[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]1.2 Các hệ thống chính trong nhà máy Nhà máy nhiệt điện hoạt động trên nguyên lý chuyển hóa năng lượng nhiệt năng từ đốt cháy các nhiên liệu
Trang 1[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước, ngành điện lực Việt Nam là một ngành có vị trí rất quan trọng Cung cấp năng lượng và thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh của tất cả các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của ngành điện lực cũng đánh giá sự phát triển, tiến bộ của toàn xã hội Với những đặc trưng riêng của mình là sản xuất và tiêu thụ phải đi đôi với nhau Do đó để đáp ứng tốt giữa cung và cầu thì đòi hỏi ngành điện phải có sự phát triển hợp lý: Vừa có khả năng đáp ứng những nhu cầu hiện tại vừa phải có sự chuẩn bị cho tương lai Vì vậy không những ngành điện là động lực cho các ngành kinh tế khác mà chính ngành điện cũng phải hiện đại hoá quá trình sản xuất sớm nhất để kịp thời cung cấp cho đất nước những nguồn điện năng có chất lượng cao Nhà máy nhiệt điện Uông Bí một là nhà máy có công suất lớn do Nga giúp đỡ xây dựng, qua 40 năm sản xuất, nhà máy đã cung cấp cho lưới điện quốc gia gần 4 tỉ KWh điện và cũng đang trong quá trình hiện đại hoá sản xuất từng khâu, từng khu vực của dây truyền sản xuất điện Đã đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hóa đất nước.
Sau thời gian 5 tuần thực tập tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí, bằng những kiến thức được trang bị trên lớp và sự hướng dẫn của anh Đào Văn Trọng – kỹ thuật viên Nhà máy, chúng em đã có cơ hội tiếp xúc, làm quen với công việc của nhà máy nhiệt điện Uông
Bí theo đề cương hướng dẫn của khoa Công nghệ tự động.
Tuy nhiên do thời gian có hạn và khả năng kiến thức của bản thân còn hạn chế, vì vậy bản báo cáo thực tập của em không tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được những góp ý của thầy cô trong khoa và các bạn khác.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2015
Sinh viên Dương Thị Hằng
Trang 2[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
MỤC LỤC
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ
Trang 3[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
1.1 Tổng quan về nhà máy nhiệt điện Uông Bí
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy cần rất nhiều năng lượng để phục vụ cho công cuộc đó, đặc biệt là năng lượng điện.
Nhà máy nhiệt điện Uông bí cách thủ đô Hà nội khoảng 130km về hướng đông Nhà máy điện được thành lập từ những năm 70 của thế kỷ XX Tổng diện tích của nhà máy là 320.342m2 trong đó 111.300m2 là dành cho nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng
và các khu vực thi công Nhà máy kết nối với lưới điện tại sân phân phối 220/110KV và đấu với trạm biến áp Bạc đằng tràng bạch Nguồn nguyên liệu chính cho nhà máy là than cám 5, than cám 6 được lấy từ mỏ Vàng Danh, dầu FO được vận chuyển bằng thuyền đi qua sông Uông cấp cho nhà máy tại trạm bơm dầu đặt tại Uông Bí.
Giai đoạn thành lập, xây dựng, sản xuất và chiến đấu từ 1961-1975: nhà máy nhiệt điện Uông bí được khởi công xây dựng ngày 19/5/1961 vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 71 của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tổng công suất đặt ban đầu là 48MW.
Giai đoạn mở rộng sản xuất đợt III & IV từ 1975-2000: nhà máy mở rộng sản xuất với công suất 110MW.
Giai đoạn mở rộng sản xuất từ năm 2000 đến nay: trước tình hình thực tế là thiết năng lượng cũng như sự lạc hậu của một số nhà máy điện xây dựng từ thập niên 60 Chính vì vậy Chính phủ đã giao cho Tổng công ty LILAMA làm tổng thầu EPC dự án nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng với công suất 300MW với hình thức chìa khóa trao tay
và đây là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam thực hiện theo hình thức này.
Sau một thời gian chuẩn bị và xây dựng (2001-2006) nhà máy đã được hoàn thành trong niềm vui sướng của tập thể cán bộ công nhân viên công ty LILAMA cũng như nhân dân cả nước.
Công ty nhiệt điện Uông bí đã tiếp quản, vận hành tổ máy mở rộng 1-300MW từ ngày 07/11/2009.
Ngày 23/05/2008, gói thầu EPC dự án mở rộng 2330MW do tổng thầu Chengda Trung Quốc được khởi công Đến cuối năm 2011 nhà thầu Chengda đã bàn giao thương mại cho Công ty nhiệt điện Uông Bí.
-Nhiệt điện Uông Bí thành tổ hợp ba nhà máy với công suất là 740MW.
Đầu năm 2015, tổ máy 110MW của Nhà máy đã dừng hoạt động Hiện tại nhà máy chỉ hoạt động 2 tổ máy 300MW và 330MW với tổng công suất là 630MW.
Trang 4[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
1.2 Các hệ thống chính trong nhà máy
Nhà máy nhiệt điện hoạt động trên nguyên lý chuyển hóa năng lượng nhiệt năng
từ đốt cháy các nhiên liệu hữu cơ thành cơ năng quay tuabin, chuyển cơ năng thành năng lượng điện Nhiệt năng được dẫn tới tuabin qua môi trường dẫn nhiệt là hơi nước Nhiệt năng cung cấp càng nhiều thì năng lượng điện phát ra càng lớn và ngược lại Điện
áp phát ra ở mỗi đầu cực máy phát được đưa qua hệ thống trạm biến áp nâng áp tới cấp điện áp thích hợp trước khi hòa vào lưới điện quốc gia.
Các thành phần chính trong quá trình chuyển hóa năng lượng trong nhà máy nhiệt điện bao gồm:
Lò hơi: thực hiện chuyển đổi năng lượng sơ cấp (than, dầu) thành nhiệt năng, chuyển nước thành hơi nước.
Tuabin: tuabin thực hiện chuyển đổi năng lượng từ nhiệt năng sang cơ năng.
Máy phát: máy phát thực hiển chuyển đổi năng lượng từ cơ năng sang điện năng.
Trạm biến áp: trạm biến áp thực hiện nâng điện áp từ đầu cực máy phát lên điện áp cao để đáp ứng truyền tải điện năng.
Ngoài các thành phần chính, nhà máy nhiệt điện chứa các hệ thống phụ trợ cho các thành phần chính như:
Trang 5[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
Hệ thống chế biến và cung cấp nhiên liệu: Nhiên liệu là than được nghiền mịn (R90) rồi được gió nóng thổi vào lò thực hiện quá trình cháy sinh ra nhiệt.
Trạm bơm tuần hoàn: Trạm bơm tuần hoàn làm nhiệm vụ cung cấp nước làm mát bình ngưng với lưu lượng nước làm mát bình ngưng là 38580
Hệ thống thải xỉ: Thải xỉ lò ra khỏi nhà máy.
Hệ thống cung cấp dầu đốt lò, dầu bôi trơn làm mát gối trục.
Hệ thống sản xuất Hydrô: Cung cấp Hydro có chất lượng cao làm mát máy phát điện.
Hệ thống cung cấp khí: Cung cấp khí cho các van khí nén.
Hệ thống điều khiển, đo lường
Các thành phần trong nhà máy hoạt động thông qua hệ thống tích hợp hoạt động của các thành phần với nhau, hệ thống đó là hệ thống điều khiển và giám sát tích hợp (ICMS) trong nhà máy Mỗi hệ thống đều có các trạm điều khiển riêng và được tích hợp trong hệ thống ICMS.
1.3 Quy trình chuyển hóa năng lượng và chu trình nhiệt của nhà máy
1.3.1 Quá trình chuyển hóa năng lượng trong nhà máy nhiệt điện
Nguyên lý sản xuất điện của nhà máy nhiệt điện là chuyển hóa nhiệt năng từ việc đốt cháy các loại nhiên liệu trong lò hơi thành cơ năng quay tuabin, chuyển cơ năng thành năng lượng điện trong máy phát điện Nhiệt năng được dẫn đến tuabin qua một môi trường dẫn nhiệt là hơi nước Hơi nước chỉ là môi trường truyền tải nhiệt năng đi, nhưng hơi vẫn phải đảm bảo chất lượng (như phải đủ áp suất, đủ độ khô) trước khi đi vào tuabin để sinh công Nhiệt năng cung cấp càng nhiều thì năng lượng điện phát ra càng lớn và ngược lại Điện áp phát ra ở đầu cực máy phát điện sẽ được đưa qua hệ thống trạm biến áp nâng lên cấp điện áp thích hợp trước khi hòa vào mạng lưới điện quốc gia.
Tóm lại, quá trình chuyển hóa năng lượng là từ năng lượng hóa năng chứa trong nhiên liệu thành nhiệt năng bởi quá trình đốt cháy nhiên liệu Hơi nước bão hòa là môi trường truyền nhiệt năng từ lò đến tuabin Tại tuabin nhiệt năng biến đổi thành cơ năng,
Trang 6Nhiệt năng Hóa năng
Cơ năng
[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
sau đó từ cơ năng biến đổi thành điện năng Quá trình chuyển hóa năng lượng đó được thể hiện trong hình sau:
Hình 1-1 Quy trình chuyển hóa năng lượng
1.3.2 Chu trình nhiệt của nhà máy nhiệt điện Uông Bí tổ máy 330MW
Nước từ bình ngưng có nhiệt độ gần bằng nhiệt độ môi trường, được bơm ngưng bơm qua bộ gia nhiệt hơi chèn tới các bộ gia nhiệt hạ áp số 1→2→3→4 Tại đây, nước sẽ được làm nóng lên bơi hơi trích ra từ tuabin hạ áp Sau khi ra khỏi các bình gia nhiệt hạ
áp nước được đưa tời bình khử khí để khử hết các bọt khí có lẫn trong nước.
Nước từ bình khử khí được các bơm tăng áp và bơm cấp A,B,C đưa lần lượt tới các bình gia nhiệt cao áp số 6, bình gia nhiệt cao áp số 7 và bình làm mát hơi của bình gia nhiệt số 6 Các bình gia nhiệt cao áp này sẽ tiếp tục nâng nhiệt độ của nước nhờ hơi trích
từ tuabin cao áp Tiếp đó, nước được đưa vào bộ hâm để làm nóng thêm nhờ khói thoát
ra từ lò Nước ra khỏi bộ hâm có áp suất khoảng 170 bar và nhiệt độ khoảng 450.
Khi đã đạt được nhiệt độ thích hợp, nước được đưa vào bao hơi Nước từ bao hơi
đi xuống các đường ống được bố trí xung quanh thành lò hay còn gọi là các giàn ống sinh hơi Tại đây, nước sẽ nhận nhiệt năng từ quá trình đốt cháy nhiên liệu trong lò và trở thành hơi bão hòa Hơi nước bão hòa được tách ẩm nhờ các xyclon và màng chắn ẩm Hơi ra khỏi bao hơi gần đạt trạng thái khô hoàn toàn, được đưa vào các bộ quá nhiệt cấp
1, bộ quá nhiệt màng, bộ quá nhiệt cấp 2, trở thành hơi quá nhiệt có áp suất khoảng 170 bar và nhiệt độ khoảng 540 Hơi này sẽ được phun vào xylanh cao áp của tuabin, sinh công lần thứ nhất Ra khỏi xylanh cao áp, hơi bị mất nhiệt (còn khoảng 400), đi qua đường tái lạnh vào bộ tái nhiệt để nâng nhiệt độ của hơi gần với nhiệt độ hơi mới (khoảng 540), theo đường tái nóng đi tới xylanh trung áp, giãn nở sinh công trong xy lanh trung áp Hơi ra khỏi xy lanh trung áp tiếp tục được đưa vào xy lanh hạ áp để sinh công lần cuối Hơi ra khỏi xylanh hạ áp sau khi sinh công sẽ được đưa tới bình ngưng để ngưng trở lại thành nước Bình ngưng có hệ thống nước làm mát tuần hoàn và hệ thống hút chân không làm cho hơi nước được ngưng tụ nhanh hơn Nước sau khi được ngưng
tụ trong bình ngưng sẽ tiếp tục được bơm ngưng bơm đi theo chu trình khép kín của hơi
và nước.
Trang 7[BÁO CÁO THỰC TẬP NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ]
Trang 81.4 Hệ thống điều khiển nhà máy nhiệt điện
Dây truyền công nghệ trong nhà máy Nhiệt điện Uông Bí được điều khiển bởi hệ thống điều khiển phân tán DCS Hệ thống DCS tại nhà máy Nhiệt điện Uông Bí sử dụng cho hai tổ máy là khác nhau:
- Hệ thống DCS của ABB điều khiển toàn bộ quá trình hoạt động của tổ máy 330MW.
- Hệ thống DCS của EMERSON điều khiển tất cả các dây truyền công nghệ của tổ máy 330MW.
Ở đây, ta chỉ tìm hiểu tổng quan về bộ điều khiển DCS của tổ máy 330MW.
Trang 91.1.2.Mô tả sơ bộ về hệ thống DCS Ovation EMERSON tổ máy 330MW
Hệ thống DCS tổ máy 330MW là hệ thống giám sát và điều khiển tích hợp (ICMS) bao gồm hai hệ thống: Hệ thống giám sát và điều khiển tổ máy (UCMS) và hệ thống giám sát và điều khiển các trạm (SCMS).Tất cả hệ thống được kết nối mạng LAN theo cấu trúc thẳng (hình sao) thông qua các Switch.
Hệ thống UCMS có 12 bộ Controller (CTRL) như sau:
- Controller 1/51: hệ thống khói, gió mặt A
- Controller 2/52: hệ thống khói, gió mặt B
- Controller 3/53: hệ thống nghiền than A,B
- Controller 4/54: hệ thống nghiền than C,D
- Controller 11/61: hệ thống nước ngưng và hệ thống nước bổ sung
- Controller 12/62: hệ thống tuabin và máy phát
- Controller 13/63: hệ thống điện ECS-1
- Controller 14/64: hệ thống điện ECS-2
- Controller 41/91 và 42/92: hệ thống điều khiển tuabin DEH
Hệ thống SCMS có 4 bộ Controller là:
- Controller 1/51: trạm dầu nhiên liệu, báo cháy, khí nén
- Controller 2/52: hệ thống điện
Trang 10- Controller 3/53: hệ thống khử lưu huỳnh FGD
- Controller 4/54: điện cho hệ thống nghiền đá vôi
Switch gồm 5 loại chính là:
- IP Switch: kết nối Root Switch với các máy in
- Root Switch (gồm cả Backup Switch): kết nối các máy vận hành, lịch sử, lập trình
- Core Switch (cả Backup Switch): kết nối hai hệ thống UCMS và SCMS
- Fanout Switch (cả Backup Switch): kết nối với Root Switch để mở rộng ra các Controller
- DMZ Switch : kết nối dữ liệu từ các máy WAVE201 đến các máy Admin (giám sát, quản lý)
Trang 11Hình 1-2 Sơ đồ DCS của nhà máy nhiệt điện Uông Bí
CHƯƠNG II GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG LÒ HƠI CỦA NHÀ MÁY ĐIỆN
UÔNG BÍ TỔ MÁY 330MW
2.1. Tổng quan hệ thống điều khiển lò hơi
Hệ thống điều khiển lò hơi nhà máy nhiệt điện Uông Bí là một hệ thống điều khiển phức tạp, giám sát và điều khiển hàng trăm tham số Hệ thống có cấu trúc phức tạp với hàng trăm mạch vòng điều khiển khác nhau Trong lò hơi các quá trình điều khiển gió, không khí vào lò, nhiên liệu, quá trình cháy, hơi, nước cấp,… đều có tác động và qua lại
Trang 12lẫn nhau, để đạt được hiệu suất tối đa, đáp ứng yêu cầu về tải thì cùng lúc phải phối hợp điều khiển nhiều đối tượng với nhiều thông số Điều này yêu cầu phải có một hệ thống điều khiển tổng thể, điều khiển giám sát và làm giảm được sự xen kênh giữa các hệ điều khiển của các đại lượng trong hệ thống Có thể chia hệ thống thành các hệ điều khiển chính sau:
- Hệ điều khiển phụ tải nhiệt: điều khiển quá trình cấp nhiên liệu, nghiền và phun than vào trong buồng đốt cháy sinh nhiệt năng.
- Hệ điều khiển chân không buồng đốt: điều khiển luồng gió cấp không khí và khói thoát, đảm bảo điều kiện cháy tối ưu trong buồng đốt.
- Hệ điều khiển mức nước bao hơi: điều khiển quá trình cấp nước cho bao hơi, đảm bảo sự cân bằng giữa lượng hơi sinh ra, lưu lượng nước cấp và nước đi xuống giàn sinh hơi.
- Hệ điều khiển hơi: đảm bảo các chất lượng hơi trước khi phun vào tuabin với các thông số như độ khô, nhiệt độ, áp suất, lưu lượng hơi,…
2.2. Cấu tạo chung và nguyên lý hoạt động của lò hơi tổ máy 330MW
Mô tả chung lò hơi B&W-1020/18.34-M
Lò hơi được chế tạo bởi BWBC cho dự án UBEX2 1x330MW theo công nghệ của B&W Lò hơi kiểu một bao hơi, tuần hoàn tự nhiên, buồng lửa đơn, gió cân bằng và bộ tái nhiệt đơn, thải xỉ khô Lò được thiết kế để đốt than Antraxit Việt Nam, cùng với hệ thống máy nghiền bi Việc cấp gió nóng và ngọn lửa chữ “W”, đốt kiểu downshot sử dụng các vòi đốt than bột dòng đặc với hàm lượng NOx thấp kiểu EI-XCL (tăng cường đánh lửa – điều khiển hướng tâm – Nox thấp) Các vòi đốt này được thiết kế để đốt than có hàm lượng chất bốc thấp Lò hơi lắp đặt kiểu đứng ngoài trời có mái che với đầy đủ cấu trúc thép Có hai bộ sấy không khí kiểu quay cho một lò hơi.
Cấu tạo chung
Lò hơi đốt phun gồm các bộ phận chính sau: bao hơi, van hơi chính, đường nước cấp, vòi phun nhiên liệu, buồng lửa là không gian để đốt cháy tất cả nhiên liệu phun vào
lò, phễu tro lạnh để làm nguội các hạt tro xỉ trước khi thải ra ngoài trong trường hợp thải xỉ khô, giếng xỉ để hứng tất cả xỉ ra ngoài, bơm nước cấp, ống khói, bộ sấy không khí, quạt gió, bộ hâm nước, dàn ống nước xuống, dàn ống nước lên, dãy feston-dàn ống sinh hơi và bộ quá nhiệt, bộ lọc bụi để chống mài mòn cánh quạt khói.
Trang 13vào đầy đủ, cháy kiệt các chất bốc và cốc, tạo thành sản phẩm cháy và tro xỉ ở nhiệt độ cao Tro xỉ bị cháy bỏng, một bộ phận kết lại tạo thành hạt lớn rơi xuống đáy buồng lửa, tro xỉ được làm nguội bằng phễu tro lạnh, đông đặc lại rồi thải ra ngoài Những hạt tro xỉ
bị dòng sản phẩm cháy cuốn theo, nguội dần do truyền nhiệt cho môi chất qua các dàn ống, đông đặc lại trước khi ra khỏi buồng lửa rồi theo sản phẩm cháy đi qua bộ khử bụi
bị tách ra hoặc thải ra ngoài qua ống khói Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận bám lại trên các bề mặt truyền nhiệt hoặc trên các đường ống dẫn khói Sản phẩm cháy khi ở trong buồng lửa có nhiệt độ khá cao, khoảng 1200 đến 1600, qua các bề mặt truyền nhiệt cho môi chất, nhiệt độ giảm xuống 120 -180 trước khi thải ra ngoài.
Nước từ hệ thống nước cấp được đưa tới ống góp dưới của bộ hâm Nước đi lên trên qua các dàn ống của bộ hâm và được đưa tới ống góp phía trên của bộ hâm Nước
đã được gia nhiệt từ ống góp đầu ra bộ hâm theo ống dẫn đi vào bao hơi Nước cấp được gia nhiệt (nhưng vẫn quá lạnh) hỗn hợp với nước bão hòa trong bao hơi Các dòng hỗn hợp này đi vào các ống nước xuống (4 đường nước xuống) và được phân phối tới các ống góp dưới của buồng đốt bằng các ống liên thông Nước được đưa lên trên bởi sự tuần hoàn tự nhiên thông qua các ống sinh hơi tới các ống góp phía trên của các mảng ống sinh hơi Hỗn hợp hơi/nước bão hòa từ các ống góp trên của các mảng ống sinh hơi được đưa tới bao hơi nhờ các ống liên thông Hỗn hợp hơi/nước bão hòa đi qua các tấm chắn phía dưới của buồng phân phối trong bao hơi, dòng hỗn hợp này nằm giữa các tấm chắn
và thành bao hơi sẽ đi vào các xyclone tách hơi và nước trong bao hơi, tại đây hơi được tách ra khỏi nước Nước bão hòa được thoát ra qua phần dưới của xylone và kết hợp với nước cấp Dòng hỗn hợp này đi qua bộ khử xoáy và đi vào các ống nước xuống để tiếp tục một vòng tuần hoàn mới Hơi sau khi ra khỏi các xyclone đi qua bộ phân phối hơi tới ống góp đầu vào quá nhiệt tầng trần, sau khi qua quá nhiệt tầng trần, hơi tiếp tục được gia nhiệt bởi quá nhiệt cấp 1, quá nhiệt mành, quá nhiệt cấp 2 và cuối cùng đi vào tuabin cao
áp Có hai bộ phận giảm ôn phun giữa mỗi bộ quá nhiệt để điều chỉnh nhiệt độ hơi quá nhiệt đảm bảo nhiệt độ hơi quá nhiệt nằm trong dải điều chỉnh tại các điều kiện tải thay đổi.
Hơi thoát từ tuabin cao áp sẽ được đưa tới bộ tái nhiệt thông qua đường tái nhiệt lạnh, sau khi nhận nhiệt tại bộ quá nhiệt trung gian, hơi sẽ đi vào tuabin trung áp thông qua đường tái nhiệt nóng, một bộ giảm ôn được lắp đặt trên đường tái nhiệt lạnh.
2.3. Các thông số kỹ thuật của lò hơi trong nhà máy
Lò hơi được thiết kế dựa trên công suất liên tục lớn nhất của lò hơi (BMCR) giống như tải của tuabin khi các van điều chỉnh được mở hết (VWO) Công suất hơi tại tải định mức lò hơi (BRL) giống tải định mức RO của tuabin.
Trang 14(1) Lưu lượng hơi mới (t/h) 1020 952
(2) Áp suất hơi mới tại đầu ra lò hơi (Mpa) 18,34 18,25
(3) Nhiệt độ hơi mới tại đầu ra của lò hơi () 543 543
(5) Áp suất hơi tái nhiệt tại đầu vào (MPa) 4,407 4,121
(6) Áp suất hơi tái nhiệt tại đầu ra lò hơi (MPa) 4,217 3,943
(12) Áp suất thiết kế cho bộ hâm nước (MPa) 20,9 20,9
(13) Áp suất thiết kế cho bộ tái nhiệt (MPa) 5,34 5,34
Cân bằng nghiệt lò hơi (theo than thiết kế, ở tải 100% RO)
2 Tổn thất nhiệt do cháy không hoàn toàn về mặt hóa học q 3 % 3.07
3 Tổn thất nhiệt do cháy không hoàn toàn về mặt cơ học q 4 % 2.79
8 Lượng không khí lý thuyết (tại điều kiện tiêu chuẩn) V o Nm 3 /kg 5.56
9 Hệ số không khí thừa đầu ra buồng đốt - 1.3
Các thông số chính của lò hơi tại tải định mức RO (than thiết kế):
Đặc
tính
chính
Lưu lượng hơi quá
nhiệt t/h 952 Nước giảm
ôn
Lưu lượng nước giảm
ôn quá nhiệt cấp 1 t/h 39.1
Áp suất hơi quá nhiệt Mpa.g 18.25 Lưu lượng nước giảm
ôn quá nhiệt cấp 2 t/h 0.0