi trường xung quanh
Thứ hai, nghiên cứu đã phân tích đồng thời tác động của hai biến số sự ưathích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV đến lượng thuốcBVTV sử dụng trong cùng mô hình
Thứ ba, mô hình hồi quy tác động của lượng thuốc BVTV đến chi phí sứckhỏe được cập nhật hoàn thiện hơn so với các nghiên cứu trước trong việc chi tiếttác động của thuốc BVTV sử dụng đến chi phí sức khỏe của người tiếp xúc vớithuốc BVTV, phân tích cụ thể theo ba nhóm thuốc gồm thuốc sâu, thuốc bệnh vàthuốc khác Các nghiên cứu trước đây sử dụng hồi quy OLS để phân tích tácđộng, nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy Tobit phù hợp hơn với dữ liệunghiên cứu khi biến phụ thuộc là biến bị kiểm duyệt bởi giá trị 0
Thứ tư, việc phân tích tác động của các biện pháp bảo vệ được chi tiếtlượng hóa bằng số lượng các biện pháp bảo vệ được thực hiện thay cho biến sốdummy về có áp dụng ít nhất một biện pháp bảo vệ trong các nghiên cứu trước.Tác động của hoạt động có ảnh hưởng đến sức khỏe như hút thuốc và uống rượubia được phân tích cụ thể hơn bằng cách lượng hóa mức độ sử dụng thay vì dùngbiến số dummy như các nghiên cứu trước
- Đóng góp mới về thực tiễn:
Thứ nhất, nghiên cứu cung cấp kết quả phân tích thực nghiệm về đo lường
về sự ưa thích rủi ro đối với người nông dân tại khu vực ĐBSCL dựa vào lýthuyết lợi ích kỳ vọng và thiết kế trò chơi xổ số của Holt và Laury (2002) Kết
Trang 33quả thực nghiệm sự khác biệt về mức độ ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi rocủa người nông dân khi sử dụng thuốc BVTV giữa các tỉnh của ĐBSCL và giữaĐBSCL so với kết quả các quốc gia khác trên thế giới sẽ giúp cho các cơ quanquản lý và khuyến nông như các Sở Nông nghiệp, các trung tâm khuyến nông,chi cục trồng trọt và BVTV các tỉnh tại ĐBSCL và cả nước có những cách thứctiếp cận và tuyên truyền khác nhau đối với những nhóm nông dân có mức độ ưathích rủi ro và nhận thức về rủi ro khác nhau; thiết kế các chương trình tập huấnphù hợp để hoàn thiện, bổ sung các nhận thức thiếu hụt có được từ kết quả phântích tại ĐBSCL
Thứ hai, nghiên cứu cũng đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tácđộng của sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV vàmức giá thuốc BVTV đến lượng thuốc BVTV sử dụng Kết quả này sẽ giúp chocác cơ quan quản lý và khuyến nông thấy được hiệu quả các hoạt động tuyêntruyền, nâng cao nhận thức Từ đó, các cơ quan chức năng xây dựng và hoànthiện các chương trình tập huấn nâng cao nhận thức của người nông dân, điều tiếtgiá thuốc BVTV hợp lý thông qua đó giúp việc sử dụng thuốc BVTV tối ưu hơn
Thứ ba, kết quả thực nghiệm về tác động của hành vi sử dụng thuốcBVTV đến chi phí sức khỏe của những người nông dân giúp minh chứng tácđộng của từng nhóm thuốc, các biện pháp bảo vệ đến chi phí sức khỏe Từ đó,các cơ quan chức năng có thể lổng ghép yêu cầu về các biện pháp bảo vệ vào cácchương trình tập huấn; khuyến cáo chuyển dịch việc lựa chọn sử dụng thuốcBVTV theo hướng sinh học, an toàn, đặc biệt đối với nhóm thuốc sâu
Thứ tư, kết quả nghiên cứu đồng thời cũng cung cấp các nguồn thông tin màngười dân thường xuyên tiếp cận và tin tưởng để chính quyền địa phương cũngnhư Chi cục trồng trọt và BVTV tại địa phương lựa chọn được kênh tuyên truyền
và quản lý sử dụng thuốc BVTV hiệu quả nhất
1.6 Kết cấu luận án
Trang 34Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kếtcấu thành 6 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu Chương này sẽ trình bày tổng quan nghiên cứu, làm
rõ khoảng trống nghiên cứu và các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng nhưphương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng đối với từng mục tiêu nghiên cứu Bên cạnh
đó trình bày những đóng góp của luận án cũng như kết cấu luận án
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết vàtổng quan các nghiên cứu trước về các vấn đề nghiên cứu của luận án Bên cạnh
đó chương này cũng trình bày khung phân tích và phương pháp thu thập dữ liệucủa luận án
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày toàn bộphương pháp nghiên cứu được sử dụng thực hiện các mục tiêu của luận án Baogồm khung phân tích, mô hình nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, cách thức chọnmẫu và xác định cỡ mẫu
Chương 4: Thực trạng sản xuất lúa và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tạikhu vực nghiên cứu Chương này sẽ trình bày tổng quan về tình hình sản xuất lúacũng như việc sử dụng thuốc BVTV tại đồng bằng sông Cửu Long để cho ngườiđọc thấy được bức tranh tổng quan về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hộicũng như việc sản xuất lúa và sử dụng thuốc BVTV tại đồng bằng sông CửuLong Hiểu được khu vực nghiên cứu sẽ cho chúng ta cái nhìn rõ ràng và dễ hiểuhơn kết quả nghiên cứu của luận án
Chương 5: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả của ba mụctiêu nghiên cứu bao gồm kết quả đo lường sự ưa thích rủi ro và nhận thức về rủi
ro khi sử dụng thuốc BVTV của người nông dân, hành vi sử dụng thuốc BVTVcủa các hộ gia đình Kết quả đánh giá tác động của sự ưa thích rủi ro và nhậnthức về rủi ro khi sử dụng thuốc BVTV của người nông dân đến lượng thuốcBVTV sử dụng Cuối cùng là kết quả đánh giá mức độ tác động của lượng thuốcBVTV sử dụng đến chi phí sức khỏe của người tiếp xúc với thuốc BVTV
Trang 35Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này dựa trên kết quảnghiên cứu của các nội dung trong bài nghiên cứu sẽ trình bày tổng hợp nhữngphát hiện chính của nghiên cứu Trên cơ sở các phát hiện chính của đề tài, tác giảđưa ra các hàm ý chính sách để giúp cho các nhà quản lý cũng như các hộ dân sửdụng và quản lý thuốc BVTV một cách hợp lý và mang lại hiệu quả tối ưu nhất.
Trang 36CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này trình bày một số khái niệm phục vụ cho nghiên cứu như kháiniệm rủi ro, sự ưa thích rủi ro, nhận thức rủi ro, người tiếp xúc với thuốc BVTV.Bên cạnh đó chương này cũng trình bày các lý thuyết phục vụ cho việc đo lường
sự ưa thích rủi ro (lý thuyết lợi ích kỳ vọng, lý thuyết triển vọng), lý thuyết hành
vi người nông dân, lý thuyết nhận thức hành vi, cách tiếp cận chi phí sức khỏe đểphục vụ cho việc đo lường các biến số và xây dựng các mô hình đánh phân tích
để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu Cuối cùng, trình bày tổng quan tài liệu,tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam nhằm phục vụ cho các mục tiêu,
mô hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Khái niệm
2.1.1 Thuốc BVTV và phân loại thuốc BVTV
Theo luật bảo vệ thực vật, thuốc bảo vệ thực vật là “chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc” (Quốc hội, 2013 trang 1) Hoặc chúng ta cũng có thể hiểu thuốc BVTV là “những hợp chất hoá học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm siêu vi trùng, tuyến trùng v.v.), những chất có nguồn gốc động vật, thực vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại v.v)” (Hội khoahọc kỹ thuật bảo vệ thực vật Việt Nam , 2005 trang 471 ) Ngoài tác dụng phòngtrừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chếphẩm có tác dụng điều tiết sinh trưởng thực vật, những chế phẩm có tác dụng xuađuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt(Chính phủ, 2002) Trong nghiên cứu này, thuốc BVTV được hiểu là những hợpchất hóa học, những chế phẩm sinh học, những chất được sử dụng để bảo vệ cây
Trang 37trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại Cụ thểnhững loại thuốc BVTV được thu thập trong nghiên cứu này là các loại thuốc trừsâu, các loại thuốc trừ bệnh của cây lúa, thuốc diệt côn trùng như diệt chuột, diệt
ốc, nhện dé, thuốc trừ cỏ, thuốc xử lý hạt giống và các loại thuốc điều hóa sinhtrưởng mà nông dân sử dụng để diệt trừ sâu bệnh cho cây lúa
Về phân loại thuốc BVTV, thuốc BVTV có thể được phân loại theo côngdụng và theo độ độc Theo công dụng, thuốc BVTV được phân loại thành: Thuốctrừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ chuột ốc, thuốc điều hòa sinhtrưởng và thuốc xử lý hạt giống Theo độ độc, thuốc BVTV được chia thành 4cấp độ từ độc độc I đến độ độc IV theo phân loại của WHO, cụ thể như Bảng 2.1
Bảng 2.2 Bảng phân chia độ độc của thuốc BVTV theo WHO
Nhóm - Mức
độ độc Biểu hiện trên bao bì
LD 50 2 (trên chuột) cấp tính của thành phẩm (mg/kg)
Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng
I - Rất độc Màu đỏ, hình đầu lâu
II - Độc cao Màu vàng, chữ thập chéo
trong hình thoi vuông >50-500 >200-2000 >100-1000
4000 III - Nguy hiểm Màu xanh nước biển,
>400-đường chéo hình thoi vuông không liền nét
500-2000
>2000-3000 >1000 >4000
IV - Cẩn thận Màu xanh lá cây, không
có biểu tượng >2000 >3000 >1000 >4000
Nguồn: Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam, 2005
Trong nghiên cứu này, thuốc BVTV được phân tích trên cả hai cách phânloại là theo công dụng và theo độ độc Khi phân tích tác động của lượng thuốcBVTV đến chi phí sức khỏe, tác giả phân loại thuốc BVTV theo công dụng Tuynhiên để dễ dàng trong phân tích, thuốc BVTV được tổng hợp thành ba nhóm:
2 LD 50 là chỉ số biểu thị độ độc cấp tính của một chất độc nói chung và của một thuốc BVTV nói riêng với động vật máu nóng Nó là liều gây chết cho 50% số lượng con vật thử nghiệm (chuột bạch, thỏ…) được tính bằng số lượng miligam hoạt chất (của thuốc) trên một kg thể trọng của con vật thí nghiệm.
Trang 38thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc khác Trong đó, thuốc khác bao gồm thuốctrừ cỏ, thuốc trừ chuột ốc, thuốc điều hòa sinh trưởng và thuốc xử lý hạt giống.
2.1.2 Rủi ro và sự ưa thích rủi ro
Rủi ro là những sự cố hay bất trắc xảy ra mà có thể đo lường được (FrankKnight, 1964) Theo Irving Preffer (1956), rủi ro là tổng hợp các biến cố ngẫunhiên mà có thể đo lường hay có thể biết được các xác suất xảy ra Allan Willent(1951) cho rằng rủi ro là một bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố xuất hiện
không mong đợi Có thể hiểu, rủi ro là sự không chắc chắn, là biến cố xảy ra
nhưng có thể đo lường được xác suất xảy ra các biến cố đó Rủi ro trong nghiêncứu này được hiểu là những biến cố ngẫu nhiên mà có thể biết được xác suất xảyra
Trong sản xuất nông nghiệp, rủi ro cũng được hiểu là những biến cố xảy
ra Tuy nhiên xác xuất xảy ra các sự kiện đó không phải là điều khách quan mà
nó chính là quan điểm của cá nhân người nông dân về khả năng thực tế các biến
cố đó có thể xảy ra Tức là sự rủi ro trong phân tích nông nghiệp vẫn liên quanđến xác suất nhưng là xác suất chủ quan được những người ra quyết định củanông trại gắn với khả năng thực tế có thể xảy ra các sự kiện khác nhau (FrankEllis, 1993) Những rủi ro trong nông nghiệp mà người nông dân có thể gặp phảibao gồm:
+ Thiên tai, dịch bệnh hoặc bị mất mùa
+ Biến động của thị trường làm thay đổi giá cả
+ Những rủi ro phát sinh trong từ mối quan hệ xã hội của người nôngdân trong nền kinh tế nông thôn Chẳng hạn như mối quan hệ giữa chủ sở hữu đất
và nông dân, mối quan hệ giữa những người cung cấp tín dụng và nông dân
+ Những rủi ro do các hoạt động của nhà nước và chiến tranh
Sự ưa thích rủi ro (hay là thái độ đối với rủi ro) được hiểu như là mức độ
mà một người sẵn sàng chấp nhận rủi ro (Lépine and Treibich, 2020) Hay là sự
Trang 39sẵn sàng chịu đựng rủi ro để đạt được lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn (Maurino vàcộng sự, 2020) Chúng ta cũng có thể hiểu sự ưa thích rủi ro là mức độ rủi ro mà
cá nhân sẵn sàng chấp nhận trong việc theo đuổi mục tiêu (Eiter và Bellanca,2020) Sự ưa thích rủi ro trong nghiên cứu này được hiểu là mức độ chấp nhậnrủi ro của các hộ nông dân để đạt được mục tiêu mong đợi của họ Sự ưa thích rủi
ro được phân chia thành ba nhóm cơ bản đó là nhóm ưa thích rủi ro, nhóm bàngquan với rủi ro và nhóm không ưa thích rủi ro
2.1.3 Nhận thức và nhận thức về rủi ro
Nhận thức (Cognition) là “quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (Hội đồng quốc gia, 2005 trang
239) Nhận thức cũng có thể được hiểu là những hoạt động bao gồm những suynghĩ và hình ảnh lưu giữ bên trong của một cá nhân (Dobson và Dozois, 2010)
Nhận thức về rủi ro là nhận thức về những rủi ro mà họ có thể gặp phảitrong một lĩnh vực hay một hình huống nhất định Trong nghiên cứu này, nhậnthức về rủi ro được nhiểu là những hiểu biết, kiến thức của họ về rủi ro mà họ cóthể gặp phải khi sử dụng thuốc BVTV, bao gồm rủi ro về sức khỏe của họ và rủi
ro đối với môi trường xung quanh
2.1.4 Người tiếp xúc với thuốc BVTV
Trong nghiên cứu này người tiếp xúc với thuốc BVTV được hiểu là ngườitrực tiếp pha thuốc BVTV mà không phun thuốc hoặc vừa pha vừa phun thuốcBVTV Những người không tham gia pha hoặc phun thì không được xem làngười tiếp xúc và không được xem xét khi phân tích tác động của thuốc BVTVđến sức khỏe của người tiếp xúc
2.2 Cơ sở lý thuyết về đo lường sự ưa thích rủi ro
Trang 40Đo lường sự ưa thích rủi ro được dựa trên cơ sở hai lý thuyết nền tảng đó
là lý thuyết lợi ích kỳ vọng và lợi ích triển vọng hai lý thuyết này là cơ sở để xâydựng các phương pháp đo lường sự ưa thích rủi ro
2.2.1 Lý thuyết lợi ích kỳ vọng và đo lường hệ số sự ưa thích rủi ro
Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng do John Von Neumann và OskarMorgenstern (1945) đề xuất Lý thuyết này giải thích những hành vi hợp lí khicon người gặp phải những tình huống hay sự việc không chắc chắn
Lợi ích (hay còn gọi là hữu dụng) là sự thỏa mãn và hài lòng của conngười được mang lại khi tiêu dùng một loại hàng hoá và dịch vụ nào đó, được kýhiệu là U Còn lợi ích kỳ vọng là tổng của các lợi ích trong đó mỗi lợi ích bằngtích của các kỳ vọng nhân với xác suất của nó Giá trị của kỳ vọng là giá trị saucùng bằng tiền của kỳ vọng đó
Sự ưa thích rủi ro của các cá nhân được xác định thông qua hàm lợi ích cụthể như sau: Cá nhân có xu hướng ưa thích mức thu nhập cố định hơn là nhữngmức thu nhập không cố định có cùng giá trị kỳ vọng, tức lợi ích của mức thunhập cố định cao hơn mức lợi ích kỳ vọng của các mức thu nhập không cố địnhthì người này e ngại rủi ro, cá nhân này có hàm lợi ích dạng lõm (concave)(đường a trong Hình 2.1) Cá nhân có xu hướng bàng quan với thu nhập cố định
và thu nhập không cố định có cùng giá trị kỳ vọng, tức lợi ích của thu nhập cốđịnh bằng với lợi ích kỳ vọng của các mức thu nhập không cố định có cùng giátrị kỳ vọng thì cá nhân này được coi là trung lập với rủi ro và hàm lợi ích của cánhân sẽ có dạng tuyến tính (đường b trong Hình 2.1) Cá nhân có hướng ưa thíchnhững mức thu nhập không cố định hơn mức thu nhập cố định có cùng giá trị kỳvọng, tức lợi ích của mức thu nhập không cố định lớn hơn lợi ích của mức thunhập cố định thì cá nhân đó yêu thích rủi ro và có hàm lợi ích kỳ vọng dạng lồi(convex) (đường c trong Hình 2.1)