Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Trang 1Lời nói đầuPhát triển công nghiệp nông thôn là một nội dung trọng yếu của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nớc ta và đang là một nhu cầuhết sức bức bách của Bắc Giang Thực tiễn đã chỉ rõ: nếu chỉ dựa vào nôngnghiệp thuần nông, độc canh cây lúa thì kinh tế tỉnh Bắc Giang không thể pháttriển nhanh và bền vững, đời sông nhân dân khó đợc cải thiện và nâng cao.
Với hy vọng góp phần nhỏ vào việc tìm ra những căn cứ khoa học và nhữnggiải pháp thực tiễn khả thi đa Bắc Giang tiến nhanh lên trình độ văn minh, hiện
đại, tôi đã đi sâu nghiên cứu vấn đè “Phát triển công nghiệp nông thôn ở BắcGiang theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hoá “
ở nớc ta cho đến nay đã nhiều công trình nghiên cứu và viết về công nghiệpnông thôn Tất cả các tác giả đều tập trung nghiên cứu công nghệp nông thôn với
t cách là giải pháp thúc đẩy sự phát triển toàn diện kinh tế – xã hội nông thôntrong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các tác giả đều thống nhất nhận
định và đã đạt tới kết quả sau:
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của kinh tế nông thôn và nàm trongkết cấu công nghiệp chung của cả nớc
Phát triển công nghiệp nông thôn là yêu cầu khách quan cấp thiết của quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp nông thôn có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hộinông thôn
Đề xuất đợc những đính hớng và giải pháp cho sự phát triển công nghiệpnông thôn nớc ta
Tuy vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở BắcGiang còn ở bớc sơ khởi, cha có những công trình nghiên cứu ngang tầm Dovậy, phải đi sâu ngiên cứu phát triển công ngiệp nông thôn ở Bắc Giang trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên các nội dung sau:
Phân tích, luận giải làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển công nghiệpnông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở quántriệt sâu sắc những quan điểm lý luận của các tác giả đi trớc, các nghị quyết của
Đảng và Nhà nớc; hệ thống hoá và phát triển những kết quả nghiên cứu về côngnghiệp nông thôn của các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh
Phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học thực trạng phát triểncông nghiệp nông thôn ở Bắc Giang trong những năm đổi mới, rút ra những mâu
Trang 2thuẫn và những tồn tại cần khắc phục để thúc đẩy công nghiệp nông thôn BắcGiang phát triển theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Đề xuất có căn cứ khoa học những quan điểm định hớng cơ bản cần quán triệt
và những giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đây công nghiệp nông thôn BắcGiang phát triển nhanh, bền vững theo hớng công nghiệp hoá và đạt hiệu quảkinh tế xã hội cao
Theo hớng đó, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các hoạt động sản xuất côngnghiệp ở nông thôn bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp đợc tổ chức nhiều hình thức
nh hộ gia đình công ty, xí nghiệp t nhân, cá thể, công ty trách nhiệm hữu hạn.công ty cổ phần, xí nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nớc đang tồn tại vàphát triển trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Giang, bao gồm cả những thị trấn, thị
tứ trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến nay và làm tập trung làm nổi bật cácvấn đề sau:
Xác lập quan niệm khoa học về công nghiệp nông thôn làm cơ sở đi sâunghiên cứu công nghiệp nông thôn trên địa bàn Bắc Giang
Chỉ ra những điều kiện cơ bản để kình thành và phát triển công nghiệp nôngthôn cùng những đặc điểm chủ yếu của nó
Phân tích những mô hình phát triển công nghiệp nông thôn ở các nớc vànhững vùng lãnh thổ đang phát triển trong khu vực; đồng thời vạch rõ những u,nhợc điểm của những mô hình phát triển công nghiệp nông thôn ở các nớc vùnglãnh thổ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm đối với phát triển công nghiệpnông thôn ở Bắc Giang
Phân tích làm rõ thực trạng phát triển công nghiệp nông thônở Bắc Giangtrong những năm đổi mới, từ đó chỉ ra những mâu thuẫn, tồn tại cần giải quyết
và đẩy mạnh phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang trong những năm tới.Xác lập những quan điểm định hớng cơ bản để phát triển công nghiệp nôngthôn phù hợp với điều kiện cụ thể của Bắc Giang
Đề xuất những giải pháp thực tiễn và khả thi nhằm đẩy mạnh phát triển côngnghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hoá trongnhững năm tới
Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hoá,hiện đại hoá là một vấn đề mới mẻ và phức tạp Mặc dù tôi đã rất cố gắng đi sâunghiên cứu và đã đạt đựợc những kết quả nhất định, song do còn có nhiều khó
Trang 3khăn về chủ quan và khách quan, cho nên đề án này chắc chắn còn có nhữngkhiếm khuyết, kích mong các thầy giáo lợng thứ.
Tôi chân thành cám ơn THS Nguyễn Thành Hiếu đã tận tâm hớng dẫn,giúp đỡ tôi hoàn thành đề án này
Trang 4I Lý luận chung về phát triển công nghiệp hoá ở nông thôn
theo hớng xă hội chủ nghĩa
1.1 Lý luận chung
a vai trò công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Trong xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn ở các nớc đang phát triển,thì trớc hết phải tập trung vào phát triển nông nghiệp và từ nông nghiệp đi lên
Đó là kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hoá
Bản thân nông nghiệp có những mặt han chế nh không thể tự mình tạo ra sựthay đổi mạnh mẽ về cơ sở vật chất kỹ thuật, về công nghệ và thiêt bị, để hiện
đại hoá sản xuất tạo ra mức tăng trởng cao hơn, cũng nh không đủ khả năng tạo
ra việc làm với thu nhập cao hơn cho số lao động tăng lên ở nông thôn,mà cần
đến tác động của công nghiệp Nhng chính công nghiệp đo thị ở các nớc nôngnghiệp lạc hậu lại cha phát triển đén mức có thể thu hút đợc nhiều lao động dthừa ở nông thôn và các nhu cầu khác ở nông thôn Đó là lý do đặt ra vấn đècông nghiệp hoá ở nông thôn ở các nớc đang phát triển trong quá trình côngnghiệp hoá đất nớc
Trong thời kì đầu nông nghiệp phát triển theo hớng công nghiệp hoá, do sẵn
có tiềm lực về đất đai, lao động dồi dào, nên thờng tập trung vào phát triển sảnxuất nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu nông sản cho xã hội và cả cho xuất khẩu.Trong giai đoạn này giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổnggiá trị sản phẩm của kinh tế nông thôn, nguồn thu nhập của dân c nông thôn chủyếu là từ nông nghiệp, còn hoạt động và giá trị sản lợng của công nghiệp nôngthôn cha nhiều
Sang giai đoạn tiếp theo, ở nông thôn cả hai khu vực kinh tế nông nghiệp vàcông nghiệp nông thôn đều có điều kiện và khả năng phát triển khu vựckinh tếnông nghiệp do tận dụng các khả năng đát đai, mặt nớc, nguồn nhân lực dồi dào
ở nông thôn, huy động vốn đầu t twf nhiều nguồn ở nông thôn và thành thị, sửdụng khoa học và công nghệ tiến bộ, và cơ sở hạ tầng đơc cải thiện tạo ra khối l-ợng nông sản hàng hoá lớn với chất lợng và giá trị cao Điều này đã làm tăng thunhập từ nông nghiệp cho dân c nông thôn khu vực kinh tế nông nghiệp trở thànhmột trụ cộtvững chắc của kinh té nông thôn Nhng nếu dừng lại ở đây thì cha ổn
định vì nông nghiệp phát triển thì mới đảm bảo cho c dân nông thôn một nguồnthu nhập hạn chế chứ không đủ khả năng đa nông thôn trở lên giàu có duổi kịp
đô thị Để đa nông thôn đi lên cần phải thực hiện bớc chuyển dịch cơ cấu kinhtế:đồng thời phát triển kinh tế nông nghiệp và phát triên công nghiệp nông thôn
là ngoài king tế ngoài nông nghiệp, nhng không làm phơng hại đến sự tăng trởng
và phát triển nông nghiệp Khu vực kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn, trêncơ sở sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, có những khả năng và điều kiện
Trang 5thuận lợi đẻ phát triển Kinh tế ngoài nông nghiệp có nhu cầu mở mang ở nôngthôn trớc hết là để tạo việc làm cho lao đọng nông thôn ngày càng d thừa nhiều
mà đất nông nghiệp - nguồn t liệu chủ yếu để mở rộng sản xuất nông nghiệp -thì
có hạn chế, thêm vào đó là klhả năng tăng vụ, xen canh, gối vụ cũng bị hạn chế,không phải chỗ nào cũng có điều kiện đẻ thực hiện chính vì vậy sự manh mún
về ruộng đất ngày càng chầm trọng và đay sẽ là một trở ngại to lớn đối với côngcuộc phát triển nông thôn về sau
Giải quyết việc làm ở nông thôn thông qua mở mang ngành nghề nôngnghiệp là một giải pháp thích hợp và trên thực tế đã đem lại hiệu quả thiết thực
Nó vừa tạo đièu kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển, vừa hỗ trợ cho việc thuhút số lao động d thừa nông nghiệp, sử dụng một phần thu nhập đẻ đầu t chonông nghiệp phát triển, thúc đảy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.Trong giai đoạn này giá trị sản phẩm ngoài nông nghiệp ở nông thôn có xuhớng tăng dần, cả về số tuyệt đói và tỷ trọng Tỷ trọng giá trị sản phẩm ngoàinông nghiệp trong cơ cấu
kinh tế nông thôn từ chỗ thấp hơn tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tiến lênbằng rồi, vợt nông nghiệp
Khi một nơc đang phát triển hoàn tất quá trình công nghiệp, hoá trở thànhmột nứơc công nghiệp, thì phát triển nông thôn bớc vào tời kì giảm bớt tỷ trọngkhu vực kinh tế nông nghiệp nhng vẫn giữ một mức độ cần thiết về sản lợngnông sản, về giá trị sản phẩm nông nghiệp trong kinh tế nông thôn và mở rộngkhu vực kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn cả về sản lợng, giá trrị sản lợng
và tỷ trọng
Tóm lại trong công cuộc phát triển nông thôn, để đạt mục tiêu tạo việclàmvà nâng cao thu nhập của c dân nông thôn, đa mức sống của dân nông thôntiến lên gần mức sống của dân thành thị thì giải pháp cơ bản không phải chỗ tậpchung vào phát triển nông nghiệp la đủ mà phải phát triển đồng thời kinh tế nôngnghiệp và ngoài nông nghiệp theo hớng đa kinh tế ngoai nông nghiệp ở nôngthôn phát triển đạt đến tỷ trọng cao hơn kinh tế nông nghiệp (1)
b Mục tiêu, nội dung tổng quát và quan điểm phát triển.
Thực tế cho thấy dù công nghiệp hoá nông thôn đã diễn ra ở nhiều nớc
nh-ng định nh-nghĩa về cônh-ng nh-nghiệp về cônh-ng nh-nghiệp hoá nônh-ng thôn thì cho đến nay cha
đợc diễn giải trong các từ điển trong nớc và ngoài nớc vì đây vẫn còn là vấn đềmới, đang còn tiếp tục trao đổi ngay công nghiệp hoá-một thuật ngữ đã xuấthiện từ lâu - đến nay vẫn còn những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau ởnớc ta vấn đề này đã đợc nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung -
ơng Đảng (khoá VII) ghi rõ “ Công dụng phổ biến sức lao động cùng với công
Trang 6nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển củacông nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện cáchoạt động sản xuất kinh doanh, dich vụ và quản lý kinh tế , xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sang sử nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo
ra năng suất lao động xã hội cao Đó là quá trình lâu dài” Định nghĩa này cũng
đợc ghi trong từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995(trang 587)
Định nghĩa trên đây có thể coi là rõ ràng và đầy đủ nhất về khái niệm côngnghiệp hoá đối với nớc ta Theo khái niệm này thì trong quá trình công nghiệphoá đất nớc, công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn là một nội dung quantrọng hàng đầu và điều này đã đợc Tổng Bí th Đỗ Mời phat biểu tại Hội nghị lầnthứ bẩy Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII:”cần tập trung nỗ lực đẩymạnh công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn’
(1):Công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn các nớc châu á và Việt Nam (Nguyễn
Điền – nxb chính trị quốc gia)
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệuquả và bền vững, có năng suất, chất lợng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứngdụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nớc vàxuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, vănminh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinhtế-xã hội phát triển ngày càng hiện đại
Nội dung tổng quát của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thônCông nghiệp hoá, hiên đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệpchế biến và thị trờng; thực hiện cơ khí hoá, địên khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụngthành tựu khoa học, công nghệ, trớc hết la khoa học công nghệ sinh học, thiêt bị,
kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nângcao năng suất, chất lợng hiệu quả, sức cạng tranh của nông sản hàng hoá trên thịtrờng
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo hớng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao
động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao độngnông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nôngthôn, bảo vệ môi trờng sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sảnxuấtphù hợp; xây dựng nền dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nângcao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn
Trang 7c Những quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Pháttriển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ chợ đắc lực và phục vụ cóhiệu quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Ưu tiên phát triển lực lợng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con ngời,ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế heo hớng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trờng để sản xuấthàng hoá quy mô lớn với chất liệu va hiệu quả cao; bảo vệ môi trờng, phòngchống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp nông thôn bềnvững
Dựa trên nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bênngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớcgiữ vai trò chủ đạo, cùng với tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc;phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp,nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn,
Kết hợp chắt chẽ các vấn đè kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệphoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói,giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vất chất vàvăn hoá của nhời dân nông thôn, nhất là đòng bằng các dân tộc thiểu số, vùngsâu vùng xa; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục
Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thônvới xây dựng tiềm lực và thé trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhândân, thể hiện trong chiến lợc quy hoạch, dự án phát triển kinh tế-xã hội của cả n-
ớc của các ngành, các địa phơng.đầu t phát triển kinh tế-xã hội, ổn định dân ccác vùng xung yếu, vùng biên giới cửa khẩu, hải đảo phù hợp với chiếnc lợc anninh quốc gia.(1)
1.2 Một số bài học kinh nghiệm Trung Quốc
Trung quốc là một cờng quốc về dân số với hơn 80% dân c sống ở nôngthôn, Trung Quốc luôn chú trọng đến việc phát triển nông nghiệp và kinh tếnông thôn, coi đây là một bộ phận quan trọng trong chiến lợc phát triển đất nớc.Xuất phát từ nhận thức này, sau khi cách mạng thành công Đảng và nhà nớcTrung Quốc đã có chủ trơng, biện pháp nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tếnông thôn theo hớng từng bớc công nghiệp hoá nông nghiệp và tạo điếu kiệnphát triển kinh tế nông thôn theo hớng từng bớc công nghiệp hoá nông nghiệp và
Trang 8hiện đại hoá nông thôn, khắc phục sự yếu kém và lạc hậu về kinh tế, xã hôị ởnông thôn Trung Quốc.
Từ thực tế ở trung quốc cho thấy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp nông thôn là một quá trình tơng đối lâu dài Kinh nghiệm Trung Quốc đã
đi qua với tốc độ tơng đối nhanh là 20 – 30 năm mới hoàn thành cơ bản côngnghiệp hoá đất nớc cung nh công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, vì đâykhông phải là vấn đề đơn giản, mà có nhiều kho khăn phức tạp:
Khó khăn đầu tiên là phải đa đợc các ngành nghề ngoài nông nghiệp vàonông thôn đẻ tạo ra việc làm cho lao động d thừa tại chỗ và tăng thu nhập, màkhông ảnh hởng đên nông nghiệp và thu nhập từ nông nghiệp Các ngành nghềmuốn phát triển ỏn định phảI tìm đợc thị trờng tiêu thụ và phải có nguồn nguyênliệu thờng xuyên Nh vậy việc chọn ngành nghề gì không phải xuất phát từ khẳnăng có thể làm đợc cái gì, mà chủ yếu phải căn cứ vào nhu cầu thị trờng
Khó khăn thứ hai là vấn đề hiện đại hoá nông nghiệp Việc đa máy mócthiết bị vào nông nghiệp để sơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, hiện đại hoá nôngnghiệp, giản chi phí lao động và tăng năng suất lao động nông nghiệp khôngphảI là vấn đề đơn giản, và chứa đựng nhiều mâu thuẫn kho giảI quyết Một mặt,nếu không sử dụng máy móc thiết bị cơ điện, không chuyển dịch công nghệ sảnxuất nông nghiệp cổ truyền sang công nghệ hiện đại thì không đảm bảo thâmcanh, tăng vụ, không phòng chống một cách hữu hiệu đối với thiên tai (nh hạn,lụt, sâu bệnh), không tăng nhanh đợc năng suất cây trồng, vật nuôi, không tăng
đợc năng suất lao động nông nghiệp Không làm đợc nhng việc nh vậy sẽ khôngchuyển đợc nền nông nghiệp sản xuất tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hànghoá, đảm bảo yêu cầu có nhiều nông sản hàng hoá cho công nghiệp hoá Mộtnền nông nghiệp công nghiệp hoá phải đảm báo sản phẩm lao động làm ra đủnuôI 5 – 7 ngời ngoài nông nghiệp trơ lên, vì tỷ trọng lao động ngoài nôngnghiệp ở nông thôn cũng nh trong xã hội ngày càng tăng Mặt khác việc đa máymóc vào để cơ giới hóa, hiện đại hoá nông nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng tăngthêm số lợng lao động d thừa ở nông thôn vốn đã nhiều Nh vậy cơ giới hoá nôngnghiệp làm tang thêm nạn thất nghiệp ở nông thôn, làm giảm bớt nguồn thu nhậpvốn đã ít ỏi từ nông nghiệp của dân Chìa khoá đẻ giảI quyết mâu thuẫn nàychính là việc phát triển mạnh mẽ các ngành nghề công nghiệp nông thôn để sốlao động d thừa có việc làm và có thu nhập không những bằng mà còn caohơnthu nhập từ nông nghiệp Đây là con đờng mà Trung Quốc thực hiên và đem lạihiệu quả rõ rệt
Kinh nghiệm rút ra là cơ giới hoá nông nghiệp và phát triển ngành nghề cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy nhau dùng phát triển Muốn
Trang 9đạt đợc hiệu quả đồng bộ trong phát triển kinh tế nông thôn theo hớng côngnghiệp hoá, mức độ hiện đại hoá nông nghiệp trong từng thời gian phảI phù hợpvới mức độ phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp tạo việc làm cho lao động
d thừa ở nông thôn.(2)
(1): Văn kiện Đại Hội Đảng IX
(2):nguồn: Trung Quốc lý luận, thực tiễn và những bài học kinh nghiệm(tạp chí cộng sản)
Trang 10II Thực trạng công nghiệp hoá nông thôn ở Bắc Giang
2.1 Tình hình công nghiệp hoá nông thôn ở Bắc Giang
a Tình hình nông - lâm - ng nghiệp và kinh tế nông thôn
Cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp
Mặc dù cơ giới hoá nông nghiệp ở Bắc Giang đợc bắt đầu từ những năm 50
và phát triển tơng đối mạnh vào thời gian từ 1975-1980 nhng sang đến nămnhững năm 80 thì cơ giới hoá nông nghiệp giảm sút nhiều do thiếu vốn đầu t, dokhông có ngời quản lý thực sự v.v
Từ những năm 1988, sau khi có nghị quyết 10 về đổi mới cơ chế quản lýnông nghiệp, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, việc chuyển dịchquyền sở hữu và sử dụng máy móc nông nghiệp từ các hợp tác xã và các doanhnghiệp quốc doanh bắt đầu diễn ra với nhiều hình thức sinh động
Máy móc nông nghiệp của các hộ gia đình ở Bắc Giang ngày càng tăng lên làbớc phát triển mới về cơ giới hoá nông nghiệp ở vùng này, nơi suốt mấy chụcnăm qua vốn xa lạ vơi hình thức sở hữu các t liệu sản xuất cơ điện đắt tiền trongcác hộ nông dân
Từ sau khi có chính sách đổi mới ở nhiều huyện ở Bắc Giang, máy móc quốcdoanh đợc giao khoán gọn và chuyển quyền sở hữu cho nông dân và công nhân
sử dụng Các tập đoàn máy không còn tồn tại nữa, các máy móc trớc đây thuộc
sở hữu tập thể của tập đoàn máy nay đợc chuyển về sở hữu của các hộ gia đình,trong đó có các chủ máy trớc đây Các chủ máy trong các tổ, đội cơ khí của tập
đoàn sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp, sau khi phần lớn các tập đoàn sản xuất
và hợp tác xã giải thể, cũng giao máy cho các hộ gia đình sở hữu và quản lý
Từ năm 1991 đến nay, lực lợng quản lý máy móc nông nghiệp của các hộgia đình ở Bắc Giang tăng lên nhanh chóng từ nguồn máy móc do kinh tế tập thể
và kinh tế quốc doanh trớc kia và nguồn mua sắm thêm các máy móc mới Chủ
sở hữu và quản lý máy móc nông nghiệp bao gồm các họ nông dân có nhiềuruộng đất bỏ vốn mua máy để làm cho mình và đi làm thuê Cho đến nay những
hộ gia đình mua máy bơm nớc,máy đập lúa, máy xay xát ngày càng đông đểchuyên đi làm dịch vụ cơ giới hoá từng khâu làm đất, bơm nớc, thu hoạch, xayxát lúa gạo v.v phục vụ các hộ nông dân không có máy Cùng với sự phát triểncủa máy móc nông nghiệp thuộc sở hữu t nhân, một lực lợng cơ khí t nhânchuyên sửa chữa máy móc nông nghiệp ở các chợ, thị trấn, thị tứ nông thôn cũng
đợc phát triển
Các chủ máy gia đình và t nhân còn phát triển ở tất cả các khu vực huyệnLạng Giang, Yên Thế, v.v còn các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay tập trungvào quản lý các trạm biến thế điện, các trạm bơm nớc
Trang 11Mấy năm gần đây số lợng các loại náy động lực( động cơ điện, động cơ nổ,
ôtô và các máy công tác nh máy bơm, máy đập lúa, máy xay xát tăng lên nhiều:máy phát điện tăng 12 lần, ôtô ở nông thôn tăng 8 lần, máy bơm nớc tăng 2,8 lầnmáy đập lúa tăng 3 lần, máy nghiền thức ăn gia súc tăng5 lần
Động cơ đốt trong nhiều nhất là ở Việt Yên, Lục Nam dùng để chạy cácmáy nhỏ, các phơng tiện vận chuyển băng công nông, máy kéo nhỏ và chạy cácmáy đập tuốt lúa và máy xay xát nhỏ Động cơ điện nhiều nhất ở Lạng Giang,Hiệp Hoà, Tân Yên vì đây là vùng có mạng lới điện quốc gia kéo về tận các làngxã và hộ gia đình nông thôn Động cơ điện ít nhất ở vùng Sơn Động, Lục Ngạn
là do điện khí hoá nông nghiệp và nông thôn ở đây kém phát triển
Để đánh giá chính xác hơn trình độ cơ giới hoá,bên cánhử dụng chỉ tiêu số máy động lực, ngời ta còn sử dụng chỉ tiêu công suất đọng lực bình quân trên diện tích gieo trồng
Nhìn chung trong thời gian 1991- 1995, các máy động lực và máy công tác trong nông nghiệp đã đợc tăng về số lợng ở hầu nh tất cả các vùng trong cả nớc
Mức trang bị động cơ đốt trong( xăng, diesel) trên 100 hộ nông dân cao nhât
là Lục Nam(10,55 máy) thứ hai là Sơn Động (1,9 máy), vì các hộ nông dân LucnNam,Sơn Động cần động cơ để chạy máy xay xát, đập tuốt lúa(do mạng lới điệncha phát triển), và dùng động cơ để chạy thuyền máy
Điểm mới nổi lên trong việc trang bị và sử dụng máy móc trong nông nghiệp
ở thời kỳ đổi mới là chủ thể sở hữu quản lý và sử dụng máy không phải chỉ cokinh tế quốc doanh và tập thể nh trớc kia, mà bao gồm nhiều thành phần kinh tế:quốc doanh, hợp tác, gia đình, cá thể trong đó số lợng các hộ gia đình làm chủ sởhữu và sử dụng máy móc nông nghiệp ngày càng tăng, với số lợng máy mócngày càng nhiều
Nh vậy là số lợng máy móc trong nông nghiệp thuộc kinh tế quốc doanh sởhữu và quản lý cao nhất là các trạm bơm điện 25%, trạm biến thế điện 12%, còncác máy móc khác phần lớn do kinh tế cá thể và hợp tac sở hữu và quản lý
Trong thời gian 1991-1995 việc máy móc nông ngiệp trang bị cho nông nghiệptăng lên đáng kể đã tạo điều kiện nâng cao mức độ cơ giới hoá nông nghiệp nớc talên một bớc, ghóp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
Tuy nhiên mức độ cơ giới hoá nông nghiệp ở ta cha cao, cha đồng đều trongcác khâu sản xuất, mà chỉ mới tập chung vào một số khâu và một số vùng có nhucầu, đồng thời có khả năng phát triển cơ giới hoá nông nghiệp
Trớc đây Bắc Giang phát triển cơ giới hoá trong điều kiện một nền kinh tếthuần nông, cha chuyển dịch đợc cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hớngcông nghiệp hoá, thì cơ giới hoá nông nghiệp sẽ dẫn đến gia tăng nạn thất nghiệp
Trang 12ở nông thôn Ngày nay, ở những nơi cơ giới hoá nông nghiệp gắn với chuyểndịch cơ cấu cây trông vật nuôi, mở mang nghành nghề khác thì không những gây
ra nạn thất nghiệp mà đã toạ ra việc làm, tăng thu nhập cho c dân nông thôn Ví
dụ nh Bức Giang, hiện nay cơ giới hoá các khâu: làm đất 50-80%, tới nớc 90%, đập lúa 80-0%, và đang có yêu cầu cơ giới hoá gặt lúa đã không dẫn đếngia tăng nạn thát nghiệp ở nông thôn, vì nông dân phát triển trồng cây ăn trái,chăn nuôi, ngành nghề, tạo ra thu nhập cao hơn khi làm các công việc thủ côngtrong nông nghiệp
80-Cơ giới hoá lâm nghiệp.
Khâu phun thuốc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ cây trồng ở Bắc Giang hiện naychủ yếu vẫn là sử dụng các bình phun thuốc thủ công, đeo vai Việc sử dụng máyphun thuốc chạy bằng động cơ nhỏ đeo vai đã đợc sử dụng ở một số vùng rừngLạng Giang, Việt Yên, Yên Thế nhng số lợng cha nhiều
Cơ giới hoá chế biến vải cũng phát triển ở một số vùng sẵn nguyên liệu nhLục Ngạn và cả những vùng xa nguyên liệu nh một số xã Tân Hng(Lạng Giang),Bích Sơn(Việt Yên)
Tình hình trang thiết bị máy móc và mức độ cơ giới hoá lâm nghiệp BắcGiang trong thời kỳ đổi mới đặc biệt là trong nửa đầu của thập kỷ 90 sản xuấtlâm ngiệp có nhu cầu rõ rệt về công ngiệp hoá, hiện đaị hoá, đồng thời cũng thểhiện năng lực kinh tế ký thuật của các hộ nông dân có khả năng tiếp cận và làmchủ khoa học công nghệ mới của công nghiệp hoá
Thực tiễn bớc đầu đã giải đáp đợc một phần băn khoăn của nhiều ngời về giảiquyết lao động d thừa ở nông thôn khi cơ giới hoá nông nghiệp phát trỉển
Thuỷ sản
Thủy sản của tỉnh hơn một năm nay cũng đó cú bước chuyển mạnh, đặc biệt
là từ khi Bắc Giang cú chủ trương chuyển đổi 10.000 ha đất lỳa một vụ khụng
ăn chắc sang trồng cõy ăn quả, cõy cụng nghiệp và nuụi trồng thủy sản Dự cũnvướng về cơ chế hỗ trợ vốn, nhưng do thấy được lợi ớch và sự cấp bỏch phảichuyển đổi hướng làm ăn nờn nụng dõn trong tỉnh vẫn chủ động bỏ vốn ra làm.Nhờ vậy, trong năm 2002 tũan tỉnh đó chuyển được 2.598 ha đất "hiệu quả trồnglỳa kộm" sang sản xuất cõy, con giỏ trị cao từ "quĩ 10.000 ha", trong đú cú 1.023
ha sang nuụi trồng thủy sản, đưa diện tớch thủy sản tũan tỉnh đến thời điểm nàyđạt 3.392 ha, tăng 13% so với 2001, sản lượng đạt trờn 7.000 tấn
Tỡnh hỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Giang (nhandan.org.vn)
Trang 13Những năm qua, nông nghiệp Bắc Giang không chỉ bảo đảm ổn địnhlương thực, thực phẩm cho 1,5 triệu dân mà còn tạo điều kiện cho một bộ phậnnông dân tích lũy vốn, mở mang ngành nghề ở nông thôn Bắc Giang đã và đanghình thành một vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cung cấp lương thực, thựcphẩm cho các thành phố và khu công nghiệp tập trung ở phía bắc.
Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, trung du, tiếp giáp với vùng đồng bằng Bắc
Bộ Ðặc biệt, các huyện phía nam tỉnh như Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa vàmột phần các huyện Tân Yên, Lạng Giang, từ xưa đã là vùng sản xuất lúa nướctruyền thống
Sau khi chia tách tỉnh, Bắc Giang vẫn còn tới 12,4 vạn ha đất nông nghiệp,trong đó có 7,4 vạn ha đất cấy lúa, 0,7 vạn ha đất chuyên màu Bình quân ruộngđất là 524 m2/người Với tiềm năng đất đai phong phú, đa dạng phù hợp nhiềuloại cây trồng, vật nuôi, cho nên trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệpluôn có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế của địa phương
Với lợi thế địa lý và tiềm năng đất đai lao động sẵn có, từ nay tới năm 2005
và những năm tiếp theo, nông nghiệp Bắc Giang vẫn có cơ hội phát triển mạnh.Hiện tại bình quân thu nhập trên một ha đất nông nghiệp Bắc Giang, năm 2003mới đạt 23 triệu đồng, hệ số sử dụng đất nông nghiệp mới đạt 2,6 lần Tiềm năngphát triển sản xuất nông nghiệp ở Bắc Giang còn rất lớn
Ðến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, tỉnh Bắc Giang có hơn 50 nghìn ha đấtnông nghiệp ở các huyện miền núi như Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và mộtphần các huyện Lạng Giang, Tân Yên, cây trồng chủ yếu là sắn và vườn tạp hiệuquả kinh tế thấp Từ kinh nghiệm của một số gia đình trồng vải thiều cho thunhập cao ở Lục Ngạn, tỉnh chỉ đạo các huyện miền núi, trung du loại dần câysắn, bạch đàn chuyển diện tích đất nông nghiệp vùng đồi sang trồng, thâm canhcây vải thiều
Trang 14Nhờ giá trị kinh tế của vải thiều lúc đầu cao, đã thu hút nhiều hộ nông dânđầu tư trồng vải Năm 1990, toàn tỉnh có gần 1.000 ha vải thiều, đến năm 2002
có 4,4 vạn ha cây ăn quả, trong đó riêng vải thiều đã có 3,4 vạn ha Phong tràotrồng vải thiều những năm đó ở Bắc Giang diễn ra mạnh mẽ ở khắp các huyện.Việc đưa cây vải thiều vào trồng thay cây sắn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.Nhiều gia đình ở Lục Ngạn, Yên Thế đã có thu nhập từ 50 triệu đến 100 triệuđồng/năm
Huyện Lục Ngạn thời đó đã ra đời Câu lạc bộ gia đình có thu nhập hơn 50triệu đồng/năm Kết quả của chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên vùng đồi thấp vàruộng cao, cấy không ăn chắc ở các huyện miền núi, trung du của tỉnh đã làmhàng vạn hộ nông dân từ chỗ đói nghèo tiến lên giàu có Kết quả chuyển dịch cơcấu kinh tế vùng đồi ở Bắc Giang đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn Các huyệnmiền núi vốn nghèo nàn trước đây đã trở thành vùng sản phẩm hàng hóa, có giátrị kinh tế cao
Nhưng việc chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở các huyện miền núi,trung du của Bắc Giang còn thiếu sự quy hoạch từ đầu, để việc chuyển dịch cơcấu cây trồng tự phát, phong trào trồng vải thiều tràn lan, không tính được thịtrường tiêu thụ, chế biến Một số gia đình đã bỏ cây vải thiều sang trồng các câykhác
Là tỉnh đi lên từ kinh tế nông nghiệp, Bắc Giang coi việc chuyển dịch cơ cấukinh tế trong nông nghiệp để đưa tốc độ tăng trưởng trong ngành nông, lâmnghiệp, thủy sản từ 4,8% năm 2003 lên 5-5,5% trong năm 2004 Bắc Giang có12,4 vạn ha đất nông nghiệp, trong đó đất lúa là 7,4 vạn ha Diện tích gieo trồnghằng năm của tỉnh 18,2 vạn ha, riêng diện tích lúa cả năm là 115.871 ha
Trong những năm vừa qua, Bắc Giang đã phối hợp, tranh thủ sự giúp đỡ củacác viện khoa học nông nghiệp đưa các loại giống lúa thuần, lúa lai nhập khẩuvào canh tác Tỉnh có chính sách trợ giá giống cho nông dân mỗi năm từ hai đến
ba tỷ đồng
Trang 15Nhờ công tác tuyên truyền sâu rộng, cộng với sự trợ giá của tỉnh, đến năm
2003, hơn 70% diện tích lúa đã được cấy bằng các giống thuần, cho năng suấtbình quân đạt 45,4 tạ/ha; đây là năm có năng suất cao nhất từ trước tới nay Năm 2004 và những năm tiếp theo, Bắc Giang chủ trương đưa các loại giốngmới có năng suất cao, chất lượng tốt vào thâm canh, tăng năng suất, nhằm giảmdiện tích lúa xuống còn ổn định 100 nghìn ha nhưng tổng sản lượng lương thựcvẫn đạt 555,1 nghìn tấn Từ đó, Bắc Giang sẽ chuyển hơn 10 nghìn ha ruộngvùng cao, vùng trũng sang trồng màu công nghiệp ngắn ngày, trồng cây ăn quả
và nuôi thủy sản
Nâng cao hiệu quả kinh tế
Năm 2004, Bắc Giang phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế nông, lâm,ngư nghiệp từ 5 đến 5,5%, đây là tốc độ tăng trưởng cao đối với sản xuất nôngnghiệp Ðể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong nông nghiệp, Bắc Giangchủ trương động viên nông dân đầu tư xây dựng "cánh đồng có thu nhập cao" vàhưởng ứng phong trào thi đua "hộ thu nhập 50 triệu đồng/năm"
Qua khảo sát điều tra ở huyện Hiệp Hòa đã có 300 ha, bằng 0,3% tổng diệntích canh tác toàn huyện đã có thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha/năm Ở các xãvùng ven sông Cầu thuộc huyện Hiệp Hòa, Việt Yên với công thức chuyêncanh: lúa + cá; chuyên rau, củ quả cao cấp đã cho thu nhập từ 80 đến 100 triệuđồng/ha Ngược lại có vùng công thức luân canh hai lúa/năm chỉ cho thu nhập18-20 triệu đồng/năm Ðặc biệt là vùng núi ruộng bậc thang, điều kiện canh táckhó khăn, xa thị trường tiêu thụ sản phẩm thì bình quân thu nhập trên một hacòn thấp dưới 15 triệu đồng/ha/năm
Từ kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu cây trồng vùng đồi trước đây, Bắc Giangkiên quyết khắc phục tình trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theophong trào, ồ ạt, hiệu quả thấp Ở huyện Hiệp Hòa, Phòng Nông nghiệp, Ðịachính đã thống kê, khảo sát toàn huyện có 18 công thức luân canh, thông qua
Trang 16tớnh toỏn hiệu quả, bà con nụng dõn ở vựng tưới tiờu thuận lợi ỏp dụng cụng thứcluõn canh bốn vụ/năm: lỳa xuõn + đậu tương hố + lỳa mựa muộn + rau vụ đụnghoặc lỳa xuõn + đậu tương hố + lạc thu + khoai tõy đụng Năm 2003, với cụngthức bốn vụ/năm ở Hiệp Hũa, Việt Yờn đó cho thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha
Ở những vựng đất thuần lỳa bà con ỏp dụng cụng thức ba vụ/năm: là lỳa xuõn+ lỳa mựa + cõy rau màu vụ đụng hoặc lạc xuõn + lỳa mựa sớm + cõy màu vụđụng hoặc lỳa xuõn + đậu tương hố + rau đụng Cụng thức này đó cho thu nhập40-50 triệu đồng/ha/năm Những cụng thức nờu trờn được canh tỏc bằng cỏcgiống cú năng suất cao như giống lỳa xuõn MT508, CL9, CV1, C70, C71; lỳamựa giống KD18, Q5, DV108, nếp 325, giống lạc L14, MD7, đậu tương D799,DT93, TN12 Áp dụng cơ cấu nờu trờn cũn giỳp cải tạo đất, tăng vụ mà đấtkhụng bạc màu; nụng sản làm ra dễ tiờu thụ khụng bị thỳc ộp bởi thời gian Ởnhững vựng chiờm trũng nụng dõn ỏp dụng cụng thức một lỳa + cỏ/năm cũngcho thu nhập cao
éể thực hiện mục tiờu xõy dựng cỏnh đồng cú thu nhập cao, Bắc Giang cầnkhắc phục tỡnh trạng ruộng đất manh mỳn, Tỉnh ủy đó cú kết luận 07 chỉ đạo,tuyờn truyền động viờn cỏc hộ nụng dõn tự nguyện dồn điền đổi thửa Tuy nhiờn,đến nay việc dồn điền đổi thửa cũn rất khú khăn Mặt khỏc, một cỏnh đồng cúnhiều hộ, việc chỉ đạo canh tỏc và tỡm thị trường tiờu thụ sản phẩm cú nhiềuphức tạp Mục tiờu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nụng nghiệp, nõng cao hiệu quảthu nhập trờn một đơn vị diện tớch ở Bắc Giang đó cú những chuyển biến tớchcực Những kết quả bước đầu đó cú tỏc dụng đưa sản xuất nụng nghiệp từngbước vươn lờn trở thành tỉnh cú nền nụng nghiệp hàng húa phỏt triển.(1)
ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản suất nông nghiệp trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý
Việc áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào nông nghiệp trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ và đã có tác dụng tích cực đối với sản xuất
Trang 17
(1):nguồn :Hoàng Tiến(http:// www.nhandan.org.vn)
Trang 18Trớc hết là công nghệ sinh học đã góp phần thúc đẩy tăng năng suất của cácloại cây trồng vật nuôi Không chỉ các giống cây trồng tốt nh lúa lai, lạc đậu t-
ơng, cây ăn trái ,rau, mía, chè v.v mà cả các giống vật nuôi tốt nh gà công nghiệp, lợn nhiều nạc, bò thịt, bò sữa v.v đều đợc nông dân đa vào sử dụng rộngrãi Cùng với giống cây trồng và vật nuôi, các loại vật t kỹ thuật nh phân hóa họccác loại, phân vi sinh, thuốc trừ sâu, thuốc thú y cũng đã trở nên quen thuộc đối với nông dân các vùng từ miền xuôi đến miền núi
Các quy trình công nghệ tiến bộ với những công cụ máy móc thích hợpcũng đã và đang đợc phổ cập trong sản xuất Ví dụ nh kỹ thuật làm mạ non đểtiết kiệm giống, tiết kiệm đât, đảm bảo chất lợng mạ tốt, năng suất lúa cao đangphát triển ở một số huyện Việt Yên, Lạng Giang, Tân Yên,… Kỹ thuật trồng Kỹ thuật trồngngô bầu trên đất ớt vụ đông cũng đợc ứng dụng đại trà Kỹ thuật chiết ghép một
số loại cây ăn trái cũng có nhiều tiến bộ Kỹ thuật cơ giới hoá một số khâu canhtác bắt đầu phát triển bổ sung và thay thế kỹ thuật thủ công
Đổi mới về vật t kỹ thuật, công cụ sản xuất và công nghệ sản xuất nôngnghiệp theo hớng công nghiệp hoá đã tác động tích cực đến sản xuất
Sản xuất lơng thực có tốc độ tăng trởng vợt mức tăng dân số, nên Bắc Giang
về cơ bản đã vợt qua cửa ải lơng thự từ chỗ phải nhập ở các tỉnh lân cận, tiến lênxuất khẩu gạo Tổng sản lợng lơng thự năm1998 là 3,5 triệu tấn, năm 2002 tănglên 4,2 triệu tấn Sản lợng lơng thực bình quân ngời năm 1998 là 324,9 kg, năm
2002 tăng lên 364 kg.Sản lợng cây công nghiệp nh cây ăn quả, rau, đậu, đàntrâu, bò, lợn, gia cầm đều tăng
Lực lợng sản xuất cơ bản ở nông thôn là các hộ gia đình đã tăng từ 17 triệu
hộ năm 1998 lên 18 triệu hộ năm 2002, bình quân mỗi năm tăng 2,6% Quy môbình quân 1 hộ năm 2002 giảm so với năm 1998
Bình quân đất đai trên 1 nhân khẩu nông nghiệp Bắc Giang đến năm 1998
là 832 m2 thấp nhất là khu vực huyện Lục Ngạn 556 m2, 849 m2, huyện LạngGiang là 1.381 m2, Lục Nam là 1.757 m2, và huyên Việt Yên là 1.917 m2 Bìnhquân đất đai trên 1 nhân khẩu nông nghiệp Băc Giang thuộc loại thấp nhất so vớicác tỉnh trong khu vực Đồng Bằng Sông Hồng
Bình quân đất đai trên một lao động nông nghiệp nớc ta năm 1998 là1.048m2, trong đó khu vực huyện Hiệp Hoà là 983 m2,huyện Lạng Giang 1.398
m2, huyện Lục Ngạn là 905 m2, huyên Tân Yên là 764 m2, Lục Nam là 1.184 m2
và huyện Việt Yên là 662 m2
Tình hình ruộng đất ít ở nông thôn Bắc Giang gây ra tình trạng d thừa nhiềulao động trong các lứa tuổi, cần có công ăn việc làm đó là tiền đề của việc pháttriển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn,
Trang 19trong tình trạng đi lên công nghiệp hoá, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn sang cơ cấu công nông nghiệp và dịch vụ.
2.2 Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn
Trừ một số xí nghiệp chế biến lơng thực nhà nớc mới đợc trang bị máy mócvới kỹ thuật và công nghệ hiện đại phục cụ xuất khẩu tập trung ở ven thị xã, cònphần lớn các nhà may xay thiết bị cũ lạc hậu và hoạt động cầm chừng làm ănthua lỗ
Trong khi đó kực lợng chế biế lơng thực trớc hết là máy xay xát thóc gạocủa các hộ gia đình phát triển mạnh với nhiều hình thức hoạt động dịch vụ linhhoạt
Các huyện Lạng Giang, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Thế, … Kỹ thuật trồng mỗi làng xã thờng có 1-2 đến 5-7 hộ gia đình mua máy xay xáy chạy bằng động cơ điện để đixay xát cho thuê cho các hộ nông dân địa phơng thờng là đặt ở các địa điểm cố
-định Có những làng xã tập trung từ mấy chục máy đến hàng trăm máy xay xát
và cả máy đánh bóng Phân loại gạo đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩusang Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn
Từ năm 2000 đến nay loại máy xay xát công xuất nhỏ khoảng 500 – 600kg/giờ, chạy bằng động cơ nổ hay động cơ điện phát triển nhanh ở nhiều vùng,
do các hộ gia đình đầu t trang bị và làm dịch vụ xay xát phuc vụ các hộ nông dântrong làng xã thay thế cối xăy cối giã thủ công cổ truyền Hiện nay ở Bắc Giang,trên 90% sản lợng thóc gạo đã đợc xay xát bằng máy, riêng Lạng Giang, HiệpHoà, Việt Yên, Yên Thế, Lục Nam,… Kỹ thuật trồng là 98%, chỉ co huyện Lục Ngạn, Sơn
Động vẫn còn 8 -10% bà con dân tộc vẫn còn dùng hình thức xay xát cổ truyền.Ngoài các điểm xay xát phân tán ở nông thôn phục vụ chế biến thóc gạo tựtúc của các hộ nông dân, do nhu cầu của thị trờng lơng thực ở thành thị và thị tr-
Trang 20ờng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc qua Lạng Sơn, đến nay ở một số vùng đãbắt đầu hình thành một số cụm chế biến thóc gạo tập trung quy mô làng, xã, haymột vùng nhiều xã Các tụ điểm này tập hợp hàng trăm maý xay xát t nhâncùng hanh nghề, mối ngày xay xát từ 5 đến 7 tấn thóc gạo Ví dụ ở huyện LạngGiang đã hình thành một số trung tâm chế biến và kinh doanh lơng thực gồmmột số xã nh Tân Hng, Phi Mô, Yên Mỹ hoạt động từ năm 1995 đến nay Riêngxã Tân Hng đã có 150 chủ hộ gia đình có máy xay xát công suất nhỏ (750 kg/giờ) sử dụng một lực lợng lao động sản xuất và dịch vụ trên 1000 ngời
Chế biến hoa màu (ngô khoai sắn ), chủ yếu là tự cung tự cấp, các hộ gia
đình chế biến hoa màu để làm thức ăn cho gia súc là chủ yếu
Công nghiệp chế biến lâm sản cha phat triển Cho đến nay ở Bắc Giang gỗchế biến bình quân đầu ngời đạt mức 0,05 m3 /năm ( so với cả nớc 0.3 m3 / năm) Máy móc thiết bị chế biến gỗ còn lạc hậu trong đó 70% là khâu xẻ thiết bịmộc tinh chế biến chiếm 40% nhập của Bắc Ninh Thiết bị ghép uốn tre gỗ, phủ
bề mặt còn ít Tỷ lệ tận dụng gỗ trong chế biến gỗ còn thấp, bình quân 5 m3tròn mới làm đợc 1 m3 gỗ thành phẩm
Lực lợng tham gia chế biến lâm sản bao gồm các doanh nghiệp quốcdoanh, t nhân, gia đình Huyện Yên Thế năm 2002 có gần 20 cơ sở chế biến lâmsản trong đó 5 cơ sở quốc doanh còn lại là ngoài quốc doanh Hàng năm ca xẻkhoảng 5000 m3 gỗ tròn
Công nghiệp chế biến thuỷ sản cha phát triển Chủ yếu là các hộ t nhân mở cơ
sở chế biến với quy mô nhỏ chế biến nớc mắm, tôm cá khô, v v
Nghề vật liệu xõy dựng
Nghề này đang phỏt triển mạnh ở nhiều nơi vỡ nhu cầu xõy dựng trongnhõn dõn ngày càng tăng Ngoài một số xớ nghiệp gạch, ngúi quốc doanh và hợptỏc xó cỏc cơ sở nung vụi, gạch ngúi gia đỡnh phỏt triển ở khắp nơi
Nghề khai thỏc đỏ ở cỏc vựng nỳi đỏ Bố Hạ, Sơn Động tăng lờn nhiều, ởmột số vựng ven sụng Thương và sụng Lục Nam, nghề khai thỏc cỏt sỏi xõydựng cũng phat triển
Xó Bố Hạ ( Yờn Thế ) cú khoảng 100 lũ gạch, vụi cỏc loại, một năm sảnxuất ra 30.000 tấn vụi và 10 triệu viờn gạch Xó Tõn Hưng (Lạng Giang) cú 50
lũ gạch tư nhõn sản xuất ra 30 triệu viờn một năm, cú mỏy đựn gạch sử dụng 500– 700 lao động thủ cụng để nhào đất, đúng gạch, nung gạch Thu nhập khoảng
500 triệu đến 1 tỷ đồng
Trang 21Nghề xây dựng (nề, mộc) không những chỉ khôi phục mà phát triển ở cáclàng nghề truyền thống, mà còn mở rộng ra nhiều nơi khác Ở các xã ThiênThanh, Xương Lâm (Tân Yên) nghề xây dưng gần đây phát triển rất mạnh tạo rathu nhập hàng năm hàng trăm triệu đồng Lao động thường được tổ chức từngtốp thợ không lớn, có 1 người thợ cả có tay nghề cao điều khiển, hoặc một chủkinh doanh có vốn đứng đầu.
c Nghề cơ khí nông thôn
Đây là một chuyên nghành quan trọng nhất của cơ cấu nông nghiệp nôngthôn bao gồm cơ khí chế tạo ( công cụ máy móc, thiết bị cho sản xuất hàng nôngnghiệp và sinh hoạt nông thôn), cơ khí sử dụng ( máy móc thiết bị nông nghiệp )
và cơ khí sửa chữa máy móc thiết bị.
Nghề cơ khí nông thôn ở Bắc Giang bắt đầu từ nghề rèn, đúc thủ công cổtruyền, kết hợp với kỹ thuật cơ khí hiện đại du nhập vào nước ta và Bắc Giangtrong những năm gần đây
Trình độ cơ khí nông thôn phụ thuộc trước hết vào trìng độ phát triển nănglượng và động lực cơ điện chung cả nước và riêng nông thôn Bắc Giang dangtăng lên
Trong lĩnh vực cơ khí chế tạo ở nông thôn Bắc Giang, ngay từ những năm
1989 – 1990, lục lượng cơ khi ( lò rèn ) cá thể, gia đình đã nhanh chóng pháttriển, thích ứng với chơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về công cụcầm tay cà công cụ cải tiến, nửa có khi của 9 – 10 hộ nông dân, trở thành đơn vịthự chủ sản xuất kinh doanh
Hầu hết các làng rèn và các thợ rèn có truyền thống đều hồi sinh nhanhchóng và đi ngay vào sản xuất Làng Tân Dĩnh( Lạng Giang) từ năm 1989 –
1990 đã có hộ sản xuất nông cụ, mỗi năm làm ra gần 10 nghìn cầy bừa, gưồngtuốt kúa và nông cụ các loại Ở đây bắt đầu hình thành một số chủ doanh nghiệp
tư nhân
Trong lĩnh vực cơ khí sử dụng, từ khi các hộ gia đình trở thành các đơn vị tựchủ trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp thì đa
Trang 22ssó họ cũng trở thành chủ sở hữu và sử dụng những máy moc nông nghiệp vàcông nghiệp nông thôn.
Hình thức sở hữu và sử dụng máy móc thiết bị ở nông thôn cũng đa dạng: cáthể hợp tác, quốc doanh, liên doanh Có những hộ nông dân mua máy móc để
sử dụng riêng và đi làm thuê.có những hộ gia đình không làm ruộng nhưng muamáy móc để chuyên đi làm thuê(làm đất,bơm nước, đập lúa)
Trong lĩnh vực cơ khí sửa chữa công cụ, máy móc trong nông nghiệp vànông thôn trước đây tập trung vào các xưởng sửa chữa đại tu, tiểu tu va lựclượng sửa chữa của các hợp tác xã nông nghiệp Nay các xưởng sửa chữa nayhầu như không có điều kiện và khả năng đáp ứng yêu cầu sửa chữa máy móctheo yêu cầu của các chủ máy, các hộ gia đình nên đã xuất hiện lực lượng sửachữa tư nhân
2.3 Tình hình dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn Bắc Giang
Ở nông thôn Bắc Giang sản xuất nông nghiệp đã bước đầu chuyển dịch theohướng sản xuất hàng hoá Các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp được hồi phục
và đi vào hoạt động, đã tạo ra tiền đề cho các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật
ở nông thôn phát triển
Đến nay ở nông thôn Bắc Giang đã và đang hình thành các loại tổ chức dịch
vụ kinh té kỹ thuật như: Dịch vụ về vốn cho sản xuất nông nghiệp và nghànhnghề; Dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho sanr xuất; Dịch vụ kỹ thuất sản xuấtnông nghiệp và chế biến nông sản; Dịch cụ thương nghiệp mua bán sản phẩm vàhàng tiêu dùng, v.v
Các tổ chức hoạt động dịch vụ nông thôn ở Bắc Giang hiên nay có sự thamgia của nhiều thành phần kinh tế; ở thành thị và nông thôn với nhiều hình thứckhác nhau: công ty, cửa hàng, đại lý, chợ nông thôn, thương lái mua buôn, bánbuôn, bán lẻ
a Dịch vụ về vốn ở nông thôn
Hiện nay tham gia các dịch vụ này chủ yếu là các ngân hàng nôngnghiệp,các quỹ tạo việc làm, quỹ xoá đói giảm nghèo,v.v của nhà nước Trong mấynăm gần đây, Ngân hàng nông nghiệp đã có nhiều biện pháp để rót vốn về đến
Trang 23tận hộ nông dân ( là lực lượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay), và đã cótác dụng tích cực đến sản xuất Tuy nhiên về thủ tục thời hạn cho vay, và lãisuất, còn có những mặt cần nghiên cứu thêm cho phù hợp với đặc điểm củanông nghiệp nông thôn.Sau khi các hợp tác xã tín dụng ở nông thôn đổ bể hàngloạt vào năm 1993, chính phủ quyết định triển khai đề án thí điểm tổ chức quỹtín dụng nhân dân trên dịa bàn xã hoặc liên xã, để huy động và cho vay tại chỗ.Quỹ tín dụng nhân dân được tổ chức ra theo nguyên tắc tự nguyện.
Trang 24Kết quả thí điểm cho thấy Quỹ tín dụng nhân dân là một hình thức tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm của nông thôn, và như vậy Quỹ tín dụng nhân dân có triển vọng phát triển thành hệ thống hợp tác xã tín dụng ở nông thôn Bắc Giang.
Do nhu cầu về vốn của các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp và làm ngànhnghề rất lớn mà Quỹ tín dụng nhân dân chưa đáp ứng đựơc, nên vẫn đang tồn tạihình thức cho vay nặng lãi và các tổ chức tín dụng khác ở nông thôn Bắc Giang, gây thiệt hại cho nông dân thiếu vốn
b Dịch vụ cung ứng vật tư thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất
Trong nông nghiệp do tổ chức hoạt động dịch vụ của nhiều hợp tác xã nông nghiệp không đáp ứng đước yêu cầu về giống, phân bón thuốc trừ sâu, xăng dầu cho các hộ nông dân nên đến nay phần lớn các hộ nông dân sử dụng dịch vụ tư nhân trong các dịch vị này( còn các dịch vụ quốc doanh thì không vớitới xã)
c Dịch vụ kỹ thuật ở nông thôn Bắc Giang
Các tổ chức hoạt động dịch vụ kỹ thuật đang có chiều hướng phát triển ở nông thôn Đây là xu thế tất yếu của qúa trình phân công hợp tác sử dụng lao động trong quá trình công nghiệp hoá
Các dịch vụ kỹ thuật được thực hiện trong sản xuất, chế biến nông sản cũng ngư trong đời sông nông thôn Do nhu cầu thực tế của cuộc sống, ở nông thôn đã và đang hình thành các tổ chức lực lượng kỹ thuật thuộc các thành phần kinh tế khác nhau( quốc doanh, hợp tác, tư nhân ) nhưng phố biến là các tổ chức dịch vụ kỹ thuật tư nhân
Trang 25Trong cỏc dịch vụ kỹ thuật trồng trọt nổi lờn là dịch vụ bỏn giống cõy ăn trỏi, cõy cụng nghiệp, cõy lấy gỗ Ở Việt Yờn nhiều chủ vườn cõy ăn trỏi cú giống vải sớm đó bỏn hàng chục vạn cõy giống con cho người trồng vải trong tỉnh.
Nụng sản hàng hoỏ và cỏc nganh nghề tiểu thủ cụng nghiệp ở nụng thụn phỏttriển đó thỳc đẩy cỏc hoạt động dịch vụ vận tải ở nụng thụn, thuộc nhiều thànhphần kinh tế Ở Lạng Giang,Lục Ngạn, Sơn Động đó hỡnh thành mạng lưới ụ tụvận chuyển hàng hoỏ và hành khỏch hoạt động hàng ngày từ cỏc thị trấn ( Trũ,Vụi, Kộp,v.v ) về cỏc tỉnh lỵ và thành phố như Hà Nội, Hải Phũng,v.v
Lực lượng dịch vụ xõy dựng ở nụng thụn cũng ngày càng phỏt triển khụngchỉ trong nụng thụn mà cả ở thị xó
d tỡnh hỡnh dịch vụ thương nghiệp nụng thụn
Hiện nay dịch vụ này cú chiều hướng gia tăng mạnh trước hết ở cỏc vựng,cỏc xó co nhiều nụng sản hàng hoỏ và nhiều ngành nghề tiểu thủ cụng nghiệp, vỡ
ở đõy cú nhu cầu lớn về cung ứng nguyờn liệu, vật tư và lưu thụng tiờu thụ sảnphẩm
Tổ chức lực lượng dịch vụ thương nghiệp ở nụng thụn phỏt triển nhanhchúng, từ chỗ mang cỏc chợ sắn cú, thành lập cỏc chợ mới đến việc hỡnh thànhcỏc thị tứ, thị trấn, hỡnh thành cỏc phố làng, cỏc tụ điểm cụng thương nghiệpmới Ví dụ: chợ Cầu Mới( Lục Ngạn), chợ Tân Dĩnh( Lạng Giang),v.v
2.4 Tình hình xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn Bắc Giang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,nông thôn
Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
ở Bắc Giang trong những năm đổi mới, hệ thống công trình kết cấu hạ tầngkinh tế cho nông nghiệp nông thôn đã đợc xây dựng và hoàn thiện từng bớc Xéttrên góc độ kết cấu hạ tầng phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,nông thôn, có bốn loại quan trọng nhất là điện, giao thông, thông tin liên lạc vàthuỷ lợi
Năm 1998, toàn vùng có 210/227 xã có điện lới quốc gia, chiếm tỷ lệ 92.5%.hiện nay, có 7 huyện đạt mức 100% xã có điện, số xã có chạm biến thế điệnchiếm tỷ lệ 96,5%, số thôn có điện 96,4% Số hộ dùng điện trong sản xuất sinh
Trang 26hoạt chiếm tỷ lệ 89,5%, trong đó cao nhất là thị xã Bức Giang 95,6%, huyện ViệtYên: 94,7%.(1)
Nhờ có điện lới quốc gia nên các vùng nông thôn Bắc Giang trong những năm
đổi mới đã khởi sắc trên nhiều mặt nhất là mua sắm máy móc phục vụ sản xuất
và đời sống Hệ thống điện lới quốc gia phủ khắp các xã, các thôn đã phục vụ
đắc lực nhu cầu tới tiêu nớc đảm bảo nớc cho thâm cach cây trồng chính vụ và
vụ đông Vì có điện nên bà con nông dân mua sắm thêm máy móc, thiết bị phục
vụ làm đất, tuốt lúa, chế biến thức ăn gia súc, xay xát gạo, vận chuyển Nhiềulàng nghề truyền thống và các cơ sơ sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã sử dụngnguồn năng lợng điện thay thế các nguôn năng lợng than, củi trong sản xuất từ
đó nâng cao sản xuất và chất lợng sản phẩm Quy trình sản xuất các ngành nghề
và sản phẩm truyền thống đớc hiện đại hoá nhờ điện lới quốc gia Công nghiệpchế biến nông, lâm, thuỷ sản đã đợc điện khí hoá và cơ khí hoá cao so với nhữngnăm trớc Hiệp hòa là huyện có công nghiệp nông thôn phát triển với nhịp độnhanh nhất Năm 2002 so với năm 1998, nhiều loại công nghiệp địa phơng tăngnhanh: sứ dân dụng tăng 2,4 lần; thuỷ tinh tăng 3,2 lần; thực phẩm tăng 1,6 lần;gạch nhói tăng 1,7 lần; chế biến gỗ tăng 1,65 lần Chất lợng sản phẩm của côngnghiệp nông thôn dợc cải thiện rõ rệt
Cùng với công nghiệp và thiểu thủ công nghiệp, các hoạt động dịch vụ, thơngmại, y tế, vn hoá, giáo dục nông thôn có điện Đời sống vật chất và tinh thần củanông dân đợc cải thiện, sức mua tăng lên, tạo thị trờng cho công nghiệp và dịch
vụ phát triển, nhất là công nghiệp nông thôn
Tuy vậy, khó khăn trong quá trình điện khí hoá nông thôn ở Bắc Giang hiệnnay vẫn còn nhiều Trớc hết là sản lợng điện nông thôn phục vụ sản xuất chiếm
tỷ lệ thấp và tăng chậm do ngành nghề phi nông nghiệp phát triển chậm, nhất làcông nghiệp chế biến Chất lợng điện nông thôn cha ổn định, tổ chức bán điện ởnông thôn cha hợp lý, giá bán điện còn cao Giá điện bình quân là 600 – 700 đ/KWh, ở Lạng Giang có xã giá điện nên tới 1200đ/KWh, thôn Thiên Thanh xãTân Hng, Lạng Giang mốt số điện giá 1700 đồng.(2)
Điện nông thôn Bắc Giang chủ yếu vẫn là điện phục vụ sinh hoạt, thắp sáng làchính Song do thu nhập của dân c còn thấp, nhu cấu sử dụng điện cho sinh hoạtvẫn còn hạn chế nên quan hệ cung – cầu trong sản xuất và sử dụng điện nôngthôn vẫn mất cân đối Điện phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫnchiếm tỷ lệ rất thấp, cha tơng xứng với yêu cầu và tiềm năng của tỉnh Bắc Gianghiện nay
Đờng giao thông nông thôn
Trang 27Bắc Giang là tỉnh có hệ thống đờng giao thôn khá tốt với 99,8% số xã có đờngvào tận trung tâm Hệ thống đờng giao thông nông thôn đã vơn tới các thôn xóm,hình thành mạng lới khá hoàn chỉnh với chất lợng ngày càng cao ậ một số huyện
nh Lạng Giang, Tân Yên, Lục Nam, Lục Ngạn chất lợng đờng giao thông nôngthôn đã đợc nâng cấp hoàn thiện so với trớc Toàn vùng đã có hàng trăm kilômét
đờng cấp xã và thôn đợc nhựa hoá, bê tông hoá hoặc lát gạch, đảm bảo cho cácphơng tiện giao thông cơ giới hoạt động ổn định trong năm, kể cả mùa ma lũ.Tỷ
lệ nhựa và bê tông
hoá đờng giao thông ở một số huyện nh sau: Lạng Giang: 70%; Hiệp Hoà:52%;Lục Ngạn: 57%;Sơn Động: 17%;Lục Nam: 68%;Việt Yên :66,3%;TânYên: 36%;Bắc Giang: 78%
Nhứng địa phơng cha có điều kiện nhựa hoá hoặc bê tông hoá, trong nhữngnăm qua hệ thông đờng giao thông nông thôn cũng đợc nâng cấp ở mức đọ khácnhau( rải đá, cấp phối).(1)
Tuy vậy, khó khăn và yếu kém của hệ thống đờng giao thông nông thôn ở BắcGiang vẫn còn nhiều Giữa các tiểu vùng và các địa phơng, giữa các thôn xómtrong cùng một xã có sự phát triển không đều Hệ thông giao thông vận chuyểnhoa quả ra khỏi vùng từ vờn còn quá tồi Nh Lục Ngạn là huyện có sản lợng vảixuất khẩu sang Trung Quốc cao nhất nớc, mỗi năm đến mùa có khoảng 40 – 50tấn vải đợc vận chuyển đi nhng đờng giao thông chất lợng thấp không đảm bảovào mùa ma là mùa vải chín, độ rộng của mặt đờng hẹp không hai xe chở vảitránh nhau nên các hộ buộc phải vận chuyển bằng công nông ra đờng to đểchuyển nên xe ô tô Cho nên nông dân phải mất thêm nhiều chi phí về vậnchuyển và h hại.(2)
(1)nguồn: niên giám thống kê 2000 (2)nguồn: số liệu thực tế lấy ở xã Tân
Hng-Lạng Giang
Thông tin liên lạc
Đây là yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng nông thôn thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá Đến tháng 5 năm 2000, 100% số xã trong tỉnh Bắc Giang cómáy điện thoại và số máy điên thoại tính trên 100 hộ nông thôn nên tới 3 máy,trong đó cao nhất là Lạng Giang 5,6 máy, Hiệp Hoà, Việt Yên trên 3 máy.Những địa bàn có nhều máy điện thoại là những vùng có nhiều làng nghề truyềnthống đang hoạt động nên họ có nhu cầu nhanh về thông tin thị
trờng Hầu hết các xã trong vùng đều có trạm bu điện tổ chức theo mô hình trạm
bu điện văn hoá xã, vừa tạo điều kiện cho việc trao đổi văn hoá thông tin kinh tế