Nếu như nói an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hóa – xã hội… là nhữnglĩnh vực không thể thiếu cho sự ổn định và phát triển của đất nước thì khoa học– công nghệ là một lĩnh vực vô cùng qu
Trang 1VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
PHẦN A: MỞ ĐẦU.
I ĐẶT VẤN ĐỀ.
Nếu như nói an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hóa – xã hội… là nhữnglĩnh vực không thể thiếu cho sự ổn định và phát triển của đất nước thì khoa học– công nghệ là một lĩnh vực vô cùng quan trọng và cần thiết cho sự phát triểncủa mỗi đất nước chứ không riêng gì đất nước Việt Nam ta, đó là một lĩnh vực
mà có mối liên hệ mật thiết và bổ trợ cho sự phát triển của các lĩnh vực khác.Đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta đang trong quá trình hội nhập quốc tếthì khoa học – công nghệ ngày càng quan trọng
Khoa học – công nghệ mang lại rất nhiều lợi ích trong sự phát triển của đấtnước Nó giúp đẩy nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đổi mới côngnghệ máy móc cũ thay bằng công nghệ máy móc mới hiện đại và ngày cànggiảm sức lao động của con người Có khoa học – công nghệ, năng suất lao độngngày càng tăng lên, hàng hóa của cải vật chất ngày càng nhiều, đất nước ngàycàng phát triển và có vị thế lớn về kinh tế, nhất là trong quá trình hội nhập thìviệc có vị thế lớn trong khu vực và thế giới là vô cùng cần thiết cho sự phát triểncủa đất nước Không chỉ vậy khoa học – công nghệ còn giúp nâng cao chấtlượng y tế, quốc phòng, an ninh… về máy móc, phương tiện tạo điều kiện lớncho sự phát triển của y tế nước nhà, đời sống nhân dân từng bước cải thiện, quốcphòng an ninh sẽ ngày càng hiện đại hơn và bảo vệ vững chắc an ninh và tăngcường sức mạnh phòng thủ đất nước Rõ ràng một điều là khoa học – công nghệ
sẽ giúp cho việc hiện đại hóa các máy móc, công nghệ trong các lĩnh vực khácnhư văn hóa, giáo dục, như vậy khoa học – công nghệ sẽ làm cho đất nước ngàycàng văn minh hơn Trong quá trình hội nhập hiện nay thì khoa học – công nghệ
sẽ làm cho đất nước ngày càng văn minh hiện đại, đẩy nhanh, mạnh và vững
Trang 2đất nước Việt Nam trên trường khu vực và quốc tế Chính vì vậy mà khoa học –công nghệ là một trong những lĩnh vực trọng tâm mà Đảng và Nhà nước luôncoi trọng và tăng cường thúc đẩy phát triển trong thời kì công nghiệp hóa, hiệnđại hóa hiện nay và cũng là lĩnh vực luôn được chú trọng xuyên suốt tiến trình đilên chủ nghĩa xã hội.
Khoa học công nghệ chính là chìa khóa cho việc hội nhập thành công, choviệc thực hiện rút ngắn quá trình CNH-HDH đất nước bắt kịp với các quốc giakhác trên thế giới Khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định đến việc thựchiện mục tiêu chuyển nền kinh tế của nước ta sang nền kinh tế tri thức, cho tiếntrình toàn cầu hóa Khoa học công nghệ có thể nói là nó đi vào mọi mặt của đờisống, nhưng đặc điểm của yếu tố công nghệ khó xác định sự đóng góp trực tiếp,chỉ được thể hiện thong qua việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố khác như tăngnăng suất lao động, tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao công suất sử dụng máymóc thiết bị Do vậy đề tài này chỉ xin đưa ra một số vai trò cơ bản của khoa họccông nghệ đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.
Đã có rất nhiều các bài báo, luận văn, luận án hay các đề tài khoa họcnghiên cứu về vai trò của Khoa học – Công nghệ Mỗi một đề tài đều có một nétriêng, khám phá những mặt tích cực và hạn chế mà khoa học công nghệ manglại cho con người Sau đây là một số đề tài nghiên cứu trước đó:
1 Tiểu luận : Khoa học – công nghệ được coi là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước – Nguyễn Đình Bình Minh(Học viện Báo chí và Tuyên truyền)
2 Vai trò của Khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế xã hội ởtỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 1992 – 2012 – Nguyễn Thành Duy – ĐHKHXH&NV
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu về vai trò của khoa học công nghệ đối với xã hội và con ngườinhư thế nào, đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản của con người hay chưa, từ đó đưa
ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của khoa học công nghệ ngày nay
Trang 3Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sựgia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quânđầu người Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêuthức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Ba là, sự biếnđổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội.
2 Lý luận về khoa học và công nghệ
a Khoa học
Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều quan niệm khácnhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, mặtkhác phụ thuộc vào trình độ nhận thức Xét về phương diện xã hội, khoa học làmột hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữanhững yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần Về phương diện triết học, khoahọc là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt.Đặc biệt bởi vì khoa học không chỉphản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những chân lý của nó đượcthực tiễn xã hội kiểm nghiệm mà khoa học còn là kết quả của quá trình sáng tạologic, của trực giác thiên tài Còn bởi vì khoa học (cùng với công nghệ) là nhữngyếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyếtđịnh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng, của phương thức sảnxuất và của xã hội nói chung Về phương diện nhận thức luận, khoa học là giaiđoạn cao nhất của nhận thức – giai đoạn nhận thức lí luận
Trang 4Ngày nay quan niệm về khoa học được phổ biến với những đặc trưng cơbản sau đây:
─ Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và
về tư duy của con người Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại,bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình từ đó chỉ ra những quy luật kháchqua của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
─ Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá tình nhận thức củacon người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượngđến thực tiễn khách quan, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lýthuyết Như vậy tri thức khoa học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đượckiểm nghiệm qua thực tiễn
Như vậy qua một số những đặc điểm cơ bản trên đây về quan niệm khoahọc, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học về hệ thống tri thức chân thực về tựnhiên, xã hội và tư duy
Tóm lại, Khoa học là tập hợp những hiểu biết của con người về tự nhiên, xãhội và tư duy được thể hiện dưới dạng các lý thuyết, định lý, định luật, nguyêntắc Đó là những nội dung khách quan được con người phát hiện nhờ đó mà conngười thay đổi nhận thức và vận dụng chúng vào thực tiễn để thay đổi và pháttriển cuộc sống của mình Vì tồn tại dưới dạng các lý thuyết, quy luật, định lý,định luật, nguyên tắc nên khoa học không phải là đối tượng của mua – bán,không phải là đối tượng của sở hữu
b Công nghệ
Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi là sự tập hợp tất cả những hiểubiết của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầusống của con người, sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội Công nghệ trongsản xuất là một tập hợp các phương tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc,các kĩ năng được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằmtạo ra một sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội
Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:
Trang 5Một là công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng, triển khai(trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật tựnhiên và các nguyên lí khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thầnngày càng cao của con người.
Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất –
kĩ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của trí thức khoa học đã được vật thể hóathành các công cụ, các phương tiện kĩ thuật cần cho sản xuất và đời sống
Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ thuật,các kĩ năng có được nhờ dựa trên cơ sở trí thức khoa học và được sử dụng vàosản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm
Ngày nay, trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, haycách mạng thông tin công nghệ lần thứ năm, khi mà khoa học đang trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con người đang giữ vững vai trò động lực trựctiếp và quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng và xã hội nói chung thìquan niệm về công nghệ, các thành phần cấu trúc của nó lại một lần nữa có sự
mở rộng và phát triển rất cơ bản
Tóm lại, Công nghệ là tập hợp những phương tiện, phương pháp, kỹ năng,thong tin để biến đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên thành các sản phẩm, dịch vụđáp ứng nhu cầu của con người Ngoài phần cốt vật chất là các phương tiện kĩthuật như máy móc, trang thiết bị…thì công nghệ còn hàm những nội dung cơbản sau:
Trang 6Vì tất cả những nội dung trên của công nghệ đều có thể trực tiếp áp dụngvào sản xuất, nên những nội dung đó trở thành đối tượng mua – bán, là đốitượng sở hữu và được pháp luật bảo hộ.
c Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ phụ thuộc vào trình độ phát triểncủa từng giai đoạn lịch sử Trước thế kỷ XVIII, khoa học và công nghệ tiến hóatheo những con đường riêng, có những mặt công nghệ đi trước khoa học Sangthế kỷ XIX, khoa học và công nghệ có sự tiếp cận lại gần nhau những khó khăncủa công nghệ trở thành các gợi ý cho sự phát triển của khoa học Từ thế kỷ XX,khoa học trở thành sự dẫn dắt cho những phát triển nhảy vọt của công nghệ,ngược lại sự đổi mới của công nghệ đưa lại những cơ sở cho nghiên cứu khoahọc phát triển
II VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
1 Khoa học kĩ thuật đã đưa loài người bước sang một nền văn minh mới –văn minh hậu công nghiệp
Trang 7Ở nền văn minh này, con người có thể phát huy cao độ năng lực sang tạotrong sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi căn bản phương thứclao động của con người, từ lao động bằng chân tay thô sơ đến lao động bằngmáy móc.
KT tự nhiên KT nông nghiệp KT công nghiệp
KT Tri thức
Trang 82 Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
K Marx đã dự đoán rằng: Đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự
giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà lại phần lớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ kĩ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất.
Như vậy KH & CN không chỉ tạo ra công cụ lao động mới mà cả phươngpháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và tăng năng
suất lao động KH & CN làm biến đổi điều kiện vật chất của sản xuất, làm tăng
khả năng khai thác và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào để tăng quy mô sản
Trang 9xuất và quy mô sản lượng cả theo chiều rộng và chiều sâu (để gắn tăng trưởngkinh tế với phát triển kinh tế).
Một hãng sản xuất hay một nền kinh tế nếu không có những áp dụng khoahọc công nghệ mới, nếu không đổi mới được đáng kể những điều kiện sản xuấtthì rõ ràng việc tăng quy mô sản phẩm của các thực thể kinh tế đó chủ yếu là dotăng các yếu tố đầu vào, khi đó tăng trưởng mà không có phát triển
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ nhất với sự mở đầu của máy hơinước Giêm Óat (1784) kéo dài đến giữa thế kỉ XX với nội dung chủ yếu là cơkhí hóa, thay công cụ thủ công bằng công cụ máy móc, thay lao động thủ côngbằng lao động máy móc đã đưa đến sự thay đổi lớn cả về quy mô, năng suất vàchất lượng sản phẩm, giúp cho chủ nghĩa tư bản chỉ trong vòng chưa đầy ba thế
kỉ đã tạo ra một khối lượng của cải lớn hơn số của cải của tất cả các thời đạitrước cộng lại
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ 2 từ năm 1945 đến nay đã trảiqua hai giai đoạn phát triển: Giai đoạn từ năm 1945 đến những năm của thập kỉ
70 với nội dung chủ yếu là áp dụng những kĩ thuật đã áp dụng trong chiến tranhvào sản xuất để phát triển kinh tế Giai đoạn từ những năm giữa của thập kỉ 70đến nay với các thành tựu nổi bật như tự động hóa, công nghệ sinh học, sử dụngvật liệu mới và máy tính trên cơ sở những phát minh khoa học mới nhất Nhữngthành tựu khoa học công nghệ đó đã cho phép xã hội phát triển, khai thác và sửdụng hiệu quả các điều kiện tự nhiên, áp dụng các quy luật tự nhiên vào sảnxuất, nâng cao hiệu quả quản lý…
Dưới tác động của khoa học – công nghệ các nguồn lực sản xuất được mởrộng Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên,làm biến đổi chất lượng nguồn lao động Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ laođộng giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật nhờ đó nângcao năng suất lao động Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng cácnguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả biểu hiện thông qua quá trình hiện đại
Trang 10hóa các tổ chức trung gian tài chính, hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vậntải…
Khoa học công nghệ với sự ra đời của các công nghệ mới đã làm cho nềnkinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu tức làtăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tốsản xuất Với vai trò này, KH & CN là phương tiện để chuyển nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệcao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật
3 Khoa học - công nghệ làm biến đổi cơ cấu kinh tế, chuyển nền kinh tế
từ trạng thái phát triển thấp lên trạng thái phát triển cao
Cơ cấu kinh tế phản ánh trạng thái phát triển của nền kinh tế ở một giaiđoạn nhất định, vì vậy sự biến đổi hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ diễn rathực sự khi nền kinh tế đạt được sự phát triển mới, mà sự phát triển mới có đượcchủ yếu là nhờ áp dụng khoa học – kĩ thuật Khoa học kĩ thuật không chỉ tạo racác ngành nghề mới mà còn đưa lại năng suất lao động mới (nhất là năng suấtlao động trong nông nghiệp), cho phép xã hội thực hiện phân bổ lại lực lượnglao động theo yêu cầu của các ngành nghề, làm cho tỷ trọng sản phẩm, tỷ trọnglao động giữa các ngành cũng như vị trí của chúng trong nền kinh tế biến đổi
Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ pháttriển của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trởnên sâu sắc và đưa đến phân chia ngành kinh tế theo nhiều ngành nhỏ, xuất hiệnnhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theohướng tích cực thể hiện:
Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăngdần, còn của ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm Đó là tỷ trọng trong GDPcủa ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38.1% năm 1990 xuống 27.2% năm1995; 24.5% năm 2000; 20.9% năm 2005 và đến năm 2008 còn 20.6% Tỷ trọngcông nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22.7%; năm 1995 tăng lên28.8%; năm 2000 là 36.7%; năm 2005 là 41% và đến năm 2008 là 41.6% Tỷ
Trang 11trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38.6%; năm 1995
là 44.0%; năm 2000 là 38.7%; năm 2005 là 38.1% và năm 2008 là khoảng38.7%.(Số liệu ở Việt Nam)
Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngaỳ càng
mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng công nghệ cao Laođộng trí thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô thị hóa cũng ngày càngtăng nhanh Tất cả trở thành đặc trưng của sự phát triển khoa học – công nghệ
dịch vụ công nghiệp nông nghiệp
Biểu đồ: Cơ cấu kinh tế Hoa Kì 1960 (%)
Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước ta qua
các năm (%)
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật còn làm thay đổi phân bố sản xuất Nhờ các phát minh, sáng kiến, một số loại nguyên liệu, năng lượng mới được sử dụng, nhiều ngành sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao phát
Trang 12triển đã làm cho nhiều vùng hoang vắng trở thành những trung tâm công nghiệp,kinh tế sầm uất Ví dụ: vùng phía Đông Nam Hoa Kỳ, vùng phía đông nam nướcPháp, vùng phía Tây nam Trung Quốc, vùng phía Nam Ân Độ
Tuy nhiên không phải sự áp dụng khoa học kĩ thuật nào cũng đưa đến sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự áp dụng khoa học – kĩ thuật đưa đến sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế khi sự áp dụng đó làm thay đổi năng suất lao động xã hội nóichung (hoặc chí ít cũng phải làm thay đổi năng suất lao động xã hội ở nhữngngành kinh tế chủ lực) Vì vậy, để thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế,việc đổi mới công nghệ sản xuất ở những ngành kinh tế chủ lực phỉ là hướngquan tâm đầu tư hàng đầu
Đối với một nước khi mà lực lượng lao động còn tập trung chủ yếu trongnông nghiệp, để sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra vững chắc và hiệu quả thìcông nghệ sinh học phải là sự lựa chọn trước tiên và cần phải được ưu tiên, vìvậy năng suất trong sản xuất nông nghiệp trước hết là thuộc về năng suất sinhhọc (thuộc về giống cây, giống con) Đối với những nước nông nghiệp như nước
ta, công nghệ sinh học là một bước tiến mới nhất trong nỗ lực chinh phục tựnhiên để nâng cao điều kiện sống của con người Những năm gần đây, trong bảnđại hợp tấu khoa học và công nghệ, bộ đàn dây công nghệ sinh học đã bắt đầutấu lên những khúc nhạc mới lạ với nhiều cung bậc, nhiều tiết tấu mà thậm chícũng ta chưa từng nghe Với sự sang tạo về khoa học, các nhà khoa học TrungQuốc đã tìm ra được những giống lúa cao sản, kháng mặn với năng suất đến 21tấn/0.4ha (2014)
4 Nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường để phát triển.Cạnh tranh là phương thức để doanh nghiệp đạt lợi ích, tồn tại và phát triểntrong điều kiện cơ chế thị trường Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trên baphương diện cơ bản: cạnh tranh về giá trị sử dụng, cạnh tranh về tổ chức tiêu thụ
và cạnh tranh về giá cả hàng hóa Cơ sở để các doanh nghiệp tiến hành cạnhtranh với nhau là chi phí, chất lượng, hình thức, mẫu mã, kiểu dáng, bao bì, nhãnhiệu hàng hóa mà mỗi doanh nghiệp có Vì vậy để thắng trong cạnh tranh, mở