Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TPHCM
Trang 1CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các lý thuyết kiểm soát nội bộ
Trong một tổ chức, luôn có sự mâu thuẫn lợi ích: giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích của người lao động với lợi ích chủ doanh nghiệp… Để dàn xếp các mâu thuẫn này cần phải đặt ra quy định để kiểm soát ràng buộc…sao cho cá nhân không vì lợi ích riêng tư mà làm tổn hại đến lợi ích tập thể, người lao động không từ bỏ lợi ích cá nhân mà vẫn không làm tổn hại đến lợi ích chủ doanh nghiệp…
Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ (KSNB) của đơn vị. Nhìn dưới góc độ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và yếu kém, một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ góp phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu
về kiểm toán. Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa
Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán.
Đến thập niên 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết
kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài
1977, các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executive Institute) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB. Uỷ ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về
hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức. Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập một Uỷ ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội
bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB.
Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
đã tiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB. Hiệp hội kế toán nội bộ (IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm toán và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá HTKSNB
Trang 2Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn. Hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ (thường gọi là Uỷ ban Treaway) được thành lập năm 1985. Uỷ ban các tổ chức đồng bảo trợ (COSO) của Hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ ra đời nhằm nghiên cứu KSNB và đã công bố báo cáo COSO 1992:
Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001, dựa trên báo cáo COSO 1992,
COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp.
Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: báo cáo
Basle 1998 của Uỷ ban Basle các ngân hàng trung ương công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng
Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh
Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán
Trang 3Năm 1992, bản Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB.
Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB. Điều cần lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO.
Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết thông thường về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về
khu vực công.
1.2 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ và các yếu tố của KSNB theo INTOSAI 1.2.1 Định nghĩa về KSNB theo INTOSAI
Hướng dẫn chuẩn mực của KSNB của INTOSAI 1992 đưa ra định nghĩa về
KSNB như sau:
KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức:
Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất
So với định nghĩa của báo cáo COSO và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá trị đạo đức được thêm vào. Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là
Trang 4và tham nhũng trong khu vực công.
Ngân sách nhà nước được phân bố rộng rãi. Chính vì vậy cần có các kiểm soát nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản không bị thất thoát hay lãng phí. Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần được nhấn mạnh thêm tầm quan trọng trong KSNB đối với khu vực công.
Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công. Vì vậy, các lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này. Các nhà lãnh đạo các tổ chức của nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và
giám sát KSNB trong tổ chức.
1.2.2 Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI
Tương tự như báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra năm yếu tố của KSNB, gồm: môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền
thông; và giám sát.
1.2.2.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nền nếp kỷ cương, đạo đức và
cơ cấu tổ chức. Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
Sự liêm chính và giá trị đạo đức:
Sự liêm chính và tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và đội ngũ nhân viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong công việc của họ, thể hiện qua sự tuân thủ các điều lệ, quy định và đạo đức về cách thức ứng xử của cán bộ công chức nhà nước. Thí dụ như công khai tài sản, các vị trí kiêm nhiệm công việc bên ngoài, quà tặng và báo cáo các mâu thuẫn về lợi ích.
Trang 5cũng như có sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập
hệ thống KSNB
Lãnh đão và nhân viên phải duy trì một trình độ đủ để hiểu được việc xây dựng thực hiện, duy trì KSNB, vai trò của KSNB và trách nhiệm của họ trong việc thực hiện sứ mạng chung của tổ chức. Mỗi cá nhân trong tổ chức đều giữ một vai trò trong hệ thống KSNB bởi trách nhiệm của họ.
Lãnh đạo và nhân viên cũng cần có kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro. Việc đánh giá rủi ro đảm bảo hoàn thành trách nhiệm của họ trong tổ chức.
Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thành viên trong tổ chức. Một trong những nội dung đào tạo là hướng dẫn về mục tiêu
Ngược lại, nếu các thành viên trong tổ chức cho rằng KSNB không quan trọng có nghĩa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB. Kết quả là KSNB chỉ còn là hình thức chứ không có ý nghĩa thật sự, dẫn đến mục tiêu, nhiệm vụ của
đơn vị không còn đạt được như mong muốn.
Cơ cấu tổ chức
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ đảm bảo cho sự thông suốt trong việc ủy quyền
và phân công trách nhiệm. Cơ cấu tổ chức được thiết kế tổ chức sao cho có thể ngăn ngừa được sự vi phạm các quy chế KSNB và loại được những hoạt động không phù hợp. Hoạt động được xem là không phù hợp là những hoạt động mà sự kết hợp của chúng có thể dẫn đến sự vi phạm và che dấu sai lầm và gian lận.
Cơ cấu tổ chức bao gồm:
Trang 6Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát, bộ phận thanh tra, kiểm tra được tổ chức độc lập với các đối tượng kiểm toán
Nhà lãnh đạo cần thiết lập các chương trình động viên, khuyến khích bằng các hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể. Đồng thời, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng cần được các nhà lãnh đạo quan tâm.
Sự liêm chính và giá trị đạo đức
Năng lực nhân viên
Triết lý quản
lý và phong cách lãnh đạo
Cơ cấu tổ chức
Chính sách nhân sự
Trang 7Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro, tuy nhiên, phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống. Ví dụ, phải xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro, sau đó sắp xếp thứ tự các rủi ro, dựa vào đó nhà lãnh đạo sẽ phân bổ
ở mức độ hợp lý vì mối liên hệ giữa lợi ích và chi phí nhưng nếu nhận dạng được và đánh giá được rủi ro thì có sự chuẩn bị tốt hơn.
Trang 8xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ
1.2.2.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị. Để đạt được hiệu quả, hoạt động kiểm soát phải phù hợp, nhất quán giữa các thời kỳ, dễ hiểu, đáng tin cậy và liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát. Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các chức năng. Hoạt động kiểm soát bao gồm kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro.
Cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa là phối hợp các
hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm soát.
Thủ tục phân quyền và xét duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền theo trách nhiệm và phạm vi của họ. Ủy quyền là một cách thức chủ yếu để đảm bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ có thực mới được phê duyệt đúng mong muốn của người lãnh đạo. Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và công bố rõ ràng, phải bao gồm những điều kiện cụ thể.
Trang 9sẽ có cơ hội phạm tội vì điều kiện quá dễ dàng để thực hiện hành vi gian lận
Để ngăn chặn các sai phạm hoặc gian lận thì rất cần phải phân công các chức năng trên riêng biệt cho từng người. Tuy nhiên sự thông đồng, bắt tay nhau giữa một nhóm người này sẽ làm giảm hoặc phá hủy sự hữu hiệu của HTKSNB.
Trong một số trường hợp đơn vị có quy mô nhỏ, công việc từng nhiệm vụ không nhiều, quá ít nhân viên để thực hiện việc phân chia trách nhiệm, khi đó nhà lãnh đạo phải nhận biết được rủi ro và sử dụng những biện pháp kiểm soát khác như luân chuyển nhân viên. Sự luân chuyển nhân viên đảm bảo rằng một người không
để các khoảng trống cho sự phê duyệt và xác nhận của những người có liên quan đến nghiệp vụ. Đánh số thống nhất lại các chứng từ phát sinh ở đơn vị để dễ quản
lý, dễ truy tìm và giảm thiểu các gian lận, sai phạm có thể xảy ra.
Bảo vệ tài sản
Tài sản của một tổ chức không chỉ là tiền, hàng hóa, máy móc thiết bị …mà còn là thông tin. Các thủ tục cần có để bảo vệ tài sản gồm:
Xét duyệt
Bảo vệ tài sản
Ghi chép
Ngăn ngừa việc
Trang 10các bộ phận trong tổ chức, giữa tổ chức với các đối tượng bên ngoài…
1.2.2.5 Giám sát
Trang 11Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hoạt động kiểm soát. Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định KSNB có vận hành đúng như thiết kế không và có cần thiết phải sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giai đoạn không. Để đạt được kết quả, cần phải thực hiện những hoạt động giám sát thường xuyên hoặc định kỳ.
Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách hàng, nhà cung cấp… hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường
Cung cấp thông tin đáng tin cậy.
Mọi thành viên trong tổ chức phải tuân thủ luật pháp và các luật lệ quy định Định kỳ đánh giá kết quả hoạt động nhằm kịp thời đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều hành
Trang 12 Đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính.
Trang 13CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG TP HỒ CHÍ MINH
2.1 Một số vấn đề trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay có tác động đến hệ thống kiểm soát nội bộ của các cơ sở giáo dục.
2.1.1 Xã hội hóa giáo dục và toàn cầu hóa giáo dục đại học:
Ở nước ta hiện nay, nhu cầu học đại học đang trong giai đoạn gia tăng mạnh
mẽ. Vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội đang được quan tâm, các đơn vị giáo dục đang cố gắng quan tâm đến người học để thu hút đầu vào. Làn sóng du học sinh ồ ạt
đổ về các quốc gia, các trường đại học danh tiếng trên thế giới.
Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện cải cách trong lĩnh vực giáo dục. Từ năm 2000, bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, năm 2004 tiếp tục có chiến lược phát triển và đổi mới giáo dục mầm non, từ năm
2005 bắt đầu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học.
Khi hội nhập giáo dục và cải cách giáo dục là vấn đề cấp bách, các cơ sở giáo dục phải biết đón đầu những cơ hội, triển khai đào tạo liên kết, các loại hình đào tạo, thực hiện quản lý hiệu quả…nhằm thu hút người học và nâng cao lợi
nhuận. Do đó, cần quan tâm cải cách công tác quản lý, quan tâm đến KSNB.
2.1.2 Hiệu quả và tài chính trong các đơn vị giáo dục công lập
Hầu hết các trường công lập chỉ quan tâm đến mặt chất lượng và hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo, chính trị được giao, mặt hiệu quả và tài chính chưa được quan tâm đúng mức. Hiệu suất đầu tư trong giáo dục đại học công lập hầu như ít ai quan tâm. Một trường đại học quy mô nhỏ, chi phí đơn vị tính trên đầu sinh viên có thể gấp 23 lần so với trường đại học có quy mô lớn nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và chưa thấy có động thái cải tổ để nâng cao hiệu quả đầu tư.
Vấn đề quản lý tài chính trong trường đại học công lập hầu hết chỉ dừng ở mức theo dõi báo cáo mà chưa quan tâm đến vấn đề kế toán quản trị, kế toán chi phí, nâng cao hiệu suất đầu tư…
Vấn đề hiệu quả tài chính có ảnh hưởng đến tư duy nhà quản trị cơ sở giáo dục, một khi hiệu quả tài chính chưa được quan tâm đúng mực thì hệ thống KSNB chưa thật sự cần thiết để phát huy sức mạnh của nó, khi không có ai quan tâm làm
Trang 14thế nào để đạt hiệu quả cao hơn, làm thế nào để tiết kiệm chi phí… thì HTKSNB
cũng chưa có cơ hội để phát huy vai trò.
2.1.3 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Thực hiện theo Quyết định 43/2007/QĐBGD&ĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, các cơ sở đào tạo sẽ triển khai áp dụng đồng loạt chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ kể từ năm học 20102011. Do đó yêu cầu phải thay đổi công tác quản lý trong hầu hết các hoạt động chủ đạo, vì vậy, tất yếu sẽ có sự thay
đổi trong kiểm soát nội bộ.
2.1.4 Kiểm định chất lượng giáo dục
Vấn đề mới được Bộ GD&ĐT quan tâm và đồng loạt triển khai từ năm 2008 cho tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, quy chuẩn các trường. Kiểm định chất lượng giáo dục như một đợt tự tổng kiểm tra của các đơn vị khi tự mình nhìn nhận đánh giá mình, giúp các đơn vị phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu bằng các giải pháp cụ thể, trong
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của nhà trường.
2.1.6 Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 2014
Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 – 2014 với mục tiêu xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động ngày càng tăng và sử
Trang 15dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực sự coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu; và xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao. Để đạt được các mục tiêu trên, đã đến lúc để các đơn vị đào tạo phải tiến hành cải cách quản lý mới và công cụ kiểm soát lại có
cơ hội phát huy vai trò.
2.1.7 Bộ GD&ĐT phát động chủ đề năm học 20092010
“Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”.
Hưởng ứng chủ đề năm học, các cơ sở giáo dục tiến hành xây dựng phương hướng năm học cụ thể theo chủ đề trọng tâm. Khi quản lý được quan tâm đổi mới, chất lượng giáo dục đòi hỏi được nâng cao thì công cụ nhà quản lý sử dụng không thể thiếu chính là hệ thống KSNB.
Trước các vấn đề đặt ra như trên, nhà quản lý giáo dục buộc phải xem xét đánh giá tình hình và đưa ra biện pháp quản lý phù hợp với thực trạng, với xu hướng tất yếu của thời đại, biết đón đầu, định hướng chiến lược, tự thân vận động
để đổi mới, do đó sẽ có những ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống KSNB.
2.2. Tổng quan về Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương TP Hồ Chí Minh 2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tiền thân là Trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương số 3 thành lập ngày 25/9/1976, với nhiệm vụ đào tạo giáo viên mẫu giáo trình độ trung học có khả năng làm cán bộ quản lý ngành học, giáo viên dạy các bộ môn phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường sư phạm mẫu giáo địa phương thuộc khu vực các tỉnh phía Nam. Từ năm 1977, nhà trường bắt đầu đào tạo giáo viên mẫu giáo hệ 12+1+1. Bên cạnh đó, Trường đào tạo các khoá bồi dưỡng cấp tốc cô nuôi dạy trẻ (3 tháng, 9 tháng, 12 tháng). Từ năm 1988, đào tạo hệ 12+2. Năm 1987, trường được nâng cấp
từ hệ trung cấp lên hệ cao đẳng với nhiệm vụ đào tạo giáo viên có trình độ cao đẳng (12+3) và đổi tên thành Trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3 theo Quyết định thành lập số 89/HĐBT ngày 28/3/1987 của Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 1/2000, trường mở 2 ngành Sư phạm Âm nhạc và Sư phạm Mỹ thuật, đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng cho các bậc học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở
Trang 16viên mới ra trường đều có việc làm, và được đơn vị tuyển dụng rất ưa chuộng.
2.2.2.2 Nhân sự
Cả trường có 160 lao động. trong đó giáo viên là 100 người, nhân viên 60 người, cán bộ quản lý là 35 người. Giảng viên lâu năm có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo từ nước ngoài chuyên về giáo dục mầm non. Giảng viên trẻ đa số được đào tạo trong nước, luôn có ý thức học tập nâng cao trình độ.
Cơ cấu theo giới tính chủ yếu là nữ, nữ có 125 người, chiếm 78 %,
Cơ cấu theo độ tuổi không đều, tập trung vào 2 nhóm chính: nhóm già từ 50 tuổi trở lên có 66 người, chiếm 42% và nhóm trẻ dưới 35 tuổi là 77 người, chiếm 48%. Do đó, tương lai sắp trong vòng 5 năm nữa, sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt lao
động dày dạn kinh nghiệm chuyên môn và kỹ năng quản lý.
2.2.2.3 Cơ sở vật chất
Trường có 2 cơ sở đào tạo:
Trụ sở đặt tại cơ sở 1, tại địa chỉ 182 Nguyễn Chí Thanh, phường 3, quận 10, TP.HCM, có diện tích khuôn viên gần 4.600 m 2
Trang 17 Cơ sở 2 đặt tại Đường Liên Phường, Phường Phước Long B, Quận 9, có diện tích khuôn viên hơn 40.000 m 2 .
Trang thiết bị nhìn chung có đủ chủng loại, cơ bản đáp ứng được nhu cầu giảng dạy, làm việc và học tập. Tuy nhiên hầu hết là trang thiết bị cũ, lạc hậu nên rất hay hư hỏng phải sửa chữa thường xuyên. Bàn ghế, phòng học xuống cấp nghiêm trọng, phòng làm việc nhỏ hẹp, thiếu phòng làm việc của cán bộ quản lý… gây ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất lao động.
động phục vụ sinh viên bằng khoảng 20% nguồn kinh phí nhà nước cấp
2.2.2.5 Năng lực đào tạo và chỉ tiêu đào tạo hàng năm
Hiện nay, do hạn chế về cơ sở vật chất và đội ngũ nên năng lực đào tạo nhà trường ở mức 3.500 sinh viên/năm, chỉ tiêu tuyển sinh mới hàng năm dao động ở
mức 600 sinh viên chính quy, 600 sinh viên không chính quy.
2.2.3 Tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và phương hướng hoạt động của trường 2.2.3.1 Tầm nhìn
Phấn đấu cho một xã hội – nơi mà con người, đặc biệt là trẻ em được hưởng một nền giáo dục đậm chất nhân văn, khoa học, bình đẳng và được thực hiện bởi đội ngũ đã qua đào tạo cơ bản, có tâm huyết để đưa trường trở thành Học viện đào
Trang 182.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý tại trường
2.2.4.1 Sơ đồ tổ chức
Trang 19TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẢNG BỘ ĐẢNG ỦY
ĐOÀN THANH NIÊN
CÔNG ĐOÀN
BAN GIÁM HIỆU
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THỰC HÀNH
GIÁO DỤC
CÁC KHOA
VÀ
BỘ MÔN
CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG
P. Kế Hoạch – Tài Chính
P. QLKH – Hợp Tác Q.Tế
THƯ VIỆN PHÒNG
ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
Ban Công Nghệ Thông
Tin HỘI SINH
VIÊN
Trang 20 Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong trường (Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên) hoạt động theo quy định của pháp luật và
có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục, phù hợp với tôn chỉ mục đích, chức năng, nhiệm vụ của đoàn
thể, tổ chức xã hội đã được xác định.
Hội đồng khoa học và đào tạo: tư vấn cho Hiệu trưởng về mục tiêu, chương
trình, kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm về phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ của trường; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ nhân viên; lập quy hoạch cán bộ cho mỗi giai đoạn phát triển của trường; Lập kế hoạch
Trang 21 Các tổ bộ môn trực thuộc: Chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch giảng dạy,
học tập, thực hành – thực tế bộ môn, hoạt động khoa học, phối hợp các khoa, phòng ban góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của trường.
Phòng Tổ chức Hành chính: Giúp Hiệu trưởng chỉ đạo, quản lý và triển
khai thực hiện công tác tổ chức, hành chính và tổng hợp trong nhà trường.
Phòng Đào tạo: Tham mưu giúp việc cho Ban Giám hiệu trong việc hoạch
định chiến lược phát triển đào tạo, chịu trách nhiệm trong công tác quản lý đào tạo các hệ chính quy, hệ vừa học vừa làm đặt trong và ngoài trường.
Phòng Kế hoạch – Tài chính: Tham mưu giúp Hiệu trưởng thực hiện chức
năng quản lý, tổ chức sử dụng hiệu quả nguồn tài chính theo đúng Pháp luật hiện hành, đảm bảo cho hoạt động của trường ổn định và phát triển.
Phòng Quản trị Thiết bị: Chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về công tác
quản lý toàn bộ tài sản, cơ sở vật chất trong trường; tham mưu cho Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch đầu tư, khai thác, sử dụng và quản lý tài sản, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội. Đảm bảo vệ sinh môi trường.
Phòng Công tác sinh viên: Giúp Hiệu trưởng trong công tác học sinh – sinh
viên (quản lý sinh viên về nề nếp học tập và sinh hoạt, định hướng tư tưởng chính trị, lối sống trong sinh viên, giải quyết các chế độ chính sách cho sinh viên ). Tổ chức quản lý Trung tâm tư vấn tâm lý – giáo dục và hỗ trợ sinh viên theo điều lệ và tổ chức hoạt động của trung tâm.
Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế: giúp Hiệu trưởng chỉ đạo,
quản lý hoạt động khoa học & công nghệ và hợp tác quốc tế phục vụ nghiên
cứu đào tạo của trường. Tổ chức và quản lý Trung tâm thông tin thu thập,
xử lý và phổ biến thông tin khoa học giáo dục thuộc các chuyên ngành đào tạo của nhà trường.
Trường Mầm non thực hành: vừa làm chức năng của một trường mầm
non, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ theo kế hoạch được giao, vừa là cơ sở thực hành của trường CĐSPTWTPHCM để tạo môi trường
Trang 22sư phạm nhằm góp phần hình thành nhân cách người giáo viên và phương pháp dạy – học, giáo dục cho giáo sinh.
Ban Quản lý Ký túc xá: Giúp Hiệu trưởng chỉ đạo, quản lý công tác tộ chức
thực hiện quy chế học sinh sinh viên nội trú. Chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của ký túc xá.
Thư viện – đồ dùng dạy học: Giúp Hiệu trưởng bảo quản, lưu trữ và khai
thác có hiệu quả toàn bộ sách báo, tư liệu và đồ dùng dạy học.
Trung tâm Bồi dưỡng khoa học giáo dục: Giúp Hiệu trưởng tổ chức các
lớp đào tạo ngắn hạn, và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên mầm non, âm nhạc, mỹ thuật và giáo dục đặc biệt các tỉnh phía Nam.
Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học và kiểm định chất lượng giáo
dục: Nghiên cứu ứng dụng các mô hình giáo dục trong và ngoài nước vào
thực tiễn. Tổ chức và quản lý hoạt động của phòng Nghiên cứu tâm lý và
Trang 23 Các khoa, ngành, phòng Đào tạo và phòng Công tác sinh viên: phối hợp trong công tác quản lý sinh viên, đánh giá xếp loại rèn luyện và học tập của sinh viên, xét điều kiện tốt nghiệp cho sinh viên…
Phòng Tổ chức – Hành chính và các bộ phận khác: phối hợp công tác tổ chức cán bộ, quản lý nhân sự, tuyển dụng, chế độ chính sách cho người lao động.
Phòng Tổ chức Hành chính và phòng Kế hoạch Tài chính: phối hợp trong công tác đảm bảo thực hiện các chế độ chính sách, bảo hiểm, phúc lợi… cho người lao động theo quy định của nhà nước và quy định của nhà trường…
Phòng Kế hoạch – Tài chính và các bộ phận khác: phối hợp trong công tác lập kế hoạch chi tiêu hàng năm, thanh toán chế độ cho người lao động, thanh toán chi phí hoạt động của bộ phận, mua sắm sửa chữa, quản lý tài sản…
Phòng Kế hoạch – Tài chính và phòng Quản trị Thiết bị: phối hợp công tác thực hiện kế hoạch mua sắm, sửa chữa, theo dõi quản lý tài sản….
Trang 24(CBGV) và sinh viên noi theo. Các thầy cô đều là giáo viên sư phạm chuyển sang làm công tác quản lý, có chuyên môn và năng lực quản lý, luôn tâm huyết với nghề, với trường, sống liêm khiết, chan hòa, giản dị, gần gũi với mọi người xung quanh, được mọi người kính trọng và quý mến. Tấm gương đạo đức của ban lãnh đạo được CBGV học tập noi theo, hình thành nên một tập thể có lối sống giản dị, thân thiện, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.
Hàng năm, trường đều thực hiện công tác công khai tài sản của cán bộ lãnh
đạo trong Ban Giám hiệu, trưởng phó các đơn vị và Đảng viên trong toàn trường.
Năng lực nhân viên:
Năng lực và trình độ chuyên môn của giáo viên nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo của nhà trường, tuy nhiên trong vòng 5 năm nữa cần phải nhanh chóng bồi dưỡng và phát triển đội ngũ kế cận để thay thế các giáo viên sắp nghỉ hưu. Đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm tốt sẽ là một trong những yếu tố góp phần quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường.
Nhân viên khối hành chính hầu hết là lao động trẻ, trình độ chuyên môn không đồng đều và đa số làm trái ngành nghề đào tạo, kỹ năng làm việc, kỹ năng quản lý chưa cao. Trong đó gồm một tỷ lệ cao là sinh viên của nhà trường được giữ lại làm nhân viên trong các phòng ban và giáo vụ các khoa, ngành. Đa số làm việc dựa vào khuôn mẫu sẵn có do người đi trước để lại. Năng lực làm việc độc lập, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng đọc hiểu văn bản chuyên ngành còn hạn chế, còn chưa mạnh dạn trong việc đề xuất cải cách các thủ tục phục vụ cho công việc chuyên môn, thậm chí còn chậm theo kịp các cải tiến đã được đưa ra…Vì vậy, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả công việc, nhiệm vụ chung của bộ phận cũng như của toàn trường. Với thực trạng như trên, sẽ là một trong những khó khăn cản trở hệ thống KSNB vận hành hữu hiệu và hiệu quả.
Kỹ năng ứng dụng tin học nhìn chung còn thấp, nhất là trong nhóm nhân sự lớn tuổi. Việc ứng dụng các tiện ích của mạng internet làm phương tiện thông tin truyền thông giữa các cá nhân, bộ phận chưa trở thành thói quen và rộng khắp. Khi không khai thác tốt các ứng dụng của internet vào công việc sẽ gây lãng phí thời gian, công sức thậm chí cả tiền bạc
Trang 25Đội ngũ nhân sự phòng Kế hoạch – Tài chính có năng lực, có ý thức tuân thủ pháp luật, trung thực và cần mẫn trong công việc, không sách nhiễu tiêu cực gây khó khăn cho các cá nhân, đơn vị trong các thủ tục đề xuất thanh toán và thu chi tiền,… góp phần làm nền tảng tạo dựng niềm tin về tình hình tài chính kế toán nhà trường được phản ánh trung thực và hợp lý. Thể hiện qua kết luận thanh tra số 821/KLTTr ngày 14/10/2009 của Thanh tra Bộ GD&ĐT về việc thanh tra hành chính nhận xét “Trường đã đảm bảo được các quy định của Luật Kế toán và các nội quy hiện hành, bộ máy kế toán của trường đủ điều kiện đảm nhận và duy trì được hoạt động tài chính kế toán phục vụ cho công tác quản lý dạy và học của Trường”
Tự do cũng là triết lý quản lý nhân sự của nhà trường, các bộ phận quản lý nhân viên, giáo viên của mình thông qua công việc (nhưng lại chưa có biện pháp đánh giá hiệu quả công việc và xử lý những cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ). Triết lý này đã góp phần tạo tâm lý hứng thú cho nhân viên làm việc, họ không thấy
bị gò bó, khắt khe. Tuy nhiên, tự do cũng dẫn đến tự do thái quá, dẫn đến tình trạng nhân viên ăn cắp giờ, không làm đủ giờ, làm viêc chậm trễ, ách tắc, không hết trách nhiệm, không đạt hiệu quả…và khó để áp dụng các thủ tục kiểm soát.
Nhìn chung, phong cách lãnh đạo tự do dân chủ không mấy dễ dàng thuận lợi để áp đặt các thủ tục kiểm soát và yêu cầu mọi người tuân thủ.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt nhận thức được chức năng KSNB cần thiết đối với việc kiểm tra, giám sát các hoạt động trong nhà trường. Trường đã chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ từ năm 2003, xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động năm 2007 làm căn cứ thực hiện và kiểm soát các hoạt động
Trang 26Đội ngũ cán bộ quản lý phần lớn còn chịu ảnh hưởng của lề lối, tác phong làm việc theo cơ chế bao cấp, quan tâm đến chỉ tiêu kế hoạch, rất quan tâm đến lợi ích xã hội, ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Do đó, vấn đề lợi ích kinh tế không phải là một trong những mối quan tâm hàng đầu, đã xảy ra tình trạng chưa sử dụng
hiệu quả, tiết kiệm nhất nguồn kinh phí.
Cơ cấu tổ chức:
Là trường cao đẳng sư phạm quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức đảm bảo theo quy chế hoạt động của trường cao đẳng của Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành, có đầy đủ các bộ phận chức năng riêng biệt, có cơ chế phối hợp hoạt động giữa các bộ phận với nhau (xem Sơ đồ tổ chức tại mục 2.2.4.1).
Trong cơ cấu tổ chức không có Ban Kiểm soát mà chỉ có Ban Thanh tra trực thuộc BGH và là công tác kiêm nhiệm. Do đó, vấn đề kiểm soát các hoạt động của BGH sẽ thiếu tính độc lập, khách quan và ít được quan tâm thực hiện.
Chưa có động thái mạnh để sắp xếp lại lao động. Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động còn cồng kềnh, chi phí bộ máy khá lớn, làm ảnh hưởng đến nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động chuyên môn, mua sắm trang thiết bị và các hoạt động khác.
Việc phân công phân nhiệm chưa rõ ràng. Chưa có quy định chi tiết cụ thể nhiệm vụ của từng phòng ban, cũng như bảng mô tả công việc của từng nhân viên. (VD: nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin là biên tập và xuất bản tập san nhưng trách nhiệm phát hành lại không quy định rõ, do đó không biết thuộc về ai?). Vì vậy, đã xảy ra sự chồng chéo nhiệm vụ, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cá nhân, bộ phận,
không biết quy trách nhiệm cho ai…
Chính sách nhân sự:
Trường đang trong giai đoạn trẻ hóa đội ngũ và quan tâm bồi dưỡng nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên. Hiện nay, chính sách nhân sự tập trung chủ yếu vào công tác tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng CBGV.
Tuyển dụng nhằm bổ sung đội ngũ cho nhu cầu phát triển mở rộng của nhà trường hoặc thay thế. Tuyển dụng dựa trên yêu cầu thực tế của từng công việc cụ thể, tuy nhiên lại chưa đưa ra được các tiêu chuẩn cụ thể cho từng vị trí tuyển dụng, không thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhiều ứng viên, khi phỏng vấn không tiến hành kiểm tra trình độ chuyên môn tay nghề
Trang 27Do đó, xảy ra tình trạng lao động sau khi được tuyển dụng không đáp ứng được yêu cầu công việc cụ thể, năng lực kém…nên khi tham gia vào các hoạt động kiểm soát nội bộ sẽ khó để góp phần đảm bảo hệ thống hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.
Nhà trường chú trọng đến việc đào tạo bồi dưỡng lại đội ngũ, tạo điều kiện
về thời gian, kinh phí, giảm định mức lao động…để động viên khuyến khích CBGV trau dồi kỹ năng nghiệp vụ, nâng cao trình độ nhằm áp dụng vào công việc để nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Chính sách bổ nhiệm của nhà trường hiện nay nhìn chung khá tốt, bổ nhiệm dựa vào các tiêu chí năng lực chuyên môn, khả năng quản lý, đạo đức tác phong…
do đó đã tạo động cơ để CBGV phấn đấu trở thành cán bộ quản lý có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt góp phần làm môi trường kiểm soát được tốt hơn.
Chính sách động viên khuyến khích, khen thưởng đang được áp dụng thực chất theo hướng CBGV nào kê khai giỏi, biết nói hay thì được khen, ai còn e dè, khiêm tốn, nói ít thì ít được quan tâm khen thưởng, thể hiện rất rõ qua hoạt động bình bầu thi đua và kết quả thi đua cuối năm và ý kiến phản ánh trong các cuộc họp của nhà trường. Từ trước đến nay, hầu như chưa sử dụng đến biện pháp kỷ luật, chưa có CBGV nào bị xử phạt thích đáng với tác hại do mình gây ra (ngoại trừ đối với công tác tuyển sinh) nếu có nói sai, làm sai, thiếu trách nhiệm, thậm chí gian lận cũng chẳng sao, cứ rút kinh nghiệm lần sau là xong. Do đó, với chính sách khen thưởng, kỷ luật của nhà trường hiện nay, không những chưa tạo ra được nhân tố tích cực mà đôi khi còn có tác dụng ngược lại, không khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả và trách nhiệm, không ngăn chặn được sai sót và gian lận xảy ra
cũng như chưa thật sự quan tâm đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
2.3.2.3. Các hoạt động kiểm soát thể hiện trong một số quy trình và hoạt động
cụ thể
Trang 28Trong giới hạn luận văn, tác giả chỉ xin đề cập đến một số quy trình và hoạt động cụ thể liên quan đến mảng quản lý tài chính tài sản và quản lý đào tạo của nhà trường, bao gồm: (1) quy trình tiền lương, (2) quy trình mua sắm trực tiếp và sửa chữa tài sản, (3) quy trình thanh toán, (4) hoạt động quản lý tài sản, (5) quy
Thu nhập tăng thêm theo nghị định 43/2006/NĐCP (NĐ 43): là khoản chi cho người lao động dựa vào nguồn kinh phí tiết kiệm và cân đối được. Căn
cứ vào chức vụ để xây dựng hệ số cho từng loại đối tượng và quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ, trả vào cuối mỗi tháng.
Trang 29 Người lao động: làm đơn đề xuất khi có yêu cầu về tổ chức nhân sự: nghỉ phép, nghỉ không hưởng lương, nghỉ thai sản, nghỉ ốm đau, chuyển đổi công tác….gửi trưởng bộ phận xác nhận giải quyết.
Bộ phận trực tiếp quản lý người lao động: trực tiếp theo dõi, quản lý người lao động, thông báo hoặc đề xuất cho phòng TCHC mỗi khi có sự thay đổi
có liên quan đến tình hình nhân sự.
Phòng TCHC: theo dõi quản lý nhân sự, điều chuyển, tuyển dụng nhân sự; phê duyệt các chế độ liên quan đến người lao động, ghi nhận và báo cáo
Nhân viên:
Theo dõi thay đổi nhân sự trong kỳ
Tính bảng lương
Ký duyệt bảng lương
Thông báo cho
kế toán tiền lương
Trang 30KTTL chuyển trưởng P.KHTC và Hiệu trưởng ký duyệt trên bảng lương. Bảng lương được chuyển sang kế toán thanh toán thuộc quy trình thanh toán.
KTTL ghi nhận và báo cáo quỹ lương. Sau khi trả lương xong, dán bảng lương công khai trên bảng thông báo của P.KHTC.
và lưu đơn đề nghị vào hồ sơ cá nhân.
Phân chia trách nhiệm giữa các bộ phận: các bộ phận tham gia trong quy trình chịu trách nhiệm liên quan đến phần dữ liệu bộ phận mình cung cấp và cùng kiểm tra đối chiếu thông tin lẫn nhau.
Kiểm tra bảng lương: kế toán tiền lương lập bảng lương, trưởng P.KHTC kiểm tra ký duyệt và Hiệu trưởng phê duyệt trên bảng lương.
Người lao động tự theo dõi và giám sát chế độ lương bổng của mình với việc trả lương của nhà trường để kịp thời phát hiện sai sót
Trang 31Ưu điểm:
Quy trình cơ bản đã tổ chức được công việc tính lương và các khoản thu nhập thường xuyên cho người lao động, có sự phân công phân nhiệm và phối hợp công việc giữa các bộ phận trong quy trình.
Các bước trong quy trình thể hiện tương đối hợp lý.
Bảng lương được dán công khai tại bảng thông báo của phòng KHTC, do
đó, người lao động được tham giá kiểm tra giám sát hoạt động trả lương và phát
hiện sai sót kịp thời.
Hạn chế:
Hiện nay, quy trình chưa được mô tả cụ thể trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường, việc phân công phân nhiệm dựa trên chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban, dựa vào lề lối làm việc từ trước đến nay mà chưa có quy định cụ thể.
Quy trình hiện còn chứa đựng nhiền hạn chế cần phải hoàn thiện. Thiếu các thủ tục giấy tờ cần thiết để ghi nhận thông tin và truyền thông giữa các cá nhân, bộ phận phối hợp, do đó chưa có căn cứ phân định rõ trách nhiệm, quy kết trách nhiệm giữa các cá nhân, bộ phận tham gia trong quy trình khi có xảy ra sai sót, gian lận (VD: thông tin về biến động nhân sự trong kỳ phòng TCHC chỉ báo miệng cho P.KHTC nên khi có sự sai sót, không có cơ sở để quy trách nhiệm cho ai)
Quy trình hiện còn chứa đựng rất nhiều sai sót, thường xuyên có ý kiến thắc mắc xoay quanh vấn đề thanh toán các khoản chế độ người lao động.
Trưởng bộ phận có quyền và trách nhiệm quản lý, giám sát nhân viên và phân phối thu nhập tăng thêm theo năng suất và kết quả công việc. Tuy nhiên, hầu hết các bộ phận chưa phát huy được quyền này, vẫn trả cào bằng theo đầu người, do
Trang 32Tài sản mua sắm và sửa chữa trong quy trình bao gồm tài sản hữu hình và vô hình nói chung, không giới hạn chỉ là tài sản cố định mà còn bao gồm tất cả các loại công cụ, dụng cụ lâu bền dùng trong hoạt động chung của nhà trường, ngoại trừ các trường hợp mua sắm hàng hóa chuyên môn đặc thù, giá trị nhỏ dưới 2 triệu đồng,
Phòng QTTB: là đầu mối thực hiện mua sắm, phân phối, bảo dưỡng, bảo trì, duy tu tài sản trong toàn trường, ghi nhận và báo cáo, tập hợp chứng từ liên quan đến nghiệp vụ chuyển phòng KHTC thanh toán
Trang 33Bước 2: Phòng QTTB xem xét và tổng hợp đề xuất của đơn vị, rà soát tài
sản hiện có xem có thể điều phối nếu có, nếu không được mới tính đến việc mua sắm. Đối với mảng tài sản chung do phòng QTTB quản lý, phòng QTTB làm giấy
đề nghị. Sau đó, khảo sát sơ bộ hàng hóa để ước tính chi phí, phối hợp ý kiến phòng KHTC về nguồn tài chính, trình Hiệu trưởng phê duyệt. Nếu Hiệu trưởng đồng ý sẽ tiến hành bước 3, không đồng ý sẽ kết thúc quy trình.
nghị.
Bộ phận đề xuất Phòng Quản Trị Phòng KHTC Nhà cung cấp Hiệu trưởng
(2b) Phê duyệt ngân sách
(2c) Ký duyệt đơn đề nghị
(3b) Xét chọn nhà cung cấp
(3a) Tìm 1
báo giá
(3a) Tìm 1 báo giá
(3a) Tìm1 báo giá
(3c) QĐ chọn nhà cung cấp
(3d) Hợp đồng
(4) Giám sát t/hiện Hđồng
(5) Nghiệm thu, bàn giao cho bộ phận sử dụng, TLHĐ
T/hợp CT ĐNTT
Ghi nhận, bcáo.
Lưu CT (6)
Trang 34 Ký chấp nhận lên giấy đề nghị mua sắm, sửa chữa của bộ phận (trưởng
P.QTTB > trưởng P.KHTC > Hiệu trưởng).
Bước 3: P.QTTB, P.KHTC, bộ phận: mỗi đơn vị tìm một báo giá bất kỳ của
một nhà cung cấp tiềm năng và cùng họp xét chọn nhà cung cấp do P.QTTB chủ trì. Lưu ý đến các tiêu chí xét chọn: chất lượng, hậu mãi, phương thức thanh toán, giá cả…. sau đó trình Hiệu trưởng quyết định chọn đơn vị cung cấp và ký hợp đồng.
Công tác phối hợp giữa bộ phận đề xuất, phòng QTTB và phòng KHTC khá tốt Nhân viên phòng P.QTTB có năng lực, làm việc có trách nhiệm.
Có hệ thống nhà cung cấp tốt và ổn định
Trang 35 Quy trình hiện chưa thật sự xem trọng các bước xác định và đánh giá nhu cầu sử dụng tài sản, sự cần thiết phải mua sắm tài sản, đánh giá tính năng kỹ thuật, công suất thiết kế…phù hợp với nhu cầu, chưa cân đong đo đếm giữa chi phí bỏ ra và lợi ích khai thác từ tài sản, dẫn đến tình trạng hàng mua về không khai thác sử dụng được, hoặc sử dụng không đạt hiệu quả. (VD: tình trạng mua máy in chữ nổi, trên 100 triệu đồng, nhưng lại không sử dụng vì tốc độ in rất chậm, gây tiếng ồn lớn, và cũng rất ít cơ hội để sử dụng nó (cả trường không quá 5 sinh viên khiếm thị), gây lãng phí).
Trong một số trường hợp không tuân theo các bước trong quy trình, làm trước báo sau, đặt vào sự việc đã rồi và phải làm thủ tục chữa cháy.
Thành phần tham gia mua hàng cũng chính là thành phần nghiệm thu, bàn giao và nhận hàng. Do đó, sẽ gặp rủi ro thông đồng giữa nhóm người này để
Quy trình thanh toán là giai đoạn tiếp theo của các quy trình có phát sinh chi phí phải trả (quy trình tiền lương, quy trình mua sắm sửa chữa…) được cắt rời để thực hiện riêng chức năng thanh toán. Quy trình này đã được xây dựng dưới dạng
sơ đồ trong quy chế tổ chức & hoạt động của nhà trường
Trang 36 Thực hiện kế hoạch chi tiêu: Bộ phận dựa vào kế hoạch chi tiêu cụ thể hàng năm đã đăng ký và được thông qua để rà soát từng nhiệm vụ cần chi tiêu cụ thể, nhằm tổ chức công việc kịp thời theo nhu cầu và thời điểm thích hợp.
Đề nghị chi tiêu: Bộ phận đề nghị thực hiện công việc cụ thể và chi phí cho công việc đó.
o Trưởng P.KHTC: kiểm tra chế độ chi tiêu, xét duyệt lệnh thanh toán.
o Thủ quỹ (ngân hàng, kho bạc nhà nước): chi trả tiền.
o Kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết: hạch toán kế toán, ghi sổ chi tiết, theo dõi công nợ, theo dõi tài sản…
Chủ tài khoản (Hiệu trưởng): ký duyệt lệnh thanh toán.
Quy trình thanh toán được mô tả như sau:
Sơ đồ quy trình:
Trang 37Cá nhân thụ hưởng/nhân viên hành chính tại bộ phận (người đề nghị thanh toán): thu thập chứng từ và lập đề nghị thanh toán gửi trưởng bộ phận xét duyệt.
Chứng từ thanh toán phải đảm bảo đúng theo quy định về chế độ chứng từ kế toán hiện hành. Bộ chứng từ đề nghị thanh toán bao gồm:
Giấy đề nghị thanh toán, đề nghị thanh toán tạm ứng, đề nghị chuyển khoản theo mẫu, có người đề nghị ký và trưởng bộ phận ký xác nhận.
Bộ chứng từ gốc kèm theo: hợp đồng, biên bản nghiệm thu thanh lý, hóa đơn, phiếu thu, phiếu chi, biên lai, biên nhận,… phải hợp pháp, hợp lệ.
Giấy đề nghị, phiếu đề xuất, kế hoạch thực hiện, quyết định phê duyệt, dự
toán kinh phí…đã thông qua các phòng ban chức năng và BGH ký duyệt.
Bước 2: Bộ phận gửi đề nghị thanh toán kèm bộ chứng từ cho kế toán thanh
toán kiểm soát. Nếu chứng từ đạt yêu cầu, KTTT đồng ý chuyển sang lập lệnh thanh toán, nếu chứng từ chưa rõ ràng, còn thiếu sót, KTTT trả lại bộ phận đề nghị bổ sung, sửa chữa hoặc từ chối thanh toán đối với các trường hợp phát hiện sai phạm, chứng từ không hợp lệ….
KTTT thực hiện kiểm soát chứng từ thanh toán, nội dung kiểm tra bao gồm:
Bộ phận phát sinh khoản thanh
toán
(Xác nhận)
Kế toán thanh toán
Hiệu trưởng
(Ký duyệt lệnh TT)
Người thụ hưởng
Nhân viên phụ trách hành chính tại
(5) (4b)
Trang 38 Tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ: chứng từ phải có đầy đủ nội dung: số hiệu, ngày tháng, bên bán, bên mua, hàng hóa dịch vụ, số lượng, đơn giá, thành tiền, thuế, phí, số tiền bằng chữ, chữ ký,… của các bên liên quan.
Tính khách quan, trung thực của nghiệp vụ phát sinh: đảm bảo nghiệp vụ phát sinh theo chứng từ khai báo đúng sự thật và phù hợp với các quy định của pháp luật nhà nước và quy định của nhà trường. Trường hợp không có trong quy định phải làm đơn giải trình trình bộ phận, phòng ban chức năng liên quan và BGH xem xét giải quyết. Sử dụng các biện pháp kiểm soát, đối chiếu, kiểm tra chéo các loại hồ sơ chứng từ…để phát hiện sai sót. VD: dùng thời khóa biểu để kiểm tra ngày học, ngày thi, dùng sổ báo giảng và sổ phân công của phòng Đào tạo để kiểm tra giờ giảng của giáo viên…
Tính tuân thủ các luật lệ và quy định.
Tính chính xác của số liệu trong chứng từ đề nghị thanh toán.
Bước 3: KTTT lập lệnh thanh toán và thực hiện định khoản trên các lệnh
thanh toán, kèm bộ chứng từ chuyển trưởng P.KHTC và Hiệu trưởng xét duyệt. Lệnh thanh toán, gồm: phiếu chi, phiếu thu trong các trường hợp thu tiền thanh toán tạm ứng còn thừa, bảng kê thanh toán tạm ứng nếu tiền tạm ứng và thanh toán vừa khớp, chứng từ chuyển khoản: ủy nhiệm chi, giấy rút dự toán ngân sách…
Bước 4: Lệnh thanh toán kèm bộ chứng từ sau khi Hiệu trưởng ký duyệt,
KTTT sẽ chuyển sang Thủ quỹ thực hiện thu chi tiền hoặc chuyển kho bạc, ngân hàng thực hiện chuyển khoản thanh toán cho người thụ hưởng.
Thủ quỹ ký vào phiếu thu chi sau khi thu phát tiền xong.
Chứng từ chuyển khoản được kho bạc hoặc ngân hàng ký xác nhận thanh toán hoặc gửi kèm giấy báo nợ xác nhận nghiệp vụ đã chuyển khoản
Trang 39Bước 5: Chứng từ khi đã xác nhận thanh toán xong được chuyển cho Kế
toán tổng hợp và kế toán chi tiết hạch toán kế toán, cuối cùng chuyển sang lưu trữ,
bảo quản.
Thời gian thực hiện: nếu bộ chứng từ hoàn chỉnh, trong vòng 3 ngày P.KH
TC phải hoàn tất công việc kiểm soát, lập phiếu, duyệt phiếu, trả tiền cho người thụ hưởng, nếu bộ chứng từ chưa hoàn chỉnh sẽ phản hồi cho người đề nghị thanh toán
biết để bổ sung và thực hiện lại từ đầu quy trình.
Các thủ tục kiểm soát sử dụng trong quy trình:
Kiểm soát, kiểm tra chéo…các dữ liệu liên quan: chứng từ, số liệu. So sánh đối chiếu kế hoạch, dự toán, hợp đồng, tiến độ, hóa đơn, phiếu giao nhận…
Phân công phân nhiệm: quy trình có sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức, tách bạch được chức năng đề xuất, lập phiếu, chi tiền, xét duyệt. Tuy nhiên nên tách công tác kiểm soát chi ra khỏi kế toán thanh toán.
Chú ý đến các khoản chi với số tiền lớn, các khoản chi đột xuất, chi tiếp khách, đối ngoại. Thủ quỹ theo dõi tồn quỹ và niêm phong vào cuối mỗi ngày, định kỳ hoặc đột xuất tiến hành kiểm quỹ có sự chứng kiến của trưởng
phòng KHTC. Đảm bảo hạn mức quỹ tiền mặt tối thiểu tại đơn vị.
Nhận xét, đánh giá:
Ưu điểm:
Các định mức chi tiêu được thể hiện rõ trong QCCTNB, làm căn cứ để thực hiện thanh toán công khai và công bằng đến từng đối tượng.
Chứng từ được thống nhất bằng các mẫu biểu quy định, thời gian thanh toán tương đối nhanh và đúng hạn với đa số các trường hợp.
Trang 40 Quy trình còn chứa đựng nhiều rủi ro khó kiểm soát. Chứng từ phát sinh từ
bộ phận, nên kiểm soát chi khó phát hiện được các sai sót, gian lận xảy ra trong quá trình thu thập chứng từ thanh toán (trường hợp chứng từ sai, chứng
từ giả, chứng từ khống, thông đồng với khách hàng nâng giá nhất là đối với các dịch vụ thuê ngoài…) Loại chứng từ đề nghị thanh toán theo danh sách
do bộ phận tự kê khai rất khó để kế toán thực hiện kiểm soát phát hiện sai sót, hoặc bộ phận cố ý gian lận tạo vụ việc khống, tạo chứng từ khống, hoặc
đề nghị thanh toán trùng lắp. Nguyên nhân của tình trạng trên cơ bản là do ý thức tuân thủ còn chưa tốt, kỷ luật trong nhà trường chưa cao, nội quy thì có nhiều nhưng chưa có tiền lệ xử phạt thích đáng nên mọi người cứ làm ẩu, cứ
cố ý làm sai, khi nào bị phát hiện thì làm lại.
Khối lương công việc quá tải đối với kế toán thanh toán: vừa làm công tác kiểm soát chi, vừa lập phiếu thanh toán, vừa làm chứng từ rút vốn và giao dịch với ngân hàng, kho bạc. Áp lực phải kiểm tra đối chiếu, phát hiện sai sót, gian lận, áp lực tâm lý cá nhân trước những mâu thuẫn nảy sinh trong công việc khi phải giải thích, tranh luận, bàn cãi, bác bỏ, từ chối những đề xuất thanh toán chưa hợp lệ làm kế toán thanh toán luôn trong trạng thái căng thẳng, dễ dẫn đến thiếu trách nhiệm, làm ẩu, làm dối, hoặc chán việc,
bỏ việc, Thực tế phòng KHTC đã phải tuyển dụng thay thế cho vị trí này nhiều lần (thay đổi 4 người trong 6 năm từ 2004 đến 2009).
Thông tin truyền thông về thanh toán chưa được CBGV trong trường chú trọng và quan tâm. Một số người không nắm được quy định về định mức chi tiêu trong QCCTNB, không nắm được các thủ tục thanh toán đơn thuần. Khi
có việc cần phải thanh toán mới bắt đầu tìm hiểu, hỏi han. Do đó, việc thu thập và xử lý chứng từ thường không trôi chảy, gặp vướng mắc, sai sót.
Quy chế chi tiêu nội bộ chưa khái quát và dự tính hết được các nội dung chi tiêu, nên khi phát sinh nội dung chi ngoài quy chế, thủ tục thanh toán thường
chậm và gặp rắc rối hơn.
(4) Hoạt động quản lý tài sản:
Tài sản ở đây bao gồm tài sản hữu hình và vô hình nói chung, không giới hạn chỉ là tài sản cố định mà còn bao gồm tất cả các loại công cụ, dụng cụ lâu bền dùng