1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại trường đại học mỏ địa chất

119 20 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại trường đại học mỏ - địa chất
Tác giả Đỗ Thủy Trà My
Người hướng dẫn TS. Đào Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm tài sản công TSC là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật như: đất đai, rừng tự

Trang 1

ĐỖ THỦY TRÀ MY

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN

CỐ ĐỊNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐỖ THỦY TRÀ MY

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN

CỐ ĐỊNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8310110

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Đào Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại trường đại học Mỏ - Địa chất” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin số liệu là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác trước đó

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Đỗ Thủy Trà My

Trang 4

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG TỔ CHỨC CÔNG 4

1.1 Tổng quan lý luận về quản lý tài sản cố định trong tổ chức công 4

1.1.1 Cơ sở lý luận về tài sản cố định trong tổ chức công 4

1.1.2 Nội dung quản lý tài sản cố định trong tổ chức công 11

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản cố định trong tổ chức công 15 1.2 Tổng quan thực tiễn về quản lý tài sản cố định trong tổ chức công 16

1.2.1 Công tác quản lý tài sản cố định tại Trường Đại học Vinh [8] 16

1.2.2 Công tác quản lý tài sản cố định tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [1] 18

1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý tài sản cố định đối với Trường đại học Mỏ-Địa chất 19

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 21

Kết luận chương 1 24

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT GIAI ĐOẠN 2014-2017 26

2.1 Khái quát về trường Đại học Mỏ - Địa chất 26

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường Đại học Mỏ - Địa chất 26

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu có liên quan đến quản lý và sử dụng tài sản cố định của Trường đại học Mỏ - Địa chất 32

2.2 Thực trạng công tác quản lý tài sản cố định tại trường Đại học Mỏ - Địa chất giai đoạn 2014-2017 37

2.2.1 Quản lý quá trình hình thành tài sản cố định 37

Trang 5

2.3 Đánh giá về công tác quản lý tài sản cố định tại Trường 54

2.3.1 Những thành tựu đạt được trong công tác quản lý TSCĐ tại Trường 54

2.3.2 Một số tồn tại hạn chế trong quản lý tài sản cố định tại Trường 57

Kết luận chương 2 61

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT 62

3.1 Quan điểm, nguyên tắc hoàn thiện quản lý tài sản cố định tại Trường đại học Mỏ - Địa chất 62

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện 62

3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện 64

3.2 Các giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định tại Trường đại học Mỏ - Địa chất 65

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện, bổ sung các tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSCĐ tại các đơn vị 65

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện công tác hạch toán kế toán về TSCĐ 66

3.2.3 Giải pháp tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả các phòng thí nghiệm 69

3.2.4 Giải pháp xây dựng quy chế quản lý TSCĐ của trường 74

3.3 Kiến nghị 83

Kết luận chương 3 84

KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

CNTT : Công nghệ thông tin

Trang 7

Bảng 2.1.Danh mục nhà cửa vật kiến trúc của Trường 34 Bảng 2.2.Thống kê danh mục TSCĐ là thiết bị có giá trị cao 35 Bảng 2.3 Báo cáo thống kê tình hình TSCĐ giai đoạn 2014 - 2017 trường ĐH

Mỏ - Địa chất 37 Bảng 2.4 Báo cáo kinh phí duy tu bảo dưỡng, sửa chữa và mua sắm TSCĐ giai

đoạn 2014-2017 41

Tên hình

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Đại học Mỏ - Địa chất 28 Hình 2.2 Cơ cấu tài sản của Trường Đại học Mỏ - Địa chất năm 2017 33

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp, bất kỳ một đơn vị nào cũng cần phải có 3 yếu tố, là lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao động trong các đơn vị hành chính sự nghiệp chính là những phương tiện vật chất mà người lao động sử dụng nó để tác động vào đối tượng lao động Nó là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất mà trong đó tài sản cố định là một trong những bộ phận quan trọng nhất

TSCĐ nếu được sử dụng đúng mục đích, phát huy được năng suất làm việc, kết hợp với công tác quản lý sử dụng TSCĐ như đầu tư, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm kê, đánh giá… được tiến hành một cách thường xuyên, có hiệu quả thì sẽ góp phần tiết kiệm tư liệu sản xuất, nâng cao cả về số và chất lượng sản phẩm sản xuất và như vậy đơn vị sẽ thực hiên được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình

Như vậy, vấn đề sử dụng đầy đủ, hợp lý công suất của TSCĐ sẽ góp phần phát triển sản xuất, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng TSCĐ, đó là những mục tiêu quan trọng khi TSCĐ được đưa vào sử dụng Trong thực tế hiện nay ở Việt Nam, mặc dù đã nhận thức được tác dụng của TSCĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh, nhưng các đơn vị hành chính sự nghiệp vẫn chưa có những kế hoạch, biện pháp quản lý, sử dụng đầy đủ, đồng bộ và chủ động cho nên TSCĐ sử dụng một cách lãng phí, chưa phát huy được hết hiệu quả kinh tế của chúng và như vậy là lãng phí vốn đầu tư đồng thời ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của đơn vị

Nhận thức được vấn đề sử dụng TSCĐ sao cho có hiệu quả có ý nghĩa to lớn không chỉ trong lý luận mà cả trong thực tiễn quản lý của đơn vị, là nơi mà TSCĐ được sử dụng rất phong phú, nhiều chủng loại, cách sử dụng và vận hành khó khăn, chiếm tỷ trọng chi phí lớn,… cho nên vấn đề quản lý sử dụng gặp nhiều phức tạp, nếu không có những giải pháp cụ thể thì sẽ gây ra những lãng phí không nhỏ cho đơn vị;

do vậy học viên đã chọn đề tài "Tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại

trường đại học Mỏ - Địa chất" để nghiên cứu và làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý TSCĐ của MĐC qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý TSCĐ tại MĐC

Phạm vi nghiên cứu:

- Về thời gian: luận văn đánh giá thực trạng công tác quản lý TSCĐ trong giai đoạn 2014 - 2017; các giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020

- Về không gian: luận văn nghiên cứu các nội dung quản lý TSCĐ tại MĐC

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về tài sản cố định và quản lý tài sản cố định trong các tổ chức công

- Phân tích thực trạng công tác quản lý tài sản cố định MĐC trong giai đoạn

2014 - 2017, xác định những kết quả tích cực và những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý TSCĐ tại đơn vị

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại MĐC

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu: Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các số liệu thống kê, báo cáo đã được trường đại học Mỏ địa chất công bố như: Báo cáo đánh giá ngoài của MĐC; Báo cáo 3 công khai hàng năm; các báo cáo của các phòng chức năng như: phòng Tài vụ, phòng Quản trị thiết bị và một số đơn vị khác trong Trường

Phương pháp phân tích tổng hợp: Thông qua các số liệu thu thập được tác giả tổng hợp để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý TSCĐ tại MĐC

Phương pháp phân tích, so sánh: phương pháp này được sử dụng để so sánh và làm rõ xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích;

Trang 10

Phương pháp chuyên gia: phương pháp này được sử dụng để tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ quản lý về các vấn đề có liên quan đến công tác quản lý TSCĐ tại MĐC

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về quản lý TSCĐ trong các tổ chức công với các ưu nhược điểm của chúng và khả năng ứng dụng trong công tác quản lý TSCĐ tại trường đại học Mỏ - Địa chất

Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu đưa ra những giải pháp về việc hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định, có ý nghĩa tham khảo đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung và trường đại học Mỏ - Địa chất nói riêng và những người quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản cố định trong các tổ chức công

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài sản cố định tại trường đại học Mỏ

- Địa chất giai đoạn 2014 - 2017

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý tài sản cố định tại trường đại học Mỏ - Địa chất

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ

ĐỊNH TRONG TỔ CHỨC CÔNG 1.1 Tổng quan lý luận về quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

1.1.1 Cơ sở lý luận về tài sản cố định trong tổ chức công

1.1.1.1 Khái niệm tài sản công

TSC là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật như: đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời [5]

TSC trong cơ quan hành chính sự nghiệp là những tài sản mà Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công, các đơn vị lực lượng vũ trang (của Nhà nước), tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức khác (gọi chung là cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp) trực tiếp quản lý, sử dụng phục

vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị [9]

TSC - Tài sản nhà nước khu vực hành chính bao gồm: đất đai (đất sử dụng làm trụ sở làm việc, đất xây dựng cơ sở hoạt động vì mục đích công); nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai (nhà làm việc, nhà kho; nhà, công trình đảm bảo cho các hoạt động sự nghiệp ); các tài sản khác gắn liền với đất đai; các phương tiện giao thông vận tải (ô tô, xe máy, tàu, thuyền ); các máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc và các tài sản khác [9]

Những tài sản trên đây là cơ sở vật chất cần thiết để tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước Các cơ quan hành chính chỉ có quyền quản lý, sử dụng các tài sản này để thực hiện nhiệm vụ được giao, không có quyền sở hữu Việc sử dụng tài sản phải đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định; không được sử dụng vào mục đích cá nhân, kinh doanh và mục đích khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Việc phân loại TSC trong cơ quan hành chính trước hết cũng được thực hiện theo cách phân loại tài sản, phân loại TSC Tuy nhiên, để việc quản lý tài sản công

Trang 12

khu vực hành chính có hiệu quả, người ta lại tiếp tục phân loại tài sản ở khu vực này một cách cụ thể hơn Dựa trên những tiêu thức khác nhau, TSC khu vực hành chính được áp dụng các cách phân loại khác nhau, song nhìn chung có các cách phân loại phổ biến sau đây:[9]

Dựa vào đặc điểm, tính chất, giá trị, thời gian hoạt động của tài sản, người ta chia tài sản của cơ quan hành chính thành tài sản cố định và tài sản khác (tài sản rẻ tiền mau hỏng) hoặc bất động sản và động sản

Dựa theo đặc điểm công dụng của tài sản, người ta chia tài sản công của cơ quan hành chính nhà nước thành:

Trụ sở làm việc gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai, các tài sản khác gắn liền với đất đai đây là những tài sản có giá trị lớn và sử dụng trong nhiều năm hay vĩnh viễn không mất đi Tài sản loại này thường có nguồn gốc do lịch sử để lại hoặc đầu tư mới thời gian đầu tư rất dài kinh phí rất lớn nên một số nước có những cách quản lý riêng

Phương tiện vận tải gồm: xe ô tô phục vụ công tác và các phương tiện vận tải khác đây là những tài sản giá trị khá lớn cần thiết trong công việc hàng ngày Giá trị hao mòn hàng năm thời gian sử dụng ngắn hơn nhóm tài sản cố định là trụ sở làm việc Ở mỗi quốc gia khác nhau có cách quản lý tài sản này khác nhau do quan niệm về giá trị tài sản và quy mô kinh tế

Máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc và các tài sản khác đây là nhóm tài sản có thể hao mòn hết ngay trong năm Nhóm này rất đa dạng tuỳ thuộc vào từng cơ quan hành chính Việc quản lý được thực hiện thông qua ghi sổ theo dõi hay phiếu tài sản đơn giản

Trong thực tiễn để quản lý tài sản trong cơ quan hành chính người ta đồng thời

áp dụng cả hai cách phân loại trên đây, cụ thể như sau: Tài sản cố định, bao gồm: Trụ sở làm việc (bất động sản); phương tiện vận tải; máy móc, trang thiết bị; phương tiện làm việc và các tài sản khác Với cách phân loại này có những nét

tương đồng trong quản lý tài sản của doanh nghiệp

TSC rất phong phú về số lượng chủng loại, mỗi loại tài sản có đặc điểm,

Trang 13

tính chất, công dụng khác nhau TSC tại cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận tài sản quan trọng trong toàn bộ TSC và cũng bao gồm nhiều loại tài sản

có đặc điểm, tính chất, công dụng khác nhau và do nhiều cơ quan sử dụng khác nhau, song chúng đều có những đặc điểm chung sau: [9]

TSC trong cơ quan hành chính được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền của ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước.Trừ một số tài sản đặc biệt như: đất đai, tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước, sau đó được chuyển giao cho cơ quan hành chính quản lý sử dụng; còn lại đại bộ phận TSC dùng trong các

cơ quan hành chính là những tài sản được hình thành từ kết quả đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền của ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từngân sách nhà nước (thừa kế của thời kỳ trước)

Ngay cả những tài sản thiên nhiên ban tặng như đất đai, tài nguyên, các cơ quan hành chính muốn sử dụng được cũng phải đầu tư chi phí bằng tiền của ngân sách nhà nước cho các công việc khảo sát, thăm dò, đo đạc, san lấp mặt bằng, tiền trưng mua đất (tiền bồi thường đất) Cơ quan hành chính là những đơn vị được ngân sách nhà nước ảm bảo kinh phí hoạt động Do vậy, toàn bộ vốn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cũng như các chi phí để hình thành TSC, chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm bảo

Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp xây dựng và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước đối với tài sản này, ngân sách nhà nước không trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan sử dụng Nhưng các tài sản này trước khi giao cho các cơ quan hành chính sử dụng, đều phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước Khi các tài sản này được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu cho ngân sách nhà nước Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập quyền sở hữu

Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp giao cho các

cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành từ ngân sách nhà nước Từ

sự phân tích trên cho thấy dù là tài sản nhân tạo hay tài sản thiên tạo và được hình

Trang 14

thành từ kết quả đầu tư trực tiếp, xây dựng mua sắm tài sản hay các nguồn tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì TSC trong cơ quan hành chính nhà nước đều được đầu tư, mua sắm bằng tiền của ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước

Sự hình thành và sử dụng TSC phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan TSC trong cơ quan hành chính là cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động của các cơ quan Hoạt động của mỗi cơ quan nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ quản lý nhà nước của mình Do vậy, sự hình thành và sử dụng TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, cụ thể là:

+ Đối với cơ quan quản lý nhà nước, TSC chỉ đơn thuần là điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng TSC của các cơ quan này lớn nhất là trụ sở làm việc (công đường), các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm việc Số lượng TSC cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ, công chức, viên chức của mỗi

cơ quan, đơn vị

+ Đối với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; TSC chỉ đơn thuần

là phương tiện để các tổ chức này thực hiện các hoạt động thuộc chức năng, nhiệm

vụ của mình nhằm phát huy vai trò của tổ chức này TSC của tổ chức này cũng như các cơ quan quản lý nhà nước là công sở, phương tiện giao thông vận tải phục

vụ công tác và các máy móc, trang thiết bị văn phòng và các tài sản khác Số lượng tài sản công cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và số lượng cán bộ, công nhân viên trong các tổ chức

Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm TSC không thu hồi được trong quá trình sử dụng TSC Thực tế các nước trên thế giới cho thấy khoảng 80% chi NSNN là chi chuyển giao và có rất ít khoản chi là chi thanh toán, được hoàn trả trực tiếp Khác với doanh nghiệp kinh doanh, TSC trong cơ quan hành chính chủ yếu là những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh

Trang 15

doanh; trong quá trình sử dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đưa ra thị trường; do đó, không chuyển giá trị bị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chi phí lưu thông Vì thế, trong quá trình sử dụng, tuy tài sản bị hao mòn nhưng không trích khấu hao được (ñối với tài sản cố định), vì giá trị của nó không được chuyển dần sang giá trị của sản phẩm vật chất, dịch vụ để hình thành bộ phận giá trị mới cần phải thu hồi Do không thực hiện trích khấu hao tài sản cố định, nên nguồn vốn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản không thu hồi được trong quá trình sử dụng

và không có nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước trong việc sử dụng Mức độ hao mòn của TSC trong quá trình sử dụng nhanh hay chậm không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cơ quan hành chính, Nhà nước không sử dụng đòn bẩy trích khấu hao tài sản cố định để thúc đẩy các cơ quan bảo vệ TSC như đối với các tổ chức kinh tế sử dụng tài sản vào sản xuất kinh doanh Nhà nước chỉ có thể buộc các

cơ quan này quản lý và sử dụng TSC tiết kiệm và hiệu quả bằng các biện pháp hành chính như quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC, cùng với biện pháp quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu về duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa TSC để buộc các cơ quan hành chính sử dụng tài hiệu quả hơn Tuy nhiên, Nhà nước phải nắm chính xác giá trị

và giá trị còn lại của tài sản để phục vụ cho công tác quản lý tài sản thông qua việc quy định chế độ tính hao mòn tài sản cố định trong khu vực hành chính sự nghiệp 1.1.1.2 Quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

a Khái niệm

Quản lý TSCĐ trong tổ chức công là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy quản lý đối với TSCĐ trong tổ chức công nhằm đảm bảo TSCĐ được đầu tư xây dựng mới, mua sắm, quản lý, sử dụng, xử lý một cách hiệu quả, tiết kiệm, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao cho các tổ chức công [9] Khái niệm này cho ta thấy những vấn đề sau: đối tượng quản lý là các TSCĐ được Nhà nước giao cho các tổ chức công quản lý, sử dụng; chủ thể quản lý là

hệ thống các cơ quan quản lý TSCĐ được hình thành tại các tổ chức công được Nhà nước giao quản lý, sử dụng TSCĐ; công cụ quản lý là hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến TSCĐ được Nhà nước ban hành

Trang 16

b Mục tiêu quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

Mỗi một hoạt động quản lý của Nhà nước có thể được thực hiện bằng những phương thức khác nhau nhưng đều có những mục tiêu được xác định trước, hướng tới sự phát triển, ổn định và hiệu quả Tài sản quốc gia cũng vì vậy tồn tại các cách quản lý sử dụng khác nhau vì mục đích hiệu quả đối với quản lý nhà nước cũng như chủ thể của tài sản Để thực hiện vai trò chủ sở hữu TSCĐ của mình, Nhà nước đặt ra các mục tiêu quản lý đối với khối tài sản của mình như sau:[9]

Đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí và khai thác hiệu quả nguồn TSCĐ của Nhà nước Theo đó,các tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng TSCĐ phải bảo tồn, phát triển nguồn TSCĐ và sử dụng TSCĐ theo quy định của pháp luật, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo

vệ được môi trường, môi sinh, hoàn thành nhiệm vụ do Nhà nước giao

Đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức chế độ mà nhà nước quy định Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra, kiểm soát các quá trình hình thành, sử dụng, khai thác và xử lý TSCĐ Nói một cách khác, người được giao trực tiếp quản lý, sử dụng TSCĐ phải thực hiện theo ý chí của nhà nước (người đại diện chủ sở hữu TSCĐ) Mặt khác, do những đặc điểm riêng có của TSCĐ là tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản không phải là người có quyền sở hữu tài sản; TSCĐ được phân bổ ở khắp mọi miền đất nước, được giao cho các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng Do đó, nếu Nhà nước không tổ chức quản lý TSCĐ theo một cơ chế, chính sách, chế độ thống nhất phù họp với mô hình kinh tế mà nhà nước theo đuổi sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiệntrong đầu tư xây dựng, mua sắm, sửa chữa, sử dụng, điều chuyển, thanh xử lý tài sản; nhất là sử dụng tài sản không đúng mục đích được giao, sử dụng TSCĐ vào việc riêng, sử dụng tài sản lãng phí, kém hiệu quả, làm thất thoát tài sản, giảm nguồn lực TSCĐ

Đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của tổ chức công, gắn với yêu cầu hiện đại hoá và tái trang bị TSCĐ đi liền với hiện đại hoá đất nước Nhà nước thực hiện quản lý TSCĐ cũng chính là thực hiện quyền sở hữu tài sản; trong đó đặc biệt là

Trang 17

quyền định đoạt đối với TSCĐ bao gồm: quyền đầu tư xây dựng, mua sắm, điều chuyển, thanh xử lý tài sản (bao gồm cả bán tài sản) Quản lý TSCĐ phải hướng tới mục tiêu phục vụ thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức công Nếu nhiệm vụ của tổ chức công tăng lên hoặc có thay đổi trong yêu cầu về chất lượng dịch vụ thì TSCĐ phải thay đổi để đáp ứng

c Các yêu cầu quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

Với đặc điểm chung là phong phú về chủng loại, có tính năng, công dụng khác nhau nên việc quản lý TSCĐ phải được tổ chức thực hiện theo những yêu cầu sau: [9]

Thứ nhất, thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, đồng thời phải có

cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng, đối với ngành, địa phương, tổ chức sử dụng tài sản phục vụ cho các hoạt động

có tính đặc thù riêng:

Thống nhất quản lý trên cơ sở để đảm bảo cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSCĐ phù hợp với đặc điểm TSCĐ Nội dung của thống nhất quản lý là Chính phủ thống nhất quản lý TSCĐ; Quốc hội, Chính phủ quy định cơ chế, chính sách, chế

độ quản lý tài sản áp dụng chung cho mọi tài sản và quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý cụ thể đối với những tài sản có giá trị lớn mà hầu hết cơ quan nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang, các đơn vị công, các tổ chức khác được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng (có thể gọi là những tài sản chủ yếu và được sử dụng phổ biến) Trên cơ sở cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSCĐ do Quốc hội, Chính phủ quy định; các Bộ, ngành, địa phương quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản

lý đối với những tài sản có tính đặc thù riêng (có thể gọi là những tài sản có tính đặc thù) và những tài sản phục vụ cho các hoạt động đặc thù của mình

Thứ hai, thực hiện quản lý và sử dụng TSCĐ đúng mục đích đầu tư, trang bị; theo tiêu chuẩn, định mức; đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng và hiệu quả: Mỗi một TSCĐ khi được quyết định đầu tư đều đã được xác định rõ ràng về mục đích, công năng sử dụng và được giao cho cơ quan, đơn vị sử dụng nhằm phục

vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao Vì vậy, đơn vị, cá

Trang 18

nhân được giao sử dụng tài sản có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích, nhất là phải

sử dụng vào việc công, không được sử dụng TSCĐ vào mục đích cá nhân

1.1.2 Nội dung quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

Có nhiều cách tiếp cận trong quản lý TSCĐ trong tổ chức công Luận văn tiếp cận theo quá trình hình thành; khai thác, sử dụng và quá trình kết thúc tài sản.[9]

1.1.2.1 Quản lý quá trình hình thành tài sản

Quản lý quá trình hình thành TSCĐ tại tổ chức công được căn cứ vào phương thức hình thành của tài sản: tài sản hình thành do được bàn giao, điều chuyển và tài sản được hình thành do đầu tư xây dựng, mua sắm mới

Quản lý tài sản được hình thành do bàn giao, điều chuyển Đối với tài sản được hình thành do bàn giao, điều chuyển (bao gồm cả tài sản mới được mua sắm và tài sản đã trải qua một thời gian khai thác, sử dụng): Căn cứ biên bản bản giao và các tài liệu khác liên quan đến tài sản, tổ chức công cần tiến hành lập hồ sơ về tài sản (gồm các thông tin: nguyên giá, năm đưa vào sử dụng, giá trị đã hao mòn, GTCL, hiện trạng tài sản…) để làm cơ sở ghi chép sổ sách quản lý tài sản, hạch toán kế toán theo quy định, làm cơ sở cho việc bố trí khai thác, sử dụng, duy tu, bảo dưỡng tài sản

Quản lý tài sản được hình thành do đầu tư xây dựng, mua sắm mới Quản lý quá trình hình thành tài sản đối với tài sản được hình thành do mua sắm, đầu tư xây dựng tại tổ chức công gồm hai giai đoạn: quyết định chủ trương đầu tư và thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản Việc quyết định chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản của người có thẩm quyền được căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản, chế độ quản lý tài sản; thực trạng, nhu cầu về TSCĐ và khả năng nguồn lực tài chính để đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản của từng đơn vị để làm cơ

sở xây dựng kế hoạch, ghi vào dự toán NSNN hàng năm Việc quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp, không hiệu quả được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí NSNN Vì vậy, khi xem xét, quyết định chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản để sử dụng cho

Trang 19

hoạt động chuyên môn, người có thẩm quyền cũng cần cân nhắc, so sánh với các phương án khác để đảm bảo hiệu quả sử dụng NSNN và hiệu quả đầu tư, chẳng hạn như thay vì đầu tư mới có thể cải tạo, chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng của các tài sản khác còn nhàn rỗi một cách phù hợp về mặt kỹ thuật và các yếu tố khác hoặc có thể xem xét phương án đi thuê đối với những tài sản chỉ có nhu cầu sử dụng trong thời gian ngắn, không thường xuyên hoặc chưa có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư xây dựng, mua sắm

Sau khi có chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản, việc thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản phải được tuân thủ theo các quy trình nghiệp vụ, quy định về đầu tư và xây dựng, quy định về mua sắm TSCĐ Trong quản lý ở giai đoạn này cần chú ý là chỉ được đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản đã được ghi vào kế hoạch, dự toán, không thực hiện các nhu cầu xây dựng, mua sắm tài sản ngoài kế hoạch (trừ các trường hợp được cấp có thẩm quyền bổ sung, các tài sản mua sắm do tài trợ, biếu, tặng)

Quá trình đầu tư xây dựng để hình thành tài sản là các công trình xây dựng (nhà cửa, vật kiến trúc…) sau khi có chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền phê duyệt được thực hiện theo quy định về đầu tư xây dựng và được giao cho một chủ thể có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện (Chủ đầu tư) Kết thúc quá trình đầu tư, Chủ đầu tư thực hiện thủ tục bàn giao tài sản cho đơn vị trực tiếp quản lý sử dụng để hạch toán ghi tăng tài sản và tổ chức khai thác, sử dụng theo đúng mục đích, công năng của tài sản theo chủ trương đầu tư đã được phê duyệt.Các TSCĐ hình thành do mua sắm cũng được thực hiện theo các quy định chặt chẽ của Nhà nước Thực tế hiện nay ở nước ta đang tồn tại song song hai phương thức mua sắm:

- Phương thức mua sắm phân tán: Phương thức mua sắm phân tán là phương thức truyền thống đang được áp dụng phổ biến hiện nay ở Việt Nam Theo phương thức này, các cơ quan dự toán trực tiếp tổ chức thực hiện mua sắm tài sản để phục

vụ công tác cho đơn vị mình Việc thực hiện mua sắm theo phương thức phân tán

có ưu điểm là tạo sự chủ động cho đơn vị, không phát sinh thêm bộ máy do hoạt động mua sắm thực hiện theo chế độ kiêm nhiệm Song, phương thức này có những

Trang 20

hạn chế chủ yếu là: không chuyên nghiệp và chưa tách bạch được nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công trong quản lý TSCĐ; tốn nhiều công sức và thời gian; chi phí mua cao hơn do mua sắm nhỏ lẻ, chất lượng sản phẩm không được tối ưu do chưa có điều kiện để chọn lựa các nhà cung cấp tốt nhất; thiếu tính đồng bộ, hiện đại và việc đảm bảo tiêu chuẩn, định mức trong quản lý, sử dụng TSNN

- Phương thức mua sắm tập trung: Phương thức mua sắm tài sản tập trung thường được áp dụng đối với mua sắm tài sản với số lượng lớn, chủng loại được sử dụng phổ biến tại nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị, hoặc tài sản có yêu cầu tính đồng

bộ, hiện đại Theo phương thức này thì các tài sản sau khi có chủ trương mua sắm được cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ được tổ chức thực hiện mua sắm tập trung thông qua đơn vị mua sắm tập trung thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, doanh nghiệp Trường hợp đơn vị mua sắm tập trung không đủ năng lực thì đơn vị mua sắm tập trung thuê tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp thực hiện việc lựa chọn nhà thầu Việc mua sắm tập trung được thực hiện theo một trong hai cách là: đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầuđược lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ; hoặc đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, ký văn bản thỏa thuận khung với một hoặc nhiều nhà thầu được lựa chọn làm cơ sở để các đơn

vị có nhu cầu mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp tài sản Đơn vị có chức năng mua sắm tập trung thực hiện quy trình mua sắm tài sản theo quy định của pháp luật về đấu thầu và tài sản được hình thành sau mua sắm được giao cho đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản

Quản lý quá trình hình thành TSCĐ là khâu mở đầu, quan trọng nhất, quyết định cho các khâu tiếp theo TSCĐ nếu được hình thành có cơ sở khoa học và thiết thực sẽ được quản lý và khai thác sau này hiệu quả Đồng thời thông qua quá trình hình thành tài sản sẽ đánh giá được tính cấp thiết, thực trạng quản lý và ngân sách của mỗi cơ quan quản lý TSCĐ sau này

Trang 21

1.1.2.2 Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản cố định

Quá trình khai thác, sử dụng TSCĐ quyết định hiệu quả của TSCĐ, chứng minh cho những luận chứng kỹ thuật được đưa ra trong giai đoạn hình thành tài sản Đây là quá trình diễn ra hết sức phức tạp, bởi vì thời gian khai thác, sử dụng tuỳ thuộc đặc điểm tính chất, độ bền của mỗi loại tài sản Quá trình này đều được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản Thời gian của quá trình khai thác, sử dụng tài sản được tính từ ngày nhận tài sản hay bàn giao tài sản đến khi tài sản không còn sử dụng được phải thanh lý Mỗi tài sản có đặc điểm khác nhau nên công tác đánh giá hiệu quả là rất khó, chính vì vậy đối với tài sản thuộc khu vực tổ chức công được thực hiện quản lý việc sử dụng phải theo công năng, mục đích nhất định Ngoài ra cần lưu ý việc xây dựng định mức sử dụng tài sản là công việc hết sức cần thiết nhưng cũng rất phức tạp, quyết định hiệu quả cho quản lý, khai thác tài sản Định mức cũng là một trong những cơ sở quan trọng để quyết định chủ trương xây mới, mua sắm hay thuê mua tài sản Mỗi một tài sản thường có một thời gian sử dụng nhất định, nên trong quá trình khai thác, sử dụng cần có cơ chế đánh giá tài sản (công việc này thường được thực hiện hàng năm) cả về hiệu quả khai thác, sử dụng, tình trạng của tài sản so với trạng thái ban đầu và GTCL của tài sản để có chế độ duy tu, bảo dưỡng tài sản một cách hợp lý

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước là một khâu quan trọng trong quản lý TSCĐ Thiếu khâu này, hoạt động quản lý sẽ kém hiệu quả, hiệu lực Yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát là phải trung thực, đầy đủ, chính xác, khách quan và phải được tiến hành một cách thường xuyên, kịp thời để phát hiện và xử lý các vi phạm, sai phạm trong sử dụng TSCĐ

1.1.2.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản cố định

Đối với tài sản của tổ chức công, phương pháp xử lý tài sản thường sử dụng

là bán thanh lý hoặc điều chuyển Việc bán thanh lý TSCĐ thường xây dựng thành quy chế cụ thể tuỳ theo quy định của pháp luật có liên quan Nhà nước có thể đưa ra đấu giá công khai hay chỉ định giá bán và đối tượng nếu là đối tượng chính

Trang 22

sách, mức giá bán khởi điểm để đấu giá hay ấn định thường dựa trên thị trường và tham chiếu biểu giá chung nhưng thấp hơn một tỷ lệ % nhất định Còn phương pháp điều chuyển đòi hỏi công tác quản lý tổng thể, xác định lại giá trị và đăng

ký lại sở hữu hay sử dụng Nhìn chung TSCĐ có giá trị sử dụng dài hạn thường được điều chuyển để đảm bảo hợp lý và tiết kiệm

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

Quản lý TSCĐ trong các tổ chức công bị tác động của nhiều yếu tố, tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả đưa ra các nhóm nhân tố tác động chính sau:

- Nhóm nhân tố về thể chế quản lý kinh tế, quản lý tài chính và cơ chế quản lý TSCĐ của Nhà nước: Thể chế kinh tế chính là hệ thống các quy tắc nền tảng cho các tương tác kinh tế trong xã hội; bao gồm cơ chế thị trường và sự can thiệp của nhà nước cũng như mối quan hệ giữa chúng Xuất phát từ những quan điểm khác nhau trong vai trò của Nhà nước và vai trò của thị trường trong phát triển kinh tế, đã hình thành nên các thể chế kinh tế khác nhau giữa các quốc gia, do

đó cũng hình thành nên phương thức quản lý TSCĐ đặc thù Và chính điều đó cũng tạo ra sự đa dạng trong hình thức quản lý của chính phủ đối với quản lý tài chính nói chung và quản lý TSCĐ nói riêng

- Nhóm nhân tố về trình độ, ý thức của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý của các tổ chức công: Hiệu quả và chất lượng xây dựng và thực thi cơ chế quản lý TSCĐ tại tổ chức công chịu ảnh hưởng lớn từ nhân tố này Về nguyên tắc, cơ chế, quyết định quản lý TSCĐ tại tổ chức công được soạn thảo trên cơ sở yêu cầu quản lý do bộ máy quản lý đặt ra, phù hợp với các điều kiện và đòi hỏi khách quan theo thể chế chung Các nội dung trên chịu ảnh hưởng bởi trình độ nhận thức, năng lực quản lý, tổ chức của nhà nước Trên cơ sở nhận thức, cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý khai thác, sử dụng, thanh lý, kết thúc TSCĐ… Trình độ, khả năng, tư duy trách nhiệm của các cán bộ, công chức trực tiếp tham gia hoạt động quản lý TSCĐ có tác động tới các quyết định quản lý trong

cơ chế quản lý TSCĐ Do đó, yêu cầu ý thức trách nhiệm và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức quản lý tại tổ chức công phải đảm bảo được tính

Trang 23

khách quan khi đặt ra các yêu cầu quy định trong cơ chế, đảm bảo hiệu quả thực tế của cơ chế khi áp dụng vào hoạt động thực tiễn của tổ chức công

- Hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về TSCĐ: Nếu kho dữ liệu về TSCĐ tương đối đầy đủ, được cập nhật thường xuyên, liên tục sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho công tác quản lý Hệ thống thông tin quản lý được xây dựng hoàn thiện sẽ giúp việc quản lý TSCĐ sát sao, đầy đủ và chính xác Thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về TSCĐ, TSCĐ sẽ được kiểm soát chặt chẽ Cơ quan quản lý tài sản, cơ quan quản

lý ngân sách sẽ nắm bắt kịp thời tình trạng của tài sản để thực hiện các biện pháp, nghiệp vụ quản lý, cũng như chuẩn bị nguồn tài chính cho duy tu, bảo dưỡng tài sản hoặc đầu tư, xây dựng, mua sắm mới trong trường hợp cần thiết

- Nhóm nhân tố khác: Sự vận hành của các cơ chế quản lý (trong đó có cơ chế quản lý TSCĐ) cũng chịu tác động của nhiều nhân tố khách quan khác nằm ngoài ý muốn chủ quan của chủ thể quản lý Một số nhân tố khách quan cụ thể ở đây có thể

kể đến như thiên tai địch họa, chiến tranh hoặc bất ổn chính trị - xã hội Các nhân

tố này có thể ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả thực thi cơ chế khi phát sinh, có thể làm việc chấp hành cơ chế quản lý bị lơ là hoặc không đảm bảo thực hiện để thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động khác được ưu tiên hơn tại thời điểm nhất định Trong quá trình hoạt động, mục tiêu của bất cứ đơn vị nào cũng nhằm tối đa hoá giá trị tài sản (trong đó có tài sản cố định) của chủ sở hữu, do vậy việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là mang lại tỷ suất lợi nhuận cao Hiệu quả sử dụng TSCĐ của các trường đại học công lập cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó Việc sử dụng có hiệu quả TSCĐ của các trường ĐHCL chính là thể hiện trình khai thác nguồn vốn sẵn có nhằm mục tiêu sinh lợi tối đa cho đơn vị Do vậy, các trường đại học đều cố gắng sao cho tài sản được đưa vào sử dụng hợp lý để kiếm lợi cao nhất đồng thời luôn tìm các nguồn tài trợ, tăng TSCĐ hiện có để mở rộng hoạt động cả

về chất và lượng, đảm bảo các mục tiêu đề ra

1.2 Tổng quan thực tiễn về quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

1.2.1 Công tác quản lý tài sản cố định tại Trường Đại học Vinh [8]

Trường đại học Vinh đã xây dựng quy trình quản lý TSCĐ đến các đơn vị

Trang 24

trong toàn Trường theo một quy trình khá chặt chẽ và cụ thể Một số đặc điểm nổi bật trong quy chế quản lý TSCĐ hiện nay tại Trường là:

Tất cả các tài sản cố định ở mọi nguồn vốn (ngân sách Nhà nước, coi như ngân sách Nhà nước như: viện trợ, chương trình hợp tác, dự án, quà biếu, tặng, quỹ hoạt động phát triển của trường ) đều phải đăng ký vào sổ sách kịp thời

Tài sản cố định phải được phân loại, thống kê, đánh sổ, theo dõi chi tiết đến từng đối tượng ghi tài sản cố định và được phản ánh trong sổ theo dõi tài sản cố định Mỗi đơn vị quản lý sử dụng đều được cấp một quyển sổ theo dõi tài sản cố định theo mẫu thống nhất chung cả Trường (mẫu sổ do Phòng KH-TC phát hành),

số liệu trong sổ theo dõi tài sản cố định của đơn vị sử dụng và số liệu trong sổ sách của bộ phận quản lý tài sản Trường phải thống nhất với nhau Riêng các loại máy móc, thiết bị đắt tiền (có nguyên giá từ 100 triệu đồng trở lên) phải có thêm sổ lý lịch máy hoặc nhật ký sử dụng máy để theo dõi quá trình sử dụng

Mỗi tài sản cố định là máy móc thiết bị phải dùng một số hiệu để quản lý gọi

là số hiệu tài sản số hiệu tài sản lấy từ dừ liệu quản lý của Phòng KH-TC và được ghi vào hồ sơ, sổ sách quản lý của đơn vị Tem ghi tên và số hiệu tài sản được Phòng KH- TC phát hành thống nhất để đơn vị sử dụng dán vào tài sản Tài sản được theo dõi trong suốt quá trình sử dụng cho đến khi điều chuyển, thanh lý

Đối với những tài sản cố định đơn vị không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết công suất thì Nhà trường sẽ điều động đến đơn vị có nhu cầu sử dụng nhiều hơn nhằm khai thác tối đa tần suất sử dụng của tài sản đã được đầu tư mua sắm Tài sản Trường Đại học Vinh được theo dõi, quản lý trong hệ thống hồ sơ, sổ sách tại các đơn vị sau:

Phòng KH-TC: Quản lý hồ sơ lý lịch từng loại tài sản, trên sổ kế toán và tài khoản kế toán, theo từng chỉ tiêu cụ thể, gồm: nguyên giá tài sản, hao mòn hoặc trích khấu hao và giá trị còn lại Thực hiện việc kiểm kê, đánh giá định kỳ để đối chiếu giữa số liệu trên sổ kế toán và thực tế sử dụng

Phòng QT&ĐT: Quản lý hồ sơ lý lịch từng loại tài sản, chi tiết cụ thể chủng loại, khối lượng, số lượng của tất cả các loại tài sản theo hệ thống sổ sách, hồ sơ tài

Trang 25

sản Việc giao tài sản cho đơn vị, cá nhân trực tiếp quản lý và sử dụng (kể cả các trang thiết bị giao cho Phòng QT&ĐT trực tiếp quản lý, sử dụng) phải được thực hiện theo các quyết định của Hiệu trưởng hoặc người được Hiệu trưởng uỷ quyền, phân cấp và phải được giao, nhận bàng biên bản giao, nhận tài sản theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành Giúp Hiệu trưởng thực hiện chế độ báo cáo việc quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính

Các đơn vị được giao quản lý và sử dụng tài sản, trang thiết bị: quản lý tài sản, trang thiết bị được giao theo biên bản giao, nhận tài sản và sổ theo dõi tài sản (chi tiết từng đơn vị); phải lập sổ nhật ký sử dụng và phân công cán bộ phụ trách cho từng loại tài sản, thiết bị Việc giao, nhận tài sản chuyển cho đơn vị, cá nhân khác phải căn cứ các quyết định của Hiệu trưởng hoặc người được Hiệu trưởng uỷ quyền

ký và phải được giao, nhận bằng biên bản giao, nhận tài sản theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành; nếu tự ý giao, nhận thì trách nhiệm quản lý vẫn thuộc về đơn vị, cá nhân được giao ghi trong quyết định hiện hành

Tài sản Nhà nước phải công khai việc quản lý, sử dụng gồm: trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất, phương tiện vận tải và các tài sản cố định khác

1.2.2 Công tác quản lý tài sản cố định tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [1]

Cùng với việc trở thành đơn vị dự toán cấp 1 (năm 2006) và hình thành hệ thống các đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc, công tác quản lý TSCĐ tại Học viện cũng được định hướng, xác định hết sức rõ ràng với chủ thể quản lý tài sản là bộ máy quản lý TSCĐ của Học viện đã được hình thành và từng bước hoàn thiện theo yêu cầu quản lý (gồm Vụ Kế hoạch - Tài chính tại đơn vị dự toán cấp 1 và bộ phận quản lý TSCĐ tại các đơn vị dự toán cấp 2 và cấp 3), đối tượng quản lý là TSCĐ được Đảng, Nhà nước giao quản lý, sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và được hình thành gồm 2 nhóm chính: TSCĐ được các cơ quan chức năng có liên quan bàn giao quản lý, sử dụng và TSCĐ được hình thành do đầu tư xây dựng, mua sắm mới

Trên cơ sở quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Học viện đã

Trang 26

nghiên cứu, ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn, cụ thể hóa các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý TSCĐ Trong giai đoạn 2009-2014, Học viện đã ban hành 117 văn bản liên quan đến lĩnh vực quản lý TSCĐ Trong đó có 24 văn bản mang tính chất hướng dẫn, cụ thể hóa các quy định của Nhà nước để áp dụng trong hệ thống Học viện; 93 văn bản trả lời, hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc đối với các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản

Tại các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản, Thủ trưởng các đơn vị cũng

đã chủ động ban hành một số quy định về định mức sử dụng tài sản để đảm bảo quản lý, sử dụng tài sản hiệu quả, phù hợp hiện trạng tài sản đang quản lý và tính chất hoạt động của đơn vị mình như quy định cụ thể về tiêu chuẩn diện tích phòng làm việc, định mức sử dụng điện thoại; định mức tiêu hao nhiên liệu cụ thể đối với từng xe ô tô đang quản lý, sử dụng; chế độ khoán văn phòng phẩm

Về cơ bản, hệ thống các văn bản liên quan đến quản lý, sử dụng TSCĐ đang được Học viện triển khai kịp thời, phù hợp với thực tế, cập nhật kịp thời các quy định mới của Nhà nước, chú trọng hiệu quả của khâu thực hiện Tuy nhiên, việc

cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý, sử dụng tài sản của Học viện còn chưa được đầy đủ, các văn bản hướng dẫn rời rạc theo từng sự việc, từng văn bản của Nhà nước và cơ quan có thẩm quyền mới ban hành, không mang tính tổng hợp và chưa thành hệ thống để các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng dễ thực hiện Đặc biệt, đến nay Học viện và các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản chưa ban hành được Quy chế quản lý, sử dụng TSNN theo quy định nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng và hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản tại từng đơn vị

1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý tài sản cố định đối với Trường đại học Mỏ-Địa chất

Qua nghiên cứu thực tiễn về công tác quản lý TSCĐ nói chung, TSCĐ nói riêng của một số đơn vị ở trên có thể rút ra kinh nghiệm cho Trường ĐH Mỏ-Địa chất như sau:

Thứ nhất, hệ thống các quy định, chính sách quản lý TSCĐ phải đầy đủ, chặt chẽ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý

Trang 27

Việc quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng cho từng loại TSCĐ là yêu cầu cần thiết đầu tiên và được cụ thể hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ Luật và các quy định, quy chế, tạo thành hệ thống pháp luật về quản lý TSNN nói chung và quản lý TSCĐ tại từng cơ quan, đơn vị nói riêng để đảm bảo cho việc quản lý và sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, phân định rõ trách nhiệm, tránh trùng lắp nhiệm vụ giữa các cơ quan làm chức năng quản lý TSCĐ

Các quy định, chính sách quản lý TSCĐ càng đầy đủ, cụ thể, thì việc quản lý TSCĐ vừa chặt chẽ, vừa thuận lợi, hạn chế được những sai phạm trong cả quản lý

và sử dụng; đồng thời cho phép các cơ quan quản lý TSCĐ nắm được thực trạng tài sản cả về số lượng và chất lượng để quyết định được phương thức, mức độ đầu tư, mua sắm tài sản, quy trình quản lý và thực hiện điều tiết tài sản từ nơi thừa sang nơi thiếu một cách hợp lý

Thứ hai: hệ thống thông tin, báo cáo, dữ liệu về TSCĐ cần được xây dựng đảm bảo cho việc quản lý có hiệu quả, tăng cường trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong quản lý TSCĐ

Quản lý TSCĐ ở các cơ quan, địa phương được khảo sát thực hiện qua một hệ thống kế hoạch và kho dữ liệu về tài sản tương đối đầy đủ Hệ thống thông tin quản

lý được xây dựng hoàn thiện để quản lý sát sao TSCĐ Các đơn vị sử dụng hoặc cơ quan chủ quản đều có những báo cáo định kì tình hình sử dụng tài sản theo một hệ thống báo cáo thống nhất với số liệu được kiểm soát chặt chẽ

Cơ quan quản lý tài sản, Bộ Tài chính, cơ quan quản lý ngân sách nắm bắt kịp thời tình trạng của tài sản để thực hiện chế độ tổng hợp báo cáo tài sản thường niên theo quy định Cơ quan quản lý tài sản có trách nhiệm báo cáo định kì việc sử dụng, quản lý, tăng giảm tài sản lên các cơ quan quản lý ngân sách

Một vấn đề quan trọng của quản lý hiệu quả TSCĐ là trách nhiệm giải trình và tính minh bạch, tăng cường trách nhiệm, xác định rõ ràng mục tiêu của các cơ quan nhà nước khi sử dụng TSCĐ nhằm phục vụ lợi ích công cộng, gắn với thực hiện nhiệm vụ được giao Cuối năm mỗi cơ quan phải đưa ra báo cáo hàng năm, nói rõ hiệu quả hoạt động của mình và được đánh giá thông qua điều tra xã hội, kiểm tra,

Trang 28

giám sát, đồng thời các cơ quan có thẩm quyền sẽ thông qua thảo luận, điều trần để tiến hành đánh giá, giám sát; toàn bộ quá trình này đều có tính minh bạch rất cao Thứ ba, phương thức mua sắm TSCĐ phổ biến là qua mua sắm tập trung, đấu thầu rộng rãi

Phương thức mua sắm tập trung là phương thức tiên tiến, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng và đang được Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện ở nước ta do đem lại hiệu quả cao trong việc mua sắm TSCĐ, thể hiện qua số ngân sách tiết kiệm được khi áp dụng so với các phương thức khác Nhà nước kiểm soát được chất lượng và giá cả hàng hóa, đảm bảo tính đồng bộ về mặt kỹ thuật, rút ngắn thời gian và chi phí tổ chức mua sắm, tăng tính chuyên nghiệp trong mua sắm TSCĐ Hình thức đấu thầu mua sắm công được áp dụng đối với tất cả tài sản, hàng hóa, dịch vụ liên quan đến chi tiêu công (bao gồm cả lựa chọn nhà đầu tư, xây dựng) Các khoản mua TSCĐ nhờ đó được thực hiện qua đấu thầu rộng rãi, minh bạch, công khai cũng có thể hạn chế được tình trạng các cơ quan vượt quá tiêu chuẩn sử dụng TSCĐ, ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí trong mua sắm công

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn

Trong giai đoạn từ năm 2008 trở về trước, các nghiên cứu trong nước về TSC nói chung, TSCĐ và quản lý TSCĐ nói riêng chủ yếu là các luận văn thạc sĩ, các bài viết đăng trên các tạp chí nhằm nghiên cứu, trao đổi các vấn đề liên quan hoặc các đề tài nghiên cứu của các đơn vị thuộc cơ quan quản lý nhà nước về công sản (Bộ Tài chính) thực hiện Do giai đoạn này chưa có Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước nên văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý TSCĐ còn thiếu, chưa đồng bộ, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau Các định hướng, chủ trương, nguyên tắc, quy định cụ thể về quản lý, sử dụng TSCĐ nằm rải rác trong các văn bản khác nhau: Luật Ngân sách nhà nước 2003, các Nghị định, Thông tư và các Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các Quyết định, thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành quản lý nhà nước… Chính vì vậy kết quả các nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu hệ thống hóa, tập hợp lại

hệ thống các văn bản liên quan đến TSCĐ và quản lý TSCĐ hoặc đề cập đến kinh

Trang 29

nghiệm quản lý TSCĐ của một số nước trên thế giới để tham khảo, nhằm đề xuất những giải pháp hoàn thiện về cơ chế, chính sách đồng thời kiến nghị xử lý những bất cập, tồn tại do những nguyên nhân nêu trên gây ra Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:

“Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2001-2010” của Nguyễn Văn Xa [10] đã nghiên cứu thực trạng quản lý, sử dụng TSC ở nước ta từ năm 1995 (sau khi thành lập Cục quản lý công sản thuộc Bộ Tài chính) đến năm 2000, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, từ đó kiến nghị những quan điểm, giải pháp để thực hiện đổi mới cơ chế quản lý TSC tại các đơn vị HCSN giai đoạn 2001-2010 Tuy nhiên, do thời gian thực hiện từ năm

2000, các số liệu phân tích để nhận định, đánh giá của đề tài chỉ được sưu tầm đến năm 2005 nên các kết quả nghiên cứu của đề tài hầu như chỉ có giá trị đóng góp thiết thực ở thời điểm thực hiện, khi mà lĩnh vực quản lý TSC ở nước ta đang

ở giai đoạn xác định đối tượng quản lý (trả lời câu hỏi TSC là gì?), xác định chủ thể quản lý (với việc hình thành hệ thống các cơ quan công sản) và bước đầu thiết lập

hệ thống các công cụ quản lý (với việc ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý TSC); mặt khác nghiên cứu của đề tài chưa thực sự

có sự phân biệt giữa quản lý TSC trong cơ quan quản lý nhà nước và quản lý TSC trong các tổ chức công để phù hợp với chủ trương phân định rõ chức năng của

cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng (tổ chức công)

“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp” của Phạm Đức Phong [4] đã chú trọng nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý TSC được Nhà nước giao cho các tổ chức công trực tiếp sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao Trong đó, đề tài chủ yếu đi sâu hệ thống hóa các cơ chế, chính sách đang áp dụng đối với quản lý TSC tại các tổ chức công, đánh giá những kết quả đạt được khi thực hiện, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế khi thực hiện các cơ chế, chính sách đó để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện, đổi mới Tuy nhiên, trong điều kiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý TSC còn thiếu, chưa

Trang 30

đồng bộ thì đề tài chưa thực sự quan tâm đánh giá đến hiệu lực, hiệu quả của các

cơ chế chính sách đó để có những giải pháp giúp các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

“Quản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”của Phan Hữu Nghị [3] đã trình bày tổng quan về cơ quan hành chính nhà nước và TSC, quản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quản lý TSC của Trung Quốc, Ôxtrâylia, Pháp và của bang Quécbec, Canada trong việc quản lý TSC là trụ sở làm việc, từ đó rút ra 04 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Mặt khác, trên cơ sở phân tích quy định chung về quản lý TSC và thực trạng quản lý trụ sở làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước của Việt Nam, tác giả đã tổng kết các kết quả đạt được, phân tích những tồn tại và nguyên nhân để từ đó đề ra mục tiêu, yêu cầu đổi mới và hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Cụ thể, về đổi mới mô hình quản lý trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước, luận văn đề xuất thành lập mô hình Tổng công ty đầu tư và kinh doanh bất động sản có nhiệm vụ đầu tư xây dựng và quản lý trụ sở làm việc; phân định rõ chức năng nhiệm vụ các cơ quan tham gia và được tổ chức chặt chẽ theo ngành dọc

về chuyên môn nhằm kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý TSNN (bao gồm trụ sở làm việc); nâng cao trình độ cán bộ quản lý TSC nói chung và quản lý trụ sở làm việc nói riêng; tăng cường vai trò giám sát, kiểm tra đối với việc quản lý TSNN là trụ sở làm việc tại khu vực hành chính; khảo sát kinh nghiệm nước ngoài và hợp tác quốc tế trong quản lý TSC là trụ sở làm việc Về hoàn thiện các nghiệp

vụ quản lý, luận văn kiến nghị các giải pháp hoàn thiện phương pháp xác định giá trị quyền sử dụng đất và nhà khi theo dõi TSNN là trụ sở làm việc; tăng cường công tác xử lý, sắp xếp lại trụ sở làm việc tại khu vực hành chính; thực hiện quy hoạch tổng thể hệ thống trụ sở làm việc tại khu vực hành chính; xây dựng thống nhất tiêu chuẩn trụ sở làm việc gắn với nhiệm vụ quản lý xây dựng và NSNN từng cấp Về hoàn thiện các công cụ quản lý, luận văn đưa ra các giải pháp về CNTT và lưu trữ dữ liệu thống kê về TSNN nói chung và trụ sở làm việc

Trang 31

nói riêng; hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý là trụ sở của

Nhận xét: qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên cho thấy các nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề về quản lý TSC nói chung, quản lý TSCĐ của các đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng Các nghiên cứu này đã hệ thống hóa được các lý luận về TSC, nội dung quản lý TSC ở các đơn vị hành chính

sự nghiệp cũng như đã đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý TSC ở các đơn vị nghiên cứu

Qua tổng quan nghiên cứu cũng cho thấy chưa có công trình nghiên cứu nào

đề cập đến công tác quản lý TSCĐ trong các cơ sở giáo dục đại học công lập, đặc biệt không có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về công tác quản lý TSCĐ tại trường ĐH Mỏ - Địa chất, do đó công trình nghiên cứu của tác giả là hoàn toàn độc lập với các nghiên cứu trước, các nội dung nghiên cứu chỉ tập trung vào hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ của Trường ĐH Mỏ - Địa chất

Kết luận chương 1

Toàn bộ nội dung chương 1 đã đưa ra được các vấn đề mang tính khái quát chung về lý luận và thực tiễn sử dụng TSCĐ trong tổ chức công nói chung và trong một đơn vị sự nghiệp như Trường đại học Mỏ - Địa chất nói riêng Cụ thể:

Trang 32

- Đã hệ thống hóa được khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ

- Đã đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản cố định trong tổ chức công

- Đã đưa ra được tổng quan thực tiễn về quản lý tài sản cố định trong tổ chức công Trong đó nhấn mạnh: hiệu quả sử dụng TSCĐ được phản ánh gián tiếp qua các chỉ tiêu đánh giá tình hình biến động và hiệu quả sử dụng TSCĐ Bởi vì, cơ cấu đầu tư vào TSCĐ trong đơn vị hợp lý, kế hoạch huy động và sử dụng TSCĐ phù hợp với kế hoạch giảng dạy, công tác theo dõi, kiểm tra, sửa chữa TSCĐ kịp thời,

… thì hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ cao Mặt khác, việc lựa chọn cách tính khấu hao phù hợp, đánh giá đúng giá trị TSCĐ đều phản ánh chung nhất đó là hiệu quả sử dụng TSCĐ tốt và ngược lại Vì vậy, đề tài đã đưa ra rất nhiều các chỉ tiêu đánh giá theo các mặt khác nhau để phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ

- Đã phân tích được các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả sử dụng TSCĐ

- Đã tiến hành khảo sát một số đơn vị sự nghiệp khác, các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ cho một đơn vị

cụ thể là Trường đại học Mỏ - Địa chất ở các chương sau

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT GIAI ĐOẠN 2014-2017

2.1 Khái quát về trường Đại học Mỏ - Địa chất

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường Đại học Mỏ - Địa chất

Trường Đại học Mỏ - Địa chất (tên tiếng Anh: Ha Noi University of Mining and Geology); được thành lập theo Quyết định số 147/CP ngày 8/8/1966 của Thủ tướng chính phủ Sau hơn 50 năm xây dựng và phát triển, với truyền thống đoàn kết, tự cường, khắc phục khó khăn và được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp Bộ, Ngành từ Trung ương đến địa phương, Nhà trường đã

và đang phát triển ổn định, đào tạo bồi dưỡng được gần 60.000 kỹ sư theo 45 chuyên ngành (cả Đại học và Cao đẳng) khác nhau, phần lớn học sinh, sinh viên ra trường đều tìm được việc làm Đời sống vật chất và tinh thần của cán

bộ, công nhân viên của Nhà trường không ngừng được cải thiện

Nhà trường đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục - đào tạo, đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quí: Huân chương

Hồ Chí Minh năm 2006, danh hiệu Anh hùng Lao động năm 2004, Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 2001, Huân chương Độc lập hạng Nhì năm 1996., Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1990, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1986, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 1981, Huân chương Lao động hạng Ba năm

1976 Nhiều năm liền được công nhận là trường Tiên tiến xuất sắc của Bộ, Năm

1998 được Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Cờ Thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2009, 2010 và Cờ thi đua của Chính phủ năm 2010

Trường Đại học Mỏ- Địa chất có 2 cơ sở đào tạo Đại học chính quy:

Cơ sở đào tạo chính: tại Phường Đức Thắng, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội;

Cơ sở đào tạo Vũng Tàu: Tại Trung tâm Đào tạo thường xuyên tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, đào tạo nguồn nhân lực ngành Dầu khí

Ngoài ra, Nhà trường còn tổ chức đào tạo Đại học hệ Cao học, nghiên cứu sinh

Trang 34

Vừa làm vừa học tại nhiều tỉnh trong cả nước và liên kết đào tạo Đại học chính quy chuyên ngành Lọc hóa dầu với Đại học Hồng Đức - Thanh Hóa để đào tạo nguồn nhân lực cho các địa phương

- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường

- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ Đại học và sau Đại học thuộc các lĩnh vực Mỏ, Địa chất, Trắc địa-Bản đồ, Dầu khí, Kinh tế (Quản trị kinh doanh và Kế toán), Công nghệ thông tin, Cơ điện, Xây dựng và Môi trường, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước;

- Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực chuyên môn đào tạo của Nhà trường

- Thực hiện hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thuộc các lĩnh vực chuyên môn của Nhà trường

Hiện tại Nhà trường đang tổ chức đào tạo 33 chuyên ngành Đại học,10chuyên ngành Cao đẳng, 10 chuyên ngành liên thông Cao đẳng lên Đại học

- Cơ cấu tổ chức của nhà trường

Nhà trường có 41 đơn vị trực thuộc Ban Giám hiệu, ngoài các khoa Giáo dục Đại cương, Lý luận chính trị, Giáo dục Quốc phòng, có 9 khoa chuyên ngành là: Khoa Mỏ, khoa Khoa học và Kỹ thuật Địa chất, Trắc địa – Bản đồ và Quản lý Đất đai, Dầu khí, Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Công nghệ thông tin,

Cơ điện, Xây dựng và Môi trường

Toàn trường có 53 bộ môn thuộc các khối kiến thức Giáo dục Đại cương, Lý luận chính trị, kiến thức cơ sở và khối các kiến thức chuyên ngành

- Tổ chức quản lý của trường Đại học Mỏ - Địa chất

+ Ban giám hiệu

Hiệu trưởng: Chịu trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường, thực hiện các chức năng và nhiệm vụ theo Điều lệ của trường Đại học Phó hiệu trưởng: Nhà trường có 03 phó hiệu trưởngphụ trách công tác đào tạo, NCKH và hợp tác Quốc tế, quản lý HS – SV và thi đua, hành chính và quản trị

Trang 35

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Đại học Mỏ - Địa chất

(Nguồn:humg.edu.vn)

Trang 36

+ Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng, Khoa và các Trung tâm

Phòng đào tạo Đại học: Tham mưu cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý công tác đào tạo Đại học, Cao đẳng chính quy, vừa làm vừa học trong

và ngoài Trường

Phòng đào tạo Sau Đại học: Tham mưu cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý phát triển các chương trình đào tạo sau Đại học trong nước; tổ chức hợp tác, liên kết, tư vấn về đào tạo và bồi dưỡng sau Đại học, bồi dưỡng kiến thức chuyên

đề ngắn hạn có cấp chứng chỉ

Phòng Tổ chức cán bộ: Tham mưu cho Hiệu trưởng công tác tổ chức, xây dựng, kiện toàn, nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách của Nhà nước và quy định của Trường đối với cán bộ, viên chức và người lao động

Phòng Hành chính tổng hợp: Giúp Ban Giám hiệu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động chung của Nhà trường

Phòng Khoa học Công nghệ &hợp tác quốc tế: Tham mưu cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ trong Trường, hợp tác trong nước và quốc tế

Phòng Tài vụ: Tham mưu cho Hiệu trưởng (chủ tài khoản) và chịu trách nhiệm

về công tác quản lý tài chính, kế toán của Trường theo đúng quy định quản lý tài chính của Nhà nước và Quy định nội bộ của Trường

Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục: Tham mưu cho Hiệu trưởng công tác xây dựng và vận hành các quy trình khảo thí và đảm bảo chất lượng bên trong Trường

Phòng Công tác chính trị - Truyền thông: Tham mưu cho Hiệu trưởng và Đảng

ủy về công tác chính trị, tư tưởng trong Trường; tổ chức thực hiện công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh nhằm phát triển thương hiệu của Trường

Phòng Quản trị - thiết bị: tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác quản lý đất đai, cơ sở hạ tầng; tư vấn và thực hiện việc mua sắm, sửa chữa, quản lý các trang thiết bị; tham gia quy hoạch, sửa chữa, nâng cấp; duy trì, tôn tạo cảnh quan trong

Trang 37

Trường

Phòng Công tác sinh viên: Tham mưu cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý công tác sinh viên; trang bị các kỹ năng cần thiết cho sinh viên Phòng Bảo vệ: Tham mưu cho Hiệu trưởng về tổ chức, quản lý và làm công tác đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội trong Trường

Phòng Y tế: Tham mưu cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm tổ chức và quản

lý công tác bảo vệ, giáo dục chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, viên chức, người lao động và người học

Phòng xuất bản: Tham mưu cho Hiệu trưởng thực hiện chức năng trao đổi thông tin, công bố các kết quả nghiên cứu, phát hành tạp chí, ấn phẩm báo chí, quảng cáo và các hoạt động dịch vụ khác theo quy định của Trường và của Pháp luật

Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học: chức năng tổ chức, quản lý công tác đào tạo ngoại ngữ, tin học ngoài chương trình chính khóa cho sinh viên trong Trường và có khả năng tổ chức thi, cấp chứng chỉ công nhận nội bộ và chứng chỉ quốc tế

Trung tâm hỗ trợ Sinh viên: Tham mưu cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm tổ chức quản lý, công tác tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ việc làm sinh viên phục vụ định hướng công tác đào tạo của Trường; quản lý mọi hoạt động dịch vụ trong Trường Trung tâm thông tin Thư viện: Tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác quản lý, khai thác và phát triển nguồn lực thông tin nhằm phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học

và chuyển giao công nghệ trong Trường

Ban thanh tra nhân dân: có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Trung tâm Phân tích Thí nghiệm Công nghệ cao:Có nhiệm vụ phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ khoa học công nghệ, các hợp đồng sản xuất trong và ngoài Trường

Ban quản lý các dự án: tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác quy hoạch và kế hoạch đầu tư phát triển, quản lý các dự án của Trường theo quy định của pháp luật Ban Văn hóa – Thể thao: Ban Văn nghệ - Thể dục thể thao có nhiệm vụ tổ

Trang 38

chức các hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trong trường Các đơn vị quản lý đào tạo và chuyên môn: Gồm các khoacó chức năng giúp hiệu trưởng tổ chức theo dõi, chỉ đạo, quản lý toàn bộ hoạt động đào tạo, tổ chức nghiên cứu thực nghiệm khoa học, lao động sản xuất của ngành nghề được giao theo đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trực thuộc các khoa là các bộ môn được tổ chức theo chuyên ngành sâu, trực tiếp thực hiện công tác đào tạo, giảng dạy

- Nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng quản lý liên quan đến khai thác và sử dụng tài sản cố định của nhà Trường

+ Ban giám hiệu:

Hiệu Trưởng Quyết định các dự án về đầu tư mua sắm tài sản

Thống nhất quản lý, khai thác và sử dụng tài sản của Trường Quyết định sử dụng tài sản, cơ sở vật chất của Trường để liên doanh, liên kết thực hiện các hoạt động đào tạo, khoa học công nghệ, thí nghiệm, các dịch vụ phù hợp chuyên môn; quyết định cho thuê tài sản

+ Phòng chức năng:

Phòng Quản trị - Thiết bị, là đơn vị được Trường giao nhiệm vụ làm đầu mối thống nhất việc quản lý, sử dụng tài sản của Truờng

Lập kế hoạch và triển khai tổ chức đầu tư mua sắm tài sản

Xây dựng chế độ quản lý, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản của trường và thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng tài sản như chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo quy định của các cấp có thẩm quyền

Xây dựng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi và quản lý chi nhằm quản lý, khai thác và sử dụng với hiệu quả cao trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

Kiểm tra việc quản lý, khai thác và sử dụng tài sản của các đơn vị trong trường

Tổ chức bảo dưỡng, sửa chữa, điều chuyển, thu hồi và xử lý tài sản theo quy định Thực hiện đúng chế độ hạch toán, khấu hao, đăng ký và báo cáo về thực trạng

Trang 39

tài sản của nhà trường định kỳ theo quy định hiện hành

+ Các đơn vị thuộc Trường ( gọi tắt là Đơn vị)

Trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm trước trường về công tác quản lý, khai thác và sử dụng tài sản được giao, sử dụng đúng mục đích, đúng tiêu chuẩn, định mức và đúng yêu cầu kỹ thuật

Lập kế hoạch xây dựng, mua sắm, sửa chữa, cải tạo, thanh lý, điều chuyển tài sản của đơn vị theo qui định của trường Thực hiện kế hoạch theo phân cấp

Theo dõi, kiểm tra việc quản lý, khai thác và sử dụng tài sản tại các đơn vị thuộc đơn vị mình quản lý

Chịu trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn tài sản

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu có liên quan đến quản lý và sử dụng tài sản cố định của Trường đại học Mỏ - Địa chất

Trong thực tế hoạt động, các đơn vị sự nghiệp nói chung và các trường đại học nói riêng thường có những đặc thù khác nhau quyết định mức độ đầu tư, huy động, sử dụng tài sản cố định khác nhau Là một đơn vị giáo dục chuyên về đào tạo nghành kỹ thuật vì vậy trường đại học Mỏ - Địa chất có những đặc điểm ảnh hưởng đến quá trình quản lý và sử dụng tài sản cố định của Trường:

- Số lượng chủng loại tài sản cố định: TSCĐ trong bất kỳ doanh nghiệp hoặc

cơ sở giáo dục nào cũng gồm 5 nhóm chính: Nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết

bị, phương tiện vận tải truyền dẫn, dụng cụ quản lý và tái sản cố định khác Với đặc thù là trường dạy kỹ thuật nên chủng loại tài sản cố định chiếm tỷ trọng và giá trị rất lớn, lớn nhất là nhà cửa vật kiến trúc, cụ thể là hệ thống giảng đường, khu ký túc xá, thư viện,… tiếp theo là các thiết bị máy móc phục vụ công tác giảng dạy, thực hành

và thí nghiệm như hệ thống thí nghiệm đa năng, các thiết bị đo đạc, máy cắt, máy mài, hệ thống ăn mòn laser …, và các phương tiện vận tải như xe ô tô con, ô tô 16 chỗ, … Ngoài ra là các thiết bị, máy móc văn phòng khác như máy tính, máy in, máy photo tuy giá trị không lớn nhưng số lượng tài sản khá nhiều, nhiều loại máy móc có công nghệ hiện đại, phức tạp nên dễ xảy ra tình trạng hỏng hóc, mất mát các phụ kiện, chi tiết, vì vậy việc quản lý và sử dụng một cách hiệu quả các loại TSCĐ

Trang 40

này không phải là một vấn đề đơn giản Trong thực tế hiện nay, nhờ có công nghệ thông tin nên Trường đã phần nào giảm được thời gian trong quá trình theo dõi trên

sổ sách nhưng trong thực tế thì vẫn cần một lực lượng lớn cán bộ để theo dõi, kiểm tra, kiểm soát

- Cơ cấu tài sản cố định của Trường: Trong cơ cấu TSCĐ của Trường, nhà cửa vật kiến trúc chiếm tỷ trọng lớn nhất đến 66%, máy móc thiết bị giảng dạy là 30%, các trang thiết bị quản lý 2.7% còn lại là phương tiện vận tải, truyền dẫn, phần mềm kế toán và các tài sản cố định hữu hình khác Cơ cấu TSCĐ được thể hiện trên hình sau:

Hình 2.2 Cơ cấu tài sản của Trường Đại học Mỏ - Địa chất năm 2017

(Nguồn: Báo cáo kiểm kê TSCĐ Trường Đại học Mỏ - Địa chất năm 2017)

Các TSCĐ chính của Trường:

a Nhà cửa, vật kiến trúc

Tổng diện tích đất nhà Trường được nhà Nước giao quản lý và sử dụng là

41.598,32 m2 đất, trong đó khu A là 22.742,42 m2, khu B là 16.931 m2, khu C là

354,9 m2, tại số 36 Tạ Quang Bửu là 90 m2 và khu thực tập Lạng Sơn là 1.480 m2 Giá trị tài sản cố định là nhà cửa vật kiến trúc chiếm 66% tổng tài sản nằm rải rác ở các khu A, B, C, khu Bách khoa và Lạng Sơn của nhà Trường nên việc quản lý sử dụng gặp nhiều khó khăn

Phương tiện vận tải, truyền dẫn và TSCĐ khác

Ngày đăng: 28/04/2021, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh Hoàng (2017), Quản lý tài sản công tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Anh Hoàng (2017)
Tác giả: Hoàng Anh Hoàng
Năm: 2017
2. Nguyễn Mạnh Hùng (2009), Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2009
3. Phan Hữu Nghị (2009), Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Nghị
Năm: 2009
4. Phạm Đức Phong (2003), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp
Tác giả: Phạm Đức Phong
Năm: 2003
5. Quốc hội (2017), Luật quản lý sử dụng tài sản công. Luật số 15/2017/QH14, Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý sử dụng tài sản công
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2017
6. Trường đại học Mỏ - Địa chất (2017), Báo cáo 3 công khai các năm 2014 - 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường đại học Mỏ - Địa chất (2017)
Tác giả: Trường đại học Mỏ - Địa chất
Năm: 2017
8. Trường đại học Vinh (2017), Quy định về quản lý, khai thác và sử dụng tài sản tại Trường đại học Vinh. Quyết định số 209/QĐ-ĐHV, Nghệ An ngày 16/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về quản lý, khai thác và sử dụng tài sản tại Trường đại học Vinh
Tác giả: Trường đại học Vinh
Năm: 2017
9. Nguyễn Thị Bất, Nguyễn Văn Xa (2017), Giáo trình quản lý tài sản công. NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý tài sản công
Tác giả: Nguyễn Thị Bất, Nguyễn Văn Xa
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2017
10. Nguyễn Văn Xa (2000), Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý tài sản công giai đoạn 2001 - 2010, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý tài sản công giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Nguyễn Văn Xa
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w